Foiling expectations: U.S. fencers go for Olympic gold


Gerek Meinhardt. Photo courtesy of New America Media


 


 


By ALEX BUE, New America Media


 


          SAN FRANCISCO ― A bourgeoning group of young Asian American fencers is looking to usurp the sport’s Eurocentric stereotypes. At the forefront is the Massialas Foundation at Halberstadt, located in San Francisco’s Mission District. With three fencers currently ranked in the top 25 in the world, the M-Team has experienced an unprecedented degree of international success. Chief among them is Gerek Meinhardt, captain of this year’s Olympic foil team.


          The most striking part of Gerek Meinhardt’s fencing is not his blade work. Nor is it his sportsmanship ― though these features, laden with fencing’s more aristocratic roots, are certainly in attendance.


          In reality, Meinhardt, who is Chinese American and a San Francisco native, wields his foil at speeds too fast to see. And in reality, fencers today are prone to egregious roars of victory at the end of every bout ― a far-cry from the dignified salutes (though these, too, still have a place) long associated with the sport.


          Indeed, fencing today bears little resemblance to its eponymous blood duels. Competitors fence atop a strip — 14 meters of conductive metal — wearing masks that flash red or green when a point is registered. In light of these transformations, Meinhardt’s introduction to the sport seems appropriately mundane.


A prodigy


          “I actually used to take piano lessons from Vivian Massialas, my fencing coach’s wife, before I started fencing. Greg, my coach, was starting up the Massialas Foundation, so my parents signed me up, and I stuck with the sport because I instantly loved it.”


          Since beginning fencing at the age of 9, Meinhardt has garnered accolades at both the national and international levels. Greg Massialas, his coach, maintains it is Meinhardt’s natural ability that has allowed him to succeed.


          “His talents are that he’s very athletically fit, very intelligent, creative; he has good technique and he’s able to figure out the puzzle of your opponent, which is very important.”


          In 2007, Meinhardt became the youngest national champion in U.S. history. Then, in 2008, he one-upped himself and became the youngest U.S. foilist to ever compete in the Olympic Games.


          Now, Meinhardt is returning to the Olympic Games beginning next week as a 21-year-old, along with fellow M-Team fencers Alexander Massialas and Doris Willette. Together, they represent the new generation of U.S. fencers — young, international (all three are Asian-American) and talented.


Outside the box


          Fencing is a growing sport. Meinhardt insists this is most apparent in the contrast between 2008 and 2012’s Olympic Games: “Although I received a significant amount of media attention in 2008 due to my Chinese American connection to the Olympics, there is a greater amount of media on all the fencing athletes this time around. I believe that some of the growth in media surrounding fencing also has to do with the rising strength of the United States at the world level.”


          Meanwhile, American fencers are looking to debunk fencing’s Euro-centric image, a view Meinhardt calls “outdated.” But their ambition seems personal rather than national, grounded in a desire to share and continue the sport they love. If Italy, the reigning foil champ, is supplanted any time soon, these 20-something Americans want to be the ones to do it.


          Gerek acknowledges the irony of fencing in the modern-day, the fact that images of knights, chivalry — decidedly un-American phenomena — are precisely what draw people to the sport in the first place.


          “We all grow up watching swashbuckling movies and reading tales of knights — how could the sport of fencing not be appealing to the majority of people?”


          For now, when faced with the upraised arm, the twirling finger — that mock en garde stance inevitably struck at the mention of fencing — he is content to merely laugh, shrug his shoulders, and maybe say: “Yah, I know. It’s pretty weird.”


         


 

Tàu Trung Quốc tới Trường Sa không phải đi ‘đánh cá’

 


Bắc Kinh lại tố Hà Nội ‘nuốt lời’


 


HÀ NỘI (NV) – Ðoàn tàu đánh cá 30 chiếc của Trung Quốc được một tàu hải giám hộ tống đến vùng biển quần đảo Trường Sa chỉ chạy lòng vòng từ khu vực này sang khu vực khác chứ không có vẻ gì là đánh cá như họ loan báo.









Ðoàn tàu đánh cá Trung Quốc chạy ngang qua bãi đá ngầm Chử Bích (Zhubi reef) thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam trong mục đích khiêu khích. (Hình: chinadaily)


Hình ảnh được một số báo mạng chính thức của Trung Quốc như ‘Trung Quốc Nhật Báo’, ‘Tân Hoa Xã’ đưa ra và tường thuật về chiến dịch biểu diễn đánh cá ở Trường Sa chứng tỏ như thế.


Chúng đi hàng đoàn theo đội hình tàu hải quân di chuyển trên biển hoặc dàn hàng ngang sát nhau để chụp hình chứ không phải đi đánh cá.


Mấy ngày trước, những hình ảnh công bố nói đoàn tàu này đi ngang đảo Vĩnh Thử (Yongshu Island, Việt Nam gọi là đảo Chữ Thập, mà Bắc Kinh chiếm của Việt Nam năm 1988). Ngày Thứ Tư 18 tháng 7 năm 2012, ‘Trung Quốc Nhật Báo’ đưa ra một loạt hình nói đoàn tàu đánh cá này chạy ngang bãi đá ngầm Chử Bích (Zhubi reef) với sự hộ tống của tàu hải giám 310.


Khi được tin đoàn tàu này rời cảng Tam Á (đảo Hải Nam) ngày 12 tháng 7 năm 2012, Bộ Ngoại Giao Việt Nam chỉ đưa ra lời phản đối suông như thường lệ. Trong khi đó, những người tham gia biểu tình chống Trung Quốc bá quyền, bày tỏ lòng yêu nước thì bị nhà cầm quyền khủng bố bằng nhiều cách.


 


* Bắc Kinh tiếp tục chửi bới Hà Nội


 


Hôm Thứ Tư, 18 tháng 7, Bắc Kinh cho tờ Hoàn Cầu Thời Báo (phụ bản Anh ngữ của tờ Nhân Dân Nhật Báo) tiếp tục chiến dịch chửi bới Việt Nam và Philippines.


Bài báo nêu ra những luận điểm mơ hồ để nói mình làm theo đúng Công Ước Quốc Tế về Luật Biển (UNCLOS) xác định thế nào là chủ quyền lãnh thổ. Trong đó, tự khoe ngư dân Trung Quốc đánh cá ở đây từ thời xa xưa. Trong đó cả việc “các thương thuyền Trung Quốc đi qua biển Nam Trung Hoa ngừng lại” tại các đảo này. Bài báo này lại còn khoe Trung Quốc đã hành xử quyền chủ quyền biển Nam Trung Hoa từ thời nhà Tống (960-1279)” để đối chọi với những tài liệu, sử liệu Việt Nam khẳng định chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.









Ba chiếc tàu đánh cá Trung Quốc chụp gần khi ngang cái hải đăng của bãi đá ngầm Chử Bích. (Hình: chinadaily)


Trong một bài trước, Hoàn Cầu Thời Báo, từng nói họ quản trị quần đảo Hoàng Sa liên tục suốt 50 năm qua. Họ đã gian dối để đánh lừa dư luận quần chúng Trung Quốc trái ngược với sự thật là Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa đã đồn trú và bảo vệ quần đảo này cho tới tháng 1, 1974.


Tới năm 1988 thì Bắc Kinh mới xua một đoàn tàu tới chiếm một số đảo nhỏ và bãi đá ngầm của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa. Nay thì dựa vào thế quân sự hùng mạnh, Bắc Kinh muốn nuốt cả nên dựng ra những câu chuyện để biện minh cho hành động hải tặc.


Trong bài bình luận ngày 18 tháng 7 năm 2012, tờ Hoàn Cầu Thời Báo, còn ám chỉ đến công hàm mà Thủ Tướng CSVN Phạm Văn Ðồng gửi cho Thủ Tướng Trung Quốc Chu Ân Lai năm 1958 công nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc.


Bắc Kinh vin vào điều này để nói Việt Nam công nhận gần hết biển Ðông là của Trung Quốc. Nhà cầm quyền Hà Nội một số lần phủ nhận công hàm đó là công nhận luận điểm của Bắc Kinh về chủ quyền biển Ðông, mà hoàn toàn chỉ nhìn nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc mà thôi.


Tờ Hoàn Cầu Thời Báo, từ đó vẫn cố nói là “Việt Nam trong quá khứ đã công nhận các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc”, đồng thời đổ cho Hà Nội “nuốt lời”.


Trong khi đoàn tàu đánh cá tới khiêu khích ở Trường Sa, tờ ‘Trung Quốc Nhật Báo’ hôm Thứ Tư khoe rằng “Một số công ty Hoa Kỳ tỏ ý muốn đấu thầu các dự án dò tìm dầu khí mới được gọi thầu”.


Bản tin này thuật lời chủ tịch Tổng Công Ty Dầu Khí Hải Dương (CNOOC) nói như vậy bên lề diễn đàn hợp tác đầu tư Trung Quốc-Hoa Kỳ.









Bãi đá ngầm Chử Bích (Zhubi reef) được xây dựng thành một căn cứ/pháo đài kiên cố trên biển. (Hình: chinadaily)


Ít ngày sau khi Quốc Hội Việt Nam thông qua Luật Biển hồi tháng trước trong đó xác định các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam, Bắc Kinh cho công ty quốc doanh CNOOC loan báo gọi thầu quốc tế 9 lô ngay trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Có lô chỉ cách bờ biển miền Trung Việt Nam gần 40 hải lý hoặc 60 hải lý.


Một số chuyên viên phân tích thời sự tin rằng không một công ty dầu khí quốc tế tầm cỡ nào lại muốn chen vào khai thác ở khu vực tranh chấp chủ quyền nghiêm trọng giữa Việt Nam và Trung Quốc.


CNOOC còn khoe rằng họ sẽ đầu tư khoảng $32 tỉ để khai thác dầu khí biển Ðông trong vòng 20 năm tới. (T.N.)

Hải quân 20 quốc gia tập trận ở Trung Ðông

 


WASHINGTON (AP) –Trong nỗ lực tăng cường sức mạnh quân sự nhằm đối phó với Iran, 20 quốc gia sẽ mở cuộc thao dượt rà vớt mìn trên các hải lộ ở Trung Ðông.









Hải quân 20 quốc gia sẽ tập trận tại eo biển Hormuz. Hình minh họa. (Hình: Karim Sahib/AFP/Getty Images)


Phát ngôn viên Bộ Quốc Phòng Mỹ, ông George Little, nói rằng cuộc thao dượt lớn lao dự trù diễn ra từ ngày 16 đến 27 Tháng Chín chỉ có tính cách phòng thủ và “không nhắm đưa ra thông điệp gì cho Iran”.


Tuy nhiên, Iran trong thời gian qua từng đe dọa sẽ khóa eo biển Hormuz, hải lộ trọng yếu có khoảng một phần năm lượng dầu của thế giới được chở qua, nếu quốc tế có biện pháp trừng phạt Tehran vì tiếp tục tiến hành chương trình nguyên tử.


Cuộc tập trận tới đây dựa trên “một giả thuyết là có nhóm quá khích muốn thả thủy lôi trên các hải lộ chiến lược trong vùng Trung Ðông, kể cả Hồng Hải, Vịnh Aden, Vịnh Oman và Vịnh Ba Tư,” theo Bộ Chỉ Huy Trung Bộ Mỹ (USCENTCOM), với vùng trách nhiệm trải dài từ Trung Ðông đến Trung Á. (V.Giang)

Bộ trưởng quốc phòng Syria chết trong vụ nổ bom ở Damascus

BEIRUT (AP) – Một quả bom phát nổ trong tòa nhà An Ninh Quốc Gia ngay ở thủ đô Syria hôm Thứ Tư, làm thiệt mạng bộ trưởng quốc phòng cùng một tướng lãnh cao cấp, cũng là anh rể của Tổng Thống Bashar Assad. Ðây là đòn nặng nhất đánh vào chế độ cầm quyền tại quốc gia này kể từ khi có cuộc nổi dậy của dân chúng 16 tháng trước đây.









