Sau Ai Cập và Libya, tòa Ðại Sứ Mỹ tại Yemen bị tấn công

 


4 người thiệt mạng, 35 người bị thương


 


SANAA, Yemen (NV) – Tình trạng bạo loạn trong thế giới Ả Rập liên quan đến một cuốn phim thực hiện tại Mỹ, có nội dung bị coi là báng bổ Tiên Tri Muhammad, đã lan sang Yemen hôm Thứ Năm, nơi hàng trăm người biểu tình tấn công tòa Ðại Sứ Mỹ, hai ngày sau khi có vụ nổ súng làm thiệt mạng đại sứ Mỹ ở Libya và đám đông tìm cách tràn vào chiếm đóng tòa Ðại Sứ Mỹ ở Cairo, theo một bản tin của báo The New York Times.









Người biểu tình đập cửa sổ và gỡ tấm bảng Tòa Ðại Sứ Mỹ tại thủ đô Sanaa, Yemen, hôm Thứ Năm. (Hình: AP Photo/Hani Mohammed)


Theo một bản tin của đài CNN, trích nguồn tin Bộ Quốc Phòng Yemen, cho biết, trong cuộc biểu tình hôm Thứ Năm, bốn người Yemen bị thiệt mạng. Ngoài ra, còn có 35 người khác bị thương, bao gồm 24 nhân viên an ninh.


Các nguồn tin từ giới truyền thông cũng cho hay có cuộc biểu tình ở Tehran, nơi khoảng 500 người hô khẩu hiệu đả đảo Mỹ và tìm cách bao vây tòa Ðại Sứ Thụy Sĩ, hiện đang giữ vai trò trung gian đại diện cho Mỹ vì Washington không có liên lạc ngoại giao với Tehran. Hàng trăm cảnh sát viên kềm giữ đám đông không cho họ đến gần sứ bộ ngoại giao này.


Trong ngày thứ ba liên tiếp, đám đông biểu tình trước tòa Ðại Sứ Mỹ ở Cairo đã xô xát với cảnh sát gìn giữ trật tự và giới hữu trách đã phải dùng đến lựu đạn cay để giải tán họ.


Tại Sanaa, thủ đô Yemen, đám đông tràn vào được vòng ngoài của tòa Ðại Sứ Mỹ, nổi lửa đốt một văn phòng nơi này.


Những người này sau đó rút lui và lấy đi bàn ghế cùng các máy điện toán.


Tổng thống Yemen, ông Abdu Rabbu Mansour Hadi, cho hay trong một bản thông cáo là ông bày tỏ “sự xin lỗi đến Tổng Thống Barack Obama và dân chúng Mỹ” về cuộc tấn công này.


Trong khi đó, hãng thông tấn Reuters cho biết giới chức Libya vừa bắt bốn người trong khi điều tra vụ tấn công tòa Lãnh Sự Mỹ ở Benghazi, làm thiệt mạng đại sứ và ba nhân viên ngoại giao Mỹ.


“Bốn người bị bắt và chúng tôi đang thẩm vấn họ bởi vì họ bị tình nghi giúp tổ chức vụ tấn công vào tòa lãnh sự,” ông Wanis Sharif, thứ trưởng Bộ Nội Vụ Libya, được Reuters trích lời nói.


Tuy nhiên, ông không cho biết thêm chi tiết.


Tại Ai Cập, giới chức Hoa Kỳ phải liên lạc với đảng Huynh Ðệ Hồi Giáo cầm quyền để xác nhận hai thông điệp mâu thuẫn nhau được gởi qua hệ thống tweeter, liên quan đến vụ tấn công tòa Ðại Sứ Mỹ ở Cairo.


Trong thông điệp đầu tiên, được viết bằng tiếng Anh, ông Khairat el-Shater, phó thủ lãnh của đảng, viết ông “cảm thấy nhẹ nhõm vì không có nhân viên ngoại giao nào của tòa đại sứ bị hại” và hy vọng quan hệ Mỹ-Ai Cập “sẽ được duy trì sau các sự kiện xảy ra hôm Thứ Ba (dân Ai Cập tấn công tòa đại sứ).”


Tuy nhiên, thông điệp thứ nhì của đảng Huynh Ðệ Hồi Giáo, viết bằng tiếng Ả Rập, và cũng được đăng trên trang web của đảng, lại khen ngợi những cuộc biểu tình chống cuốn phim sản xuất tại Mỹ mà một số người Hồi Giáo cho là xúc phạm Tiên Tri Muhammad. Thông điệp của Huynh Ðệ Hồi Giáo cũng kêu gọi tổ chức một cuộc biểu tình có một triệu người tham gia vào Thứ Sáu.


Ngay sau đó, Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Cairo đáp lại: “Cảm ơn. Tuy nhiên, quý vị đã kiểm tra lại thông điệp bằng tiếng Ả Rập chưa? Hy vọng quý vị biết là chúng tôi có đọc được thông điệp này đấy nhé.”


Huynh Ðệ Hồi Giáo trả lời: “Chúng tôi hiểu quý vị đang trong tình trạng bấn loạn, nhưng nếu quý vị cho biết chính xác đoạn nào làm quý vị quan tâm thì rất tốt.”


Hôm Thứ Năm, tổng thống Ai Cập, ông Mohammed Morsi, thuộc đảng Huynh Ðệ Hồi Giáo, nói ông ủng hộ các cuộc biểu tình ôn hòa, chứ không phải các cuộc tấn công vào các tòa đại sứ, theo bản tin của Reuters.


Trong khi đó, nhật báo The New York Times cho rằng Ai Cập, chứ không phải Libya, nơi Ðại Sứ Chris Stevens bị giết, có thể là một vấn đề chính trị rất lớn đối với Hoa Kỳ.


Ông Martin S. Indyk, cựu đại sứ Mỹ tại Israel, nói với tờ báo rằng: “Dù không có người Mỹ bị giết, nhưng đây là lần thứ tư một tòa đại sứ tại Cairo bị tấn công, trong lúc cảnh sát Ai Cập phản ứng rất nhẹ nhàng.”


“Tại sao Tổng Thống Morsi không lên án những hành động này,” ông Indyk thắc mắc.


Tại Hoa Kỳ, giới chức liên bang xác định được người đàn ông sống ở miền Nam California, từng bị tù vì tội liên quan đến gian lận tài chánh, là nhân vật chính làm cuốn phim “The Innocence of Muslims,” gây nên làn sóng chống Mỹ trong thế giới Ả Rập. Ðó là ông Nakoula Basseley Nakoula, 55 tuổi, bản tin của hãng thông tấn AP cho biết.


Bộ Trưởng Tư Pháp Eric Holder nói Bộ Tư Pháp Mỹ đã bắt đầu điều tra cái chết của bốn công dân Mỹ tại Libya. Tuy nhiên, hiện chưa biết là Bộ Tư Pháp có tập trung sự điều tra vào nhân vật làm bộ phim ở miền Nam California hay không.


Phóng viên Richard Esposito của đài truyền hình ABC cho biết cảnh sát Los Angeles County được phái đến nhà ông Nakoula ở Cerritos tối Thứ Năm để bảo vệ ông, đề phòng trường hợp ông bị trả thù. Tuy nhiên, sau một lát, cảnh sát rời khỏi khu vực nhà ông. (V.Giang, Ð.D.)

Bà Quả Phụ Võ Minh Ngoạn

Lợi dụng lòng tin của dân nghèo

 


 Về “Không phải là Hổ Mang”



Sự lừa gạt những người dân quê ít có kiến thức rộng rãi cùng sự tin tưởng hoang đường đã có xảy ra rất nhiều, cho nên có nhiều người muốn kiếm tiền làm giàu thì họ lợi dụng lòng tin của dân nghèo mà tha hồ hút máu làm tiền. Những người làm chuyện ác đức sau này sẽ bị sự trừng phạt của Thượng đế.


hung

Mùa Thu ở làng chài Gò Nổi – Thu Bồn

 


Phương Ngạn/Người Việt


 


QUẢNG NAM (NV) –Nhắc đến sông Thu Bồn, có lẽ không cần phải nói cho nhiều, bởi nó đã đi vào thơ ca không ít, và, địa danh Gò Nổi – đất học của Ngũ Phụng Tề Phi, của Hoàng Diệu, Phạm Phú Thứ, Phan Quang… cũng không mấy xa lạ với độc giả.










Hạnh phúc giản dị của dân chài, chồng chèo thuyền, vợ bủa lưới, giăng câu… (Hình: Phương Ngạn/Người Việt)


Nhưng, nói về làng chài vào mùa Thu ở một khúc sông vắng, trên dải đất vắt ngang dòng Thu Bồn, câu chuyện đã xoay sang hướng khác, đầy thân phận và nỗi niềm.


 


Ðức hiếu sanh


 


Dường như đời sống của người dân làng chài, mọi thứ đều rất khác biệt với người dân trên bờ cách họ chưa đầy trăm mét. Khái niệm thời gian ở đây cũng đông cứng, đóng băng, một ngày dài được định nghĩa bằng một chuyến chèo ghe ra sông và quay ghe trở về, một năm dài được nhắc nhớ bởi bốn mùa từ Xuân sang Ðông, trong đó có hai mùa ngồi bó gối.


Ông Nhạc, dân chài lâu năm ở đây cho biết: “Dân nghề ở đây ít có ai ăn học tới nơi tới chốn, cao nhất chừng hết cấp trung học, có nhiều đứa học lớp ba, lớp bốn là nghỉ, có vợ, có chồng, sinh con đẻ cái, rồi lại vác lưới ra sông.”


“Mùa thì ở đây mùa nào cũng là mùa làm ăn cả. Nhưng có vẻ như mùa Xuân là đói nhất, vì mùa này con nước trong veo, khó mà bủa lưới, còn mùa Ðông thì lạnh căm, nhưng là mùa kiếm cơm. Mùa Hè và mùa Thu thì ngồi bó gối.”


