Ngành Mai
Vào năm 2000 những người yêu thích cổ nhạc, muốn bảo tồn môn nhạc đặc thù của văn hóa dân tộc, đã đứng ra thành lập một hội, lấy tên là Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại.
Ở hải ngoại trước năm 2000 hầu như ai cũng biết cổ nhạc cải lương như một cái bóng mờ trước tân nhạc, mà điển hình là các buổi lễ của các hội đoàn, chương trình văn nghệ người ta chỉ thấy có tân nhạc. Còn cổ nhạc thì không thấy xuất hiện bất cứ hội đoàn nào, mà chỉ hoạt động khiêm nhường, lẻ tẻ ở đâu đó mà thôi.
Tóm lại là thời kỳ từ 1975 đến năm 2000, hơn hai thập niên ở hải ngoại người ta đã lãng quên không chú ý đến môn nhạc và nghệ thuật, mà trong quá khứ đã có thời kỳ hưng thịnh, được đại đa số bà con ưa thích.

Bức hình đi vào lịch sử cổ nhạc cải lương. Buổi họp đặt tên cho giải Phụng Hoàng. Từ trái, Nhà Văn Ngành Mai, Ðại Ðức Pháp Hiền, Giáo Sư Nguyễn Thanh Giàu, Hiền Tài Phạm Văn Khảm, Hiền Tài Thượng Văn Thanh, ông Nguyễn Văn Cất, Soạn Giả Lê Phương, bà Kim Ðức, ông Nguyễn Minh Chiêu, Giáo Sư Trần Văn Chi, Luật Sư Phạm Văn Phổ và Nhạc Sĩ Nguyễn Hiền. (Hình: Bác Sĩ Phạm Quang Thùy chụp và gởi tặng Hội Cổ Nhạc)
Sau một năm với nhiều phiên họp, hội đã phát động cuộc thi cổ nhạc để gây phong trào. Cuộc thi năm đó có quy củ, có Giáo Sư Ngọc Dung, Soạn Giả Hương Sắc, Nghệ Sĩ Kim Nguyên từ miền Bắc California về tham gia Ban Giám Khảo và cuộc thi thành công.
Lúc bấy giờ nhà báo Ðỗ Ngọc Yến, chủ nhiệm Nhật Báo Người Việt có hỏi nhà văn Ngành Mai (hội trưởng):
-Giải cổ nhạc tên là gì?
Tôi, Ngành Mai trả lời:
-Thưa anh, giải chưa có tên.
-Vậy muốn gọi thì làm sao?
Ðể anh không còn thắc mắc, tôi trình bày và giải thích thêm rằng, cái tên giải rất quan trọng, ảnh hưởng đến sự sống còn của giải, liên quan đến sự phát triển, cũng như sự tán đồng, ủng hộ của mọi người. Do đó mà năm nay tạm thời gọi chung chung là giải “Cổ Nhạc Miền Nam.” Thế thôi! Qua kỳ thi sau sẽ tính.
Lần lựa đến năm 2002 khi bắt đầu phát động cuộc thi, thì liền được nhiều nơi hưởng ứng, nên giải đã mở rộng lên miền Bắc California, thiết lập địa điểm thi sơ khảo tại San Jose, đồng thời ủy nhiệm Giáo Sư Ngọc Dung (dạy đờn tranh) làm trưởng ban tổ chức.
Với ý tưởng đã đến lúc giải cần phải có cái tên để mà ăn nói, hội đã tổ chức một buổi họp với sự tham dự của nhiều thành phần trong cộng đồng (danh sách ở phần sau) để đặt tên cho giải.
Do đã từng theo dõi nhiều giải thưởng cổ nhạc, cải lương ở trong nước, cũng như rút kinh nghiệm của các giải ở thời kỳ trước và sau 1975. nhà văn Ngành Mai có nêu lên trường hợp giải Thanh Tâm và giải Trần Hữu Trang như sau:
1) Giải Thanh Tâm của nhà báo Trần Tấn Quốc (Thanh Tâm là bút hiệu của ông Quốc). Nếu như ông Quốc có mệnh hệ nào, thì giải sẽ đi theo ông, mà không ai có đủ tư cách kế thừa. Năm Mậu Thân 1968 cải lương khủng hoảng, ông Quốc tuyên bố đình chỉ phát giải, và rồi thì giải Thanh Tâm cũng chết kể từ đó, chớ không ai nối tiếp.