Bộ Trưởng Quốc Phòng Dawoud Rajha của Syria vừa bị thiệt mạng trong một vụ đánh bom ở thủ đô Damascus. (Hình: AP Photo/SANA)


Ðài truyền hình nhà nước Syria cho hay vụ nổ do một kẻ mang bom tự sát gây ra trong cuộc họp của các bộ trưởng nội các cũng như giới chức an ninh cao cấp ở Damascus. Tuy nhiên, phía nổi dậy nói rằng họ đã gài bom trong phòng họp chứ không phải do nổ bom tự sát.


Bộ Trưởng Quốc Phòng Dawoud Rajha, 65 tuổi, một cựu tướng lãnh, là viên chức chính phủ cao cấp nhất bị giết trong cuộc nội chiến hiện nay. Tướng Assef Shawkat, thứ trưởng quốc phòng và là một trong những nhân vật đáng sợ trong hàng ngũ thân cận với ông Assad, cũng bị giết. Tướng Shawkat là chồng bà Bushra, chị của ông Assad.


Nguồn tin đài truyền hình nhà nước cho hay Bộ Trưởng Nội Vụ Mohammed Shaar bị thương và sức khỏe trong tình trạng ổn định.


Quân đội Syria ra thông cáo cho hay sẽ tiếp tục chiến đấu và thành phần lãnh đạo nay quyết tâm hơn để tiêu diệt phía nổi dậy. (V.Giang)

Lại có cáo giác khai sinh Tổng Thống Obama là giả

 


PHOENIX (AP) – Các điều tra viên của cảnh sát trưởng một quận hạt ở tiểu bang Arizona vừa cho hay họ có chứng cớ rằng khai sinh của Tổng Thống Barack Obama công bố thời gian gần đây là hoàn toàn giả mạo.









Cảnh Sát Trưởng Joe Arpaio của Maricopa County, Arizona, nghi ngờ khai sinh của Tổng Thống Barack Obama là giả mạo. (Hình: Paul J. Richards/AFP/Getty Images)


Các thành viên toán điều tra thuộc Maricopa County, Arizona, dưới quyền Cảnh Sát Trưởng Joe Arpaio hồi Tháng Ba cho hay họ có nghi ngờ rằng bản sao khai sinh do Tòa Bạch Ốc công bố hồi Tháng Tư 2011 là do máy điện toán làm giả.


Cho tới nay, ông Arpaio cho hay cuộc điều tra chứng minh chắc chắn rằng đây là sự giả mạo.


Ông Mike Zullo, trưởng toán điều tra, nói rằng các mã số trên một số phần của tờ giấy khai sinh cho thấy các phần đó không hề được điền vào khi thiết lập hồ sơ, tuy nhiên, các phần hỏi về chủng tộc của cha ông Obama và ngành nghề hay ngành học của ông đều được điền vào.


Ông Zullo cho hay các điều tra viên trước đây không biết ý nghĩa của các mã số này, nhưng điều này sau đó được một cựu nhân viên hành chánh tiểu bang Hawaii, năm nay 95 tuổi, người ký chứng nhận tờ giấy khai sinh của ông Obama giải thích rõ ràng.


Ủy ban tranh cử của ông Obama từ chối không bình luận gì về cáo buộc của ông Arpaio.


Những người nghi ngờ về nơi sinh của Tổng Thống Obama cho rằng đây là bằng chứng cho thấy ông không sinh ở Mỹ, do đó không có quyền làm tổng thống.


Các giới chức tiểu bang Hawaii nhiều lần xác nhận rằng ông Obama sinh ra ở Honolulu, thủ phủ tiểu bang này. (V.Giang)

Taliban phá hủy 22 xe tiếp tế NATO tại Afghanistan

 


MAZAR-E-SHARIF, Afghanistan (Reuters) – Một quả bom do phiến quân Taliban gài đã phá hủy 22 xe vận tải chở hàng tiếp tế cho quân đội NATO ở vùng Bắc Afghanistan, theo nguồn tin Taliban và cảnh sát chính phủ Kabul cho hay hôm Thứ Tư.









Xe chở hàng tiếp tế của NATO bị cháy tại tỉnh Samangan, Afghanistan. (Hình: AP Photo/Javed Basharat)


Có 18 xe bồn chở nhiên liệu và bốn xe chở hàng đậu tại Aibak, thủ phủ tỉnh Samangan, lúc xảy ra vụ nổ bom, làm một người bị thương, theo tin cảnh sát địa phương.


Phía Taliban, trong bản thông cáo gửi tới báo chí, cho hay cuộc tấn công diễn ra lúc 2 giờ sáng và các xe này được lái từ Uzbekistan đến khu vực Bắc Afghanistan.


Cuộc tấn công xảy ra trong cùng tỉnh, nơi một đại biểu Quốc Hội nổi tiếng chống Taliban, ông Ahmad Khan Samangani, bị giết hôm Thứ Bảy vừa qua, trong tiệc cưới của con gái khi có kẻ nổ bom tự sát, khiến ông và 22 khách mời thiệt mạng.


Trong khi đó, cảnh sát ở tỉnh Baghlan ngay bên cạnh cho hay họ bắt giữ 10 nghi can Taliban với các quả bom có nam châm, dùng để gắn vào các xe vận tải.


Pakistan mới đây cho mở lại con đường tiếp vận qua biên giới để vào Afghanistan, sau khi đóng cửa từ Tháng Mười Một năm ngoái để trả đũa việc NATO bắn lầm, làm thiệt mạng 24 lính Pakistan. (V.Giang)

Quán rượu ở Alabama bị bắn, 17 người bị thương

 


TUSCALOOSA, Ala. (AP) – Cảnh sát cho biết đã bắt giữ nghi can bắn vào một quán rượu đông người ở gần trường Ðại Học Alabama ở Tuscaloosa lúc sau nửa đêm sáng Thứ Ba.









Hình thu được trong máy video tự động kiểm soát an ninh cho thấy hung thủ ôm súng chuẩn bị tấn công. (Hình: AP/Tuscaloosa Police Department)


17 người bị thương khi hung thủ từ ngoài bắn vào qua cửa sổ, trong số này, có hai người trong tình trạng trầm trọng và 3 người khác bị thương nặng, nhưng trong tình trạng ổn định. Không có người nào thiệt mạng.


Tờ Tuscaloosa News Report nói rằng nghi can, tên Nathan Van Wilkins, 44 tuổi, tự ý đến trình diện cảnh sát sau cuộc truy lùng kéo dài 10 giờ.


Theo cảnh sát, sau khi nổ súng ở quán rượu, Wilkins đốt ba chiếc xe tải và một giàn khoan dầu của Capstone Oil Field Services, nơi đương sự làm việc trước đây. Cảnh sát cũng đang tìm hiểu xem việc này có liên quan đến một vụ nổ súng khác, xảy ra khoảng 45 phút trước vụ bắn vào quán rượu, làm một người bị thương.


Chưa biết nguyên nhân của những hành động này trong khi cuộc điều tra còn đang tiếp tục. (H.C.)

Nổ súng ở Toronto, 2 người chết, 21 người bị thương

 


TORONTO, Canada (CNC) –Cảnh sát Toronto, Ontario, Canada, đang ráo riết truy lùng những phần tử liên can đến một vụ nổ súng ở khu Scarborough phía Ðông thành phố khuya Thứ Hai làm 2 người thiệt mạng và 21 người khác bị thương.









Cảnh Sát Trưởng Bill Blair nói với các phóng viên: “Ðây là vụ bạo hành tệ hại nhất qua 35 năm tôi làm việc”. (Hình: AP/Michelle Siu/National Post)


Vụ bạo động xảy ra trong một bữa tiệc ‘barbecue’ có khoảng 200 người tham dự. Một thiếu nữ 14 tuổi và một thanh niên 23 tuổi chết. Hầu hết những người bị thương, từ 22 tháng đến 33 tuổi, hy vọng sẽ hồi phục trừ một người trong tình trạng nguy kịch. Danh tánh những nạn nhân chưa được công bố trong khi còn xác định lý lịch, nhưng các gia đình đã được thông báo.


Trong cuộc họp báo sáng Thứ Ba tại trụ sở cảnh sát, Cảnh Sát Trưởng Bill Blair nói rằng: “Vụ bạo hành ở Scarborough là chưa từng thấy ở Toronto.” Ông cho biết cảnh sát đã huy động mọi khả năng cần thiết và có thể có để tìm ra những thủ phạm. Cảnh sát xác nhận là có hơn một khẩu súng đã bắn và một khẩu súng được tìm thấy tại hiện trường.


Thị Trưởng Rob Ford nói rằng ông kinh hoàng và ghê sợ với vụ bạo động vô nghĩa này. Theo lời ông, khu Scarborough là nơi chưa từng xảy ra một thảm kịch ở tầm cỡ như thế.


Toronto và Montreal là hai nơi ít có án mạng hơn hết trong các thành phố lớn ở Bắc Mỹ, theo lời Giáo Sư Scot Wortley, chuyên gia nghiên cứu tội phạm trường Ðại Học Toronto. Ông nói: “Một công dân bình thường trên 30 tuổi sống trong một cộng đồng trung lưu sẽ nhận thấy sống ở Canada an toàn hơn hết.”


Tuy nhiên, những vụ nổ súng đã gia tăng rất nhiều trong năm nay, so với năm ngoái. Từ đầu năm đến bây giờ, có 140 trường hợp nổ súng tại Toronto. (H.C.)

Sự kiện ‘Ô Khảm’ ở Trung Quốc nói lên điều gì?

 


Bùi Tín (Blog VOA)


 


Ô Khảm là tên một ngôi làng ven biển phía Nam của Trung Quốc. Từ cuối năm 2011 Ô Khảm nổi lên trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung Quốc và toàn thế giới.


Sang năm 2012, tên làng Ô Khảm – Wu Kan càng nổi bật trong các bài bình luận quốc tế về Trung Quốc trên các tờ báo lớn của Hoa Kỳ, Pháp, Anh, Ðức, Ý, Nhật, Úc… Các nhà chính trị nói đến sự kiện Ô Khảm, mô hình Ô Khảm, giải pháp Ô Khảm, tư duy Ô Khảm và cả con đường Ô Khảm cho Trung Quốc khi đại hội đảng CS Trung Quốc lần thứ 18 sắp đến gần.


Sự kiện Ô Khảm nổ ra ngày 21 tháng 9, 2011 khi hàng trăm nông dân mất đất của làng này kéo đến trước trụ sở chính quyền và đảng ủy đòi lại ruộng đất đã bị thu hồi nhằm xây dựng một khu công nghiệp, với số tiền đền bù rẻ mạt. Họ bị lực lượng công an xã ngăn chặn, giải tán. Hôm sau nông dân lại xuống đường đông hơn, gần một ngàn nông dân kéo đến đấu tranh quyết liệt hơn. Lực lượng công an cũng được tăng cường. Ðã xảy ra xô xát, phía nông dân và phía công an đều có người bị thương. Một số nông dân bị nghi là cầm đầu cuộc đấu tranh bị bắt, bị đánh đập, tra tấn có thương tích. Ngày 23 tháng 9, ngày thứ 3 của cuộc đấu tranh, số nông dân xuống đường đông đảo hơn, hầu như toàn dân làng Ô Khảm, cùng với nông dân làng bên cạnh. Huyện Lục Phong phải cử cán bộ và lực lượng an ninh xuống dàn xếp và tạm ổn định tình hình.