“Thật ra, hai mùa này vẫn kiếm được cá như các mùa kia, nhưng theo lệ của tổ tiên làng nghề ở đây thì mùa Hè là mùa giao phối, mùa Thu là mùa cá bắt đầu đẻ trứng, làng nghề kiêng đánh cá hai mùa này, ăn của trời thì phải biết giữ của trời, không thể hốt trọi cả bốn mùa.”


Anh Tuấn, thanh niên của làng chài cho biết thêm: “Ở đây nghèo lắm, vì quanh năm bám ghe, bám sông, ngày nào trúng mẻ cá lớn thì cả gia đình kiếm được ngót nghét một trăm ngàn đồng, thường thì vài ba chục ngàn đồng, ruộng không có, đất không có, nên chỉ sống với ngần ấy tiền, khó lắm, ăn còn không đủ, lấy chi mà học hành!”


“Một phần vì yêu nghề, một phần vì không có bằng cấp, nên chẳng có cơ hội chuyển sang nghề khác, hết đời cha đến đời con cứ bám ghe, bám sông mà đắp đổi qua ngày. Thường, trẻ nít ở đây rất thích mùa Thu, vì mùa này cha mẹ hay ở nhà chơi với tụi nó, dán đầu lân, làm ông địa cho tụi nó…”


“Bánh Trung Thu là một thứ gì đó rất xa lạ đối với trẻ nít ở đây, vì cha mẹ, ông bà của tụi nó cho đến giờ còn chưa biết, nhiều khi cũng muốn mua cho con cháu mình ăn để biết, nhưng một cái bánh Trung Thu có khi bằng ba bốn ngày làm, thôi thì nhịn vậy!”


Chị Thuận, người phụ nữ bám nghề từ tấm bé của làng chài, kể: “Nhiều bữa, bơi ghe đi dạo, thấy cá nhiều lắm, nhưng nghiệt nỗi đang là mùa chúng đẻ trứng, nên không nỡ buông lưới, vậy là bơi ghe dòm cho đỡ thèm rồi quay về!”


“Từ nhỏ, cha tôi đã dạy, mình là người không may mắn, ít ăn học, nhưng mình phải giữ đạo làm người, phải có đức hiếu sanh, mình làm nghề chài lưới là sát sanh, vì sinh nhai nên đành chịu. Nhưng dù gì thì phải biết mùa của vạn vật yêu nhau và mùa sinh sôi của chúng, phải tôn trọng mùa này.”










Những con thuyền tạm nghỉ trong mùa cá sinh nở. (Hình: Phương Ngạn/Người Việt)


“Chính vì vậy mà dân chài xóm mình không ai nói ai, dường như từ trong máu huyết đã có đức hiếu sanh do cha mẹ truyền dạy, không ai sát ngư vào mùa Hè và mùa Thu. Mà cũng chính vì vậy mà mình khó khăn, nhưng đành chịu!”


 


“Làng nghề” bất hợp lý


 


Gần đây, các phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam nhắc nhiều về chuyện các làng nghề, phục dựng làng nghề… Nhưng nếu nhìn kỹ một chút, dường như mọi hoạt động “phục dựng” làng nghề đều mang tính hình thức, qua loa và bất hợp lý.


Thường thì cứ làng nghề nào được tổ chức rình rang, có bàn tay của cơ quan văn hóa địa phương nhúng vào, liền sau đó là đóng cửa, không tiêu thụ được mặt hàng hoặc có những tranh chấp nội bộ về ăn chia không đồng đều, hoặc có sự toa rập của đầu nậu với cán bộ ngân hàng, người cần vốn thì không được vay, người không làm nghề lại vay vốn để thao túng làng nghề…


Dường như có hàng trăm thứ bất ổn trong vấn đề tổ chức phục dựng làng nghề của các cơ quan văn hóa nhà nước. Làng chài Gò Nổi – Thu Bồn cũng không tránh khỏi tình trạng này.


Ông Tuấn, một ngư dân lâu năm của làng chài, cho biết: “Cũng có nghe nói nhà nước tổ chức phục dựng làng nghề, anh em ở đây cũng thử liên hệ để coi thử có được chi không. Nhưng rồi thất vọng.”


“Những điều kiện họ đưa ra như là không đánh bắt bằng chất nổ, không dùng lưới có kích cỡ nhỏ để đánh bắt nhằm giữ những con cá nhỏ sống sót, không được dùng bình điện… Thì mấy cái đó mình đã đáp ứng từ rất lâu, không cần họ nhắc mình cũng đã làm thế. Nhưng mà thủ tục rắc rối quá, mình ít học, nghe họ nói một hồi, mình thấy mệt, thôi nghỉ luôn.”


“Thật ra, cái chính để tạo ra làng nghề là phải làm sao cho làng nghề đó ổn định hơn, văn minh hơn và sống có văn hóa hơn, ví dụ như họ ưu tiên cho con em mình đi học miễn phí, cho mình vay vốn lãi suất thấp để mua dụng cụ tốt hơn chẳng hạn. Nhưng họ chẳng giúp mình được chuyện này.”


“Nếu tổ chức một làng nghề để lâu lâu họ về quay phim, rồi cúng bái lung tung cũng để quay phim, làm du lịch gì gì đó, e rằng không hợp với làng chài ở đây. Vì chúng tôi không thích thế, chúng tôi muốn được bình yên, cuộc sống tốt hơn, con cái có cơ hội đổi đời…”


Lời bộc bạch của ông Tuấn trong lúc ông đang cặm cụi đan lưới vô hình trung ám gợi chúng tôi hình ảnh nào đó rất xa xưa về những con người sống gần gũi thiên nhiên, bỏ mặc mọi thị phi cuộc đời, hòa nhập với đất trời, sông nước.










Những mắt lưới buộc chặt cuộc đời với sông nước mênh mông. (Hình: Phương Ngạn/Người Việt)


Nhưng, cũng chính cái quan niệm đời sống giản dị của ông và những người dân chài hàng xóm của ông lại chạm đến những trắc ẩn khác về thân phận con người trong xã hội mà ở đó, họ có khoảng cách rất gần với đời sống hiện đại nhưng lại cam chịu, chấp nhận một kiểu sinh hoạt rất ư lạc hậu, thiếu thốn và thiệt thòi trăm bề. Lỗi này do ai?


Mùa Thu đang về, cách xóm chài không xa, những cửa hàng bánh Trung Thu đỏ vàng, xanh, rực ngũ sắc, những đứa bé xóm chài vẫn cùng với một Trung Thu vài con đom đóm bỏ vào vỏ trứng, vài chén chè của cha mẹ nấu cúng Rằm… Một tuổi thơ thiệt thòi bởi nghèo khó!

Nhà bank không ngu

 



 


Về “Mua hớt tay trên”



Nhà bank không có ngu đâu bạn ạ, nếu họ thấy có lời thì họ sẽ làm, biết bao nhiêu năm họ đã lấy tiền của khách hàng gửi trong ngân hàng để cho khách hàng khác mượn lại kiếm lời. Bây giờ nếu ngân hàng cho mượn tiền hoặc bán nhà cho những người mua lần đầu tiên nhưng với điều kiện họ đưa ra chưa chắc gì bạn được chấp nhận. Thí dụ: 1. Tiền đặt cọc (down) phải 30% ($500,000 x 30% = $150,000 plus paper, service fee,…) 2. Việc làm và W2 khai thuế ít nhất là từ 3-5 năm. 3. Tín dụng phải tốt (credit point)… Nếu còn trẻ thì có thể chứ còn hơi lớn tuổi thì nên quên đi.


hung


 


 

Chuyện bịa vô lý

 Về “Bị chồng đánh, làm thơ tranh đấu cho nữ quyền”



Chuyện bịa vô lý. Ðây là Mỹ chứ đâu phải Việt Nam mà cô này phải chịu đựng mười năm. Nếu con cô cũng bị đánh thì khi đi học cô giáo sẽ biết và làm sao anh chồng “thoát” được cái còng của cảnh sát.


Khai


 


 

Phải gọi là phó viện trưởng

 


Thư độc giả


 


Về “Phụ nữ gốc Việt làm phó hiệu trưởng Ðại Học Coastline”



Nếu là đại học thì danh vị của bà Christine Nguyễn phải gọi là phó viện trưởng thay vì phó hiệu trưởng.


HN – MN


 


 

Bầu cử Hạ Viện: Cộng Hòa ăn chắc? Dân Chủ thành công?

 


Nguyễn Văn Khanh


 


Chưa bao giờ thấy ông Steve Israel phấn khởi như chiều hôm nay. Ðúng một ngày sau khi cuộc bầu cử sơ bộ ở các tiểu bang hoàn tất, vị dân biểu chủ tịch Ủy Ban Vận Ðộng Tranh Cử cho đảng Dân Chủ ở Hạ Viện hãnh diện nói với mọi người ông nhìn thấy “cơ hội lấy lại khối đa số vào Tháng Mười Một tới đây ngày một rõ nét hơn trước.”










Dân Biểu Steve Israel hy vọng đảng Dân Chủ có thể tái kiểm soát Hạ Viện. (Hình: Stan Honda/AFP/GettyImages)


Lý do được ông đưa ra là điều các ủng hộ viên của đảng đang nói tới. Sự xuất hiện của ông Paul Ryan trong liên danh tranh cử tổng thống cho đảng Cộng Hòa khiến người dân Mỹ lo hơn, sợ cánh Cộng Hòa làm chủ cả hành pháp lẫn lập pháp, và khi “cử tri càng lo ngại chừng nào càng có lợi cho chúng tôi chừng nấy.” Ông còn dõng dạc nói mọi người lo ngại chuyện Cộng Hòa thắng Tòa Bạch Ốc, nhất là “từ khi ông Ryan được (ông Mitt Romney) mời đứng chung liên danh, mối lo ngại này càng ngày càng tăng lên,” tới mức ông Israel gọi là “thảm họa” của các ứng viên Cộng Hòa toàn quốc, nhất là những người đang dự cuộc tranh cử Hạ Viện Liên Bang.


