J Acupuncture, một địa chỉ châm cứu cần thiết cho cộng đồng Việt Nam

 


Bài: Ðức Tuấn/Người Việt


Hình: Dan Huynh/Người Việt


 


GARDEN GROVE (NV) –“Năm vừa rồi khi tôi bị đau thần kinh tọa, tôi đã phải tìm đến văn phòng J Acupuncture để được châm cứu,” nhạc trưởng Thomas Ngô, nói tiếp: “Kết quả là tôi đã bớt đau hơn.”










Cô Jennifer, đại diện của J Acupuncture sẽ giải thích cho quý khách cộng đồng Việt Nam


Trên đây là lời của một trong hàng ngàn bệnh nhân của văn phòng bác sĩ châm cứu J Acupuncture, tọa lạc tại 11752 Garden Grove Blvd., #116, Garden Grove, CA 92843.


“Văn phòng chúng tôi bắt đầu hoạt động từ cuối năm 2009, thoạt đầu chỉ có hai bác sĩ đó là Jae Youb Choo và Jae Min Noh rồi sau đó, vì số bệnh nhân tăng dần, nên bắt buộc chúng tôi phải thêm hai bác sĩ nữa, để có thể đáp ứng sự phục vụ cho bệnh nhân,” cô Jennifer Bành, thư ký của văn phòng này cho biết.


Bốn bác sĩ, mà cô Jennifer nói đến, là Jae Youb Choo, Jae Min Noh, Sam Yeul Lee, và Sang Mook Kang.



Tiếp khách và chẩn bệnh tại J Acupuncture


Theo lời của hai chủ nhân chính của văn phòng này là Jae Youb Choo và Jae Min Noh thì số bệnh nhân để họ nhắm tới phục vụ, đó là cộng đồng Việt Nam. Vì thế họ mới đặt tên là Community Acupuncture Clinic, tức là chủ yếu giúp đỡ cho những bệnh nhân nghèo, low income, không có bảo hiểm. Cô Jennifer nói tiếp: “Theo như vậy thì lệ phí đầu tiên bệnh nhân phải trả là $30, còn sau đó cứ mỗi lần trả $20, và cả hai ông chủ đều nói họ muốn tính một số tiền lệ phí thấp như thế để dân nghèo có thể kham nổi.”


Việc đầu tiên là bệnh nhân phải đến phòng mạch để văn phòng thiết lập hồ sơ cá nhân. Sau đó bệnh nhân sẽ được bác sĩ chẩn đoán, khám xong bác sĩ sẽ cho bệnh nhân biết sẽ trị liệu như thế nào. Rồi sau đó bác sĩ bắt tay ngay vào lần châm cứu đầu tiên, khoảng 1 giờ đồng hồ.


Nói về những dịch vụ ở văn phòng J Acupuncture thì “việc chính là châm cứu, có thể kèm thêm giác hơi, cạo gió, cắt lể, đốt ngải cứu, hoặc massage nhẹ, xông hơi,” cô Jennifer giới thiệu về những cách trị liệu của văn phòng châm cứu Ðại Hàn này, cô nói tiếp: “Bên cạnh đó các bác sĩ còn cho uống thuốc, và là Ðông y dược, pha chế từ những vị thuốc đặt mua từ Ðại Hàn.”


Cô Jennifer chỉ cho chúng tôi tủ thuốc lớn được dựng sát bờ tường, trên đó có hàng mấy chục loại thuốc trộn sẵn khác nhau. Cô giải thích thêm “có ba loại thuốc chính hiện đang có trong phòng mạch như thuốc bột, thuốc viên màu đen, và thuốc do các bác sĩ Ðại Hàn tự chính tay nấu, như sắc thuốc Bắc vậy”.



Bác sĩ Jae Youb Choo đang châm cứu cho bệnh nhân


Bệnh nhân đến đây thường là khách Việt Nam, đa phần là trả tiền mặt, và bảo hiểm PPO vì bảo hiểm này đồng ý trả cho dịch vụ châm cứu.


“Bảo hiểm HMO và các loại khác như medicare, medi-medi thì không được vì chính phủ đã ra lệnh cắt những loại medicare đó từ 4 năm trước,” cô Jennifer giải thích thêm về các loại bệnh trạng mà văn phòng J Acupuncture chuyên trị: “Ngoại trừ bệnh ung thư đến giai đoạn cuối cùng, tức là bác sĩ thuốc Tây đã chạy rồi thì châm cứu kể như bó tay luôn, còn ngoài ra những bệnh khác như đau nhức, tê người, nhức đầu, tai biến, đau bao tử, hay phụ nữ rối loạn kinh nguyệt, đàn ông bị liệt dương hoặc các ông hút thuốc muốn cai nghiện… thì coi như châm cứu có thể được xem là phương cách chữa trị tốt.”


Vẫn theo cô Jennifer, đối với những bệnh nhân Việt Nam không biết nói tiếng Anh, phòng mạch sẽ có thư ký người Việt hướng dẫn.


Vãn phòng J Acupuncture có tổng cộng 8 giường, có cả phòng xông hơi và máy chạy điện.


Theo kinh nghiệm nhiều năm phục vụ cho văn phòng J Acupuncture, cô Jennifer cho biết “thông thường khi bệnh nhân bị đau nhức đến bác sĩ để chữa trị bằng châm cứu là hiệu quả nhất. Riêng những bệnh, như bao tử, thận, ruột, hay các bệnh liên quan đến thần kinh, việc trị liệu đều phải kết hợp chung với thuốc uống và tùy theo bệnh nặng nhẹ để quyết định thời gian điều trị sẽ là lâu hay mau”.


Tất cả những kim châm cứu đều được đặt mua từ Ðại Hàn, sau đó các kim đã sử dụng rồi sẽ được bỏ cho bộ phận chuyên thu lượm kim phế thải.


Ðối với bệnh nhân Việt Nam thì lứa tuổi nào là hay đến vãn phòng J Acupuncture để châm cứu? Cô Jennifer cho biết đối với bệnh nhân Việt Nam đến chữa trị ở văn phòng J Acupuncture không nhất định ở một lứa tuổi nào. Có những em rất trẻ 14, 15 tuổi hay 20, 21 hoặc trung niên trên 50, và người cao niên trên 60, 70 tuổi.



Vẫn theo cô Jennifer, “đa số các bệnh nhân đến châm cứu là giới làm nghề massage, nail, làm tóc vì những ngành nghề này đòi hỏi người thợ phải vận động sức lực tay chân nhiều nên dễ bị đau nhức tay chân hay lưng.”


Nếu bạn đọc cần châm cứu xin đến vãn phòng J Acupuncture, địa chỉ: 11752 Garden Grove Blvd., #116, Garden Grove, CA 92843.


Ðiện thoại: (714) 534-0603 hay quý vị có thể vào web site: www.jacupuncture.org.





J Acupuncture


11752 Garden Grove Blvd., #116


Garden Grove, CA 92843


Ðiện thoại: (714) 534-0603



 

Thế Vận Hội Luân Ðôn càng ngày càng rối bời

 


Lê Mạnh Hùng


 


Với Thế Vận Hội chỉ còn chưa đầy hai tuần nữa sẽ khai mạc tại Luân Ðôn, các nhà tổ chức Thế Vận Hội Luân Ðôn hôm Thứ Ba tuần này đã cố tìm cách trấn an dân chúng Anh rằng tình trạng thiếu thốn nhân viên an ninh mà đã khiến chính phủ phải triển khai thêm quân đội và cảnh sát sẽ không ảnh hưởng gì đến sự an toàn của đại hội.


Thế nhưng tại Quốc Hội nơi mà người cầm đầu công ty G4S, công ty an ninh khổng lồ vốn được hợp đồng trị giá 440 triệu bảng Anh để cung cấp 10,400 nhân viên an ninh vừa ra điều trần, thì các dân biểu lại có một kết luận khác.


Bà Nicola Blackwood, một dân biểu Bảo Thủ tại Ủy Ban Nội Vụ Hạ Viện, nơi mà ông Nicholas Buckles tổng quản trị công ty G4S bị truy vấn đến 90 phút, tuyên bố “Trước buổi điều trần này, tôi có rất ít tin tưởng vào khả năng của G4S thực hiện hợp đồng này, và nay thì tôi chẳng có tin tưởng gì cả.”


Với các tài xế taxi biểu tình tại trung tâm Luân Ðôn để phản đối các con đường dành riêng cho giới tham dự Thế Vận Hội lưu hành và các tin tức báo chí kể lại các vận động viên của Hoa Kỳ và Úc bị mắc kẹt trong giao thông, ban tổ chức Thế Vận và cả các bộ trưởng chính phủ đã lên tiếng biện luận rằng tất cả những khó khăn này sẽ mờ nhạt đi khi Thế Vận Hội khai mạc vào ngày 27 tháng 7.


Sebastian Coe, chủ tịch ban tổ chức Thế Vận Luân Ðôn vốn là một vận động viên từng đoạt huy chương vàng về chạy đua tại Thế Vận Hội, đưa ra một nhận định lạc quan:


“Ðây không phải là thất bại vì không có đủ người. Chúng tôi có đủ người. Và hãy đặt vấn đề này vào đúng tầm mức của nó. Ðây không phải là vấn đề, và cũng sẽ không phải là vấn đề ảnh hưởng đến an toàn và an ninh của Thế Vận Hội. Ðó là ưu tiên một của chúng tôi.”


Nhưng đối với những tài xế xe taxi “black caps” của Luân Ðôn thì họ có những ưu tiên khác. Trên hai trăm xe taxi tập họp trước trụ sở Quốc Hội, bấm còi um lên để phản đối việc dành riêng một số lane trên đường phố cho xe chở các vận động viên, các viên chức Thế Vận và những xe được phép khác. Jonathan Myers, chủ tịch nghiệp đoàn tài xế xe taxi tuyên bố “Loại không cho xe taxi là một chuyện sai trái và không chấp nhận được. Ðây là một thành phố lao động và chúng tôi cần có thể đi lại và làm công việc của chúng tôi”.


Bởi vì những lane đường giới hạn mới, theo ông Myers “Luân Ðôn sẽ bị tắc nghẽn và hôm nay chúng tôi sẽ cho họ thấy thế nào là bị tắc nghẽn”. Ðó là lời ông nói với thông tấn xã Press Association của Anh. Chữ họ mà ông dùng ở đây là chỉ các dân biểu đang làm việc bên trong Quốc Hội.


Màn dạo đầu tiến đến Thế Vận đã bị làm u ám bởi việc công ty G4S thú nhận vào tuần trước rằng họ không thể nào cung cấp được con số nhân viên an ninh mà họ hợp đồng, buộc chính phủ phải động viên thêm 3,500 binh sĩ cho Luân Ðôn. Một số những binh sĩ này vừa mới từ Afghanistan trở về, không được nghỉ ngơi gì cả. Con số các binh sĩ tham gia chiến dịch bảo vệ an ninh cho Luân Ðôn nay lên đến 17,000 người. Ngoài ra chính phủ còn động viên thêm cảnh sát tại 8 khu vực khác ngoài Luân Ðôn để tăng cường cho lực lượng cảnh sát.