Ðến ngày 14 tháng 12 năm 2011, tình hình căng thẳng gay gắt khi có tin một đại diện thôn của Ô Khảm là ông Tiết Cẩm Ba đang bị giam trên huyện về tội cầm đầu cuộc nổi dậy tháng 9, chờ ngày ra tòa về tội sách động nông dân chống đảng và nhà nước, đã chết trong tù. Nhân dân cả làng đổ xô ra đường, với khí thế uất hận căm thù, một số mang khăn tang, có người mang cả gậy gộc, làm cho cán bộ và công an bỏ trốn hết. Nông dân đập phá một số phòng làm việc của đảng ủy và trụ sở công an thôn. Tình hình vang động toàn quốc và ra thế giới.


Nếu cứ giải quyết ở Ô Khảm như ở những nơi khác trên toàn lãnh thổ Trung Quốc thì một số người cầm đầu cuộc nổi dậy đã bị tù giam từ 2 đến 5 năm, tiền đền bù cho nông dân có thể được nâng lên đôi chút và nông dân vẫn mất đất và khu công nghiệp vẫn hình thành. Nhưng không, sự việc sau đó đã diễn ra khác hẳn, trái ngược hẳn, vì lẽ…


Vì lẽ có sự can thiệp của ông Wang Yang – Uông Dương, năm nay 55 tuổi, quê ở Tô Châu tỉnh An Huy, hiện là bí thư tỉnh ủy đảng CS Trung Quốc tỉnh Quảng Ðông, tỉnh có 100 triệu dân, là tỉnh đông dân nhất, cũng là tỉnh giàu có nhất của Trung Quốc, PNB – giá trị sản lượng hàng năm luôn đứng đầu các tỉnh thành. Ông Uông Dương là ủy viên Bộ Chính Trị gồm 25 người từ đại hội đảng CS thứ 17 (năm 2007), có nhiều triển vọng vào ban thường vụ bộ chính trị gồm 9 người trong đại hội thứ 18 cuối năm nay.


Cuối năm 2011 ông cử ngay một đoàn điều tra xuống Ô Khảm rồi sau đó ông đích thân xuống tận nơi đối thoại trực tiếp với người dân bình thường thôn Ô Khảm. Do có tư duy độc lập, có công tâm và tinh thần tôn trọng nhân dân, ông đã giải quyết sự kiện Ô Khảm một cách phân minh, công bằng, theo luật pháp. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của ông và tỉnh ủy, tòa án trả lại tự do cho các nông dân bị giam trong vụ Ô Khảm, việc xây dựng khu công nghiệp bị đình hẳn lại, những nhân viên công an dùng bạo lực với dân và nhất là làm chết dân bị kỷ luật và có người bị truy tố.


Ông chỉ đạo trực tiếp cuộc chấn chỉnh đảng bộ thôn Ô Khảm, làm thí nghiệm và làm gương mẫu cho toàn tỉnh. Tiếp theo là một cuộc bầu cử thật sự dân chủ trong đảng bộ và ngoài nhân dân của thôn Ô Khảm có hơn 1,300 dân; trúng cử vào đảng ủy và hội đồng nhân dân là những đảng viên và công dân có hiểu biết, công tâm và tinh thần phục vụ nhân dân, do chính các công dân bàn bạc lựa chọn kỹ và bỏ phiếu trực tiếp.


Một điều làm nhân dân nức lòng là bí thư đảng ủy thôn Ô Khảm mới được bầu là ông Lâm Tổ Loan, từng bị giam và bị đe dọa đưa ra tòa về tội kích động nhân dân phá rối trật tự trị an xã hội. Ông Lâm được số phiếu cao nhất. Thay vì nằm trong tù, ông và một số bạn ông trở thành người lãnh đạo.


Sự kiện Ô Khảm và sự kết thúc rất có hậu có thể có tác dụng sâu đậm, vượt rất xa tầm vóc của một thôn ven biển và có thể tác động đến tình hình toàn Trung Quốc rộng lớn.


Bởi vì gần đây có 2 mô hình sẽ đưa ra trình Ðại Hội 18. Một là mô hình của Bạc Hy Lai, bí thư thành ủy Trùng Khánh, được coi là mang tính chất cực tả, với nội dung là duy trì sự sùng bái Mao, khôi phục những bài hát, y phục thời Mao, phát huy tinh thần và lối sống đầy khí thế “cách mạng văn hóa vô sản trong sáng” đã bị bỏ quên. Thật ra đây chỉ là phản ứng không tưởng viển vông trước sự suy đồi đạo đức xã hội, khi tiền bạc làm chúa tể và nạn nhũng, thói hưởng lạc vật chất đang ăn sâu lan rộng.


Bạc Hy Lai là ngôi sao đang lên, cũng như Uông Dương, được dự kiến vào ban thường vụ Bộ Chính trị 9 người. Nhưng ngôi sao này đã đột ngột tắt ngấm giữa tháng 3 vừa qua khi bị mất hết chức, bị điều tra cùng bà vợ Cốc Khai Lai trong vụ giết một tỷ phú người Anh và trong nhiều vụ án kinh tế, 2 vợ chồng có thể bị kết án rất nặng, từ tù chung thân đến tử hình. Rồi sẽ như nguyên bí thư thành ủy Thượng Hải Trần Hy Ðồng cũng từng là ủy viên Bộ Chính Trị, bị tuyên án tử hình. Nay mô hình Trùng Khánh của ông Bạc Hy Lai coi như chết yểu từ trong trứng.


Mô hình thứ hai chính là mô hình Quảng Ðông là vùng đất đang phồn thịnh, do Uông Dương đề xuất. Lập luận của Uông là thành tích đổi mới rất lớn, quý giá nhưng chưa vững chắc, luôn có nguy cơ phá sản vì có nhiều nhược điểm nguy hiểm. Cái gốc của vấn đề là trên thực tế đã đặt đảng cao hơn dân, đảng bao biện, quan liêu, xa rời dân. Ông căn dặn cán bộ đảng viên không được quan niệm rằng đảng đem lại hạnh phúc ấm no cho dân. Tất cả sức mạnh, thành tích đều do dân. Dân chủ trực tiếp là con đường thắng lợi.


Ông đã xắn tay áo giải quyết cuộc khủng hoảng gay gắt ở Ô Khảm và tạo nên một mô hình sống động có sức thuyết phục. Vấn đề quan hệ giữa nông dân với đảng cộng sản và vấn đề sở hữu ruộng đất của nông dân đang được đặt ra cấp bách. Ðã có 180,000 cuộc đấu tranh tập thể của nông dân trong cả nước một năm qua.


Ông Uông Dương cũng quan tâm xây dựng xã hội dân sự, quan tâm đến sự hình thành của những tổ chức phi chính quyền trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, từ thiện, làm cho xã hội năng động, có sức sống. Một hạn chế nổi bật của mô hình Quảng Ðông là chưa vượt qua được quan điểm chuyên chính vô sản của một đảng duy nhất, chưa bước hẳn vào quan điểm dân chủ đa nguyên, đa đảng, nghĩa là dân chủ thứ thật, dân chủ tiên tiến, hiện đại.


Các học giả tiến bộ Trung Quốc nhận định dầu sao mô hình Quảng Ðông của Uông Dương cũng là một tiến bộ khá lớn so với mô hình hiện tại trong cả nước. Ðây có thể coi như mô hình cấp tiến quá độ tách ra khỏi khuôn mẫu giáo điều bảo thủ hiện nay.


Hiện còn có mô hình dân chủ đa nguyên đa đảng ngày càng có tiếng vang trong giới học giả Trung Quốc do Trung Tướng Lưu Á Châu, hiện là chính ủy Học Viện Quân Sự cấp cao ở Bắc Kinh đề xướng. Lập luận của Tướng Lưu là vì yêu nước, yêu đảng CS mà ông chủ trương cần học hỏi áp dụng cái tốt, cái hay ở mọi nơi. Theo ông, mô hình đa đảng, các quyền phân lập, có kiểm soát, ganh đua, thay thế nhau, cân bằng quyền lực, được thực hiện ở Hoa Kỳ và nhiều nước phương Tây, vẫn đang hoàn thiện thêm, là mô hình tối ưu, cần nghiên cứu vận dụng sáng tạo cho mỗi nước, trước hết là Trung Quốc.


Theo phân tích của các giáo sư chính trị ở Ðại Học Thanh Hoa-Bắc Kinh, trong thường vụ Bộ Chính Trị (9 người) cũng như trong Bộ Chính Trị (25 người), có thể chia làm 3 phái, 1 phái trung gian, 1 phái thiên tả và 1 phái thiên hữu. Phái trung gian thường chiếm ưu thế.


Hiện nay trong khi ông Hồ Cẩm Ðào thuộc phái trung gian thì Thủ Tướng Ôn Gia Bảo lại thuộc cánh tả. Ông Ôn luôn chủ trương đi sát dân, lắng nghe công luận, thực hiện dân chủ từ cơ sở. Ông công khai thừa nhận là môn đệ của Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương, đòi khôi phục danh dự cho các nạn nhân vụ Thiên An Môn năm 1989, đòi chấm dứt trừng phạt tổ chức Pháp Luân Công, ông luôn tỏ thái độ mặn mà với mô hình Quảng Ðông của Uông Dương.


Lãnh đạo của Trung Quốc sẽ đi theo hướng nào, là vấn đề lớn sẽ sáng tỏ dần qua Ðại hội đảng CS lần thứ 18 dự kiến sẽ họp vào đầu tháng 10/2012 này, với 2,270 đại biểu. Có điều gần như chắc chắn là ông Tập Cận Bình thay ông Hồ Cẩm Ðào trên cương vị tổng bí thư kiêm chủ tịch nước, Lý Khắc Cường thay ông Ôn Gia Bảo trên cương vị thủ tướng. Chưa biết Uông Dương sẽ ở vào cương vị nào và mô hình Quảng Ðông – Ô Khảm của ông sẽ được đại hội 18 đánh giá ra sao.


Nhân dịp này một việc làm bổ ích là so sánh tình hình sinh hoạt học thuật giữa Trung Quốc và Việt Nam. Dù sao ở Trung Quốc sinh hoạt học thuật cũng cởi mở, thoáng đãng hơn rõ rệt. Các mạng tự do và quốc doanh đều đưa công khai những quan điểm hung hăng hiếu chiến nhất, như dọa diệt dân Việt vô ân bạc nghĩa, làm lễ vật tế thần cho trận chiến Tam Sa. Quan điểm hiếu chiến cực đoan đòi tiêu diệt Hoa Kỳ bằng vũ khí hóa học để chinh phục thế giới không bị kiểm duyệt. Ngược lại, quan niệm học và vận dụng theo mô hình Hoa Kỳ của một chính ủy đầy quyền uy đang tại chức, cầm đầu một học viện quốc phòng đào tạo tướng lĩnh cho quân đội, vẫn được tự do truyền bá.


Có điều gì như tự do thái quá, phóng khoáng quá mức, thả lỏng việc truyền bá chiến tranh và đối lập chủng tộc vốn bị coi là vi phạm luật quốc tế. Nhưng điều có lợi và bổ ích là các quan điểm tiến bộ cũng được phơi bày và còn được thực thi như mô hình Ô Khảm ở Quảng Ðông, một làng ven biển sát khu kinh tế Thẩm Quyến sôi động, không xa Hồng Kông, nhìn thẳng sang Ðài Loan – một địa bàn dân chủ đa đảng tiền phong của Trung Quốc.