Ý kiến Dân Biểu Israel đưa ra ngày hôm qua (Thứ Tư, 13 Tháng Chín) trong cuộc tiếp xúc với báo chí ở trụ sở đảng Dân Chủ là điều một số chiến lược gia độc lập nói tới từ giữa tháng trước. Một trong những người đầu tiên nói đến chuyện này là ông Mike Goebel, cho rằng ông Ryan “giúp định hình cuộc bầu cử, liên danh Cộng Hòa sẽ đánh mạnh vào chuyện kinh tế, việc làm,” nhưng cũng chính ông Ryan “khiến cử tri ở tuổi 50 trở lên lo âu vì ông ta cứ hăm he đòi cải tổ Medicare.” Ðiều khác biệt duy nhất: ông Israel nói có vẻ chắc ăn, ông Goebel chừng mực hơn, nói rằng “không ngạc nhiên lắm nếu phía Dân Chủ lấy thêm 25 ghế ở Hạ Viện để nắm khối đa số.”


Phía Cộng Hòa đương nhiên không đồng ý với những gì đảng Dân Chủ hay các chiến lược gia độc lập đưa ra. Trong buổi tiếp xúc bên lề Ðại Hội Ðảng ở Tampa, Florida, các viên chức điều hành đảng Cộng Hòa vừa nhún vai vừa nói bên Dân Chủ “đang nằm mơ” chuyện sẽ lấy lại khối đa số, bảo đảm với mọi người “chắc chắn chuyện đó sẽ chẳng bao giờ xảy ra,” lại còn nói đùa sẵn sàng đánh cược với bất cứ ai “muốn thử thời vận vì tin vào lời của đảng Dân Chủ.”


Ông Brad Todd, trưởng Ban Cố Vấn Chiến Lược Tranh Cử Cộng Hòa, phân tích: “Từ Tháng Sáu cho đến giờ, đảng Dân Chủ vất vả ngược xuôi để chống lại những luận cứ chúng tôi đưa ra, trong khi các cuộc thăm dò đều nói cử tri tán thành ý kiến nên sửa đổi lại những điều khoản liên quan đến Medicare được ghi trong đạo luật cải tổ bảo hiểm y tế mà ông Barack Obama và Quốc Hội Dân Chủ thông qua cách đây hai năm để tránh khoản tiền khổng lồ mà chính phủ phải trả cho những điều khoản vô lý này.” Một nhân viên của văn phòng Chủ Tịch Hạ Viện John Boehner còn bảo dựa theo những dữ kiện được cung cấp từ các đơn vị bầu cử, “phe Dân Chủ làm việc toát mồ hôi cũng chưa chắc lấy thêm được một hay hai ghế, đừng vội nói tới chuyện nắm khối đa số.”


Sự thật thế nào? Có lẽ câu trả lời đúng nhất: Cả hai đảng đang tranh nhau từng ghế một, cả hai đều có cơ hội thành công – tức là lấy thêm ghế ở Hạ Viện – cả hai đang bỏ nhiều triệu bạc để mở cuộc vận động quy mô toàn quốc cho các ứng cử viên của mình, “nhưng không thể đoán biết trước tình hình rồi sẽ ra sao,” theo nhận định của bà Martha Gibson, một trong những nhà phân tích bầu cử rất quen thuộc với báo giới miền Tây.


Từ văn phòng làm việc ở Denver, Colorado, bà Gibson trả lời qua điện thoại, “Giờ này hai năm trước đây mọi người đều nhìn thấy cả một phong trào dấy lên bởi nhóm Tea Party, năm nay chẳng có phong trào nào đủ mạnh để lấy thêm ghế cho đảng Dân Chủ hay đảng Cộng Hòa, tiếng nói của nhóm Tea Party cũng vắng hẳn, phần lớn chỉ ở những đơn vị người của họ tái ứng cử, gần như họ không có thêm ứng cử viên nào mới.”


“Theo tôi,” bà Gibson nói tiếp, “sẽ có thay đổi nhưng rất nhỏ, tới mức được xem là không đáng kể,” chẳng hạn như “bên Cộng Hòa hay bên Dân Chủ lấy được hay mất chừng năm ghế.” Ðiều đó nếu xảy ra, “không ảnh hưởng gì đến tình hình chính trường Hoa Kỳ” dựa theo những gì đã xảy ra trong ba năm qua: Cộng Hòa bỏ phiếu theo Cộng Hòa, Dân Chủ bỏ phiếu theo Dân Chủ, chuyện “bên này ủng hộ bên kia quá hiếm, có thể nói hầu như chưa thấy xảy ra” mỗi khi bàn thảo và bỏ phiếu những đạo luật quan trọng. Vì thế, “Dân Chủ hay Cộng Hòa có mất hay lấy thêm vài ba ghế cũng chẳng ảnh hưởng gì,” cho đến khi “lãnh đạo hai đảng tìm được một giải pháp tương nhượng chính trị mà họ thường xuyên nói tới, nhưng chưa hề thấy thực hiện trong những năm gần đây.”

Cưỡng chế ngôn ngữ

 


Nguyễn Hưng Quốc


 


Ở Việt Nam, mấy năm gần đây, có một chữ khá thịnh hành và thường gây xôn xao dư luận: “cưỡng chế đất đai.” Nhưng việc cưỡng chế ấy không phải chỉ giới hạn ở chuyện đất đai. Từ lâu, chính quyền đã có một hình thức khác: cưỡng chế ngôn ngữ.


Hình thức cưỡng chế ấy có nhiều biểu hiện.


Thứ nhất, nhà cầm quyền cộng sản sử dụng ngôn ngữ như những nhãn hiệu để phạm trù hóa kẻ thù. Ngày xưa, thời kháng chiến chống Pháp, đó là những chữ “thực dân,” “Việt gian,” “địa chủ,” “cường hào” và “tư sản”; sau, thời chiến tranh Nam Bắc, đó là những chữ “đế quốc,” “chủ nghĩa thực dân mới,” “Mỹ ngụy,” “bù nhìn,” “tay sai,” “ác ôn,” “phản quốc” và “phản động”; sau năm 1975, “chủ nghĩa bá quyền,” “chủ nghĩa bành trướng,” “tư sản mại bản,” “tàn dư của chủ nghĩa thực dân” và “phản động”; gần đây, thêm hai khái niệm mới: “diễn tiến hòa bình” và “âm mưu của các thế lực thù địch quốc tế.” Ði đôi với các từ ngữ ấy ấy là vô số các ẩn dụ nhằm phi nhân hóa kẻ thù: “sài lang,” “lang sói,” “ác thú,” “quỷ dữ,” v.v…


Những nhãn hiệu ấy có ba chức năng chính: một, để chụp mũ bất cứ người nào đi ngược lại chủ trương của họ; hai, để phi nhân hóa kẻ thù: kẻ thù tồn tại không phải như những con người mà là như những khái niệm, do đó, việc tiêu diệt kẻ thù không còn nằm trong phạm trù đạo đức thông thường nữa; và ba, để dựng lên những con ngáo ộp hầu một mặt, hù dọa dân chúng; mặt khác, biện minh cho những chính sách cứng rắn, thậm chí, có tính chất khủng bố của họ. Chức năng thứ ba là thuộc tính của mọi chế độ độc tài: Họ luôn luôn cần kẻ thù, cần văn hóa chiến tranh. Nếu không có kẻ thù thì họ thêu dệt ra kẻ thù. Bóng ma của kẻ thù là một cách để vừa tập trung quyền lực vừa đánh lạc hướng dư luận. Ðối diện với cái bóng ma đầy đe dọa ấy, dân chúng nói chung dễ dàng gác bỏ mọi sự hoài nghi hay ý hướng phản kháng.


Thứ hai, đặc biệt suốt cả hai cuộc chiến tranh, 1946-54 và 1954-75, là quân sự hóa các hoạt động ngôn ngữ trong đời thường. Văn học nghệ thuật biến thành hoặc “chiến trường” hoặc “mặt trận” hoặc “trận tuyến”; tác phẩm là “vũ khí”; viết lách là “tiến công”; “nhà thơ cũng phải biết xung phong”; “viết bài thơ trên báng súng”; “vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy/bên những dũng sĩ diệt xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi”; giới cầm bút biến thành “đội ngũ,” hình thành nên cái gọi là “đội quân văn nghệ” hay “lực lượng sáng tác,” ở đó mọi người đều là những “chiến sĩ cầm bút” và đều tuân theo một “cương lĩnh chiến đấu” và cùng nhau “hiệp đồng chiến đấu.” Thơ trào phúng được xem là một “binh chủng đặc biệt” trong khi các bài ký sự thổi sức nóng của đời sống thực được xem là một “mũi xung kích” hoặc “mũi nhọn tiến công” của nền văn học mới. Một nhà thơ hay một nhà văn trung thành với một vùng sáng tác nào đó thì được gọi là “bám trụ”; đi tiên phong trong một lãnh vực nào đó thì biến thành “ngọn cờ”; tập trung vào việc đả kích địch thì được ví với việc “nổ súng”; thường xuyên phê phán địch thì được biểu dương là “nắm thắt lưng địch mà đánh.” Trong thơ, có những “bài thơ rực lửa chiến đấu”; trong âm nhạc, có “tiếng hát át tiếng bom.”