2) Sau 1975 ở trong nước có giải Trần Hữu Trang được sự hỗ trợ mạnh mẽ của Hội Sân Khấu, tức của chính quyền. Trần Hữu Trang, tức soạn giả Tư Trang hoạt động cải lương cùng thời với Năm Châu, Phùng Há, Duy Lân, Bảy Nhiêu, Từ Anh, Năm Phỉ… ông là soạn giả các tuồng Lan Và Ðiệp, Tô Ánh Nguyệt, Ðời Cô Lựu… Người ta dùng tên của ông đặt cho giải cải lương là do vấn đề nào đó, chớ xét về công nghiệp, thành tích đóng góp cho nghệ thuật cải lương thì soạn giả Tư Trang không thể sánh được với Năm Châu về trình độ lẫn nghệ thuật, cũng không thể sánh với ông Cao Văn Lầu, tức nhạc sĩ Sáu Lầu, cha đẻ bản Dạ Cổ Hoài Lang, tiền thân của bản vọng cổ sau nầy. Tóm lại lấy tên cá nhân đặt cho một giải của văn hóa dân tộc thì người ta e rằng về lâu về dài sẽ mất đi sự ủng hộ của quần chúng vậy!
Tiếp đó với tư cách hội trưởng, nhà văn Ngành Mai có yêu cầu việc đặt tên giải nên lấy từ 2 đến 3 chữ, tránh đồng âm cho dễ kêu dễ gọi, và phải có ít nhiều liên hệ đến cổ nhạc cải lương. Thứ đến là tránh không dùng tên hay biệt hiệu của cá nhân, và sau hết tên của giải dù ở thời kỳ nào, chế độ nào cũng chấp nhận. Quan điểm trên được toàn thể đồng ý và bắt đầu thảo luận. Có rất nhiều tên được đề nghị, nhưng quanh đi quẩn lại vẫn là những tên không thích hợp, chẳng hạn như lấy tên một đoàn hát tiêu biểu nào đó như: Mộng Vân, Phụng Hảo, Hoa Sen, Thanh Minh, Thủ Ðô, Kim Chung… hoặc lấy tên một tuồng cải lương nổi tiếng nào đó thì vấn đề coi như không ổn, bởi có đoàn hát nào tồn tại đâu! Và tên tuồng thì đi kèm với tên soạn giả cũng là của cá nhân!
Kể ra thì tìm một cái tên cho giải cũng rất khó khăn, người này thấy được thì kẻ khác lại không, người kia bằng lòng thì người nọ đưa ra luận cứ để bác bỏ. Rõ ràng cái tên rất quan trọng, nếu như không có phiên họp với nhiều thành phần trong cộng đồng để lấy ý kiến chung, thì sau này trách nhiệm sẽ đổ trút hết cho người đặt tên giải, thiếu gì lý do để bị chỉ trích.
Trong lúc đang lúng túng vì chưa tìm ra được tên giải, thì có người lên tiếng rằng bên lãnh vực khác có giải “Sư Tử Vàng,” vậy cổ nhạc mình có thể lấy biểu hiệu con “Kỳ Lân” đặt tên thử sao?
Phân tích đề nghị ấy, nhạc sĩ Nguyễn Hiền nói:
-Kỳ Lân là một trong Tứ Linh: Long, Lân, Qui, Phụng thì cứ chọn một trong Tứ Linh cũng tốt thôi.
Dựa theo ý kiến của nhạc sĩ Nguyễn Hiền, nhà văn Ngành Mai trình bày rằng trong làng cổ nhạc có bản Phụng Hoàng, là một trong 20 bài bản Tổ mà các soạn giả cải lương đã sử dụng để viết tuồng, vì bản Phụng Hoàng rất được ưa thích.