Sau khi mô hình Trùng Khánh bị thui chột do số phận hẩm hiu của cặp vợ chồng Bạc Hy Lai, mô hình Quảng Ðông của Uông Dương tăng thêm giá trị. Tuy nhiên số phận của mô hình này ra sao còn tùy thuộc ở tác động của nó vào đông đảo nhân dân, vào trí thức, các nhà báo, các nhà nghiên cứu, học giả, từ đó tác động vào trong đảng, vào các đại biểu đại hội 18 sắp đến.


Ðảng CS Trung Quốc từng có những nhà cải cách cấp tiến như Hồ Diệu Bang, như Triệu Tử Dương, gần đây có ông Ôn Gia Bảo, nay lại có Uông Dương, Lưu Á Châu… với nhiều mô hình mới mẻ để cân nhắc, so sánh, lựa chọn.


Ở Việt Nam tuy ngày càng có nhiều trí thức dấn thân trong nghiên cứu chính trị cũng như trong hành động chính trị cho dân chủ và tiến bộ xã hội, nhưng việc nghiên cứu chính trị còn giản đơn, thô sơ, không khí học thuật bị xu thế giáo điều kềm chế nghiệt ngã, các viện nghiên cứu bị đóng khung trong một khuôn tư duy khép kín, mà tiêu biểu nhất là Học Viện Chính Trị-Hành Chánh Quốc Gia, lại là nơi trì trệ, nhạt nhẽo nhất. Kết quả đáng kinh sợ là lại xưng tụng các khẩu hiệu: Kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, kiên định chế độ độc đảng, kiên định chủ nghĩa xã hội, kiên định lấy quốc doanh làm chủ đạo cho nền kinh tế, thế là chấm hết.


Cả 14 ủy viên Bộ Chính Trị, chưa ai đưa ra nổi một mô hình, một phương châm, một chủ kiến do tư duy độc lập của chính mình. Chỉ duy nhất Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng được coi là nhà lý luận “lớn” lại sang tận Cuba để trổ tài hùng biện rao bán một một học thuyết đã lỗi thời, quan điểm đảng duy nhất có nền dân chủ cao đã thành trò hề cho toàn thế giới.


Bao giờ cho đến tháng 10? Bao giờ sẽ có một mô hình đại thể như Ô Khảm trên đất Việt Nam ta? Hay vẫn chỉ là những sự kiện đau buồn Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản, Con Cuông… đầy uất hận, nhuốm máu và đầy nước mắt của bà con nông dân ta, mà đảng luôn coi là đồng minh chiến lược của giai cấp công nhân do đảng CS là đại diện. Liên minh công nông thủy chung mặn mà là như thế đó.

Âu Châu, những vết rạn và sức ly tâm

 


LTS: Thời sự dồn dập hàng ngày trên cả địa cầu có thể giúp chúng ta biết được là chuyện gì đang xảy ra trên thế giới. Tuy nhiên, nhiều khi chúng ta không hiểu được vì sao lại xảy ra một biến cố như vậy, và hậu quả sau này sẽ ra sao… Cũng vì lý do ấy, nhật báo Người Việt mở thêm một tiết mục và lưu trữ trên trang mạng Người Việt Online để quý độc giả tham khảo. Ðó là mục “Hồ Sơ Người-Việt”, xuất hiện Thứ Năm mỗi tuần, với nội dung trình bày khung cảnh khách quan của một vấn đề và, nếu có thể, một số dự báo về tương lai hầu độc giả khỏi ngỡ ngàng khi sự biến xảy ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả…


 


 


Hùng Tâm/Người Việt


 


Trong 110 ngày tới đây, dư luận Hoa Kỳ ưu tiên chú ý vào cuộc tổng tuyển cử ngày Thứ Ba, mùng 6 tháng 11 là khi cử tri sẽ bầu lại lãnh đạo Hành Pháp, toàn thể Hạ Viện, một phần Thượng Viện và chức vụ thống đốc tiểu bang cùng các vị trí dân cử ở địa phương.


Tình hình kinh tế kém sáng sủa và các lập luận tranh cử sẽ cuốn hút sự quan tâm của đại đa số. Do đó, truyền thông phải rượt bắt tin tức để thỏa mãn sự tò mò của công chúng.


Trong khi ấy, thế giới vẫn còn nhiều hồ sơ nóng hoặc biến động có thể dội ngược vào nước Mỹ sau bầu cử, như Syria, Iran, Trung Quốc. Trong các hồ sơ nóng, có lẽ phức tạp nhất là tình hình Âu Châu. Thời sự sẽ nhắc đến một thượng đỉnh Âu Châu vào tháng 10 như biến cố quan trọng vì có thể dẫn đến chuyện hợp nhất hay tan rã của các định chế trong lục địa này.


Vì vậy, “Hồ Sơ Người-Việt” trình bày các động lực hay sức ly tâm trong nội tình Âu Châu, những thách đố cho lãnh đạo của tập thể.


 


Sức nặng Âu Châu


 


Âu Châu như ta thường hiểu là một tập thể kinh tế và chính trị quy tụ 27 quốc gia trong một thể chế hợp nhất bán phần gọi là confederation (chứ chưa là federation hay liên bang, là thể chế hợp nhất toàn phần). Tập thể này có dân số hơn 500 triệu sống trên một diện tích hơn bốn triệu cây số vuông, chưa bằng một phần tư lãnh thổ Nga và gấp bốn lãnh thổ Trung Quốc.


Hàng năm, họ sản xuất ra một sản lượng trị giá tương đương với gần 16 ngàn tỷ đô la, lớn hơn sản lượng của Hoa Kỳ (15 ngàn tỷ tính theo con số của 2011).


Sau 500 năm chi phối toàn cầu qua những cuộc chinh phục đầu tiên từ năm 1492, Âu Châu đã có ảnh hưởng về văn hóa và kỹ thuật với thế giới và là nguồn gốc của những trận đại chiến lớn nhất. Âu Châu còn đề ra quy cách sinh hoạt cho hầu hết các quốc gia ngày nay, nhưng suy sụp dần vì lý do nội tại (như dân số và thực lực kinh tế, ngoại giao và quân sự giảm sút) lẫn sự lớn mạnh của các cường quốc mới, đứng đầu là Hoa Kỳ, kế tiếp là Trung Quốc và cả Liên bang Nga, một cường quốc truyền thống đã có thời là siêu cường.


Qua nhiều thế kỷ chiến tranh triền miên bên trong, nặng nhất là trận Ðại Chiến Thế Giới 1939-1945, các quốc gia tìm cách giải quyết bài toán sống chung sau nhiều nỗ lực hợp tác để hợp nhất. Ngày nay, các nước xây dựng được cơ chế thống nhất gọi là Liên Hiệp Âu Châu (Liên Âu), theo đó 27 nước nhường lại một số quyền hạn quốc gia cho một tập thể đặt thủ phủ tại Bruxelles của nước Bỉ.


Tập thể siêu quốc gia này có các quyền hành pháp, lập pháp, tư pháp, do các thành viên nhường cho để giải quyết vấn đề chung, nhưng chỉ có quyết định về kinh tế hay ngoại giao nếu được mọi thành viên chấp thuận. Từng nước vẫn giữ lấy quyền phủ quyết trong các hồ sơ lớn.


Tập thể này cũng không thống nhất về quân sự, không có một “quân lực Âu Châu” với thẩm quyền bảo vệ an ninh trên toàn lãnh thổ Liên Âu. Nhu cầu phòng vệ đó được Minh Ước Bắc Ðại Tây Dương (NATO) đảm nhiệm.


Thực tế lịch sử còn phức tạp hơn vì hoàn cảnh riêng về địa dư, văn hóa của từng nhóm quốc gia, Tây Âu, Bắc Âu, vùng biển Baltic, Ðông Âu hay Trung Âu hoặc vùng Balkan. Nước Ðức nằm tại trung tâm của các khu vực này. Với một tập thể nói 23 ngôn ngữ chính và có những di sản riêng về tôn giáo, sắc tộc và bài toán riêng về an ninh, việc sống chung và sống hùng sống mạnh là một nan đề đã được nhiều thế hệ cố gắng giải quyết trong 65 năm vừa qua.


Ðã thế, bên trong Liên Âu, có 17 quốc gia còn tiến xa hơn trong bước hội nhập khi lập ra hệ thống tiền tệ thống nhất, gọi là Khối Euro. Các quốc gia này không tiếp cận với nhau về địa dư, hoặc gần nhau về văn hóa, lịch sử hay an ninh, nhưng cố gắng hợp nhất về tiền tệ để tìm lợi ích kinh tế.


Trong Khối Euro 17 nước, người ta còn phân biệt “Âu Châu Cốt Lõi” là các nước phía Bắc, từ Ðức và Pháp trở lên, có thực lực năng suất cao, với “Âu Châu Ngoại Vi” là các nước kém phát triển hoặc nhỏ hơn, đa số ở quanh biển Ðịa Trung Hải.


Cũng vì thế, bài toán Âu Châu có thể trước tiên (mà không duy nhất) quy tụ vào con số “27 trừ 17”. Hoặc “17 cộng 10”.


 


Giải pháp gây khủng hoảng


 


Chúng ta khó nhìn ra nguyên nhân và hậu quả của chuỗi biến động tài chánh, kinh tế rồi chính trị bên trong Âu Châu từ ba bốn năm nay nếu không hiểu được mâu thuẫn lớn trong “Phương trình Âu Châu” là 27-17. “Khối Euro” thành hình từ năm 1999 bị khủng hoảng nặng và các giải pháp được áp dụng đều tập trung vào việc củng cố tập thể 17 này. Nhưng càng củng cố lại càng gây khác biệt với 10 nước còn lại, là các quốc gia vẫn duy trì đồng bạc riêng và ứng xử khác nhau trước vụ khủng hoảng Euro.


Khi châm thêm yếu tố an ninh vào hồ sơ này, nhìn từ quan điểm của nhóm Ðông Âu và Bắc Âu, người ta thấy ra nhiều sức ly tâm khác đang đe dọa tập thể Liên Âu trong những năm tới, cùng hậu quả sẽ tác động vào quan hệ với Liên bang Nga hay các vấn đề Trung Ðông.


Trong vụ khủng hoảng Euro, 17 thành viên không thể có giải pháp kinh tế tài chánh riêng của quốc gia mà trông cậy vào quyết định tập thể của các định chế siêu quốc gia ở bên ngoài. Ðó là “tam đầu chế Euro”, ba cơ chế chính trị và tài chánh then chốt: Hội đồng Âu Châu, Ngân Hàng Trung Ương Âu Châu ECB và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF. Bài toán của từng nước bị khủng hoảng (như Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Ðào Nha, Ý Ðại Lợi và Ireland) là dung hòa chính sách kinh tế quốc gia được phản ảnh qua bầu cử với những quyết định của tam đầu chế quốc tế.


Thực tế ấy là bối cảnh của các quyết định quốc tế, như hệ thống ổn định tài chánh European Financial Stability Facility hay European Stability Mechanism, với ngân khoản như 200 tỷ Euro cho việc này, 120 tỷ cho việc kia. Nếu không am hiểu chuyện tài chánh rắc rối thì ta khó theo dõi được hậu quả của từng quyết định ấy. Nhưng nếu nắm được “chìa khóa 27-17” thì ta lại thấy là càng có nhiều giải pháp hội nhập, phối hợp hay củng cố nội bộ Euro để cứu lấy đồng bạc chung thì càng gây khó khăn cho 10 nước còn lại.


Một thí dụ là đề nghị thống nhất hệ thống ngân hàng của nhóm Euro để có cơ chế phối hợp chặt chẽ hơn. Cơ chế ngân hàng thống nhất đó tại Bruxelles sẽ làm gì với các nước ở bên ngoài? Chuyện này ít được trình bày cho rõ nên người ta dễ đánh giá sai các vấn đề tương lai của Liên Âu.