Xuất hiện trước Ủy Ban Nội Vụ Quốc Hội, ông Nick Buckles, tổng quản trị công ty G4S đã bị buộc phải xin lỗi, nói rằng ông rất lấy làm tiếc về tình trạng thiếu thốn các nhân viên an ninh và quy trách nhiệm cho những khuyết điểm của hệ thống tuyển chọn.


Ông Buckles cho biết ông chỉ biết đến cuộc khủng hoảng nhục nhã cho công ty ông này khi ông còn đang nghỉ hè tại Hoa Kỳ vào ngày 3 tháng 7. Nhưng công ty chỉ thông báo cho ban tổ chức Thế Vận vào ngày 11 tháng 7 là họ không thể hoàn thành trách nhiệm hợp đồng của họ.


Tuy nhiên ông Buckles nói “Chúng tôi tin tưởng rằng, cùng với quân đội và cảnh sát, chúng tôi có thể bảo đảm một Thế Vận Hội an ninh và an toàn”. Ông cũng cho biết thêm rằng G4S hiện đang có 4,200 nhân viên an ninh tại các địa điểm Thế Vận và sẽ cung cấp “ít nhất là 7,000” khi Thế Vận Hội bắt đầu. “Vần đề hiện nay là thiếu người, thuần túy và đơn giản như vậy,” ông nói “Chúng tôi không có đủ người”.


Ông cho biết G4S sẽ chi trả cho các chi phí mà quân đội và cảnh sát phải chịu vì sự thiếu thốn các nhân viên của G4S, và cũng sẽ trả tiền thường “đặc biệt là cho những quân nhân phải bỏ nghỉ phép để phục vụ cho Thế Vận Hội”.


Ðối với G4S, một công ty có 660,000 người làm việc cho mình trên toàn thế giới và là một trong những công ty đông nhân viên nhất thế giới trong lãnh vực tư, việc ký được hợp đồng lo an ninh cho Thế Vận Hội là một thành tích lớn. Nhưng kể từ khi phát hiện tình trạng thiếu nhân viên an ninh của mình, giá cổ phiếu của công ty đã xuống một cách thê thảm. Theo ước tính của chính công ty, họ sẽ lỗ khoảng 80 triệu đô la trong hợp đồng này, khoảng 10% tổng lợi nhuận hàng năm của công ty.


Buổi điều trần của Ủy Ban Nội Vụ Quốc Hội khai mạc một ngày sau khi các vận động viên Úc và Hoa Kỳ báo rằng họ bị chậm trễ nhiều tiếng đồng hồ khi đi từ phi trường Heathrow ở phía Tây Luân Ðôn về làng Thế Vận ở phía Ðông vì các tài xế xe bus chở họ không thuộc đường. Trong một vụ khác, các thành viên của Ủy Ban Quốc Hội cho biết chỉ có 30 trong số 300 nhân viên G4S dự trù có mặt để cung ứng an ninh cho một buổi diễn tập xe đạp hôm Thứ Ba.


Theo Ian Edwards, một đại diện của cảnh sát vùng West Midlands nơi mà 150 nhân viên cảnh sát được gởi đến Luân Ðôn để bảo vệ an ninh tại một khách sạn nơi ở của các cầu thủ bóng tròn Thế Vận thì “Rối loạn, hoàn toàn rối loạn”.


Tuy nhiên theo Chris Allison, phụ tá giám đốc cơ quan cảnh sát Luân Ðôn Scotland Yard thì kế hoạch chung bảo vệ an ninh cho Thế Vận Hội không có gì thay đổi, ông cho biết có thay đổi chỉ là thay đổi hỗn hợp những thành phần cung cấp mà thôi. Ông cho biết “Thay vì nhân viên của G4S cung cấp một số dịch vụ và rà soát các địa điểm thì là quân đội và trong một số trường hợp là cảnh sát. Nhưng kế hoạch chung thì vẫn còn nguyên.”

Do Thái giúp Việt Nam lập nhà máy sản xuất súng

 


JERUSALEM (NV) – Một công ty kỹ nghệ quốc phòng của Do Thái đã đạt được thỏa thuận chuyển giao công nghệ để Việt Nam lập một nhà máy sản xuất súng trường.










Ba kiểu súng trường Galil căn bản của Do Thái. (Hình: Internet)


Báo kinh tế tài chính của Do Thái, Globes, cho hay như vậy hôm Thứ Tư về dự án sắp được công ty Israel Weapons Industries Ltd., đầu tư xây dựng tại Việt Nam vào năm tới.


Ðây là thứ tin tức tế nhị trong mối quan hệ giữa Do Thái với Việt Nam vì Do Thái là một đồng minh ruột của Mỹ ở Trung Ðông trong khi Việt Nam là một nước Cộng Sản vẫn bênh vực Palestine trong sự tranh chấp đất đai giữa Do Thái và Palestine.


Từ tháng 9 năm 2011, tờ Globes tiết lộ rằng công ty sản xuất võ khí Israel Weapons Industries Ltd. (công ty con sản xuất võ khí nhẹ thuộc công ty Israel Military Industries Ltd.) tách ra khỏi công ty mẹ và do tập đoàn kỹ nghệ Samy Katsav’s SK Group làm chủ, dự tính xây dựng một xưởng sản xuất võ khí nhẹ ở một nước Viễn Ðông với vốn đầu tư hơn $100 triệu.


Một trong những phiên bản súng trường Galil được mô tả sẽ sản xuất là kiểu AS tân tiến chứ không phải phiên bản cũ.


Lúc đó tờ Globes không nêu tên nước Viễn Ðông đó là nước nào. Nay tờ báo dựa theo lời một viên chức quốc phòng cao cấp của Do Thái nói nước đó là Việt Nam. Tin tức mới được xì ra chút xíu vì “sự phức tạp và khó khăn của bản hợp đồng”.


“Ðây là một dự án lớn, bao gồm cả việc xây dựng nhà máy sản xuất võ khí nhẹ sau khi đã chuyển giao kỹ thuật từ Do Thái. Chúng tôi đang thảo luận về kiểu súng trường nào sẽ được chế tạo, nhưng hoạt động của nhà máy ở Việt Nam có thể mở rộng trong tương lai. Những dự án như dự án này sẽ là nền tảng của sự hợp tác quốc phòng giữa hai nước”. Viên chức không nêu tên đó nói.


Ðược biết, vào dịp báo Globes tiếp lộ chuyện Do Thái lập xưởng chế tạo võ khí nhẹ ở Viễn Ðông, thì Trung Tướng Trương Quang Khánh, thứ trưởng quốc phòng Việt Nam dẫn đầu một phái đoàn quân sự cao cấp lặng lẽ tới Jerusalem. Ông Khánh nay là thượng tướng, ủy viên đảng ủy quân sự trung ương, phó bí thư đảng ủy tổng cục, chủ nhiệm Tổng Cục Kỹ Thuật Bộ Quốc Phòng, ủy viên ban chấp hành trung ương đảng CSVN, ủy viên Ủy Ban Tài Chính, Ngân Sách của Quốc Hội.


Những tin tức lúc đó cho đến nay chỉ có tổng quát với những chi tiết như Việt Nam muốn mua hỏa tiễn tầm ngắn và tối tân (có thể gián tiếp qua một nước Ðông Âu) và cả radar, máy bay không người lái cho nhu cầu phòng vệ biển, phòng không.


Tuy nhiên, theo Globes, khả năng bán các loại trang bị quốc phòng tối tân cho Việt Nam như máy bay không người lái, bom hướng dẫn, hỏa tiễn, v.v… vẫn còn khó xảy ra trong tình thế hiện nay. Trong đó, phải kể đến sự chống đối của Mỹ khi một đồng minh muốn bán hoặc chuyển giao kỹ thuật quân sự tối tân cho một nước thứ ba.


Năm 2010, tin tức thời sự cho hay Việt Nam đã tiến đến giai đoạn đàm phán cuối cùng để mua của Do Thái một loại hỏa tiễn tầm ngắn có tên là Extra. Loại hỏa tiễn điều khiển này có tầm sát thương trong hạn 150km với đầu đạn nặng 125kg. Ðộ chính xác khá cao và có thể đặt trên xe di động hoặc ở một vị trí cố định.


Từ đó đến nay, không thấy báo chí Việt Nam đề cập gì tới loại hỏa tiễn này, mà chỉ thấy loan tin tiếp nhận giàn hỏa tiễn Bastion-P thứ hai của Nga hồi tháng 2, 2012 và đàm phán để mua dàn thứ ba.


Tháng 3 năm 2012, báo Ðất Việt ở Việt Nam dựa vào một số tin báo chí Nga đưa ra một số tin tức và hình ảnh nói “Tờ Lenta dẫn kết luận của những thành viên tham gia diễn đàn Military Photos cho biết, với sự giúp đỡ của các chuyên gia quân sự Israel, Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam sẽ nâng cấp toàn bộ khoảng 10 tiểu đoàn xe tăng T-54/55, với mỗi tiểu đoàn trang bị 31 xe. Nếu đúng như vậy, trong những năm tới, sẽ có khoảng 310 xe tăng T-54/55 Việt Nam được nâng cấp hiện đại hơn nhiều lần.”









Một kiểu súng trường Galil tối tân gồm cả đèn chiếu sáng và ống ngắm tác chiến ban đêm. (Hình: Internet)


Các con số chính thức về lực lượng quân sự CSVN, vào năm 2010 có khoảng 850 xe tăng T-54/55 do Liên Xô chế tạo. Ngoài ra, Việt Nam còn có khoảng 350 xe tăng hạng trung Type 59 của Trung Quốc, biến thể hiện đại hóa từ xe tăng T-54.


Không có tiền mua các loại xe tăng tối tân hơn, Hà Nội chỉ cố gắng tân trang kho võ khí đã lạc hậu.


Trong khoảng hai năm trở lại đây, có 4 hay 5 công ty kỹ nghệ quốc phòng Do Thái đã đạt thỏa thuận với Việt Nam, phản ảnh chủ trương của chính phủ Do Thái là giúp kỹ nghệ của họ tìm thêm thị trường mới.


“Ðến nay, thương vụ chỉ mới vài chục triệu đô la. Số tiền không lớn ở giai đoạn này nhưng tiềm năng thì lớn”. Nguồn tin giấu tên của Globes cho hay. (T.N.)

Hội Nghị Tiếng Việt lần thứ tư

 


Bảo tồn tiếng Việt trong gia đình Việt Nam hải ngoại


 


Nguyên Huy/Người Việt


 


WESTMINSTER (NV) – Hội Nghị Tiếng Việt lần thứ tư đã khai diễn tại Viện Việt Học, Westminster, vào sáng Thứ Bảy, 14 Tháng Bảy, và kéo dài sang ngày Chủ Nhật, 15 Tháng Bảy, với chủ đề “Bảo Tồn Tiếng Việt Trong Gia Ðình Việt Nam Hải Ngoại”.