Vượt ra ngoài phạm vi văn học, ở các lãnh vực khác, cũng thế. Một đám đông, dù chẳng liên quan gì đến quân sự, cũng được gọi là “đội quân”: “đội quân thất nghiệp.” Làm quang đất đai thì gọi là “giải phóng mặt bằng.” Một chương trình có nhiều người tham gia và được nhà nước cổ vũ thì được gọi là “chiến dịch” (ví dụ: “chiến dịch làm sạch đường phố”). Ngày mở đầu của những chiến dịch như vậy thường được gọi là “ra quân” (“Hà Nội ra quân chống ùn tắc giao thông”). Trấn giữ một địa điểm nào đó để làm nhiệm vụ, cho dù chỉ là nhiệm vụ phòng chống lũ lụt, cũng được gọi là “đóng chốt” hay “trực chiến” (“Chính quyền, các cơ quan chủ quản đã cử người đóng chốt, trực chiến tại những địa điểm nhiều nguy cơ lũ tràn về.”) (1). Cách thức ăn uống đặc biệt cho một loại người nào đó trở thành “chế độ” ăn uống. Tự mình dằn vặt suy nghĩ để đi đến một quyết định quan trọng nào đó thì được gọi là “đấu tranh tư tưởng.” Tố Hữu có hai câu thơ tả một cánh đồng hợp tác xã ở miền Bắc: “Hãy xem! Ðồng ruộng cũng chỉnh tề thế trận/Lúa đứng thẳng hàng quyết tâm năm tấn.” Một nhà thơ nào đó, hình như là Trinh Ðường, có câu thơ tả tình yêu: “Tình yêu anh, em ạ, cũng lên nòng.”


Thứ ba là hành chính hóa ngôn ngữ. Ở xã hội nào cũng có lớp từ vựng hành chính riêng. Xưa, có các từ sớ, tấu, chiếu, chỉ, bẩm, báo, trình, với những “quan,” những “cụ,” những “thầy” các loại. Xã hội ngày nay cũng vậy. Cũng có “cán bộ,” có “đồng chí,” có “báo cáo,” có “phương án giải quyết,” có “đăng ký” và “quản lý,” v.v… Chỉ có vấn đề là, khác với các nơi và thời khác, dưới chế độ cộng sản, lớp từ hành chính ấy cứ tràn ra đời sống hàng ngày. Ở mọi nơi. Kể cả những nơi quan hệ giữa người và người không có chút hành chính gì cả.


Cũng có khi đó là chủ trương chung của nhà cầm quyền: Ðể xây dựng một xã hội mới với những con người mới, và đặc biệt, những quan hệ mới, người ta cổ vũ việc sử dụng lớp từ hành chính trong mọi trường hợp. Bạn bè là “đồng chí” của nhau. Những người “đồng chí” ấy không chuyện trò với nhau: Họ “trao đổi” hoặc “báo cáo” cho nhau, rồi “tự phê” và “phê bình” nhau. Sau những “báo cáo” và những “phê bình” ấy, người ta không cần hiểu rõ: Người ta chỉ cần “quán triệt.” Nếu một người còn hoang mang, người khác sẽ tiếp tục giúp “đả thông tư tưởng.” Con trai và con gái không gặp nhau: họ “phát hiện” ra nhau; họ không yêu nhau: họ có “quan hệ tình cảm” với nhau; họ không làm đám cưới với nhau, họ chỉ “đăng ký kết hôn.” Ngày xưa, chỉ có các nhà tư tưởng mới “tư duy” (Tôi tư duy vậy tôi hiện hữu, “Cogito ergo sum,” Descartes), bây giờ, trong quần chúng, ai cũng “tư duy” nên mặt mày ai cũng “khẩn trương” và cũng đầy “bức xúc,” nhất là khi gặp một “sự cố” gì đó mà người ta chưa có “phương án giải quyết.”


Việc hành chính hóa ngôn ngữ ấy làm xóa mờ ranh giới giữa cái riêng và cái chung, tính chất cá nhân và tính chất tập thể, kích thước xã hội và kích thước chính trị trong đời sống con người. Từ cái nhìn bên ngoài, chúng ta dễ thấy việc hành chính hóa ngôn ngữ ấy là một sự hài hước, thậm chí, lố bịch, do đó, nó trở thành đề tài của các truyện cười nhạo báng chế độ, kiểu nói chuyện với bố mẹ hay anh em bạn bè mà dùng chữ “báo cáo”; xin kết hôn mà dùng những chữ to tát như “đăng ký” hay “quản lý đời em”; hối thúc một người nào đó mà dùng chữ “hãy khẩn trương lên”… Tuy nhiên, từ cái nhìn trong cuộc, với việc phổ cập của lớp từ vựng hành chính trong đời sống hàng ngày như vậy, nhà cầm quyền đã thành công trong việc nhồi sọ quần chúng, biến mọi người thành một thứ công cụ như được đúc ra từ một cái khuôn duy nhất: người ta không còn sự riêng tư và sự độc đáo nữa.


Thứ tư là tạo nên những từ mới hoặc áp đặt lên các từ cũ một nội dung mới hoàn toàn trái ngược hẳn với hiện thực vốn có. Ví dụ cho loại này nhiều vô cùng: thay cho chữ “trại tù,” họ gọi là “trại học tập” hay “trung tâm phục hồi nhân phẩm”; thay cho chữ “nhồi sọ,” họ gọi là “cải tạo tư tưởng”; thay vì gọi thẳng là tịch thu đất đai của địa chủ, họ dùng chữ “cải cách ruộng đất”; thay vì gọi thẳng tịch thu tài sản của người giàu, họ gọi là “đánh tư sản”; thay cho chữ “làm quan,” họ tự xưng là “đầy tớ nhân dân”; thay cho chữ “độc tài,” họ lại gọi là “làm chủ tập thể”; cán bộ đồi trụy, thay vì nói đồi trụy, họ dùng chữ “hủ hóa”; đối với hiện tượng tham nhũng hay thoái hóa của đảng viên, thay vì dùng chữ “nhiều,” họ dùng chữ “không ít” hoặc “một bộ phận”; thay vì thừa nhận thất bại trước các thử thách, họ dùng cách nói “từng bước khắc phục”; thay vì “bắt lính,” họ gọi là “đi nghĩa vụ quân sự”; thay vì nói đánh chiếm Cambodia, họ nói họ đang làm “nghĩa vụ quốc tế”; thay vì nói “bế tắc,” họ dùng chữ “hạn chế tất yếu”; những gì họ thích thì họ gọi là “bản chất” và “khách quan”; những gì không thích thì họ gọi là “hiện tượng” và “chủ quan.”


Gọi như thế, người ta bất chấp cả sự thật. Chủ nghĩa cộng sản đã sụp đổ trên phạm vi toàn thế giới và những mặt trái của nó đã được vạch trần và đã trở thành hiển nhiên với mọi người, họ vẫn tiếp tục gọi nó là “tiến bộ,” là “đỉnh cao,” là “ưu việt” và là “quy luật phát triển” của lịch sử. Không có tự do bầu cử và cũng không có bất cứ một cuộc trưng cầu dân ý nào, người ta vẫn khăng khăng nhân danh “ý nguyện của toàn dân” để duy trì sự độc quyền lãnh đạo của mình. Suy nghĩ cũ mèm mà vẫn cứ ba hoa là “đổi mới tư duy.” Gần đây, họ gọi các cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội và Sài Gòn là các cuộc “tụ tập tự phát” của quần chúng; tàu Trung Quốc đâm nát tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam ngoài Biển Ðông được gọi là “tàu lạ”; những vấn đề nhà cầm quyền không muốn nghe thì gọi là “nhạy cảm,” v.v…


Có thể nói, với những cách dùng từ hoặc định nghĩa từ ngang ngược như vậy, người ta tiến hành một cách quy mô, kiên trì và có hệ thống một cuộc cưỡng chế trong lãnh vực ngôn ngữ. Hậu quả là nó làm thay đổi hẳn ý nghĩa của rất nhiều từ quen thuộc hoặc làm cho chúng trở thành rỗng tuếch, không còn mang một ý nghĩa gì cả. Những chữ như “cách mạng,” “giải phóng,” “công bằng,” “tự do,” “dân chủ,” “nhân quyền,” “tiến bộ,” “phát triển,” “đỉnh cao trí tuệ,” “làm chủ tập thể,” “quần chúng,” “nhân dân,” thậm chí, cả chữ “yêu nước”… đều nằm trong trường hợp như thế. Ngay cả những chữ đơn giản như “đúng” và “sai,” “thật” và “giả,” “tiến bộ” và “lạc hậu,” “tốt” và “xấu”… cũng không còn nguyên nghĩa của chúng nữa. Trong các cặp đối lập ấy, khái niệm thứ nhất bao giờ cũng được sử dụng cho đảng, hoặc rộng hơn chút, cho “phe ta”; còn khái niệm sau bao giờ cũng thuộc về phe địch. Không có ngoại lệ. Ðã là địch thì phải sai, phải giả, phải xấu và phải lạc hậu. “Ta” thì, ngược lại.


Trong cuốn phim tài liệu “Chuyện Tử Tế,” Trần Văn Thủy đi hỏi ý nghĩa hai chữ “tử tế” và “vĩ đại,” hầu như ai cũng lúng túng. Bây giờ thử hỏi những người Việt Nam bình thường những từ như “tình hữu nghị” hay “láng giềng tốt” trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc thực sự có nghĩa là gì, hẳn ai cũng thấy hoang mang. Khi những người yêu nước, vì công phẫn trước những thái độ uy hiếp ngang ngược và trắng trợn của Trung Quốc xuống đường biểu tình, bị chính quyền, cũng nhân danh lòng yêu nước, trấn áp, đánh đập, bắt bớ, sỉ nhục và bị xem như một “thế lực thù địch,” người ta không còn thấy đâu là ranh giới giữa yêu nước và bán nước nữa. Bài thơ “Lẫn Lộn Lung Tung” của Bùi Giáng, làm trước năm 1975, có giá trị như một sự tiên tri:


Tôi gọi Mỹ Tho là Mỹ Thỏ


Mỹ Thọ muôn đời là Lục Tỉnh hôm nay


Tôi gọi Sóc Trăng là Sóc Trắng


Gọi người sương phụ gái thơ ngây.


 


Chú thích:


(1) Ví dụ này và ví dụ trên được dẫn lại từ bài “Dấu Vết Chiến Tranh Trong Tiếng Việt” của Nguyễn Ðức Dân trên báo Sài Gòn Tiếp Thị ngày 2 tháng 9, 2012.

Nông dân gì thế này?