Trong hồ sơ này, vị trí của Ðức là then chốt. Cộng Hòa Liên Bang Ðức phải cứu lấy khối Euro vì quyền lợi của mình, nhưng các nước bên ngoài Khối Euro, đôi khi là chủ nợ của các nước bên trong, lại ngần ngại hoặc e sợ giải pháp đó.


 


Bất an ở vòng ngoài


 


Vòng ngoài Khối Euro (hay Euro-17) là 10 quốc gia có thể gọi là Liên Âu-10, gồm có hai nước Bắc Âu là Thụy Ðiển, Ðan Mạch, ba nước Ðông Âu là Cộng Hòa Tiệp, Ba Lan, Hung Gia Lợi, hai nước biển Baltic là Lithuania và Latvia, hai nước Trung Âu là Bulgaria và Romania, và cường quốc truyền thống là Anh. Nhóm Liên Âu-10 vẫn giữ đồng bạc riêng và dù thống nhất về kinh tế với tập thể 27, lại không có đối sách chung với các giải pháp và hậu quả của khối Euro.


Tính toán về lợi hại của mỗi nước trong nhóm này với giải pháp Euro lại mỗi khác nên phản ứng có khác. Nhưng triệt để e ngại việc thống nhất ngân hàng là bốn nước Anh, Ba Lan, Cộng Hòa Tiệp và Thụy Ðiển. Khối Euro có thể thống nhất các ngân hàng trong nội bộ với nhau chứ không thể chi phối các thành viên còn lại. Mà từng nước đều có quyền phủ quyết trong cơ chế Liên Âu.


Thí dụ thứ hai: Kế hoạch thống nhất ngân sách để giảm trừ bội chi và chấn chỉnh kinh tế, gọi là Fiscal Compact, được các nước thông qua hồi tháng 3, cũng là mầm chia rẽ khác. Chỉ có 25 trong 27 nước Liên Âu là đồng ý (Anh và Tiệp đứng ngoài), và trong 25 thành viên kia, nhiều nước đã ký rồi còn đòi thương thuyết lại.


Nhưng vấn đề còn nguy ngập hơn chuyện kinh tế hay tài chánh khi các nước xét đến yếu tố an ninh và vai trò bảo vệ của Minh Ước NATO.


Liên Âu không có khả năng phòng vệ riêng nên phải núp dưới lá chắn NATO. Bên trong NATO, các nước Bắc Âu và Anh thì muốn sát cánh cùng Hoa Kỳ, các nước Tây Âu ở ngoài tầm đạn của Nga thì muốn xoay lá chắn về hướng khác, như bảo vệ miền Nam hoặc ứng phó với khối Hồi Giáo. Các nước Ðông Âu, như Ba Lan, Tiệp, Hung, thì không quên nổi kinh nghiệp Liên Xô và cần sự bảo vệ của NATO, hay Hoa Kỳ. Họ càng không yên tâm khi thấy nước Mỹ ưu tiên lo việc khác và Ðức sẵn sàng đối thoại hay hợp tác với Nga để có nguồn cung cấp năng lượng là khí đốt.


Vì thế, ngoài sức ly tâm đã đáng ngại là đối sách của Khối Euro, các thành viên Liên Âu còn có dị biệt về nhu cầu phòng vệ an ninh.


Trong phản ứng này, có nhóm Bắc Âu, Ba Lan cùng ba nước Cộng Hòa Baltic (Estonia, Latvia và Lithuania) đã tương đối hội nhập kinh tế với nhau và nghi ngờ cả dự án thống nhất Liên Âu lẫn sự hung hãn của Liên Bang Nga. Bốn quốc gia Ðông Âu là Ba Lan, Hung, Tiệp, và Slovakia thì tìm cách kết hợp với nhau thành “Nhóm Visegrad” để có tiếng nói chung và còn muốn mở rộng sự liên kết với các nước phía Bắc vùng Balkan, là Bulgaria, Romania, Slovenia và Croatia. Họ không muốn bị hy sinh trong liên minh Nga-Ðức.


Giữ vị trí bản lề trong nhóm Bắc Âu và Visegrad là Ba Lan, một nước lớn nhất và có vị trí chiến lược nhất với kinh nghiệm máu xương về sự liên kết giữa Nga và Ðức.


 


Ly tan ở vòng trong


 


Trong nội bộ Khối Euro, người ta còn thấy mầm phân hóa khác là sự rạn nứt giữa hai cường quốc đã từng là cựu thù mà cũng là công trình sư của cả dự án Liên Âu, đó là Pháp và Ðức.


Hai quốc gia này lâm chiến ba lần (1871, 1914 và 1939), phải giảng hòa và dồn nỗ lực thống nhất Âu Châu. Sau Ðại Chiến Thế Giới 1945, thế hợp tác Pháp-Ðức là nền tảng cho hòa bình và ổn định Âu Châu, dưới cây dù nguyên tử của Hoa Kỳ. Sức mạnh kinh tế thì do Ðức đảm nhiệm, tiếng nói chính trị chung là phần vụ của Pháp. Riêng Pháp còn quy tụ những mâu thuẫn trọn vẹn của Âu Châu về kinh tế lẫn văn hóa: Thuộc khối “Âu Châu Cốt Lõi” ở phía Bắc mà là “Âu Châu ngoại vi” ở ven bờ Ðịa Trung Hải.


Ngày nay, kiến trúc ấy bị lung lay.


Trong nhóm “ngoại vi” miền Nam, kinh tế Pháp vẫn tạm khá hơn cả, với thất nghiệp dù cao vẫn còn thấp hơn trung bình của khối Euro và với thế lực đã mạnh hơn của đảng cầm quyền bên cánh tả. Cái thế kinh tế lẫn chính trị ấy khiến Pháp dễ xoay trở hơn các nước miền Nam trước sức ép cải cách của nước Ðức. Nhưng cũng chính yếu tố ấy khiến Pháp dễ dàng cầm đầu “khối ngoại vi” ở miền Nam như Ý, Tây Ban Nha, Bồ Ðào Nha và Hy Lạp, để “đối thoại” với Ðức.


Ðối thoại mà cũng là đối đầu về những giải pháp cấp cứu Khối Euro.


Trong nội tình, chính quyền của Thủ Tướng Angela Merkel bị sức ép của cử tri và đối lập về các giải pháp mà dân Ðức cho là gánh nặng. Bà khó nhượng bộ nếu không muốn bị thất cử và vì vậy tương quan Pháp Ðức sẽ đè nặng trên hồ sơ Euro, với hậu quả lan rộng cho cả khối Liên Âu.


Người ta tranh luận là Liên Âu phải thống nhất hơn nữa, về cả kinh tế lẫn chính sách công chi thu, với một quyền lực cao hơn để thực thi kỷ luật ngân sách. Nhóm ngoại vi ở miền Nam thì mong là nhờ đó họ dễ được cấp cứu. Nhóm cốt lõi ở miền Bắc thì tin là nhờ đó, kỷ cương về chi thu sẽ được tăng cường. Ðôi bên đều nói về cùng một mục tiêu đồng quy, nhưng khi thi hành thì sẽ là một va chạm lớn.


 


Kết luận ở đây là gì?


 


Ngần ấy quốc gia thuộc nhóm Euro 17 và Liên Âu 10 đang kết tụ sức mạnh mà cũng là sức ly tâm nguy hiểm. Nếu Euro 17 thành công và đẩy lui khủng hoảng cho đồng bạc – chuyện nan giải – các nước trong Liên Âu 10 phải tìm giải pháp khác ở bên ngoài để bảo vệ quyền lợi và an ninh của họ. Liên Âu sẽ khó thống nhất mà dễ phân liệt thành từng khối nhỏ hơn. Kịch bản lạnh mình.

J Acupuncture, một địa chỉ châm cứu cần thiết cho cộng đồng Việt Nam

 


Bài: Ðức Tuấn/Người Việt


Hình: Dan Huynh/Người Việt


 


GARDEN GROVE (NV) –“Năm vừa rồi khi tôi bị đau thần kinh tọa, tôi đã phải tìm đến văn phòng J Acupuncture để được châm cứu,” nhạc trưởng Thomas Ngô, nói tiếp: “Kết quả là tôi đã bớt đau hơn.”










Cô Jennifer, đại diện của J Acupuncture sẽ giải thích cho quý khách cộng đồng Việt Nam


Trên đây là lời của một trong hàng ngàn bệnh nhân của văn phòng bác sĩ châm cứu J Acupuncture, tọa lạc tại 11752 Garden Grove Blvd., #116, Garden Grove, CA 92843.


“Văn phòng chúng tôi bắt đầu hoạt động từ cuối năm 2009, thoạt đầu chỉ có hai bác sĩ đó là Jae Youb Choo và Jae Min Noh rồi sau đó, vì số bệnh nhân tăng dần, nên bắt buộc chúng tôi phải thêm hai bác sĩ nữa, để có thể đáp ứng sự phục vụ cho bệnh nhân,” cô Jennifer Bành, thư ký của văn phòng này cho biết.


Bốn bác sĩ, mà cô Jennifer nói đến, là Jae Youb Choo, Jae Min Noh, Sam Yeul Lee, và Sang Mook Kang.



Tiếp khách và chẩn bệnh tại J Acupuncture


Theo lời của hai chủ nhân chính của văn phòng này là Jae Youb Choo và Jae Min Noh thì số bệnh nhân để họ nhắm tới phục vụ, đó là cộng đồng Việt Nam. Vì thế họ mới đặt tên là Community Acupuncture Clinic, tức là chủ yếu giúp đỡ cho những bệnh nhân nghèo, low income, không có bảo hiểm. Cô Jennifer nói tiếp: “Theo như vậy thì lệ phí đầu tiên bệnh nhân phải trả là $30, còn sau đó cứ mỗi lần trả $20, và cả hai ông chủ đều nói họ muốn tính một số tiền lệ phí thấp như thế để dân nghèo có thể kham nổi.”


Việc đầu tiên là bệnh nhân phải đến phòng mạch để văn phòng thiết lập hồ sơ cá nhân. Sau đó bệnh nhân sẽ được bác sĩ chẩn đoán, khám xong bác sĩ sẽ cho bệnh nhân biết sẽ trị liệu như thế nào. Rồi sau đó bác sĩ bắt tay ngay vào lần châm cứu đầu tiên, khoảng 1 giờ đồng hồ.


Nói về những dịch vụ ở văn phòng J Acupuncture thì “việc chính là châm cứu, có thể kèm thêm giác hơi, cạo gió, cắt lể, đốt ngải cứu, hoặc massage nhẹ, xông hơi,” cô Jennifer giới thiệu về những cách trị liệu của văn phòng châm cứu Ðại Hàn này, cô nói tiếp: “Bên cạnh đó các bác sĩ còn cho uống thuốc, và là Ðông y dược, pha chế từ những vị thuốc đặt mua từ Ðại Hàn.”


Cô Jennifer chỉ cho chúng tôi tủ thuốc lớn được dựng sát bờ tường, trên đó có hàng mấy chục loại thuốc trộn sẵn khác nhau. Cô giải thích thêm “có ba loại thuốc chính hiện đang có trong phòng mạch như thuốc bột, thuốc viên màu đen, và thuốc do các bác sĩ Ðại Hàn tự chính tay nấu, như sắc thuốc Bắc vậy”.



Bác sĩ Jae Youb Choo đang châm cứu cho bệnh nhân


Bệnh nhân đến đây thường là khách Việt Nam, đa phần là trả tiền mặt, và bảo hiểm PPO vì bảo hiểm này đồng ý trả cho dịch vụ châm cứu.