Giáo Sư Trần Ngọc Ninh giới thiệu một phương pháp dậy đọc, viết tiếng Việt theo phương pháp Âm Vị Học. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)


Năm đề tài lớn đã được các giáo sư, học giả người Việt khắp nơi thay nhau thuyết trình hoặc gửi bài viết về cho hội nghị. Ðó là những đề tài sau:


– Thực trạng sử dụng tiếng Việt trong gia đình Việt Nam hải ngoại.


– Quan hệ giữa việc học tiếng Việt trong trường và trong gia đình.


– Ảnh hưởng của tiếng Việt đối với đời sống gia đình, đặc biệt trong việc giao tiếp giữa các thế hệ.


– Thực chất của tiếng Việt ở hải ngoại.


– Nhu cầu bảo tồn tiếng Việt trong gia đình Việt Nam hải ngoại, đặc biệt là đối với các thế hệ trẻ.


Giáo Sư Trần Ngọc Ninh, chủ tịch danh dự của hội nghị, đã ngỏ lời chào mừng hội nghị lần thứ tư và mong hội nghị đạt được những kết quả tốt đẹp. Trong phần này giáo sư đã nói về ý nghĩa và mục đích của sự bảo tồn tiếng Việt. Giáo sư đề cập đến việc di dân của loài người trong thời cổ đại đã đưa đến những xã hội loài người khác nhau về tiếng nói, chủng tộc, văn hóa do vì những điều kiện sinh sống khác nhau. Từ nguyên ủy thì “loài người chỉ có một mà thôi,” giáo sư nhấn mạnh.


Vẫn theo giáo sư thì “như thế những người cùng một gốc gác chia lạc nhau đó có thể sống chung được và tôn trọng nhau không. Ðó là vấn đề.”


Giải quyết vấn đề này đã có hai thuyết. Thuyết thứ nhất dựa vào thực trạng nước Mỹ. Ðó là một nước hòa trộn nhiều chủng tộc, văn hóa khác nhau để cùng sinh tồn. Thuyết thứ hai chủ trương sự hòa trộn nhưng không hòa tan mà vẫn giữ cái bản sắc riêng, giống như món “nộm” của người Việt. Món “nộm” là một tổng hợp nhiều món ăn của người Việt như rau muống, đậu phụ, muối mè, tôm và đôi khi cả giá, tạo nên một món ăn tổng hợp rất ngon mà từng món trong “nộm” vẫn giữ được bản sắc của món ăn đó vì không phải hòa tan vào nhau.


Giáo sư giả định rằng “nếu loài người không tự diệt thì ngàn vạn năm nữa sẽ thành như vậy. Vậy thì chúng ta có đóng góp được gì trong cái món ‘nộm’ đó không. Làm như vậy là chúng ta đã trở về với cội nguồn, nghĩa là giữ được nền nếp, tiếng nói của ta.”


Ðến phần thuyết trình, hội thảo, Giáo Sư Trần Ngọc Ninh là diễn giả đầu tiên.


Trong phần thuyết trình này, Giáo Sư Trần Ngọc Ninh đề cập đến tiếng Việt trong tuổi trẻ Việt Nam sinh tại hải ngoại. Các trẻ em này khi sinh ra được sống ngay trong tiếng Việt của gia đình (ông bà, cha mẹ hay họ hàng) và dù chưa có nhận thức, cũng nhập tâm nhiều thứ và hình thành những ý niệm đầu tiên. Ðến tuổi đi học và lớn lên trẻ em đó được học tiếng của nơi em sinh sống như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Ðức… và dần dà thấm được nền văn hóa ngôn ngữ ở các nơi này.


Nhưng các trẻ em này vẫn không mất hẳn được gốc. Chúng vẫn còn giữ được những ý niệm đầu tiên tuy chúng đã mất dần đi cái âm và cái thanh Việt nên rất khó khăn khi học tiếng Việt. Nhưng, theo giáo sư thì “ngôn ngữ là có từ thâu nhập chứ không phải từ học” do đó để cho trẻ giữ được ngôn ngữ Việt, chúng phải được sống trong hoàn cảnh thích hợp. Ðiều này đã được chứng minh qua trẻ em của các gia đình người Việt phải sinh sống ở những tiểu bang rất ít người Việt. Những trẻ em này nếu có biết được tiếng Việt thì chúng cũng phát âm lơ lớ không chuẩn xác so với những em sống cùng gia đình tại những nơi có người Việt đông như California.


Rõ ràng là vai trò gia đình hết sức là quan trọng cho việc bảo tồn tiếng Việt nơi các thế hệ người Việt kế tiếp.


Vào buổi chiều hôm khai mạc hội nghị, Giáo Sư Nguyễn Hưng Quốc, từ Úc qua, thuyết trình về đề tài “Bản Chất Tiếng Việt Tại Hải Ngoại”. Giáo Sư Nguyễn Hưng Quốc đã phân định tiếng Việt đối với trẻ em Việt Nam ở trong nước, ở hải ngoại và đối với người thuộc các dân tộc khác. Tiếng Việt với trẻ em Việt Nam ở hải ngoại chỉ là thứ ngôn ngữ phụ trong khi trẻ em ở Việt Nam là ngôn ngữ chính. Trong tương lai, trẻ em ở hải ngoại sẽ bị ngôn ngữ, văn hóa bản xứ thống trị tâm trí và sinh hoạt của chúng do vì môi trường học đường, công ăn việc làm nên phương pháp giảng dậy tiếng Việt phải khác.


Theo Giáo Sư Nguyễn Hưng Quốc, nên dậy tiếng Việt cho các em lên đến 5 tuổi cho các em có thể thu phát âm căn bản để các em có thể đối phó được với tình trạng “bất trắc” về song ngữ mà các em phải đối diện. Cho nên, vai trò của gia đình sẽ là quan yếu. Các em cần phải được học từ gia đình trước và học ở nhà (sinh hoạt tiếng Việt) nhiều hơn là học ở trường. Gia đình cũng là nguồn động viên chính cho các em sử dụng ngôn ngữ Việt.


Nhiều diễn giả đề cập đến các phương cách và phương pháp dạy đọc và dậy viết tiếng Việt qua kinh nghiệm nghiên cứu của bản thân, qua các lần tham dự hội nghị tiếng Việt và qua một số sách giáo khoa đang được các trung tâm Việt ngữ và tại một số trường của Hoa Kỳ sử dụng. Như Giáo Sư Trần Ngọc Ninh, ông đã bỏ công nghiên cứu và áp dụng thành công phương pháp “Âm Vị Học” trong việc dậy đọc, dậy viết tiếng Việt qua các lớp Việt ngữ tại Viện Việt Học hàng tuần.









Giáo Sư Nguyễn Hưng Quốc thuyết trình về “Thực Chất Tiếng Việt Ở Hải Ngoại”. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)


Hai ngày hội nghị chấm dứt nhưng, theo ông Nguyễn Minh Lân, trong ban tổ chức, chỉ là chấm dứt trên hình thức mà nội dung sẽ còn kéo dài bởi vì Viện Việt Học còn tiếp tục đón nhận những bài viết, những góp ý của các giáo sư, học giả, nhà văn, nhà báo Việt ngữ khắp nơi sẽ đóng góp ý kiến về việc bảo tồn tiếng Việt trong gia đình Việt Nam hải ngoại để có thể rút ra được những tài liệu quý giá, những kinh nghiệm thực tiễn cho chúng ta.


Trang web của Viện Việt Học là www.viethoc.com, email là [email protected], điện thoại (714) 775-2050.


––


Liên lạc tác giả: [email protected]

Tìm Năm Sinh

 


Anh Sinh em cậu Nghĩa Hynos. Anh nhận tin gọi con gái Dì Tám, AL (714) 335-6213; (714) 335-6310.



 

Cổng Trời Cắn Tỷ (Kỳ 4)

 


LTS – Ông Kiều Duy Vĩnh là một trong những chứng nhân của sự độc ác cùng cực của cai tù CSVN tại nhà tù “Cổng Trời” tỉnh Hà Giang. Ông mất ở Việt Nam ngày 7/7/2012 vừa qua, thọ 81 tuổi. Ông từng tốt nghiệp Võ Bị cùng khóa với ông Nguyễn Cao Kỳ, là đại úy tiểu đoàn trưởng Nhảy Dù. Năm 1954 ông đã không theo đơn vị di cư vào Nam vì lý do gia đình. Ông đã bị bỏ tù hai lần 17 năm trong đó có nhiều năm ông bị giam ở “Cổng Trời,” nơi ông và một người nữa (ông Nguyễn Hữu Ðang trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm) sống sót trong số 72 người tù ở cùng một phân trại. Ông kể lại những ngày tù ở “Cổng Trời” qua các hồi ký từng phổ biến trên tạp chí Thế Kỷ 21 cách đây hơn chục năm. Trong các hồi ký này, ông kể về sự kiên cường giữ vững niềm tin tôn giáo của các giáo dân, tu sĩ và linh mục công giáo mà ông gọi là “các Thánh Tử Ðạo.”


 


Kỳ 4


 


Buổi sáng hôm ấy, chín giờ, mọi người chúng tôi ăn cơm xong, ngồi chơi, nhìn nhau, thì cửa mở. Một tiểu đội lính lưỡi lê tuốt trần súng ống chỉnh tề. Ðủ mặt bá quan của Khu A2. Quản giáo trực, giáo dục, phó giám thị phụ trách khu.


Tất cả đều đội mũ bình thiên, lệ phục chỉnh chu. Cuối cùng, giám thị mới xuất hiện. Còn trẻ, nhanh nhẹn mặt mũi sáng sủa, ăn nói lưu loát, sang sảng, dứt khoát, có âm sắc Nam Hà (có điều cho mãi đến tận bây giờ tôi vẫn chưa hiểu nỗi, là tại sao trong chuỗi ngôn từ chính quy, nhân danh pháp luật mà giám thị mới lại xen vào đó một số từ mà người ta chỉ dùng để nói láo với nhau mà thôi).


Bài nói như sau:


“Hôm nay, tôi Nguyễn Quang Sáng. Chánh giám thị mới của trại, thông báo để các anh rõ.


Trại Cổng Trời, Công Trường 25A Hà Nội này là một trại đặc biệt. Trại đã sàng lọc cẩn thận lũ các anh, bọn đầu trâu trán khỉ, bọn phản động chống phá cách mạng một cách điên cuồng, ở các trại dưới các anh không chịu cải tạo, lại còn ra sức truyền đạo và kích động người khác. Chúng tôi đây, chúng tôi cũng được chọn lọc, những phần tử ưu tú nhất, dầy dạn nhất, kinh nghiệm nhất để lên đây trừng trị, trấn áp lũ các anh. Tôi thay mặt cho ban giám thị báo cho các anh biết:


Ban giám thị trại Cổng Trời trực tiếp được Bộ Chính Trị và Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội trao cho quyền hành đặc biệt: Trừng trị thẳng tay những kẻ nào còn dám chống lại đảng và nhà nước. Cụ thể, tôi nhấn mạnh, là tôi sẽ cho đi ngủ với giun (nguyên văn) những kẻ nào không chịu cải tạo và cố tình chống đối lại.