 


Về “Nông dân Việt Nam gởi thư cho thủ tướng Thái Lan”



Người nông dân VN nầy quả thật có nhiều ý kiến hay, tuy nhiên giữa Thái Lan và VN là hai thể chế chính trị khác nhau nên điều hành quốc gia theo khuynh hướng khác nhau. Thái Lan theo quân chủ lập hiến, dân chúng Thái Lan được hưởng nền dân chủ theo kiểu Tây phương còn VN theo thể chế của Trung cộng nên dân chúng phải chịu luật lệ theo Trung cộng. Cái luật lệ Trung cộng đó là làm cho 1 tỉ 3 triệu dân nghèo đói. May nhờ tư bản phương Tây, tư bản Nhật, tư bản Nam Hàn vì tham nhân công rẻ, lợi nhuận nhiều nên đổ tiền của vào Trung cộng đầu tư, tạo nên khí thế cho Trung cộng để rồi tư bản Mỹ đang sợ Trung cộng xanh mặt.


Kimhoangnguyen


 


Nông dân Ðồng Tháp mà viết hay thế, nông dân gì thế này? Dễ hiểu thôi, người dân nghèo VN khiếu nại bị cướp đất, tống tiền, bị công an đánh chết, bị lừa đi nước ngoài mắc nợ, bị bỏ rơi bên nước khác; tổng lãnh sự VN không giúp đỡ, đi khiếu nại tại tòa án và công an thành phố không trả lời… và bị bắt. Cho nên người dân nghèo tưởng mấy ông cán bộ chính quyền VN không hiểu tiếng Việt, cho nên họ phải gửi thư khiếu nại tới thủ tướng nước Thái Lan (vì nghe đâu thủ tướng Thái Lan biết tiếng Việt rành hơn thủ tướng VN).


hung



Anh ‘giai’ ơi, nông dân nước CHXHCNVN đấy à!!! Ở đấy, thạc sĩ, tiến sĩ, kỹ sư, bác sĩ, v.v. chạy đầy đường…


No question, chỉ cần ‘quét sân’ làm lại từ đầu.


Phạm


 

Bị mất việc vì tố cáo vụ hối lộ cho Lương Ngọc Anh

MELBOURNE (NV) –Người tố cáo công ty thầu in tiền Securency và công ty in tiền của chính phủ Úc (NPA) giao dịch và hối lộ cho một đại tá tình báo của công an CSVN, đã bị yêu cầu im lặng rồi cho nghỉ việc.









Ông Brian Hood, một cựu giám đốc của Securency bị mất việc vì đã chống đối vụ hối lộ quan chức ngoại quốc để giành thầu in tiền giấy nhựa polymer cho Việt Nam và một số nước khác. (Hình: Sydney Morning Herald)


Những lời khai của ông Brian Hood, một giám đốc của Securency, với Cảnh Sát Liên Bang Úc trong cuộc điều tra đặt ra nghi vấn là có phải các viên chức của Quỹ Dự Trữ Liên Bang Úc (RBA) đã có phạm luật không khi nói dối Quốc Hội (trong các buổi điều trần), bao che tham nhũng hay đã trừng phạt kẻ đã đứng ra tố cáo sự sai trái.


Tám viên chức của Securency và NPA đang ra tòa để trả lời cho các cáo buộc liên quan tới hối lộ viên chức ngoại quốc để giành thầu in tiền giấy nhựa polymer. Tại Việt Nam, người bị tố cáo đứng bình phong cầm $20 triệu Úc kim chia lại cho sếp lớn ở Ngân Hàng Nhà Nước CSVN và có thể các cấp cao hơn, là Lương Ngọc Anh, tổng giám đốc Công ty Phát triển Công nghệ AFTD ở Hà Nội.


Theo bản tin của báo The Age nêu ra hôm Thứ Sáu, 14 tháng 9, 2012, ông Hood đã khai với cảnh sát rằng năm 2008 ông đã nêu vấn đề quan ngại về tham nhũng nhưng phó thống đốc RBA là Bob Rankin lại báo cho ông biết là việc làm của ông không còn nữa.


Một cựu phó thống đốc khác, Ric Battellino, tức người mà ông Hood báo động về các người môi giới tham nhũng, đã nói với ông rằng đừng bao giờ nêu vấn đề hối lộ. Sau đó, khi ông Rankin trở thành chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị của cả Securency và NPA thì thông báo cho ông Hood nghỉ việc vì “thừa người.”


Những lời khai báo của ông Hood trái ngược với những lời điều trần ở Quốc Hội của ông Thống Ðốc Glenn Stevens rằng các chức sắc cao cấp của RBA không biết gì về chuyện hối lộ quan chức ngoại quốc.


Lời khai của ông Hood cho biết không những vậy, ông đã nêu sự quan ngại với Phó Thống Ðốc Frank Campbell năm 2007 về những vụ hối lộ liên quan đến cả hai công ty NPA và Securency. Ông nói cả với ông Phó Thống Ðốc Mattellino, kiểm toán chính của RBA là ông Paul Apps và bà Helen Brown, luật sư nội bộ của RBA.


Qua lời khai của ông Hood thì từ trên xuống dưới, dấu hiệu cho thấy cả các cấp cao nhất của RBA đã biết vụ việc từ lâu nhưng cố tình ém nhẹm để giữ mối thầu in tiền cho Việt Nam và các nước khác.


Một ngày trước, báo chí Úc đưa tin Cựu Thủ Tướng Úc Paul Keating khi làm tư vấn cho một công ty Úc (Armaguard) được Cục Xúc Tiến Thương Mại Úc (Austrade) giới thiệu với Lương Ngọc Anh năm 2008 để nhờ tay này giới thiệu với các quan chức cao cấp của Việt Nam, nhắm mối thầu tư vấn về quản trị tài chính. Tuy nhiên, công ty Armaguard không tiến tới.










Cựu Thủ Tướng Úc Paul Keating. (Hình: The Age)


Việc này diễn ra dù một năm trước cơ quan Austrade đã gửi một bức thư “tuyệt mật” gửi Securency cho biết tòa Ðại Sứ Úc ở Hà Nội đã điều tra và nói “Lương Ngọc Anh có thể là một viên chức cao cấp ở Bộ Công An hoặc một cơ quan trực thuộc.”


Tuần trước, báo chí Úc tường thuật phiên tòa ngày 6 tháng 9, 2012 cũng cho biết một phái đoàn của Ngân Hàng Nhà Nước CSVN sang Úc cuối năm 2007 đã được cung cấp gái điếm mà chi phí do Securency trả. Trong đó một viên chức trong phái đoàn CSVN còn đòi cung cấp gái “tóc vàng.” (TN)

Người bị công an đạp vào mặt tuyên bố ‘bỏ đảng’

‘Không được sống thật với lương tâm mình’


 


HÀ NỘI (NV) – Ông Nguyễn Chí Ðức, người bị công an đạp vào mặt hồi tháng 7 năm ngoái khi bị bắt trong cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội, vừa tuyên bố ra khỏi đảng cộng sản Việt Nam.









Ðảng viên Nguyễn Chí Ðức bị đại úy công an tên Minh đạp vào mặt khi bị khiêng lên xe ngày 17 tháng 7, 2011 lúc đi biểu tình chống Trung Quốc. (Hình: Dân Làm Báo)


Ông Ðức năm nay 36 tuổi, vào đảng cộng sản Việt Nam từ năm 24 tuổi, tức cách đây 12 năm khi ông còn là sinh viên của Ðại Học Bách Khoa Hà Nội.


Hôm 13 tháng 9 năm 2012, ông Nguyễn Chí Ðức nộp đơn cho Chi Bộ Phòng Ðiều Hành thuộc Trung Tâm Dịch Vụ Khách Hàng-Viễn Thông Hà Nội, thông báo quyết định ra khỏi đảng với lý do “không còn phù hợp để đứng trong hàng ngũ của đảng cộng sản Việt Nam.”


Ông Ðức nói trong lá đơn về việc ra khỏi đảng là sau “một quá trình dài suy nghĩ nghiêm túc trước khi quyết định.”


Ông Nguyễn Chí Ðức là người đột nhiên nổi tiếng hồi năm ngoái khi đi biểu tình chống Trung Quốc ở trung tâm thành phố Hà Nội cùng với nhiều người khác vào ngày 17 tháng 7.


Khi đàn áp người biểu tình, ông Ðức bị một nhóm công an mặc thường phục bắt giữ, khiêng và ném lên xe buýt. Ðồng thời ông bị một đại úy an ninh tên Minh dùng chân đạp vào mặt.


Hình ảnh cùng video clip của cảnh này ngay sau đó được phổ biến nhanh chóng và rộng rãi trên mạng Internet toàn cầu khiến dư luận vô cùng phẫn nộ vì hành xử hung bạo của công an đối với những người biểu tình chống bá quyền Trung Quốc.


“Dùng từ ‘đánh’ trong ngoặc là còn nhẹ đấy. Em là thằng trong bức hình đó đây, em đã bị khống chế như con lợn… nhưng mấy đồng chí công an này còn đạp (sút) tổng cộng 4 phát. Ðạp từ trên đạp xuống trong lúc mình đang còng queo.” Nguyễn Chí Ðức trả lời trên blog Nguyễn Xuân Diện sau vụ việc.


Trong thư thông báo bỏ đảng, Nguyễn Chí Ðức gián tiếp cho hiểu, qua một số câu hỏi tự đặt ra, ông bất bình trước đường lối độc tài của đảng khiến các đảng viên phải giả dối.


Không muốn tiếp tục như vậy, ông đã “có những hành động, phát ngôn, bài viết, gặp gỡ một số đối tượng trái với cương lĩnh, điều lệ đảng.”


Vì vậy, “Mặc dù đã được đảng ủy, chi bộ ‘giáo dục’ và chiếu cố nhưng tôi cảm thấy thực sự mình không còn phù hợp để đứng trong hàng ngũ của ÐCSVN nữa. Nếu sự việc còn tiếp tục kéo dài thì điều đầu tiên tôi tự làm khổ và không sống thành thật với lương tâm của chính mình.”