“Bảo hiểm HMO và các loại khác như medicare, medi-medi thì không được vì chính phủ đã ra lệnh cắt những loại medicare đó từ 4 năm trước,” cô Jennifer giải thích thêm về các loại bệnh trạng mà văn phòng J Acupuncture chuyên trị: “Ngoại trừ bệnh ung thư đến giai đoạn cuối cùng, tức là bác sĩ thuốc Tây đã chạy rồi thì châm cứu kể như bó tay luôn, còn ngoài ra những bệnh khác như đau nhức, tê người, nhức đầu, tai biến, đau bao tử, hay phụ nữ rối loạn kinh nguyệt, đàn ông bị liệt dương hoặc các ông hút thuốc muốn cai nghiện… thì coi như châm cứu có thể được xem là phương cách chữa trị tốt.”


Vẫn theo cô Jennifer, đối với những bệnh nhân Việt Nam không biết nói tiếng Anh, phòng mạch sẽ có thư ký người Việt hướng dẫn.


Vãn phòng J Acupuncture có tổng cộng 8 giường, có cả phòng xông hơi và máy chạy điện.


Theo kinh nghiệm nhiều năm phục vụ cho văn phòng J Acupuncture, cô Jennifer cho biết “thông thường khi bệnh nhân bị đau nhức đến bác sĩ để chữa trị bằng châm cứu là hiệu quả nhất. Riêng những bệnh, như bao tử, thận, ruột, hay các bệnh liên quan đến thần kinh, việc trị liệu đều phải kết hợp chung với thuốc uống và tùy theo bệnh nặng nhẹ để quyết định thời gian điều trị sẽ là lâu hay mau”.


Tất cả những kim châm cứu đều được đặt mua từ Ðại Hàn, sau đó các kim đã sử dụng rồi sẽ được bỏ cho bộ phận chuyên thu lượm kim phế thải.


Ðối với bệnh nhân Việt Nam thì lứa tuổi nào là hay đến vãn phòng J Acupuncture để châm cứu? Cô Jennifer cho biết đối với bệnh nhân Việt Nam đến chữa trị ở văn phòng J Acupuncture không nhất định ở một lứa tuổi nào. Có những em rất trẻ 14, 15 tuổi hay 20, 21 hoặc trung niên trên 50, và người cao niên trên 60, 70 tuổi.



Vẫn theo cô Jennifer, “đa số các bệnh nhân đến châm cứu là giới làm nghề massage, nail, làm tóc vì những ngành nghề này đòi hỏi người thợ phải vận động sức lực tay chân nhiều nên dễ bị đau nhức tay chân hay lưng.”


Nếu bạn đọc cần châm cứu xin đến vãn phòng J Acupuncture, địa chỉ: 11752 Garden Grove Blvd., #116, Garden Grove, CA 92843.


Ðiện thoại: (714) 534-0603 hay quý vị có thể vào web site: www.jacupuncture.org.





J Acupuncture


11752 Garden Grove Blvd., #116


Garden Grove, CA 92843


Ðiện thoại: (714) 534-0603



 

Thế Vận Hội Luân Ðôn càng ngày càng rối bời

 


Lê Mạnh Hùng


 


Với Thế Vận Hội chỉ còn chưa đầy hai tuần nữa sẽ khai mạc tại Luân Ðôn, các nhà tổ chức Thế Vận Hội Luân Ðôn hôm Thứ Ba tuần này đã cố tìm cách trấn an dân chúng Anh rằng tình trạng thiếu thốn nhân viên an ninh mà đã khiến chính phủ phải triển khai thêm quân đội và cảnh sát sẽ không ảnh hưởng gì đến sự an toàn của đại hội.


Thế nhưng tại Quốc Hội nơi mà người cầm đầu công ty G4S, công ty an ninh khổng lồ vốn được hợp đồng trị giá 440 triệu bảng Anh để cung cấp 10,400 nhân viên an ninh vừa ra điều trần, thì các dân biểu lại có một kết luận khác.


Bà Nicola Blackwood, một dân biểu Bảo Thủ tại Ủy Ban Nội Vụ Hạ Viện, nơi mà ông Nicholas Buckles tổng quản trị công ty G4S bị truy vấn đến 90 phút, tuyên bố “Trước buổi điều trần này, tôi có rất ít tin tưởng vào khả năng của G4S thực hiện hợp đồng này, và nay thì tôi chẳng có tin tưởng gì cả.”


Với các tài xế taxi biểu tình tại trung tâm Luân Ðôn để phản đối các con đường dành riêng cho giới tham dự Thế Vận Hội lưu hành và các tin tức báo chí kể lại các vận động viên của Hoa Kỳ và Úc bị mắc kẹt trong giao thông, ban tổ chức Thế Vận và cả các bộ trưởng chính phủ đã lên tiếng biện luận rằng tất cả những khó khăn này sẽ mờ nhạt đi khi Thế Vận Hội khai mạc vào ngày 27 tháng 7.


Sebastian Coe, chủ tịch ban tổ chức Thế Vận Luân Ðôn vốn là một vận động viên từng đoạt huy chương vàng về chạy đua tại Thế Vận Hội, đưa ra một nhận định lạc quan:


“Ðây không phải là thất bại vì không có đủ người. Chúng tôi có đủ người. Và hãy đặt vấn đề này vào đúng tầm mức của nó. Ðây không phải là vấn đề, và cũng sẽ không phải là vấn đề ảnh hưởng đến an toàn và an ninh của Thế Vận Hội. Ðó là ưu tiên một của chúng tôi.”


Nhưng đối với những tài xế xe taxi “black caps” của Luân Ðôn thì họ có những ưu tiên khác. Trên hai trăm xe taxi tập họp trước trụ sở Quốc Hội, bấm còi um lên để phản đối việc dành riêng một số lane trên đường phố cho xe chở các vận động viên, các viên chức Thế Vận và những xe được phép khác. Jonathan Myers, chủ tịch nghiệp đoàn tài xế xe taxi tuyên bố “Loại không cho xe taxi là một chuyện sai trái và không chấp nhận được. Ðây là một thành phố lao động và chúng tôi cần có thể đi lại và làm công việc của chúng tôi”.


Bởi vì những lane đường giới hạn mới, theo ông Myers “Luân Ðôn sẽ bị tắc nghẽn và hôm nay chúng tôi sẽ cho họ thấy thế nào là bị tắc nghẽn”. Ðó là lời ông nói với thông tấn xã Press Association của Anh. Chữ họ mà ông dùng ở đây là chỉ các dân biểu đang làm việc bên trong Quốc Hội.


Màn dạo đầu tiến đến Thế Vận đã bị làm u ám bởi việc công ty G4S thú nhận vào tuần trước rằng họ không thể nào cung cấp được con số nhân viên an ninh mà họ hợp đồng, buộc chính phủ phải động viên thêm 3,500 binh sĩ cho Luân Ðôn. Một số những binh sĩ này vừa mới từ Afghanistan trở về, không được nghỉ ngơi gì cả. Con số các binh sĩ tham gia chiến dịch bảo vệ an ninh cho Luân Ðôn nay lên đến 17,000 người. Ngoài ra chính phủ còn động viên thêm cảnh sát tại 8 khu vực khác ngoài Luân Ðôn để tăng cường cho lực lượng cảnh sát.


Xuất hiện trước Ủy Ban Nội Vụ Quốc Hội, ông Nick Buckles, tổng quản trị công ty G4S đã bị buộc phải xin lỗi, nói rằng ông rất lấy làm tiếc về tình trạng thiếu thốn các nhân viên an ninh và quy trách nhiệm cho những khuyết điểm của hệ thống tuyển chọn.


Ông Buckles cho biết ông chỉ biết đến cuộc khủng hoảng nhục nhã cho công ty ông này khi ông còn đang nghỉ hè tại Hoa Kỳ vào ngày 3 tháng 7. Nhưng công ty chỉ thông báo cho ban tổ chức Thế Vận vào ngày 11 tháng 7 là họ không thể hoàn thành trách nhiệm hợp đồng của họ.


Tuy nhiên ông Buckles nói “Chúng tôi tin tưởng rằng, cùng với quân đội và cảnh sát, chúng tôi có thể bảo đảm một Thế Vận Hội an ninh và an toàn”. Ông cũng cho biết thêm rằng G4S hiện đang có 4,200 nhân viên an ninh tại các địa điểm Thế Vận và sẽ cung cấp “ít nhất là 7,000” khi Thế Vận Hội bắt đầu. “Vần đề hiện nay là thiếu người, thuần túy và đơn giản như vậy,” ông nói “Chúng tôi không có đủ người”.


Ông cho biết G4S sẽ chi trả cho các chi phí mà quân đội và cảnh sát phải chịu vì sự thiếu thốn các nhân viên của G4S, và cũng sẽ trả tiền thường “đặc biệt là cho những quân nhân phải bỏ nghỉ phép để phục vụ cho Thế Vận Hội”.


Ðối với G4S, một công ty có 660,000 người làm việc cho mình trên toàn thế giới và là một trong những công ty đông nhân viên nhất thế giới trong lãnh vực tư, việc ký được hợp đồng lo an ninh cho Thế Vận Hội là một thành tích lớn. Nhưng kể từ khi phát hiện tình trạng thiếu nhân viên an ninh của mình, giá cổ phiếu của công ty đã xuống một cách thê thảm. Theo ước tính của chính công ty, họ sẽ lỗ khoảng 80 triệu đô la trong hợp đồng này, khoảng 10% tổng lợi nhuận hàng năm của công ty.


Buổi điều trần của Ủy Ban Nội Vụ Quốc Hội khai mạc một ngày sau khi các vận động viên Úc và Hoa Kỳ báo rằng họ bị chậm trễ nhiều tiếng đồng hồ khi đi từ phi trường Heathrow ở phía Tây Luân Ðôn về làng Thế Vận ở phía Ðông vì các tài xế xe bus chở họ không thuộc đường. Trong một vụ khác, các thành viên của Ủy Ban Quốc Hội cho biết chỉ có 30 trong số 300 nhân viên G4S dự trù có mặt để cung ứng an ninh cho một buổi diễn tập xe đạp hôm Thứ Ba.


Theo Ian Edwards, một đại diện của cảnh sát vùng West Midlands nơi mà 150 nhân viên cảnh sát được gởi đến Luân Ðôn để bảo vệ an ninh tại một khách sạn nơi ở của các cầu thủ bóng tròn Thế Vận thì “Rối loạn, hoàn toàn rối loạn”.


Tuy nhiên theo Chris Allison, phụ tá giám đốc cơ quan cảnh sát Luân Ðôn Scotland Yard thì kế hoạch chung bảo vệ an ninh cho Thế Vận Hội không có gì thay đổi, ông cho biết có thay đổi chỉ là thay đổi hỗn hợp những thành phần cung cấp mà thôi. Ông cho biết “Thay vì nhân viên của G4S cung cấp một số dịch vụ và rà soát các địa điểm thì là quân đội và trong một số trường hợp là cảnh sát. Nhưng kế hoạch chung thì vẫn còn nguyên.”

Do Thái giúp Việt Nam lập nhà máy sản xuất súng

 


JERUSALEM (NV) – Một công ty kỹ nghệ quốc phòng của Do Thái đã đạt được thỏa thuận chuyển giao công nghệ để Việt Nam lập một nhà máy sản xuất súng trường.










Ba kiểu súng trường Galil căn bản của Do Thái. (Hình: Internet)


Báo kinh tế tài chính của Do Thái, Globes, cho hay như vậy hôm Thứ Tư về dự án sắp được công ty Israel Weapons Industries Ltd., đầu tư xây dựng tại Việt Nam vào năm tới.


Ðây là thứ tin tức tế nhị trong mối quan hệ giữa Do Thái với Việt Nam vì Do Thái là một đồng minh ruột của Mỹ ở Trung Ðông trong khi Việt Nam là một nước Cộng Sản vẫn bênh vực Palestine trong sự tranh chấp đất đai giữa Do Thái và Palestine.