Hôm nay tôi xuống đây để hỏi: Anh Ðỗ Bá Lung.”


Im lặng.


“Tôi hỏi: anh Ðỗ Bá Lung có nghe thấy không?”


Có tiếng đáp nhỏ nhẹ: “Có tôi.”


“Ðứng dậy. Tôi bảo anh đứng dậy.”


Vì buồng giam chật, không có chỗ cho chúng tôi đứng, nên chúng tôi đều ngồi xổm hoặc xếp chân vòng tròn trên giường chỗ gần cửa ra vào. Chỉ có giám thị, quản giáo là có chỗ đứng ngay cửa mà thôi. Tu sĩ Ðỗ Bá Lung từ từ đứng dậy.


Trời rét âm bốn độ, nên trong lúc ngồi nghe chúng tôi ai nấy đều quàng chăn cho khỏi rét.


“Bỏ chăn ra.”


Tu sĩ Lung tuột chăn khỏi vai cho rơi xuống chân mình.


“Anh Ðỗ Bá Lung, hôm nay, sau khi đọc hồ sơ của anh, cùng các nhận xét của các ban giám thị các trại dưới, và được các ông quản giáo báo cáo lại, thấy rằng: Anh là một tên phản cách mạng cực kỳ nguy hiểm, đã đội lốt thầy tu mê hoặc các giáo dân ở các xứ đạo, kích động họ để họ chống lại đảng và chính phủ.


Ðến khi bị bắt vào tù, ở các trại dưới cũng như ở đây, anh vô cùng ngoan cố khăng khăng không chịu cải tạo, từ chối mọi sự giáo dục của ban giám thị và các ông quản giáo. Tôi nói lại một lần nữa cho anh Ðỗ Bá Lung và các anh nghe cho rõ. Kẻ nào còn dám chống lại tôi sẽ cho đi ngủ với giun.


Anh Lung, trước đây lúc nào anh cũng vỗ ngực tuyên bố trước giáo dân và các ban giám thị ở các trại dưới là anh thề không đội trời chung với Cộng sản. [Chính xác thì Tu sĩ Lung nói: Tôi không bao giờ có thể sống chung với Cộng Sản vô thần được]. Bây giờ trước mặt tôi anh có còn dám trắng trợn thách thức như thế nữa không?”


Im lặng trên toàn bộ nhà mồ. Tôi ngồi im một xó, khép kín cái chăn, sụp cái mũ bịt tai lại, tránh mọi cặp mắt.


Giám thị Sáng cao giọng hất hàm:


“Tôi hỏi anh Lung, anh trả lời cho tôi biết. Thế nào?”


Những phút giây này Thần Chết đã có mặt. Người ta thường viết như thế này về những người Cộng Sản trước khi chết: Vào những phút giây này người Cộng Sản kiên cường bao giờ cũng đứng dậy hô to: “Ðảng Cộng Sản muôn năm. Hồ Chủ Tịch muôn năm.” Phút giây thiêng anh đứng dậy ba lần và hô ba lần hô dõng dạc như thế.


Tôi chờ. Tôi chờ. Và thấy tu sĩ Ðỗ Bá Lung ngẩng đầu:


“Tôi có nói như thế và bây giờ tôi vẫn nói như thế.”


Tiếng quát bật ra giận dữ:


“Lôi nó đi.”


Không để ai phải lôi kéo cả.


Tu sĩ Lung từ từ bước ra khỏi giường. Ði ra cửa.


Hàng lưỡi lê giãn ra. Quản giáo, giám thị giãn ra để cho tu sĩ đi. Ðến gần cửa tu sĩ quay lại, móc túi lấy gói thuốc lào, mấy đồng bạc “âm phủ” trao lại cho người ngồi gần. Vì tôi nằm cạnh tu sĩ, nên tu sĩ quay lại phía tôi: “Anh Vĩnh, tôi còn mấy viên thuốc cảm, và cái gối để ở đầu giường, lấy mà dùng.”


Và hướng vào tất cả mọi người trong nhà mồ, tu sĩ nói nhỏ nhẹ:


“Thôi chào các bác, các anh ở lại. Tôi đi.”


Và tu sĩ đi. Cửa sập lại.


Chúng tôi im lặng ngồi nhìn nhau không ai nói với ai một lời. Thần Chết đến và đã đi. Lần này ầm ĩ hơn, có nghi lệ hơn, có bài bản hơn những lần trước.


*


Gần ba tháng sau, Nguyễn Hữu Ðang, “tên cầm đầu bọn Nhân Văn Giai Phẩm” đến gần cửa sổ khu tôi ở. Anh là người độc nhất ở đây được đưa cơm vào xà lim, được đi lại tự do trong bốn bức tường, anh là người được ăn no, đủ muối mắm, thậm chí được mua cả thịt trâu và được hái hoa rừng cài vào cửa sổ. Có lần anh cầm một bó hoa nghệ và bảo tôi: Này Vĩnh, cậu ngửi mà xem có đúng mùi nước hoa Bain de Champagne không.


Tôi vốn không ưa cái mùi ung ủng của thứ nước hoa thượng hảo hạng đó. Nhưng anh Nguyễn Hữu Ðang thì anh rất thích cái mùi nước hoa Bain de Champagne đó. Lại có lần qua cửa sổ vào buổi sáng sớm, anh dúi cho tôi một cái bánh sắn to có nhân thịt trâu.


Chao ôi là chao ôi.


Thỉnh thoảng lúc vắng quản giáo và lính canh anh đứng cạnh cửa sổ nói với tôi dăm ba câu chuyện tào lao. Anh được thả lỏng, được ưu đãi có lẽ do cái người cắp cái cặp đen hôm đưa đoàn tù lên. Anh bảo với tôi rằng ông ta tên là Vệ, hình như làm cục phó Cục Quản Lý trại giam. Hồi xưa trước năm 1945, khi anh làm tổng thư ký Hội Truyền Bá Quốc Ngữ với cụ Nguyễn Văn Tố, anh có làm ơn cho ông ta một điều gì đó. Ðến giờ ông ta tử tế đáp lệ lại. Chắc là thế.


Anh luôn bảo, anh không có tội gì cả. Nếu có – theo anh – thì đó chỉ là một sự hiểu lầm về thời gian và không gian trong triết học mà thôi. Anh nói ấm ớ lững lờ và khó hiểu như vậy.


Ba tháng sau, lúc đưa cơm xà lim xong anh đáo qua cửa sổ tôi và bảo:


“Này, cái lão Lung ấy mà. Vẫn chưa chết. Sống dai thế. Không có chăn, không có quần áo ấm để chống rét cơ thể mọc đầy lông cậu ạ. Chỉ còn đôi mắt là vẫn sáng vẫn sống thôi.”

Lục bát Cung Trầm Tưởng

 


Viên Linh


 


Mỗi sinh nhật tôi lại nhớ đến bài thơ ấy của Cung Trầm Tưởng. Mỗi đêm mưa tôi lại đọc bài thơ ấy của Cung Trầm Tưởng. Ðó là mùa mưa Sài Gòn. Ðó là Sài Gòn của chúng tôi.









Cung Trầm Tưởng, cầm lá sớ thơ, và Viên Linh tại trụ sở Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại trên đường Bolsa, quận Cam, 1992. (Hình: Phan Diên)


Ðó là những năm cuối thập niên ’50, những năm của Hiện sinh, của bản ngã, của đời sống thanh niên thành phố vừa vào tuổi hai mươi, của những đêm khuya ngã tư đèn vàng, những đầu tháng tạp chí văn chương. Của khói thuốc và sách vở. Của những buổi hẹn hò ở một góc sân trường; những cuộc tiễn đưa nơi sân ga bến buýt. Của vào đời và tan tác.


Mưa rơi đêm lạnh Sài Gòn


Mưa hay trời khóc đêm tròn tuổi tôi.


Mưa hay trời cũng thế thôi


Ðời nay biển lạnh mai bồi đất hoang.


Hồn tu kín xứ đa mang


Sớm hao tâm thể chớm vàng lượng xuân.


Niềm tin tay trắng cơ bần


Cuối hoàng hôn lịm bóng thần tượng xưa.


Ðêm nay trời khóc trời mưa


Gió lùa ẩm đục trời đưa thu về


Trời hay thu khóc ủ ê


Cổ cao áo kín đi về đường tôi.


(Ðêm Sinh Nhật, Cung Trầm Tưởng)


Ðó là chúng tôi. Ðó là Sài Gòn của chúng tôi, những năm đầu của cuộc vận động đổi mới chữ nghĩa, – dăm ba thần tượng sụp đổ, một vài trường phái manh nha. Chúng tôi ghi nhận trong bất cứ cuộc vận động nào, thơ đi trước. Thơ bao giờ cũng đi trước; thi sĩ là kẻ tiền-hô. Có bao giờ chưa, một cuộc vận động văn học thi sĩ lại không ở hàng đầu? Một biến động thời thế thi sĩ lại không biến đổi trước nhất? Giữa thập niên ’20 Phan Khôi là người phá thể [với bài thơ Tình Già]. Ðầu thập niên ’30 Ðoàn Phú Tứ là kẻ xoay vần [với nhóm Xuân Thu Nhã Tập]. Ðể hình thành nền Thơ Mới. Ra ngoài đất nước, cũng chính là thơ trước nhất đã dựng lại một nền văn học. Vũ Khắc Khoan làm thơ. Mặc Ðỗ làm thơ. Võ Phiến làm thơ. 1975, những nhà văn phải làm thơ. Ðương nhiên các thi sĩ không làm gì khác là làm thơ. Trong khi các nhà văn phải làm thơ vì biến động trước mắt thì các thi sĩ đã làm thơ rồi, vì biến động đã ở dưới chân thi sĩ, từ lâu, trên các nẻo đường xuôi ngược của thi sĩ, không ngừng.


Không biết làm thơ, vào trong tù, ai cũng có thể làm thơ. Thế thì khi thi sĩ vào tù, thi sĩ thường thường ở tù lâu hơn các ông tướng, và các thứ. Vào tù binh tướng bị lột khí giới; vào tù, khí giới của thi sĩ còn nguyên. Bạn tôi cũng vậy. Cung Trầm Tưởng cũng vậy, trước sau gì cũng vẫn làm thơ. Ở ngoài đời là một tay làm thơ. Tựa bên phải thì làm thơ bằng tay phải; tựa bên trái thì làm thơ bằng tay trái. Vào tù, hai tay bị còng, thì có “Lời Viết Hai Tay.”** [**nhan đề một thi phẩm của CTT.] Từ cuối thập niên ’50 trở đi, Lục Bát Việt Nam không bao giờ còn như xưa nữa. Hình sắc, âm điệu, ngôn ngữ của hai dòng 6-8 đó – như một thôn nữ khăn vuông mỏ quạ váy quai cồng của đồng chiêm lúa mùa nhiều thế kỷ trước chốn Phong Châu – hiện thành Vệ Nữ và Hoàng hậu, hiển lộng và rực rỡ – nhưng lại có chút man dại của bản năng và nhịp thở phố xá, qua thơ Cung Trầm Tưởng.