Ông Ðức cho hay, ông không muốn góp ý xây dựng, chỉnh đốn đảng làm gì vì “trong quá khứ đã có nhiều cựu tướng lãnh, lão thành cách mạng, trí thức tên tuổi có nhiều cống hiến cho chế độ đã viết thư ngỏ/phát biểu nhằm bày tỏ thiện chí xây dựng đảng nhưng đều hoài công vô ích thì ý kiến của một đảng viên tầm thường như tôi chỉ tổ lố bịch thêm.”


Cuối cùng Nguyễn Chí Ðức viết trong thư là những người trẻ tuổi của Việt Nam ngày nay “tuổi trẻ của họ rất can đảm dấn thân không hề vụ lợi, sợ hãi ngục tù, phần lớn cuối cuộc đời họ vẫn giữ được đức tính trong sạch, giản dị. Ðó là những yếu tố căn bản cho người thanh niên có ý định góp phần cải tạo xã hội, tham gia các hoạt động chính trị nói chung.”


Con số đích thực đảng viên đảng CSVN hiện nay là bao nhiêu, không có con số thống kê đáng tin cậy nào được công bố. Số đảng viên gia nhập đảng hay bỏ đảng hàng năm, hiếm hoi thấy đưa tin nhưng cũng không mấy ai tin đó là những con số thật.


Tháng 4 vừa qua, Nguyễn Chí Ðức gửi một bức thư ngỏ đến Bộ Chính Trị (nói rõ là ngoại ‘trừ Nguyễn Tấn Dũng’) phổ biến trên Blog Ðông Hải Long Vương “yêu cầu lưu tâm đến uy tín của đảng đối với quần chúng.”


Bức thư ngỏ phản ứng về một loạt những bài viết trên báo “lề phải” đả kích, dựng đứng để bêu xấu bà Bùi Minh Hằng, một thành viên tích cực đi biểu tình chống Trung Quốc bá quyền rồi bị nhốt ở cơ sở “giáo dục” Thanh Hà ở tỉnh Vĩnh Phúc, thực chất là một nhà tù của công an.


Ông Ðức cảnh cáo rằng, “Khi người ta vượt qua nỗi sợ hãi, vượt qua sự đau thương, vượt qua sự u mê ngu tối thì người ta không còn sợ nữa khi đó một cuộc cách mạng về tư tưởng sẽ diễn ra. Ban đầu, tự thân mỗi người dân tự giác ngộ, trong ÐCSVN thì các đảng viên tự diễn biến đến một lúc chín muồi, đủ lượng thì cái gì đến nó sẽ phải đến.”


Nay thì Nguyễn Chí Ðức dứt khoát chọn lấy đường đi cho mình. (TN)


 

Phở Gà Nhân Sâm – Món ăn mới tại Philadelphia


Người Việt Ðông Bắc


PHILADELPHIA (NVĐB) – Tiệm Phở Hà Sài Gòn trong khu siêu thị Bến Thành (Oregon Supermarket) vừa cho lên thực đơn một món ăn lạ kết hợp giữa hương liệu Sâm Hoa Kỳ và thịt gà tươi, đặc hữu tại Philadelphia.










Chủ tiệm Long Gà-Woodland đang nói về giống gà “ngon nhất thế giới” – Gà Trĩ Trân Châu.


Sau những ngày tháng tìm tòi chế biến, chị Hà chủ tiệm đã tìm ra công thức Phở Gà Nhân Sâm (Nhân Sâm Kê Phấn) được các giới thưởng thức khen là một sự sáng tạo độc đáo, hương vị tỏa ngát thơm ngon không thể nào bỏ qua được trong mùa Thu này.


Hương vị Nhân Sâm Hoa Kỳ kết hợp với món gà hầm là một khoa ẩm thực rất phổ biến trong Trung Y. Gà hầm nhân sâm chính ra là một vị thuốc có tính chất bồi bổ thể trạng. Khi kết hợp này xảy ra trong món phở gà là một sự thích ứng nguyên liệu cao cấp đã sẵn có trên đất Hoa Kỳ. Nhân Sâm Hoa Kỳ trồng ở Wisconsin có hương vị nồng hậu, đặc biệt là không tạo màu sắc để phá hỏng màu trong sáng của nước phở gà.









Ca sĩ Bằng Kiều trước tiệm phở Thanh Thanh khi đến diễn ở Philadelphia. Thanh Thanh được xem là một trong những tiệm phở gà tươi đặc sắc nhất trong thành phố.


Theo chị Hà, hương vị nấu phở thường dùng từ quế và thảo quả nhưng hai thứ này đều tạo nên màu đen hoặc vàng do đó rất khó để tạo nên hương vị và màu sắc hoàn hảo. Bí quyết “khử màu” của chị Hà đã gói trọn trong gói hương liệu “Quả Cầu Bà Hà” mà nhiều tiệm phở khác đang mua dùng. Tuy nhiên, khử phở bằng Sâm Hoa Kỳ mới là một nét ẩm thực mới, có thể biến Phở Sâm thành một món ngon, đưa văn hóa Phở lên một giai điệu mới.


Pennsylvania là một tiểu bang cho bán gà vịt tươi, giết mổ ngay tại tiệm. Nhiều tiệm phở ở Philadelphia bán phở Gà Tươi như là món chánh. Ðặc sản này đã biến nhiều du khách Việt Nam đi xuyên bang trên I-95 dừng chân tại Philadelphia chỉ ăn món phở gà rồi đi tiếp. Nhiều tiệm phở gà Philadephia, thực khách phải đứng sắp hàng vì “thực sự nó ngon” hơn phở gà California. Có những tiệm phở cố tình mọc ngay sát bên tiệm gà sống để ghi lại ấn tượng với thực khách rằng là gà ở đây là tươi nhất vì có tiệm gà nằm bên cạnh. Thực khách ăn phở xong lại sang tiệm mua gà vịt sống coi như là hai tiệm bổ sung thương vụ cho nhau. Sức cạnh tranh của các tiệm phở, tiệm gà sau này vì thế càng tăng mạnh.










Gà trĩ Trân Châu


Nhiều thực khách cho rằng phở gà ở Philadelphia còn ngon hơn bất cứ tiệm phở gà nào ở Việt Nam. Ca sĩ Bằng Kiều trong một chuyến lưu diễn ở Philadelphia nhất định phải đi ăn Phở Gà Thanh Thanh dưới gầm cầu chứ không ăn món nào khác và cũng thừa nhận điều này phở gà ở Philadelphia là ngon nhất thế giới vì điều kiện nguyên liệu của nó.


Ngoài ra Philadelphia còn có bán một loại gà sao mà các chủ tiệm thường gọi tên là Gà Trĩ Trân Châu. Ðây là một chủng loại gà rừng (bán thuần hóa) được nông trại đem về nuôi thả giới hạn để ăn. Ðặc sản này không phổ thông trong văn hóa ẩm thực của Hoa Kỳ. Theo chị Bảnh, chủ tiệm gà sống ở đường Woodland cho biết, đây mới là loại gà ngon nhất thế giới, Việt Nam không có. Trong loại gà này có hương thơm ngọt ngào như mùi của gà rừng, nhưng các thớ thịt mềm và dai một cách đặc biệt. Cũng theo bà chủ tiệm gà sống thì bí quyết để có hương vị gà như thế này là do nông trại để gà trĩ phối giống với gà nhà đã được thuần hóa lâu đời hơn. Ðến đời “Gà Trân Châu” nó vẫn còn biết bay cho nên chăn nuôi loại này rất khó. Tuy nhiên, thịt Gà Trân Châu này là “Thiên Hạ Ðệ Nhất Kê” rất phổ biến trong cộng đồng người Việt tại Philadelphia. Nhiều khi đi xuyên bang, tặng bà con bạn bè món gà Trân Châu thực sự là một cử chỉ quý hóa tình cảm.


Thế rồi, đặc sản sẵn có, Phở Gà Nhân Sâm như là một khai phá tầm cao của phở, chắc chắn sẽ trở thành trào lưu. Cũng theo chị Hà, nhiều người tìm cách nấu phở bằng các hương liệu cao lương mỹ vị như bằng bò Kobe của Nhật Bản. Theo chị, nguyên liệu như thế này là không thực chất. Nếu hầm bằng bò Kobe là một sự lãng phí ghê gớm, còn tái bằm tái nạm bằng bò Kobe thì không đúng cách ăn. Ngoài ra, chưa nói đến thứ thịt bò cao cấp này là sản phẩm mang tính huyền thoại trên thị trường ngoài Nhật Bản.









Chủ tiệm Phở Hà Sài Gòn đang nói về bí quyết Phở Gà Nhân Sâm (Nhân Sâm Kê Phấn) theo sự điều chỉnh hương liệu đặc biệt, điều vị theo cao lương mỹ vị của thuốc Bắc. Chị Hà là người Việt gốc Hoa từng mở năm tiệm phở tại Philadelphia.


Cũng theo chị Hà, nhân sâm Hoa Kỳ cũng là một đặc sản tối quý trong hàng tứ quý “Sâm-Nhung-Quế-Phụ.” Sâm Hoa Kỳ trồng tại Hoa Kỳ của bang Wisconsin có hương vị đặc biệt của mùi bạch sâm nhẹ nhàng thanh thoát. Tuy nhiên, nếu điều chỉnh lệch nồng độ là hỏng ngay tô phở.


Chị Hà tin rằng Phở Gà Nhân Sâm sẽ là sức cạnh tranh mới trong văn hóa nấu phở. Phở Việt Nam sang tới California đã thành danh. Nhiều người Việt không biết rằng trong phố Tàu thường có các tiệm xưng Phở Vua California (Gia Châu Phấn Vương) do người Hoa làm chủ, chính là một phát triển vượt xa khỏi ẩm thực Việt Nam.