Từ tháng 9 năm 2011, tờ Globes tiết lộ rằng công ty sản xuất võ khí Israel Weapons Industries Ltd. (công ty con sản xuất võ khí nhẹ thuộc công ty Israel Military Industries Ltd.) tách ra khỏi công ty mẹ và do tập đoàn kỹ nghệ Samy Katsav’s SK Group làm chủ, dự tính xây dựng một xưởng sản xuất võ khí nhẹ ở một nước Viễn Ðông với vốn đầu tư hơn $100 triệu.


Một trong những phiên bản súng trường Galil được mô tả sẽ sản xuất là kiểu AS tân tiến chứ không phải phiên bản cũ.


Lúc đó tờ Globes không nêu tên nước Viễn Ðông đó là nước nào. Nay tờ báo dựa theo lời một viên chức quốc phòng cao cấp của Do Thái nói nước đó là Việt Nam. Tin tức mới được xì ra chút xíu vì “sự phức tạp và khó khăn của bản hợp đồng”.


“Ðây là một dự án lớn, bao gồm cả việc xây dựng nhà máy sản xuất võ khí nhẹ sau khi đã chuyển giao kỹ thuật từ Do Thái. Chúng tôi đang thảo luận về kiểu súng trường nào sẽ được chế tạo, nhưng hoạt động của nhà máy ở Việt Nam có thể mở rộng trong tương lai. Những dự án như dự án này sẽ là nền tảng của sự hợp tác quốc phòng giữa hai nước”. Viên chức không nêu tên đó nói.


Ðược biết, vào dịp báo Globes tiếp lộ chuyện Do Thái lập xưởng chế tạo võ khí nhẹ ở Viễn Ðông, thì Trung Tướng Trương Quang Khánh, thứ trưởng quốc phòng Việt Nam dẫn đầu một phái đoàn quân sự cao cấp lặng lẽ tới Jerusalem. Ông Khánh nay là thượng tướng, ủy viên đảng ủy quân sự trung ương, phó bí thư đảng ủy tổng cục, chủ nhiệm Tổng Cục Kỹ Thuật Bộ Quốc Phòng, ủy viên ban chấp hành trung ương đảng CSVN, ủy viên Ủy Ban Tài Chính, Ngân Sách của Quốc Hội.


Những tin tức lúc đó cho đến nay chỉ có tổng quát với những chi tiết như Việt Nam muốn mua hỏa tiễn tầm ngắn và tối tân (có thể gián tiếp qua một nước Ðông Âu) và cả radar, máy bay không người lái cho nhu cầu phòng vệ biển, phòng không.


Tuy nhiên, theo Globes, khả năng bán các loại trang bị quốc phòng tối tân cho Việt Nam như máy bay không người lái, bom hướng dẫn, hỏa tiễn, v.v… vẫn còn khó xảy ra trong tình thế hiện nay. Trong đó, phải kể đến sự chống đối của Mỹ khi một đồng minh muốn bán hoặc chuyển giao kỹ thuật quân sự tối tân cho một nước thứ ba.


Năm 2010, tin tức thời sự cho hay Việt Nam đã tiến đến giai đoạn đàm phán cuối cùng để mua của Do Thái một loại hỏa tiễn tầm ngắn có tên là Extra. Loại hỏa tiễn điều khiển này có tầm sát thương trong hạn 150km với đầu đạn nặng 125kg. Ðộ chính xác khá cao và có thể đặt trên xe di động hoặc ở một vị trí cố định.


Từ đó đến nay, không thấy báo chí Việt Nam đề cập gì tới loại hỏa tiễn này, mà chỉ thấy loan tin tiếp nhận giàn hỏa tiễn Bastion-P thứ hai của Nga hồi tháng 2, 2012 và đàm phán để mua dàn thứ ba.


Tháng 3 năm 2012, báo Ðất Việt ở Việt Nam dựa vào một số tin báo chí Nga đưa ra một số tin tức và hình ảnh nói “Tờ Lenta dẫn kết luận của những thành viên tham gia diễn đàn Military Photos cho biết, với sự giúp đỡ của các chuyên gia quân sự Israel, Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam sẽ nâng cấp toàn bộ khoảng 10 tiểu đoàn xe tăng T-54/55, với mỗi tiểu đoàn trang bị 31 xe. Nếu đúng như vậy, trong những năm tới, sẽ có khoảng 310 xe tăng T-54/55 Việt Nam được nâng cấp hiện đại hơn nhiều lần.”









Một kiểu súng trường Galil tối tân gồm cả đèn chiếu sáng và ống ngắm tác chiến ban đêm. (Hình: Internet)


Các con số chính thức về lực lượng quân sự CSVN, vào năm 2010 có khoảng 850 xe tăng T-54/55 do Liên Xô chế tạo. Ngoài ra, Việt Nam còn có khoảng 350 xe tăng hạng trung Type 59 của Trung Quốc, biến thể hiện đại hóa từ xe tăng T-54.


Không có tiền mua các loại xe tăng tối tân hơn, Hà Nội chỉ cố gắng tân trang kho võ khí đã lạc hậu.


Trong khoảng hai năm trở lại đây, có 4 hay 5 công ty kỹ nghệ quốc phòng Do Thái đã đạt thỏa thuận với Việt Nam, phản ảnh chủ trương của chính phủ Do Thái là giúp kỹ nghệ của họ tìm thêm thị trường mới.


“Ðến nay, thương vụ chỉ mới vài chục triệu đô la. Số tiền không lớn ở giai đoạn này nhưng tiềm năng thì lớn”. Nguồn tin giấu tên của Globes cho hay. (T.N.)

Hội Nghị Tiếng Việt lần thứ tư

 


Bảo tồn tiếng Việt trong gia đình Việt Nam hải ngoại


 


Nguyên Huy/Người Việt


 


WESTMINSTER (NV) – Hội Nghị Tiếng Việt lần thứ tư đã khai diễn tại Viện Việt Học, Westminster, vào sáng Thứ Bảy, 14 Tháng Bảy, và kéo dài sang ngày Chủ Nhật, 15 Tháng Bảy, với chủ đề “Bảo Tồn Tiếng Việt Trong Gia Ðình Việt Nam Hải Ngoại”.









Giáo Sư Trần Ngọc Ninh giới thiệu một phương pháp dậy đọc, viết tiếng Việt theo phương pháp Âm Vị Học. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)


Năm đề tài lớn đã được các giáo sư, học giả người Việt khắp nơi thay nhau thuyết trình hoặc gửi bài viết về cho hội nghị. Ðó là những đề tài sau:


– Thực trạng sử dụng tiếng Việt trong gia đình Việt Nam hải ngoại.


– Quan hệ giữa việc học tiếng Việt trong trường và trong gia đình.


– Ảnh hưởng của tiếng Việt đối với đời sống gia đình, đặc biệt trong việc giao tiếp giữa các thế hệ.


– Thực chất của tiếng Việt ở hải ngoại.


– Nhu cầu bảo tồn tiếng Việt trong gia đình Việt Nam hải ngoại, đặc biệt là đối với các thế hệ trẻ.


Giáo Sư Trần Ngọc Ninh, chủ tịch danh dự của hội nghị, đã ngỏ lời chào mừng hội nghị lần thứ tư và mong hội nghị đạt được những kết quả tốt đẹp. Trong phần này giáo sư đã nói về ý nghĩa và mục đích của sự bảo tồn tiếng Việt. Giáo sư đề cập đến việc di dân của loài người trong thời cổ đại đã đưa đến những xã hội loài người khác nhau về tiếng nói, chủng tộc, văn hóa do vì những điều kiện sinh sống khác nhau. Từ nguyên ủy thì “loài người chỉ có một mà thôi,” giáo sư nhấn mạnh.


Vẫn theo giáo sư thì “như thế những người cùng một gốc gác chia lạc nhau đó có thể sống chung được và tôn trọng nhau không. Ðó là vấn đề.”


Giải quyết vấn đề này đã có hai thuyết. Thuyết thứ nhất dựa vào thực trạng nước Mỹ. Ðó là một nước hòa trộn nhiều chủng tộc, văn hóa khác nhau để cùng sinh tồn. Thuyết thứ hai chủ trương sự hòa trộn nhưng không hòa tan mà vẫn giữ cái bản sắc riêng, giống như món “nộm” của người Việt. Món “nộm” là một tổng hợp nhiều món ăn của người Việt như rau muống, đậu phụ, muối mè, tôm và đôi khi cả giá, tạo nên một món ăn tổng hợp rất ngon mà từng món trong “nộm” vẫn giữ được bản sắc của món ăn đó vì không phải hòa tan vào nhau.


Giáo sư giả định rằng “nếu loài người không tự diệt thì ngàn vạn năm nữa sẽ thành như vậy. Vậy thì chúng ta có đóng góp được gì trong cái món ‘nộm’ đó không. Làm như vậy là chúng ta đã trở về với cội nguồn, nghĩa là giữ được nền nếp, tiếng nói của ta.”


Ðến phần thuyết trình, hội thảo, Giáo Sư Trần Ngọc Ninh là diễn giả đầu tiên.


Trong phần thuyết trình này, Giáo Sư Trần Ngọc Ninh đề cập đến tiếng Việt trong tuổi trẻ Việt Nam sinh tại hải ngoại. Các trẻ em này khi sinh ra được sống ngay trong tiếng Việt của gia đình (ông bà, cha mẹ hay họ hàng) và dù chưa có nhận thức, cũng nhập tâm nhiều thứ và hình thành những ý niệm đầu tiên. Ðến tuổi đi học và lớn lên trẻ em đó được học tiếng của nơi em sinh sống như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Ðức… và dần dà thấm được nền văn hóa ngôn ngữ ở các nơi này.


Nhưng các trẻ em này vẫn không mất hẳn được gốc. Chúng vẫn còn giữ được những ý niệm đầu tiên tuy chúng đã mất dần đi cái âm và cái thanh Việt nên rất khó khăn khi học tiếng Việt. Nhưng, theo giáo sư thì “ngôn ngữ là có từ thâu nhập chứ không phải từ học” do đó để cho trẻ giữ được ngôn ngữ Việt, chúng phải được sống trong hoàn cảnh thích hợp. Ðiều này đã được chứng minh qua trẻ em của các gia đình người Việt phải sinh sống ở những tiểu bang rất ít người Việt. Những trẻ em này nếu có biết được tiếng Việt thì chúng cũng phát âm lơ lớ không chuẩn xác so với những em sống cùng gia đình tại những nơi có người Việt đông như California.


Rõ ràng là vai trò gia đình hết sức là quan trọng cho việc bảo tồn tiếng Việt nơi các thế hệ người Việt kế tiếp.


Vào buổi chiều hôm khai mạc hội nghị, Giáo Sư Nguyễn Hưng Quốc, từ Úc qua, thuyết trình về đề tài “Bản Chất Tiếng Việt Tại Hải Ngoại”. Giáo Sư Nguyễn Hưng Quốc đã phân định tiếng Việt đối với trẻ em Việt Nam ở trong nước, ở hải ngoại và đối với người thuộc các dân tộc khác. Tiếng Việt với trẻ em Việt Nam ở hải ngoại chỉ là thứ ngôn ngữ phụ trong khi trẻ em ở Việt Nam là ngôn ngữ chính. Trong tương lai, trẻ em ở hải ngoại sẽ bị ngôn ngữ, văn hóa bản xứ thống trị tâm trí và sinh hoạt của chúng do vì môi trường học đường, công ăn việc làm nên phương pháp giảng dậy tiếng Việt phải khác.