Ðến anh thì đến hôm nay


Lỡ mai gió giật chở đầy mưa qua


Ðến anh thân thể lụa là


Dài đuôi con mắt ngắn tà váy kiêu


Ðến anh lưng thắt chiết yêu


Sểnh tâm phá giới con diều ái ân


Chờ em anh để râu xanh


(Râu Xanh, Cung Trầm Tưởng)


Trước 1975. Một hôm Cung Trầm Tưởng đến tòa soạn Tạp chí Thời Tập của tôi trên đường Nguyễn Trãi Chợ Lớn rủ tôi đi Cần Thơ dự Ðêm Con Ðuông. Con đuông là một thứ Nhộng của xứ dừa, họa sĩ Ngy Cao Uyên ở Cần Thơ lấy tên Con Ðuông đặt tên cho nhà xuất bản của anh, in ra những tập thơ mỏng, bìa là một họa phẩm nguyên tác nhỏ bằng lòng bàn tay; “Lục Bát Cung Trầm Tưởng” được in ra trong khuôn khổ này. Tôi còn nhớ chuyến bay chỉ có 4 người, kể cả phi công. Khi chiếc Bà Già bay trên ruộng rừng đất nước, nhìn ngắm những hố bom B.52 phía dưới, chúng tôi nói về những tàn phá của cả thù lẫn bạn. Rồi cũng không quên nói về thơ. Ðêm ấy trên những chiếc giường sắt trong căn cứ Không đoàn Vận tải (mà ông họa sĩ chủ trì là trung tá chỉ huy trưởng), chúng tôi nói về màu sắc trong thơ.


1992. Nhớ Cung Trầm Tưởng, không có việc gì, với tấm bản đồ thành phố Paris trong tay, tôi đã lên một con tàu và bước xuống một sân ga: “Ga Lyon đèn vàng”. Sau này qua điện thoại, tôi kể anh nghe tôi xuống sân ga đó không phải để kiểm chứng xem bạn ta có phải là người đi xa về rồi nói chuyện linh tinh hay không, như ở ga Lyon đèn trắng lại nói nó đèn vàng hay không, mà tôi xuống đó, để đứng ở ga Lyon và ngó lên mấy ngọn đèn, nhớ bạn, và đọc thơ bạn và hát nhạc Phạm Duy ở đấy. “Lên xe tiễn em đi, chưa bao giờ buồn thế.” Ngược lại, cũng qua điện thoại, Cung Trầm Tưởng thuật lại tôi nghe khi còn ở Sài Gòn, sau 10 năm ở tù cộng sản ra, đang lóng ngóng chuyện rời bỏ quê hương, thì nghe tôi nói về anh và về Thơ Lục Bát của chúng tôi trên đài Radio France International. Bài nói trên đài RFI ấy chính là trong cái dịp tôi bước xuống ga Lyon vào năm 1992 đó. [Dường như là do Thụy Khuê phỏng vấn.] Và ở hai phía địa cầu, như thế, cái tiếng Lục và cái tiếng Bát mà chúng tôi làm ra, chúng tôi ngâm lên, đã cùng được nghe thấy, trong một phút một giây của thời gian thật:


Hồn tôi cái đĩa thâu thanh


Tròn nguyên nét nhạc trung thành ý ca


Ðồ rê mi phá sol la


Ngẫm từng âm điệu nghe ra trời buồn.


“Cơ bản, Thơ vượt lịch sử.” Cung Trầm Tưởng nói. Tôi đồng ý. Lịch sử vốn tái diễn không ngừng, thơ vốn hồi sinh cùng thi sĩ. Lịch sử lập lại. Thơ không lập lại. Thơ xướng danh lịch sử và sang vòng chuyển hóa mới. Hiện tại của lịch sử là nhà tù: Tập thơ “Lời Viết Hai Tay” là dĩ vãng của thi sĩ.


Viên Linh, Lời bạt cho thi phẩm của Cung Trầm Tưởng, 1992


Bổ sung 2012

Vài khuôn mặt tiêu biểu của mạch ngầm văn chương Nam bộ

 


Du Tử Lê


(Tiếp theo và hết)


 


Nói tới văn chương Nam bộ, là nói tới chiếc chìa khóa căn bản của dòng văn chương này như ngôn ngữ và, văn phong đặc thù. Nhưng sự khác biệt giữa hai dòng văn chương Nam bộ và miền Bắc di cư, không chỉ nằm nơi những vận hành tự nhiên của ngôn ngữ, biểu thị những mô tả, tình cảm, ưu tư của con người trong cuộc sống, cái chết.










Nhà văn Bình Nguyên Lộc.


Cụ thể như, nếu dòng văn chương miền Bắc, về hình thức, mưu cầu đạt tới những kỹ thuật mới mẻ, tân kỳ; mô phỏng theo những trào lưu văn học Tây phương, từ lãng mạn qua tới tượng trưng, siêu thực hoặc cận đại hơn như trào lưu tiểu-thuyết-mới, hay phong trào văn chương hậu-hiện-đại, thì các nhà văn Nam bộ dường chỉ bận tâm về hiệu quả chuyển đạt hay sự tương thông dung dị, gần gũi giữa nhà văn và người đọc mà thôi.


Một trong những nhà văn Nam bộ, nổi tiếng trong 20 năm Văn Học Miền Nam là Sơn Nam. Ông có một truyện ngắn rất phổ biến, nhan đề “Tình nghĩa giáo khoa thư”. Chuyện kể chuyện phái viên một tờ báo ở Saigon, lặn lội về một xã nhỏ thuộc tỉnh Rạch Giá, để tìm một độc giả đã thiếu tòa soạn tới 6 tháng tiền báo dài hạn. Tác giả ghi lại phần mô tả của ông xã trưởng về nhân vật được tìm kiếm như sau:


“…Anh ta nói có dây có nhợ, tích người học trò nghèo tên là người Thừa Cung gì đó… chăn heo; ông quan đại thần Lý Tích đích thân nấu cháo cho chị ăn dè đâu bị lửa táp cháy râu. Chưa hết đâu, thầy phái viên ơi! Hễ gặp ai say rượu anh ta nói một hơi như thầy chùa tụng kinh, có ca có kệ. Cái gì mà các anh hãy trông người kia đi ngoài đường, mặt đỏ gay, mắt lờ đờ…” Thầy phái viên cười lớn, nhịp mạnh tay xuống bàn ba bốn lần như đánh trống chầu hát bội, đôi mắt sáng ngời, chân nhảy nhót như con nít: “- Hay quá! Hay quá! Tôi thăm ông độc giả đó mới được. Ổng làm thầy giáo hả thầy? Nhờ thầy đưa tôi đi tới gặp mặt. Ngộ quá hen! Ừ! Ừ!” (Trích “Những truyện ngắn hay nhất của quê hương ta,” trang 508, Sóng XB, Saigon 1974.) (1)


Cả đoạn văn người đọc không thấy một so sánh hay liên tưởng tân kỳ nào, ngoài những hình ảnh và, những ngôn từ rặc chất Nam bộ.


Lại nữa, các nhà văn Nam bộ tuồng cũng không chú tâm lắm tới phần tả cảnh (nhất là với các truyện ngắn). Ða số chỉ chú trọng những chi tiết về nơi chốn, dữ kiện cụ thể, hầu giúp người đọc cảm nhận câu chuyện được kể là có thật. Thí dụ truyện ngắn “Chuyện tình” của nhà văn nổi tiếng Ngọc Linh, với hình thức nhập đề trực-khởi:


“Tôi cầm hai quyển tiểu thuyết ‘Cuốn theo chiều gió’, sắp hàng đứng trước quầy thu tiền và xếp lá phiếu ghi giá lên quầy theo thứ tự, chờ tới phiên mình trả tiền. Hôm nay sắp bãi trường, nhà sách Khai Trí thật là đông. Mọi người đứng chen chân với nhau để lựa sách. Bà chủ vốn là người điềm đạm, ít nói mà có lúc cũng lên giọng: ‘- Xin lỗi! Ông chờ một chút! Chưa tới phiên mà!’ Ðứng trước tôi là một cô gái rất đẹp, mặc đầm, áo sơ mi trắng, jupe soirée màu xanh đậm, tóc xõa mượt mà ngang vai. Nhìn thoáng qua đã thấy có cảm tình. Cô ta ôm một chồng sách trên tay, cao gần tới cổ, có hơn 10 cuốn sách dày, bìa cứng. Khách mua hàng càng chen lấn, cô càng xoay xở khó khăn. Ðứng đợi lâu quá có lẽ mỏi tay, nên cô gái đặt chồng sách. Người bán hàng ngó cô, cô mỉm cười lấy lòng, chớ không nói một lời…” (2)


Ngay nhà văn Bình Nguyên Lộc, một tên tuổi hàng đầu của văn giới Nam bộ, trong truyện ngắn nổi tiếng “Rừng mắm,” mở đầu truyện, tuy có mô tả cảnh vật, nhưng ông cũng chỉ mô tả một cách giản dị, dễ hiểu, tựa như văn nói:


“Chim đang bay lượn bỗng đứng khựng lại, khiến thằng Cộc thích chí hết sức. Nó theo dõi con chim thầy bói ấy từ nãy đến giờ, chờ đợi cái giây phút nầy đây.


Thật là huyền diệu sự đứng yên được một chỗ trên không trung, trông như là chim ai treo phơi khô ngoài sân nhà.


Chim thầy bói nghiêng đầu dòm xuống mặt rạch giây lát rồi như bị đứt dây treo, nó rớt xuống nước mau lẹ như một hòn đá nặng. Vừa đụng nước, nó lại bị bắn tung trở lên như một cục cao su bị tưng, mỏ ngậm một con cá…” (Sđd. Trang 13) (3)


Cũng vậy, về nội dung, các nhà văn Nam bộ tuồng không hề nêu ra trong văn chương của họ, những tình huống tâm lý trầm trọng, hiểm hóc, xa rời thực tế. Họ cũng không mấy bận tâm về những vấn đề có tính cách triết lý, siêu hình như “Thượng đế đã chết” (?)Một đại ngôn của triết gia F. Nietzsche. Hoặc “địa ngục ta là kẻ khác,” một câu văn gây chấn động một thời của cha đẻ thuyết hiện sinh Jean Paul Sartre.