Chị cũng tin rằng, Phở Gà Nhân Sâm dùng sâm Wisconsin đặc hữu có USDA bảo chứng sẽ đưa “Quả Cầu Bà Hà” trở thành một thương hiệu mới cho các cửa tiệm sau này.


 

Thăm lại tuyến đầu

 


 Cao Mỵ Nhân/Người Việt Utah


 


Bài thơ Tháng Sáu tặng riêng anh


Tâm sự ngàn phương trải quách thành


Ngắm mãi bình minh soi dĩ vãng


Ðường xưa, tưởng nhớ khúc quân hành


 


Quốc quân kỳ rực rỡ hồn mơ


Sinh nhật anh, đơn vị ngóng chờ


Mười chín, âm vang hồi trống lệnh


Phút “khai quân hiệu” đẹp lòng thơ


 


Thành đang rêu phủ khói sương bay


Em đã về ư, chứng tích này


Doanh trại Nguyễn Tri Phương uất hận


Tóc anh trắng bạch tựa bè mây


 


Mồ hôi, nước mắt, ướt vai nhau


Thấp thoáng bên sông ở tuyến đầu


Những dấu chân buồn tan nát cũ


Người đi, kẻ ở, vẫn cùng đau


 


Mấy mươi năm gởi lại quê hương


Trận mạc mênh mông lắm đoạn trường


Lửa đạn buồn tênh hiu hắt khói


Nơi nào đất nước cũng tang thương.

Tay đua chết trong cuộc đua xe đạp Utah-Wyoming

 


* Người Việt Utah


 


TETON COUNTY, Wyoming Một cua-rơ tham dự cuộc đua trên chặng đường từ Logan ở Utah tới Jackson Hole ở Wyoming đã bị té xe trên một cây cầu ở Wyoming rồi rơi từ độ cao 35 feet xuống sông Snake River và tử nạn.


Sở Cảnh Sát Quận Teton cho hay vào chiều hôm Thứ Bảy, tay đua xe đạp Robert Verhaaren, 42 tuổi, người ở Mesa, Arizona, trong lúc tham gia cuộc đua thường niên LoToJa trên xa lộ 89, đã lách tránh một ổ gà trên đường rồi té ngã tại một nơi chỉ còn cách mức đến có 8 dặm.


Theo lời phát ngôn viên ban tổ chức cuộc đua LoToJa, là David Ber, các tay đua tham dự chặng đua dài 206 dặm này cũng còn gặp một số tai nạn khác tại Idaho và Wyoming, khiến cho 2 tay đua phải nằm nhà thương, đồng thời khoảng 200 cua-rơ tham dự đã bị bể bánh xe trên chặng đường đua gian nan. (Theo Associtated Press)

Một thời đã yêu

 


Cao Mỵ Nhân/Người Việt Utah


 


Một trong số rất ít vị sĩ quan cao cấp phải đi bộ từ Phú Bổn về Tuy Hòa, nhưng tôi thật nhớ rõ ràng, anh tôi, Ðại Tá Cao Văn Ủy, chức vụ cuối cùng là liên đoàn trưởng Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân, trong cuộc triệt thoái cao nguyên mùa Xuân năm 1975, chính là người thầm lặng nhất, khi tôi hỏi anh sau này, từ Úc qua Mỹ năm 1999 rằng anh là một chứng nhân… sống nhất, anh thấy chung quanh anh, trên quốc lộ 21 ấy, tất nhiên không có cấp tướng rồi, thì còn bao nhiêu đại tá tiếp sức ngày đêm, để chia sẻ gian lao cùng với lính, rồi Chudron đất đỏ, về Ðà Rằng cát nổi mơ hồ.


Ðại Tá Cao Văn Ủy cười hòa đồng với tất cả những ai muốn biết thêm, về chuyến lui quân quanh vòng vùng 2 lãnh thổ.


– Cô đã có lần rời nhà chú (là Ba tôi) ở Ban Mê Thuột lên Pleiku, cô có nhớ cái cánh rừng già, lá cây được phủ bụi mù như mặc áo, vô sâu bên tay mặt, và tấm bảng nhỏ, để chữ Phú Bổn, đó là quận lỵ Chudron thời Pháp đấy.


Tới năm 1956, nếu tôi nhớ không lầm, thì Ngô Tổng Thống đã nâng vùng đất đai này lên hàng tỉnh, tỉnh Phú Bổn từ ngọn nguồn phía Tây, chạy ngang, xuống tới quốc lộ 1, thì gặp tỉnh Phú Yên, tức Tuy Hòa, Quốc lộ số 21, xem như một vĩ tuyến nối liền hai trạm Tây Ðông như nêu trên, nó, quốc lộ 21 ấy, được kể song song với hai quốc lộ xẻ ngang đất nước khác, là đường 19 nối từ Pleiku xuống Qui Nhơn, và đường 23 nối từ Ban Mê Thuột xuống Ninh Hòa (ngoài Nha Trang).


– Trên bản đồ thì biết vậy, nhưng ngoài thực tế, và trọng điểm cuộc rút quân đương nêu, bắt đầu và kết thúc làm sao?


– Thì sao không đọc cuộc triệt thoái cao nguyên của Phạm Huấn, ông sĩ quan chiến tranh chính trị đã mở màn cho cuốn phim lịch sử đó lâu nay rồi.


– Thưa anh, Ðại Tá Cao Văn Ủy, tất nhiên là ai cũng đã đọc, thậm chí còn đọc trên nhiều trang báo từ ngay sau cuộc triệt thoái, ngay cả khi quân và dân ta rời phố núi, về duyên hải, từ cái năm 1975 ở trong nước kia, nhưng biết anh hiện diện nơi đoàn người lũ lượt đó, em muốn anh kể lại xem có gì khác lạ không?


– Khác lạ không về phương diện gì? Cô nên nhớ là với 17, 18 năm tù của tôi, Ðại Tá Ủy, tôi đã bị mài mòn trí nhớ, đến nỗi đôi khi muốn có dịp nào, đi lại con đường đó.


– Ðể làm gì?


– Ðể xem thử mình có khóc được không, khóc thế nào, khóc thống thiết hay mắt căng ra, cho lệ chảy thành sông, khổ lắm, hận lắm, tủi lắm. Nói chung thì cường độ đau buồn với tôi lúc này, nó đã tiềm ẩn thành khối băng, lạ lắm, không mừng và không tất cả, không, không, thôi đừng hỏi nữa.


– Tại sao vậy? Lẽ ra anh phải viết lại cho thật rõ.


– À, thì cô cứ nhớ điều này nhé, ông tướng Phạm Tất chỉ huy trưởng Biệt Ðộng Quân của chúng tôi, là người duy nhất trên trực thăng, theo sát đoàn lữ hành di tản, cứ 15 phút lại đậu xuống một lần, để quan sát tình hình, ngay trong ngày đầu, tôi không biết ví như thế nào, bởi vì tiền bạc hay lời hứa thăng thưởng, không cần thiết nữa, chúng tôi chỉ muốn đi mau, đi nhanh để về vùng trời… an nghỉ, phải nói là mệt, mệt đứt hơi ra.


Tôi dẫu đầu đoàn người khổ cực đó, nhìn lại đằng sau, lính và dân lẫn lộn, nhưng sắc áo lính nhiều hơn, con đường vẫn có đoạn còn dấu vết tráng nhựa xa xưa, nhưng nó đã bị bỏ quên lâu rồi, vì không cần thiết lắm, có đoạn cây, dây leo như ở giữa lòng rừng, và mọi người vừa đi, vừa khai phá, giống hệt đoàn thám hiểm khổng lồ.


– Thế anh còn nhớ ai đã đồng hành với anh năm đó, đang ở đây.


– Ðể cô tìm gặp người ta à, tôi đã nói với mọi người hơn một lần là, chúng ta nếu có điều kiện, một là nói rõ hơn, hai là không nói gì hết. Bạn đồng hành của tôi ở đây nhiều lắm, và hồi đó, chết nhiều lắm.


– Nói rõ hơn như thế nào, theo ý anh?


– Lẽ ra phải quay trọn một cuốn phim, suốt thời gian di chuyển đó, nhưng chúng tôi có định đóng phim đâu. Ồ, mà ngoài cô cũng có những cuộc di tản chiến thuật sôi nổi, như từ Huế vô Ðà Nẵng, từ Quảng Ngãi về Chu Lai,. v.v… nhất là trên 21 cây số từ suốt đèo Hải Vân, người ta đã đẩy nhau xuống vực, để có lối thoát nhanh hơn, sao cô không ghi lại, mà hỏi tôi về hành trình bi thảm này.


Ðại Tá Cao Văn Ủy, liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân, xuất thân từ Khóa 1 sĩ quan Nam Ðịnh, đã từng tham gia tác chiến trên nhiều chiến trường Nam, Bắc… có thời làm chỉ huy trưởng trường Hạ Sĩ Quan Nha Trang, là người đoạt chức vô địch súng trường của toàn quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, bên cạnh đó, bạn tôi, võ sư Thiếu Úy Hạ Quốc Huy vô địch súng colt, nên mỗi lần nhắc tên hai vị vô địch, tôi thường kể ra như để không thiếu sót.


Ông là người trong năm vị thuộc Bộ Tham Mưu hành quân sáp chiến, bị bắt ở Phan Rang, khi vừa tan cuộc binh đao. Rồi các vị đó bị tù đày từ lúc chớm mùa… cải tạo, cho tới khi chiến dịch HO được khai thông, anh tôi không đi Mỹ mà ông tới Úc, vì gia đình đã định cư ở đó.


Hơn 20 năm, kể từ năm 1953, tới năm 1975, Ðại Tá Cao Văn Ủy sớm xếp bút nghiên (trường Chu Văn An Hà Nội) theo việc đao cung Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, ông đã sinh nghề, cứ xem như sống và chiến đấu, nhưng không tử nghiệp, kể cả không chết ở chốn lao tù, khổ sai, biệt giam, mà lại chết giữa bầu trời ấm áp nơi cuộc sống đã tạm yên, chỉ vì mũi kim chích vô tình chạm thần kinh tọa.