Tiếp tục thảo luận, hầu như ai cũng nhìn nhận “Phụng Hoàng” không phải là tên của cá nhân, cũng không phải của tổ chức nào, mà lại có liên hệ đến cổ nhạc cải lương, và chữ Phụng Hoàng không đồng âm, dễ kêu dễ gọi. Thế là phiên họp quyết định lấy một trong Tứ Linh là chim Phụng Hoàng đặt cho giải cổ nhạc cải lương. Hôm đó nhằm ngày 9 tháng 9 năm 2002 tại Fountain Valley, miền Nam California. Người lập biên bản là Hiền Tài Thượng Văn Thanh, tức nhạc sĩ Nhị Thanh.
Biên bản tham dự phiên họp đặt tên giải Phụng Hoàng có chữ ký của quý vị dưới đây:
-Nhạc Sĩ Nguyễn Hiền, Ủy Viên Hội Ðồng Văn Hóa Nghệ Thuật thành phố Westminster.
-Luật Sư Phạm Văn Pho, Chủ Tịch Cộng Ðồng Công Giáo Miền Tây Nam Hoa Kỳ.
-Hiền Tài Phạm Văn Khảm, Quyền Khâm Châu, Châu Ðạo Cao Ðài California.
-Ðại Ðức Pháp Hiền, chùa Việt Nam.
-Hiền Tài Thượng Văn Thanh, Thánh Thất Cao đài Orangewood.
-Giáo Sư Nguyễn Thanh Giàu, Ban Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo Miền Nam California.
-Soạn Giả Lê Phương, nhà sách Phúc Âm Tin Lành.
-Ông Nguyên Minh Chiêu, cựu Hội Trưởng Gò Công.
-Giáo Sư Trần Văn Chi, nguyên Phó Khoa Trưởng Viện Ðại Học Long Xuyên.
-Ông Nguyễn Văn Cất, nguyên Chủ Tịch Hội Ðồng Tỉnh Kiến Hòa.
-Bà Kim Ðức, Hội Trưởng Hội Ái Hữu Trường Gia Long.
-Bác Sĩ Trương Văn Như.
-Nhà văn Ngành Mai, Hội Trưởng Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại.
Bác Sĩ Phạm Quang Thùy có mặt đã chụp hình phiên họp và gởi tặng Hội Cổ Nhạc.
Giải Phụng Hoàng được đặt tên trong một phiên họp gồm các nhân sĩ thuộc nhiều thành phần: Luật sư, bác sĩ, giáo sư, thương gia, nhạc sĩ (tân và cổ), nhà văn, nhà báo, hội trưởng các hội đoàn (cựu và đương nhiệm), và đặc biệt là có đủ 5 tôn giáo lớn. Như vậy cho thấy rõ giải Phụng Hoàng không phải của riêng ai, của tổ chức nào, mà là của cộng đồng, của quốc gia dân tộc.
Cũng cần nói thêm, một thời gian sau ngày tổ chức thành công giải Phụng Hoàng 2002, tôi có tiếp xúc với nhạc sĩ Nguyễn Hiền. Tôi đưa ông coi tấm hình và hỏi về nhận xét của ông đối với diễn tiến trong việc đặt tên cho giải vừa qua. Ông nói:
-Ðặt tên giải với hình thức rộng rãi, nhiều giới ủng hộ như thế, giải Phụng Hoàng đã vượt ra khỏi Hội Cổ Nhạc để trở thành một giải với tầm vóc lớn hơn rồi đó.
Tôi chưa có lời nào trước nhận định trên thì nhạc sĩ Nguyễn Hiền nói tiếp:
-Nên phổ biến bức hình và biên bản phiên họp, vì đó là chứng tích để về sau dù không có anh Ngành Mai, cũng như Hội Cổ Nhạc có không còn đi nữa, thì giải Phụng Hoàng cũng có thể vẫn hoạt động, vẫn được tổ chức.
Từ ấy đến nay, giải Phụng Hoàng đi song song với hoạt động cổ nhạc, với bộ môn nghệ thuật cải lương. Giờ lại có thêm nhiều nhân sĩ cộng tác với hội phát động giải Phụng Hoàng kỳ 7. Chim phụng hoàng đang tung cánh…










































