Vấn đề của các nhà văn Nam bộ là đem mọi hoạt cảnh đời sống hàng ngày của đám đông vào văn chương. Ngọn hải đăng cho cõi văn chương của họ, thường không ra ngoài những tiêu chí căn bản như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Cộng thêm tinh thần hào hiệp, giúp người sa cơ, nâng đỡ người kẻ thất thế… vốn là truyền thống của người dân miền Nam. Vì thế, kết thúc truyện ngắn hay truyện dài của họ, thường mang thông điệp nhắc nhở, răn dạy người đọc ăn ở hiền lương, cao thượng…










Nhà văn Sơn Nam và thủ bút.


Tính chất không cầu kỳ, không bí hiểm của dòng văn chương miền Nam 20 năm trước đây, cũng phản ảnh rõ nét trong thi ca nhiều tác giả như:


“chiều nay bất chợt cơn mưa đổ xuống


may mắn anh tìm được mái hiên nhỏ nhắn trú mưa…”


(Trương Ðạm Thủy, “Mái Hiên Mưa,” hợp tuyển “Bến Tâm Hồn: Tôi còn kỷ niệm,” trang 78. Thanh Niên XB. Saigon 2009) (4)


Hay:


“Ồ thích quá! Linh hồn ta cao ngất


Và không gian nhỏ lại gấp trăm lần.”


(Tâm Ðạm, “Say Xuân.” Sđd. Trang 21.) (5)


Hoặc:


“Buổi sáng nào nhẹ giọt sương tan


em mặc áo vàng màu vua chúa,


buổi trưa nào nắng đổ


mặt trời vàng thêu áo lụa em bay.”


(Thiên Hà, “Hạ vàng.” Sđd. Trang 96) (6)


Hoặc nữa:


“Ong bầu vờn đọt mù u


Lấy chồng càng sớm, tiếng ru càng buồn.”


(Kiên Giang, “Quê hương thơ ấu.” Sđd. Trang 126) (7)


Tôi trộm nghĩ, có dễ vì đặc tính không cầu kỳ, không bí hiểm, xa rời quần chúng, nên dòng văn chương Nam bộ là mạch ngầm ăn sâu, bám rễ bền chặt trong sinh hoạt tinh thần của đại đa số người dân miền Nam. Và, giá trị lớn lao của nó, ở chính chỗ đó.


Du Tử Lê,


16 tháng 7, 2012


 


Chú thích:


(1) Nhà văn Sơn Nam, tên thật Trương Minh Tài (khai sinh ghi Tầy) sinh năm 1926 tại Rạch Giá, mất năm 2008 ở Saigon.


(2) Nhà văn Ngọc Linh, tên thật Dương Ðại Tâm, sinh năm 1931 tại Cà Mau, mất năm 2002 ở Saigon.


(3) Nhà văn Bình Nguyên Lộc, tên thật Tô Văn Tuấn, sinh năm 1915 tại Biên Hòa, mất năm 1987 tại Hoa Kỳ.


(4) Nhà thơ Trương Ðạm Thủy, tên thật Trương Minh Hiếu, sinh năm 1940 tại Bến Tre.


(5) Nhà thơ Tâm Ðạm/Dương Trữ La, tên thật Dương Ngọc Lạc, sinh năm 1937 tại Gia Ðịnh, mất năm 2000 ở Saigon.


(6) Nhà thơ Thiên Hà, tên thật Dương Cao Thâm, sinh năm 1941 tại Cà Mau. Ông hiện chủ trương hợp tuyển “Bến Tâm Hồn,” đăng tải thơ, văn, họa của những người nổi tiếng trước thời điểm 1975.


(7) Nhà thơ Kiên Giang, tên thật Trương Khương Trinh sinh năm 1928 tại Rạch Giá.

Cháu Nguyễn Thanh Sơn

Cháu Nguyễn Thanh Sơn

Bà QP Trần Khoải Lộc

Bà Nguyễn Thị Kim Anh

Bà Đoàn Chính Đức

Lướt tin 17 tháng Bảy

Việt Nam


 



  • Tỉnh Khánh Hòa vừa có đề nghị ‘công nhận cụm bia chủ quyền ở đảo Song Tử Tây và đảo Nam Yết thuộc huyện đảo Trường Sa là di tích lịch sử cấp quốc gia’.

 



  • Thương lái Trung Quốc ở Việt Nam rỉ tin rằng, phía Trung Quốc sẽ cho ngư dân Quảng Ngãi, có ba tàu cá bị Trung Quốc bắt từ ngày 2 đến 6 Tháng Bảy, mang tiền sang chuộc lại tàu.

 



  • Trung tá công an đánh gãy cổ ông Trịnh Xuân Tùng chỉ bị bản án quá nhẹ là 4 năm tù giam tại phiên tòa phúc thẩm ở Hà Nội. Xem tiếp

 



  • Công an Sóc Trăng đề nghị truy tố cặp vợ chồng đồng bóng, coi bói qua điện thoại cho một phụ nữ Việt ở Úc, và bày ra nhiều hành động dị đoan để làm tiền. Trong hai năm, hai vợ chồng lấy số tiền gần 1.5 tỷ đồng ($70,000).

 



  • Nhạc sĩ Trần Tiến nổi danh ở Việt Nam, là người được nhiều khách đặt hàng viết ca khúc, nói rằng “sáng tác của tôi không có mùi tiền bạc”.

 



  • Lần đầu tiên, Việt Nam sẽ tổ chức Ðại Hội Khinh Khí Cầu Quốc Tế tại Bình Thuận với sự tham gia của khoảng 50 nhà phi hành của 11 quốc gia.

 


Cộng đồng/Ðịa phương


 



  • Joe Wolfe là cảnh sát viên thứ nhì xin thôi việc tại Sở Cảnh Sát Fullerton. Cảnh sát viên này là một trong sáu người bị thấy trong vụ đánh chết Kelly Thomas, một thanh niên bị tâm thần.

 



  • Hai bệnh viện UCI Medical Center và Hoag ở Orange County vừa được báo US News & World Report xếp trong “Top 50”. Khoa chăm sóc người cao niên của UCI xếp hạng 35, khoa chỉnh hình của Hoag xếp hạng 43.

 



  • Một thanh niên 19 tuổi bị cảnh sát biên giới trạm phía Nam San Clemente, Orange County, bắt khi đang lái xe chở hơn 200 pound cần sa.

 



  • Hội Ðồng Thành Phố Westminster quyết định ngưng chức Tổng Quản Trị Mitch Waller. Ông có hai lựa chọn: Hoặc về hưu, hoặc bị sa thải. Xem tiếp

 


Hoa Kỳ


 



  • Mùa hạn hán dài nhất từ nửa thế kỷ gây tổn thất nặng nề cho vùng trồng ngô và đậu nành tại các tiểu bang miền Trung Tây.

 



  • Một tài xế xe bus ở New York đi làm về đỡ được bé gái 7 tuổi ở nhà láng giềng, rớt từ lầu 3 xuống trong chung cư ở Brooklyn. Cô bé bị xây xát nhẹ.

 



  • Tài liệu cho thấy, Zimmerman, nghi can giết Trayvon Martin, từng gọi điện thoại cho Mục Sư Terry Jones, yêu cầu đừng tổ chức biểu tình ủng hộ mình.

 



  • Một máy bay nhỏ bay trên bầu trời Ðại Học Penn State, kéo theo biểu ngữ đòi gỡ bỏ tượng Joe Paterno, cố huấn luyện viên football của trường, bị tố cáo liên quan đến sách nhiễu tình dục.

 



  • Hướng Ðạo Hoa Kỳ minh định chính sách của tổ chức này, cấm thành viên công khai thừa nhận đồng tính luyến ái.

 



  • Cơ Quan Kiểm Soát Thuốc và Thực Phẩm (FDA) vừa chuẩn thuận thuốc giảm cân do công ty Vivus, Inc. chế tạo. Nhiều bác sĩ cho rằng đây là phương cách giảm cân hiệu quả và an toàn nhất.

 


Thế giới


 



  • Tướng Hyon Yong-choi, mới lên cấp tướng Tháng Chín, 2010, vừa được Bắc Hàn chỉ định làm tổng tham mưu trưởng quân đội thay thế Tướng Ri Yong-ho, vừa bị bãi nhiệm tất cả mọi chức vụ trong đảng và quân đội.

 



  • Hai người thiệt mạng và 19 người bị thương trong vụ bắn súng tại Toronto, thành phố đông dân nhất Canada.

 



  • Hans Kristian Rausing, người thừa kế gia tài $10 tỉ tại Anh, phải ra tòa vì bị cáo buộc “ngăn chặn lễ tang hợp pháp và đàng hoàng” cho vợ mình.

 



  • Ông Trần Quang Thành, nhà hoạt động nhân quyền khiếm thị Trung Quốc, từng trốn vào Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Bắc Kinh, sẽ cho ra mắt hồi ký vào năm tới, nhà xuất bản của ông cho biết.

Trung tá công an đánh gãy cổ dân chỉ bị 4 năm tù

 


HÀ NỘI (NV) – Trung tá công an Nguyễn Văn Ninh, người đánh chết ông Trịnh Xuân Tùng, chỉ bị y án sơ thẩm là 4 năm tù giam trong phiên tòa phúc thẩm tại Tòa Án Tối Cao ở Hà Nội vào hôm 17 Tháng Bảy.








Gia đình nạn nhân Trịnh Xuân Tùng trước khi đến tòa án tham dự phiên phúc thẩm xử bị cáo Nguyễn Văn Ninh. (Hình: Dân Làm Báo)


Phiên tòa này từng dự định mở vào ngày 14 Tháng Năm nhưng đã hoãn vào phút chót ‘với lý do không triệu tập đủ nhân chứng’.


Bị cáo Nguyễn Văn Ninh là công an phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.


Vì không đội mũ bảo hiểm, ông Trịnh Xuân Tùng bị công an và dân phòng bắt về đồn công an và Nguyễn Văn Ninh đánh gãy cổ ông Tùng khiến ông thiệt mạng vào ngày 28 Tháng Hai năm 2011.


Sau một thời gian dài im lặng, phiên tòa sơ thẩm diễn ra vào Tháng Giêng năm 2012 tại tòa án thành phố Hà Nội và tuyên bản án 4 năm tù đối Trung Tá Nguyễn Văn Ninh với tội danh “Làm chết người trong khi thi hành công vụ”.


Bản án dành cho Nguyễn Văn Ninh trong phiên tòa phúc thẩm lần này được coi là quá nhẹ. Cô Trịnh Kim Tiến, con gái ông Trịnh Xuân Tùng, cho hay, phiên tòa này là quá bất công với gia đình cô và bản án đã được dàn dựng sẵn.


Ngoài Trung Tá Nguyễn Văn Ninh lãnh án 4 năm tù giam, những kẻ liên quan trong vụ đánh chết ông Trịnh Xuân Tùng đều không bị truy tố. (K.N.)

Tìm Ngô Quốc Long

 


Long có người chị tên Ngô Thị Kim Oanh. Trước năm 1990 ở Fullerton.


Ðọc được tin này gọi Gioan Vo (509) 948-1299.