Ngày ông qua Mỹ thăm họ hàng, và chủ yếu là chiến hữu các cấp binh chủng Biệt Ðộng Quân, ông đã phải chống một cây gậy do bệnh viện X. Úc cấp. Ông nói người ta đang lập hồ sơ giùm ông, để kiện… cái gọi là vô tình làm chân ông suy thoái, nhưng ông nôn nóng gặp lại những vị đã từng đội mũ nâu, và mang huy hiệu cọp rừng nhe răng trên tay áo, ôi, một thời đã yêu, và một thời nhớ mãi…


Nhưng, chẳng còn dịp nào nữa, vì ít lâu sau, đại tá liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân, anh Ủy của chúng tôi đã trở về cát bụi, con đường quốc lộ 21 hoang hóa, buồn tênh có thể nào một lần trước khi nhắm mắt, anh thấy lại nó trong tâm tư người lính già trên tuổi tác, tai ương, song trẻ mãi cùng hồn thiêng sông núi…


Những người lính có bổn phận hy sinh xương máu để hồn thiêng sông núi linh hiển đến muôn sau.

Ðịnh mệnh tình yêu

 


Nguyên Bình/Người Việt Utah


 


Có những lúc anh thấy mình hụt hẫng


Giữa dòng đời bao nghiệt ngã chông chênh


Em đã đến ngẫu nhiên hay định mệnh


Mà cuộc tình cứ còn mãi lênh đênh


 


Ðừng hỏi anh tại sao thức thâu đêm


Em có nhớ nụ hôn đầu hôm ấy?


Ðã cho nhau trong men say tình ái


Ðể bây giờ thương nhớ nỗi niềm riêng


 


Ðêm lẻ loi sao trống vắng muộn phiền


Chờ em đến như mây ngày biển cả


Bão táp về vỡ tan bờ sỏi đá


Ðể mình anh nhặt đá vá thời gian


 


Chờ đợi em trong nỗi nhớ muôn vàn


Viết cho em mấy hàng thơ tình ái


Gửi cho em trái tim này hoang dại


Chút men say sưởi ấm kẻ si tình


 


Giữa cuộc vui anh đang say hay tỉnh


Gởi cuộc đời theo định mệnh thời gian


Chút đau thương trong hạnh phúc dâng tràn


Giờ xa cách trong muôn ngàn nhung nhớ…

Tin tức cộng đồng người Việt Utah

 


Phóng viên Người Việt Utah thực hiện


 


Chùa Phổ Quang tổ chức Khóa Tu Bát Quan Trai: Thứ Bảy ngày 15 tháng 9 năm 2012


Ðể tăng trưởng niềm an lạc và hạnh phúc cũng như làm quen với nếp sống tu tập tâm linh của người Phật tử tại gia, chùa Phổ Quang sẽ tổ chức Khóa Tu Bát Quan Trai vào lúc 9 giờ 30 sáng Thứ Bảy ngày 15 tháng 9 năm 2012 tại Chùa Phổ Quang, 1185 West 1000 North, Salt Lake City, Utah dưới sự hướng dẫn và thuyết giảng của Thượng Tọa Thích Thông Triết, đến từ Thiền Viện Chánh Pháp tại Oklahoma.


Ðây là một duyên lành để chúng ta cùng nhau tu tập, trau dồi trí tuệ, học hiểu Phật Pháp, mong đạt được sự an lành và hạnh phúc. Kính mời tất cả quý đồng hương Phật tử xa gần hãy cố gắng nhín chút thì giờ và thông báo rộng rãi đến bạn hữu gần xa cùng về chùa tu học.


Quý vị xem thư mời trong số báo này để biết thêm chi tiết.


Ðịa chỉ liên lạc Chùa Phổ Quang:


P.O. Box 161092


1185 West 1000 North


Salt Lake City, UT 84116


Ðiện thoại: (801) 328-2701


 


Ðêm giới thiệu thí sinh Hoa Hậu Á Châu Utah và Hoa Hậu Liên Hiệp Quốc USA tại Khách Sạn Red Lion Hotel: Thứ Bảy ngày 15 tháng 9, 2012


Tổ chức USAsia Rising Star Productions sẽ có đêm giới thiệu các thí sinh dự thi Hoa Hậu Á Châu Utah (Miss Asia Utah) và Hoa Hậu Liên Hiệp Quốc USA (Miss United Nations USA) vào Thứ Bảy, ngày 15 tháng 9 năm 2012, tại Red Lion Hotel, 161 West 600 South, Salt Lake City, Utah. Chương trình bắt đầu vào lúc 6 giờ chiều đến 11 giờ 30 tối.


Chương trình gồm có: Từ 6:00 PM đến 7:00 PM – Ghi danh, từ 7:00 PM đến 8:00 PM – Ðấu giá/Ăn tối, từ 8:00 PM đến 9:00 PM – Trình diễn ra mắt thí sinh, từ 9:00 PM đến 11:30 PM – Văn nghệ/Khiêu vũ.


Giá vé là $25/người. Xin mặc trang phục dạ hội. Mọi chi tiết xin liên lạc Agnes Higley (801) 842-5674, Eunice (801) 231-3338, Dana (801) 680-2971.


 


Hội Chợ Sức Khỏe Gia Ðình miễn phí do Bộ Y Tế Utah tổ chức: Thứ Sáu ngày 28 tháng 9, 2012


Bộ Y Tế tiểu bang Utah (Utah Department of Health) sẽ tổ chức Hội Chợ Sức Khỏe Gia Ðình 2012 từ 10 giờ sáng đến 2 giờ chiều Thứ Sáu, ngày 28 tháng 9 năm 2012, tại Health Clinics of Utah/Family Dental Plan, địa chỉ tại 168 North 1950 West #201, Salt Lake City, UT 84116.


Hội chợ sức khỏe có chích ngừa cảm cúm (flu shot) với giá $10 cho người lớn, ngoài ra còn có khám miễn phí huyết áp, cholesterol, lượng đường trong máu, v.v… Mọi chi tiết xin liên lạc (801) 715-3500

Lễ Hội Hy Lạp (Greek Festival) thành công tốt đẹp

 


* Phóng viên Người Việt Utah


 


Lễ hội hàng năm của người Hy Lạp (Greek Festival) đã được tổ chức trong 4 ngày vừa qua; từ Thứ Năm ngày 6 tháng 9, 2012 đến Chủ Nhật ngày 9 tháng 9, 2012 tại khuôn viên nhà thờ Holy Trinity, 279 South 300 West, Salt Lake City, Utah đã thành công tốt đẹp.









Lễ Hội Hy Lạp tổ chức từ ngày 6 tháng 9, 2012 đến 9 tháng 9, 2012 vừa qua tại khuôn viên nhà thờ Holy Trinity, Salt Lake City, Utah. (Hình: Nguyên Bình)


Ðây là hội chợ lần thứ 37 của cư dân Hy Lạp tại Utah, và thường được tổ chức vào mỗi tháng 9 hàng năm. Trong gần bốn thập kỷ qua, lễ hội Hy Lạp đã nỗ lực để giới thiệu đến bạn bè, những người ủng hộ, và cộng đồng xung quanh về di sản văn hóa của người Hy Lạp.


Lễ hội có nhiều tiết mục trình diễn âm nhạc và biểu diễn các vũ khúc Hy Lạp, các trò chơi ngoài trời, ẩm thực đặc sắc thuần túy của Hy Lạp, và rất nhiều hoạt động dành cho gia đình.


Theo Ban Tổ Chức cho biết, lễ hội hàng năm của người Hy Lạp tại Salt Lake City, Utah là lễ hội gây quỹ lớn nhất của họ. Tất cả số tiền thu được đã giúp cho cộng đồng của họ có thể hỗ trợ kinh phí bảo trì và cải thiện hai cơ sở nhà thờ của người Hy Lạp, kinh phí phục vụ các dịch vụ, các hoạt động của cộng đồng.

Lá thư chủ nhiệm

 


Ðại hội, đại hội và đại hội


 


Năm 2012 có một sự tình cờ về đại hội. Cuối tháng 8 là Ðại Hội Ðảng Cộng Hòa, đầu tháng 9 Ðại Hội Ðảng Dân Chủ và 21-23 tháng 9, phe ta (người Việt ở Mỹ) có Ðại Hội National Congress of Vietnamese Americans (Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt tại Hoa Kỳ-Nghị Hội).


Chúng tôi xin nêu lên vài điểm chính của các đại hội nhằm chia sẻ mộạt số dữ kiện căn bản cùng quý độc giả để tiện bề theo dõi, tham gia.


Những cương lĩnh của đảng Cộng Hòa qua đại hội là chống phá thai, không tán đồng cho việc cưới nhau giữa người cùng phái, đầu tư vào tiểu thương, kỹ nghệ để tạo công ăn việc làm cho dân, giảm thâm thủng nợ nần và hòa bình trong sức mạnh. Ðảng Dân Chủ thì cho phép phá thai, cho tự do cưới hỏi giữa người cùng phái, mượn tiền để kích thích kinh tế và giữ hòa bình qua ngoại giao thương thuyết.


Nghị Hội là một tổ chức cộng đồng nên chương trình đại hội không đi vào cương lĩnh đảng phái nêu trên mà chỉ chú trọng vào việc nâng cao đời sống của tập thể người Việt ở Mỹ như tham gia bầu cử, nêu cao “Tiếng nói miền Nam,” phát triển thương mại hoặc hình thành hững phim tài liệu để nói lên sự thật quê hương đất nước. Ngoài ra còn cung ứng những tham luận về sự xung đột ở Biển Ðông và đại họa mất nước.


Xin quý độc giả tìm thêm tài liệu để cùng nhau góp sức cho việc thăng tiếng cộng đồng và có tiếng nói mạnh mẽ có thể can thiệp những vấn đề then chốt trong nước như nhân quyền và bảo toàn lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam.


Trân trọng


Huỳnh Sĩ Nghị


Chủ Nhiệm

Tin mới cập nhật