 

Ðà Nẵng cho thành lập ‘Chi cục Biển và Hải đảo’

 


ÐÀ NẴNG (NV) – Nhà cầm quyền thành phố Ðà Nẵng hôm 17 Tháng Bảy công bố việc cho thành lập ‘Chi cục Biển và Hải đảo’ trong bối cảnh đang có căng thẳng trên biển Ðông giữa Việt Nam và Trung Quốc.










Từ vùng biển dưới chân bán đảo Sơn Trà nhìn về TP. Ðà Nẵng. (Hình: ‘Infonet.vn’)


Ngoài vị trí địa địa lý giáp với biển Ðông, thành phố Ðà Nẵng, về mặt hành chính, quản lý quần đảo Hoàng Sa, dù quần đảo này bị Trung Quốc cướp của Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1974.


Trang mạng ‘Infonet.vn’ cho hay chi cục này “là tổ chức hành chính trực thuộc Sở Tài Nguyên Môi Trường, có chức năng giúp giám đốc Sở Tài Nguyên Môi Trường tham mưu cho Ủy Ban Nhân Dân thành phố Ðà Nẵng thực hiện chức năng quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất quản lý các vấn đề về biển, đảo trên địa bàn”.


Bản tin nói thêm, chi cục này ‘đồng thời chịu sự hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Tổng Cục Biển và Hải Ðảo Việt Nam thuộc Bộ Tài Nguyên Môi Trường’.


Thành phố Ðà Nẵng thời gian vừa qua đã có nhiều hành động nhằm khẳng định chủ quyền biển đảo. Gần đây nhất, hồi đầu tháng 7, thành phố này đưa ra nghị quyết phản đối Trung Quốc thành lập thành phố Tam Sa trong kỳ họp Hội Ðồng Nhân Dân.


Riêng bí thư thành ủy Nguyễn Bá Thanh cũng đưa ra lời lẽ cứng rắn rằng, “Nếu có bất cứ hành động xâm phạm lãnh thổ Việt Nam, chúng ta sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ sự toàn vẹn của tổ quốc.”


Trên vùng biển Ðà Nẵng, một phúc trình của Bộ Ðội Biên Phòng Ðà Nẵng cho hay, “Từ đầu năm đến nay đã có 198 tàu thuyền nước ngoài, chủ yếu là của Trung Quốc, xâm phạm lãnh hải Việt Nam tại vùng biển Ðà Nẵng.”


Căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc trên biển Ðông tiếp tục gia tăng, với việc gần đây nhất là Trung Quốc đưa 30 chiếc tàu đánh cá với sự hộ tống của tàu hải giám đến quần đảo Trường Sa để đánh bắt hải sản. (K.N.)

Tương lai kinh tế vẫn lạc quan

 


Ngô Nhân Dụng


 


Ông Ben S. Bernanke, chủ tịch Ngân Hàng Trung Ương Mỹ (hệ thống Dự Trữ Liên Bang, gọi là Fed) đang ra điều trần trước các ủy ban Quốc Hội Mỹ ngày hôm qua (Thượng Viện) và hôm nay (Hạ Viện). Thị trường chứng khoán khắp thế giới chờ nghe.


Sau khi báo động các nghị sĩ trong ủy ban ngân hàng Thượng Viện về tỷ lệ thất nghiệp còn nặng nề, ông Bernanke kêu gọi Quốc Hội hãy có những biện pháp kích thích kinh tế. Ông nhấn mạnh hai yếu tố đang ngăn cản sự phát triển kinh tế Mỹ là cuộc khủng hoảng ở Âu Châu và mối lo về chính sách của Quốc Hội.


Sau bài thuyết trình của ông Bernanke, chỉ số các thị trường chứng khoán ở Mỹ và trên thế giới đã tăng lên. Vì những hình ảnh bi quan ông nêu ra cho thấy Ngân Hàng Trung Ương Mỹ có thể sẽ bơm thêm tiền vào nền kinh tế (với biện pháp gọi là QE-3), vào Tháng Bảy, hoặc Tháng Tám, trong các phiên họp định kỳ của ủy ban chính sách tiền tệ (gọi tên là Ủy Ban Thị Trường), cho các xí nghiệp và người tiêu thụ có thể vay thêm tiền sử dụng.


Không cần nghe ông Bernanke, chúng ta cũng biết trạng kinh tế Mỹ hiện nay rất xấu. Tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức 8.2% không giảm. Số việc làm mới tạo ra còn thấp, trong ba tháng liền. Số hàng bán lẻ giảm sút trong hai Tháng Năm và Tháng Sáu; do đó nhiều người rất bi quan về tương lai.


Khi bi quan, chúng ta rất dễ nhìn cái gì cũng chỉ thấy điềm xấu. Thí dụ, khi đọc bản tin về công ty Boeing trúng mối thầu bán nhiều máy bay, một vị độc giả báo Người Việt viết: “Boeing có trúng thầu lớn cũng chẳng có lợi gì cho dân lao động Mỹ. Bởi vì tất cả các phụ tùng để sản xuất thành một chiếc phi cơ đều đặt làm tại Trung Quốc và các nước Á Châu vì giá nhân công ở Á Châu rẻ hơn sẽ mang nhiều lợi nhuận cho công ty…” Chắc nhiều người cũng chia sẻ các ý kiến bi quan này. Nhưng bi quan quá đáng thì không có căn cứ.


Dù các công ty Mỹ có đặt làm bộ phận ở nước ngoài, khi họ bán được hàng thì vẫn lợi lộc cho cả nền kinh tế Mỹ chứ không phải chỉ làm giàu cho công nhân Trung Quốc! Một cái máy bay có hàng vạn bộ phận, có thứ đắt, thứ rẻ. Thí dụ, trong chiếc máy bay mới Boeing 787 gọi là Dreamliner, công ty này đã đặt các xí nghiệp Ấn Ðộ làm hệ thống đèn trên sàn máy bay; một phần cánh máy bay làm ở Nhật Bản; cánh cửa máy bay và bộ phận bánh xe hạ cánh làm ở Pháp và Thụy Ðiển. Một số bộ phận cái đuôi làm ở Nam Hàn và Italy. Các bộ phận được đặt làm tại 50 quốc gia trên thế giới, vì ở đâu có đủ kỹ thuật và làm rẻ thì người ta đặt; nhưng cũng vì công ty Boeing muốn lấy lòng chính phủ các nước này, để sau sẽ bán hàng cho họ dễ hơn. Hiện đã có khách hàng đặt mua 800 cái Dreamliner dù nó chưa ra đời.


Cuối cùng thì các công ty như Boeing đã bán cái gì cho khách hàng, bên cạnh những bộ phận mua từ nước khác? Quan trọng nhất là họ bán một “sản phẩm trí óc” là bản họa đồ toàn thể chiếc máy bay. Nhờ khả năng “kỹ thuật hàng không” với kinh nghiệm lâu đời mà các công ty nước khác không địch được với Boeing, nên vẫn đem mối lợi lớn nhất về nước Mỹ. Trên thế giới bây giờ chỉ có công ty Air Bus của các nước Âu Châu là cạnh tranh ngang hàng với Boeing. Mà Air Bus cũng vừa mới quyết định đặt một xưởng sản xuất máy bay ở Mỹ, mặc dù nhiều nhà chính trị Pháp, Ðức phản đối rằng quyết định đó khiến cho công nhân nước họ mất việc làm, cho công nhân bên Mỹ hưởng! Chia một số việc cho người ngoại quốc làm, nhưng nhờ thế bán được máy bay, vẫn thêm việc làm cho nhiều người Mỹ. Mà những người làm việc ở Mỹ phụ trách các phần quan trọng, thiết yếu nhất, thì lãnh lương cao hơn gấp bội.


Trong việc chế tạo chiếc máy bay Boeing không thấy nói đến tên các nhà cung cấp bộ phận từ Trung Quốc. Nếu có thì chắc cũng là những thứ rất rẻ tiền, như vải bọc các chiếc ghế, hay những hộp để mắc áo cho nhân viên phi hành đoàn. Một thí dụ để so sánh, là trong một chiếc iPad của hãng Apple bán giá 500 đô la, thì chỉ có 8 đô la được trả cho người Trung Quốc khi lắp ráp. Chính hãng Apple thu về hơn 160 đô la, riêng cho giá trị của “sản phẩm trí tuệ” vì họ đã vẽ kiểu ra cái máy đó. Cho nên, chúng ta đừng hiểu lầm rằng cái gì người Mỹ cũng nhờ người Tàu làm, kiểu đem vàng đi đổ sông Ngô!


Kinh tế toàn cầu hóa là hiện tượng tự nhiên, mà những nước tiền tiến cũng có lợi chứ không phải chỉ có các nước nghèo mới được lợi. Ðiều mọi người không để ý là số xuất cảng của nền kinh tế Mỹ đang tăng lên một cách ngoạn mục, nhờ bán bán cho các nước kinh tế đang lên. Kể từ năm 2008 đến năm ngoái, số tiền nước Mỹ thu về nhờ xuất cảng sang Trung Quốc đã tăng hơn gấp rưỡi (53%) trong khi số bán sang các nước giàu (nhóm OECD) chỉ tăng 20%. Trong các món mà nước Mỹ xuất cảng, dịch vụ chiếm 30%. Riêng đối với ba nước lớn, Brazil, Ấn Ðộ và Trung Quốc, số dịch vụ do Mỹ xuất cảng sang các nơi đó đã tăng gấp đôi kể từ năm 2006 đến nay.


Nói xuất cảng hàng hóa thì dễ thấy, nhưng nhiều người không biết các dịch vụ được xuất cảng là những thứ gì. Tuần báo Nhà Kinh Tế (The Economist) mới nêu một thí dụ. Tòa nhà Shanghai Tower ở thành phố Thượng Hải, khi được khánh thành năm 2015 sẽ nhất Trung Quốc, là do công ty Gensler, một công ty Mỹ họa kiểu. Cấu trúc chính để xây tòa nhà này là do các kỹ sư một công ty Mỹ khác thiết kế, công ty Thorton Tomasetti. Tòa nhà cao tên Jin Mao (Kim Mậu) đang là trụ sở Trung Tâm Tài Chánh Hoàn Cầu của thành phố Thượng Hải, cũng là do các kiến trúc sư và kỹ sư Mỹ vẽ kiểu. Và rất nhiều cao ốc khác khắp nước Trung Hoa. Trung Quốc có nhiều kiến trúc sư và kỹ sư giỏi không thua gì nước Mỹ; nhưng chưa có một nhóm nào đủ kinh nghiệm bằng các công ty cố vấn kỹ thuật ở Mỹ. Ðó là một “món hàng” do Mỹ xuất cảng, rất đắt tiền so với những bộ quần áo may cho các lực sĩ thể thao Mỹ đang làm dư luận xôn xao! Những dịch vụ khác về tài chánh, nhu liệu vi tính, Internet, cố vấn quản trị cũng vậy; nước Mỹ vẫn mạnh nhất trong nền “kinh tế dùng óc” (economy of knowledge).


Khi ở Mỹ người ta “bày ra” những thứ như iPhone, Facebook, được khắp thế giới ham chuộng, thì có 311,000 người Mỹ kiếm được việc làm nhờ họ đã “bày ra” những trò chơi, các nhu liệu để dùng trong các phát minh đó. Mấy trăm ngàn người này đã bán các món “hàng hóa ảo” (virtual goods) như thế, và năm ngoái tạo ra được hơn một tỷ đô la cho kinh tế Mỹ, một phần ba là bán ra nước ngoài, xuất cảng.


Năm 2010, Tổng Thống Barack Obama đoán trong 5 năm nước Mỹ sẽ tăng gấp đôi số xuất cảng. Tới nay nước Mỹ thật sự đã đạt được một nửa chặng đường đó rồi. Không phải vì nhờ vào chính phủ mà vì sức mạnh tự nhiên trong nền kinh tế tự do. Trong năm 2010 có 293,000 công ty Mỹ xuất cảng ra ngoài, con số tăng gần một phần năm (19%) so với năm 2006. Các công ty lớn, xuất cảng nhiều, như Boeing hay General Electrics ai cũng biết. Nhưng ngày càng nhiều các công ty nhỏ (dưới 500 nhân viên) tham dự thị trường xuất cảng để đối phó với tình hình kinh tế trong nước yếu đi. Năm 2006 số thu của các công ty nhỏ bằng 29% số tổng số tiền xuất cảng, đến năm 2010 đã tăng thành 34%.


Dân Trung Quốc hiện nay tiêu thụ hàng xa xỉ nhiều nhất thế giới, sắp vượt qua cả dân Mỹ. Không phải chỉ vì người Tàu mới giàu muốn làm sang, nhưng còn vì họ cần mua để hối lộ các quan chức! Công ty Ethan Allen ở Connecticut làm đồ đạc trong nhà như bàn ghế, quầy tủ loại sang trọng. Kinh tế xuống thì công ty này cũng xuống theo; nhưng hàng bán sang Trung Quốc vẫn lên. Hiện nay họ có 69 cửa hàng bên Trung Quốc, sau khi mở thêm 25 cửa hàng mới vào năm ngoái.


Chúng ta không nên vì tình trạng bi quan trong mấy tháng nay mà nghĩ rằng kinh tế nước Mỹ xuống dốc mãi. Thực sự, trên đường dài thì kinh tế nước Mỹ vẫn đầy đủ những ưu điểm mà các nước khác không có được. Tình trạng hồi phục kinh tế chậm chạp vì bản chất cuộc khủng hoảng vừa qua là bắt đầu từ hệ thống ngân hàng và tài chánh, chứ không bắt đầu trong lãnh vực sản xuất như mọi khi. Nhưng kinh tế đang hồi phục và sẽ hồi phục nhanh hơn các nước Âu Châu trong dăm năm tới.


Cơn khủng hoảng tài chánh từ năm 2007 là do các ngân hàng quá tự do cho nên bất cẩn. Họ cho vay quá dễ dãi khiến người tiêu thụ cũng vay nợ và tiêu tiền quá sức trả nợ của mình, đặc biệt là nợ mua nhà. Năm 2000, số nợ của một gia đình Mỹ trung bình còn nhỏ hơn số lợi tức kiếm được mỗi năm, đến năm 2007 số nợ lên tới 133% lợi tức, kiếm được 100 đồng thì mang nợ 133 đồng. Từ năm 2008 gặp khủng hoảng vỡ nợ, người ta bớt tiêu thụ, một lý do khiến cho kinh tế đi xuống. Trong khi đó các ngân hàng cũng mất tiền, và thắt chặt lại việc cho vay, ảnh hưởng dây chuyền khiến các xí nghiệp đều giảm đầu tư, người tiêu thụ mất việc càng giảm chi tiêu hơn nữa.


Nhờ 700 tỷ đô la cấp cứu của cựu Tổng Thống Bush năm 2008, các ngân hàng nay đã hồi phục. Hầu hết đã trả lại cho chính phủ, kể cả tiền lãi. Họ đã xóa 500 tỷ nợ xấu, gọi thêm vốn được 318 tỷ. Bây giờ tỷ lệ tiền vốn trên tổng số cho vay của các ngân hàng Mỹ lên tới 10%, cao hơn tỷ số vốn trước khi bị khủng hoảng, và cao hơn tất cả các ngân hàng lớn bên Âu Châu. Tỷ lệ nợ nần của dân Mỹ cũng giảm, từ 133% năm 2007 nay đã xuống chỉ còn bằng 114% lợi tức. Nhưng trước khi trả bớt được nợ nần thì dân Mỹ vẫn chưa tiêu thụ mạnh, cho nên kinh tế chưa phục hồi được. Trong khi số xuất cảng tăng lên, số việc làm không tăng được bao nhiêu vì những món được xuất cảng không cần dùng nhiều nhân công, họ chỉ dùng số nhân công nhỏ mà trả lương rất cao.


Một triển vọng lạc quan khác trong nền kinh tế Mỹ là dầu và hơi đốt. Khi giá dầu tăng lên trên thế giới, ai cũng lo tốn tiền. Nhưng cũng vì giá dầu cao nên các công ty ở Mỹ đã tăng sản xuất; hiện lên tới 5.7 triệu thùng dầu mỗi ngày, con số cao nhất kể từ năm 2003. Nhờ đó, số dầu mà nước Mỹ nhập cảng, sau khi trừ số dầu xuất cảng, trong năm nay xuống đến mức thấp nhất kể từ năm 1995 đến giờ. Kỹ nghệ dầu và hơi đốt (gas) ở Mỹ mới đạt được một đột phá đặc biệt. Ðó là kỹ thuật khoan mới theo chiều ngang để lấy hơi đốt từ các lớp đá phiến mềm, gọi là shale gas. Một nhà kinh doanh, ông George Mitchell chỉ đầu tư 6 triệu nhưng trong bảy năm đã thành công, đang thay đổi cả thị trường dầu khí với kỹ thuật mới phát minh mà các công ty hơi đốt đang dùng khai thác hơi đốt khắp nước Mỹ. Nhờ thế, giá hơi đốt ở Mỹ rẻ chỉ bằng 30% giá ở các nước Á Châu và Âu Châu, và Mỹ trở thành một quốc gia xuất cảng hơi đốt. Kỹ thuật này cũng đang được áp dụng để lấy dầu lửa từ đá phiến mềm (shale oil), nhờ thế trong mươi năm tới sẽ sản xuất thêm được gần bằng số dầu mà nước Mỹ đang nhập cảng hiện nay (thêm 7 triệu, so với 9 triệu thùng dầu đang nhập cảng mỗi ngày).


Chúng ta có thể thấy triển vọng của nền kinh tế Mỹ vẫn rất lạc quan. Tất nhiên, đó là chuyện đường dài, còn trong hiện tại nước Mỹ vẫn chưa qua được hết cơn khủng hoảng do nợ nần địa ốc gây ra. Nếu trong Tháng Bảy hoặc Tháng Tám này, Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang bơm thêm tiền vào với chính sách QE-3 thì chắc chắn sẽ thúc đẩy kinh tế lên nhanh hơn. Một chính sách như vậy sẽ gây hiệu quả trông thấy sau vài ba tháng, tức là sẽ không ảnh hưởng mấy trước cuộc bầu cử đầu Tháng Mười Một! Nhưng thị trường chứng khoán chỉ cần đoán hành động của Ngân Hàng Trung Ương là sẽ kích thích thì cũng đủ để cho giá các cổ phiếu đứng vững rồi!

Diện tích trồng ma túy ở Việt Nam tăng vọt

 


VIỆT NAM (NV) – Một phúc trình mới được công bố hôm 17 tháng 7 của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam cho biết, diện tích đất trồng các loại cây gây nghiện tăng vọt trong thời gian gần đây.










Cây cần sa trồng trong chậu, sau nhà ở Hà Nội. (Hình: Internet)


Phúc trình này nói rằng chỉ trong vòng 6 tháng đầu năm 2012, diện tích trồng cần sa, thuốc phiện bị khám phá tăng thêm gần 50 ha. Tại hầu hết các tỉnh biên giới miền Bắc như Sơn La, Ðiện Biên, Lai Châu… người dân đua nhau xuống đất gieo trồng thuốc phiện, cần sa.


Gần đây, đất trồng các loại ma túy lan đến các tỉnh: Nghệ An, Phú Thọ, Yên Bái…


Tại miền Nam Việt Nam, người ta cũng đã thấy xuất hiện cây thuốc phiện, cây cần sa tại các tỉnh: Ðắc Nông, Lâm Ðồng, Bình Phước, Bình Dương, Tiền Giang, Kiên Giang… Ðặc biệt, một số vườn ma túy đã bị phá hủy mới hôm trước ngay lập tức mọc trở lại chỉ một thời gian ngắn sau đó.


Ở một số vùng, cán bộ thẩm quyền đổ trách nhiệm cho nhau về việc chậm khám phá đất trồng ma túy, nại lý do “không nhận ra và không phân biệt được loại cây thường và cây cần sa, cây thuốc phiện”.


Mới đây, theo báo Thanh Niên, người ta còn nghi diện tích đất trồng cây ma túy đã lan đến các vùng đồng bằng như Bà Rịa-Vũng Tàu, Vĩnh Long, Cần Thơ, Cà Mau…


Báo Thanh Niên cho biết, Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Cộng Sản Việt Nam hứa hẹn sẽ đưa các đoàn cán bộ đi lùng soát một số vùng nghi đang là lãnh địa của các loại cây ma túy.


Trong khi đó, một số cán bộ thẩm quyền thì cho rằng “không thể kiểm soát nổi tình trạng nói trên”.


Theo họ, người dân thường trồng cây ma túy ở các vùng xa xôi, khó đi lại, hoặc vùng biên giới mà cán bộ nhà nước ít đặt chân đến. Hơn nữa, người dân trồng ma túy thường áp dụng biện pháp “liều”: Cây này vừa bị “dập” thì lập tức trồng cây khác; không có cán bộ nào theo cho xuể.


Vì vậy, diện tích đất trồng ma túy ở Việt Nam thời gian gần đây chỉ tăng mà không giảm. (P.L.)

Tưởng niệm nạn nhân HIV/AIDS

 


WASHINGTON, D.C. – Cận cảnh một tấm bích chương tưởng niệm nạn nhân AIDS, được trưng tại Vương Cung Thánh Ðường Quốc Gia, Washington D.C., ngày 17 Tháng Bảy, 2012.


  



Chương trình chống AIDS có tên “AIDS Memorial Quilt,” được trưng bày cho đến ngày 26 Tháng Bảy, trong đó có một buổi lễ tưởng niệm những người đã chết vì căn bệnh này, và cả những người đang mang “căn bệnh thế kỷ”. Ðây là năm thứ 25 kể từ khi phát hiện virus HIV. (Hình: Alex Wong/Getty Images)

Tin mới cập nhật