Theo Giáo Sư Nguyễn Hưng Quốc, nên dậy tiếng Việt cho các em lên đến 5 tuổi cho các em có thể thu phát âm căn bản để các em có thể đối phó được với tình trạng “bất trắc” về song ngữ mà các em phải đối diện. Cho nên, vai trò của gia đình sẽ là quan yếu. Các em cần phải được học từ gia đình trước và học ở nhà (sinh hoạt tiếng Việt) nhiều hơn là học ở trường. Gia đình cũng là nguồn động viên chính cho các em sử dụng ngôn ngữ Việt.


Nhiều diễn giả đề cập đến các phương cách và phương pháp dạy đọc và dậy viết tiếng Việt qua kinh nghiệm nghiên cứu của bản thân, qua các lần tham dự hội nghị tiếng Việt và qua một số sách giáo khoa đang được các trung tâm Việt ngữ và tại một số trường của Hoa Kỳ sử dụng. Như Giáo Sư Trần Ngọc Ninh, ông đã bỏ công nghiên cứu và áp dụng thành công phương pháp “Âm Vị Học” trong việc dậy đọc, dậy viết tiếng Việt qua các lớp Việt ngữ tại Viện Việt Học hàng tuần.









Giáo Sư Nguyễn Hưng Quốc thuyết trình về “Thực Chất Tiếng Việt Ở Hải Ngoại”. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)


Hai ngày hội nghị chấm dứt nhưng, theo ông Nguyễn Minh Lân, trong ban tổ chức, chỉ là chấm dứt trên hình thức mà nội dung sẽ còn kéo dài bởi vì Viện Việt Học còn tiếp tục đón nhận những bài viết, những góp ý của các giáo sư, học giả, nhà văn, nhà báo Việt ngữ khắp nơi sẽ đóng góp ý kiến về việc bảo tồn tiếng Việt trong gia đình Việt Nam hải ngoại để có thể rút ra được những tài liệu quý giá, những kinh nghiệm thực tiễn cho chúng ta.


Trang web của Viện Việt Học là www.viethoc.com, email là [email protected], điện thoại (714) 775-2050.


––


Liên lạc tác giả: [email protected]

Tìm Năm Sinh

 


Anh Sinh em cậu Nghĩa Hynos. Anh nhận tin gọi con gái Dì Tám, AL (714) 335-6213; (714) 335-6310.



 

Cổng Trời Cắn Tỷ (Kỳ 4)

 


LTS – Ông Kiều Duy Vĩnh là một trong những chứng nhân của sự độc ác cùng cực của cai tù CSVN tại nhà tù “Cổng Trời” tỉnh Hà Giang. Ông mất ở Việt Nam ngày 7/7/2012 vừa qua, thọ 81 tuổi. Ông từng tốt nghiệp Võ Bị cùng khóa với ông Nguyễn Cao Kỳ, là đại úy tiểu đoàn trưởng Nhảy Dù. Năm 1954 ông đã không theo đơn vị di cư vào Nam vì lý do gia đình. Ông đã bị bỏ tù hai lần 17 năm trong đó có nhiều năm ông bị giam ở “Cổng Trời,” nơi ông và một người nữa (ông Nguyễn Hữu Ðang trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm) sống sót trong số 72 người tù ở cùng một phân trại. Ông kể lại những ngày tù ở “Cổng Trời” qua các hồi ký từng phổ biến trên tạp chí Thế Kỷ 21 cách đây hơn chục năm. Trong các hồi ký này, ông kể về sự kiên cường giữ vững niềm tin tôn giáo của các giáo dân, tu sĩ và linh mục công giáo mà ông gọi là “các Thánh Tử Ðạo.”


 


Kỳ 4


 


Buổi sáng hôm ấy, chín giờ, mọi người chúng tôi ăn cơm xong, ngồi chơi, nhìn nhau, thì cửa mở. Một tiểu đội lính lưỡi lê tuốt trần súng ống chỉnh tề. Ðủ mặt bá quan của Khu A2. Quản giáo trực, giáo dục, phó giám thị phụ trách khu.


Tất cả đều đội mũ bình thiên, lệ phục chỉnh chu. Cuối cùng, giám thị mới xuất hiện. Còn trẻ, nhanh nhẹn mặt mũi sáng sủa, ăn nói lưu loát, sang sảng, dứt khoát, có âm sắc Nam Hà (có điều cho mãi đến tận bây giờ tôi vẫn chưa hiểu nỗi, là tại sao trong chuỗi ngôn từ chính quy, nhân danh pháp luật mà giám thị mới lại xen vào đó một số từ mà người ta chỉ dùng để nói láo với nhau mà thôi).


Bài nói như sau:


“Hôm nay, tôi Nguyễn Quang Sáng. Chánh giám thị mới của trại, thông báo để các anh rõ.


Trại Cổng Trời, Công Trường 25A Hà Nội này là một trại đặc biệt. Trại đã sàng lọc cẩn thận lũ các anh, bọn đầu trâu trán khỉ, bọn phản động chống phá cách mạng một cách điên cuồng, ở các trại dưới các anh không chịu cải tạo, lại còn ra sức truyền đạo và kích động người khác. Chúng tôi đây, chúng tôi cũng được chọn lọc, những phần tử ưu tú nhất, dầy dạn nhất, kinh nghiệm nhất để lên đây trừng trị, trấn áp lũ các anh. Tôi thay mặt cho ban giám thị báo cho các anh biết:


Ban giám thị trại Cổng Trời trực tiếp được Bộ Chính Trị và Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội trao cho quyền hành đặc biệt: Trừng trị thẳng tay những kẻ nào còn dám chống lại đảng và nhà nước. Cụ thể, tôi nhấn mạnh, là tôi sẽ cho đi ngủ với giun (nguyên văn) những kẻ nào không chịu cải tạo và cố tình chống đối lại.


Hôm nay tôi xuống đây để hỏi: Anh Ðỗ Bá Lung.”


Im lặng.


“Tôi hỏi: anh Ðỗ Bá Lung có nghe thấy không?”


Có tiếng đáp nhỏ nhẹ: “Có tôi.”


“Ðứng dậy. Tôi bảo anh đứng dậy.”


Vì buồng giam chật, không có chỗ cho chúng tôi đứng, nên chúng tôi đều ngồi xổm hoặc xếp chân vòng tròn trên giường chỗ gần cửa ra vào. Chỉ có giám thị, quản giáo là có chỗ đứng ngay cửa mà thôi. Tu sĩ Ðỗ Bá Lung từ từ đứng dậy.


Trời rét âm bốn độ, nên trong lúc ngồi nghe chúng tôi ai nấy đều quàng chăn cho khỏi rét.


“Bỏ chăn ra.”


Tu sĩ Lung tuột chăn khỏi vai cho rơi xuống chân mình.


“Anh Ðỗ Bá Lung, hôm nay, sau khi đọc hồ sơ của anh, cùng các nhận xét của các ban giám thị các trại dưới, và được các ông quản giáo báo cáo lại, thấy rằng: Anh là một tên phản cách mạng cực kỳ nguy hiểm, đã đội lốt thầy tu mê hoặc các giáo dân ở các xứ đạo, kích động họ để họ chống lại đảng và chính phủ.


Ðến khi bị bắt vào tù, ở các trại dưới cũng như ở đây, anh vô cùng ngoan cố khăng khăng không chịu cải tạo, từ chối mọi sự giáo dục của ban giám thị và các ông quản giáo. Tôi nói lại một lần nữa cho anh Ðỗ Bá Lung và các anh nghe cho rõ. Kẻ nào còn dám chống lại tôi sẽ cho đi ngủ với giun.


Anh Lung, trước đây lúc nào anh cũng vỗ ngực tuyên bố trước giáo dân và các ban giám thị ở các trại dưới là anh thề không đội trời chung với Cộng sản. [Chính xác thì Tu sĩ Lung nói: Tôi không bao giờ có thể sống chung với Cộng Sản vô thần được]. Bây giờ trước mặt tôi anh có còn dám trắng trợn thách thức như thế nữa không?”


Im lặng trên toàn bộ nhà mồ. Tôi ngồi im một xó, khép kín cái chăn, sụp cái mũ bịt tai lại, tránh mọi cặp mắt.


Giám thị Sáng cao giọng hất hàm:


“Tôi hỏi anh Lung, anh trả lời cho tôi biết. Thế nào?”


Những phút giây này Thần Chết đã có mặt. Người ta thường viết như thế này về những người Cộng Sản trước khi chết: Vào những phút giây này người Cộng Sản kiên cường bao giờ cũng đứng dậy hô to: “Ðảng Cộng Sản muôn năm. Hồ Chủ Tịch muôn năm.” Phút giây thiêng anh đứng dậy ba lần và hô ba lần hô dõng dạc như thế.


Tôi chờ. Tôi chờ. Và thấy tu sĩ Ðỗ Bá Lung ngẩng đầu:


“Tôi có nói như thế và bây giờ tôi vẫn nói như thế.”


Tiếng quát bật ra giận dữ:


“Lôi nó đi.”


Không để ai phải lôi kéo cả.


Tu sĩ Lung từ từ bước ra khỏi giường. Ði ra cửa.


Hàng lưỡi lê giãn ra. Quản giáo, giám thị giãn ra để cho tu sĩ đi. Ðến gần cửa tu sĩ quay lại, móc túi lấy gói thuốc lào, mấy đồng bạc “âm phủ” trao lại cho người ngồi gần. Vì tôi nằm cạnh tu sĩ, nên tu sĩ quay lại phía tôi: “Anh Vĩnh, tôi còn mấy viên thuốc cảm, và cái gối để ở đầu giường, lấy mà dùng.”


Và hướng vào tất cả mọi người trong nhà mồ, tu sĩ nói nhỏ nhẹ:


“Thôi chào các bác, các anh ở lại. Tôi đi.”


Và tu sĩ đi. Cửa sập lại.


Chúng tôi im lặng ngồi nhìn nhau không ai nói với ai một lời. Thần Chết đến và đã đi. Lần này ầm ĩ hơn, có nghi lệ hơn, có bài bản hơn những lần trước.


*


Gần ba tháng sau, Nguyễn Hữu Ðang, “tên cầm đầu bọn Nhân Văn Giai Phẩm” đến gần cửa sổ khu tôi ở. Anh là người độc nhất ở đây được đưa cơm vào xà lim, được đi lại tự do trong bốn bức tường, anh là người được ăn no, đủ muối mắm, thậm chí được mua cả thịt trâu và được hái hoa rừng cài vào cửa sổ. Có lần anh cầm một bó hoa nghệ và bảo tôi: Này Vĩnh, cậu ngửi mà xem có đúng mùi nước hoa Bain de Champagne không.


Tôi vốn không ưa cái mùi ung ủng của thứ nước hoa thượng hảo hạng đó. Nhưng anh Nguyễn Hữu Ðang thì anh rất thích cái mùi nước hoa Bain de Champagne đó. Lại có lần qua cửa sổ vào buổi sáng sớm, anh dúi cho tôi một cái bánh sắn to có nhân thịt trâu.


Chao ôi là chao ôi.


Thỉnh thoảng lúc vắng quản giáo và lính canh anh đứng cạnh cửa sổ nói với tôi dăm ba câu chuyện tào lao. Anh được thả lỏng, được ưu đãi có lẽ do cái người cắp cái cặp đen hôm đưa đoàn tù lên. Anh bảo với tôi rằng ông ta tên là Vệ, hình như làm cục phó Cục Quản Lý trại giam. Hồi xưa trước năm 1945, khi anh làm tổng thư ký Hội Truyền Bá Quốc Ngữ với cụ Nguyễn Văn Tố, anh có làm ơn cho ông ta một điều gì đó. Ðến giờ ông ta tử tế đáp lệ lại. Chắc là thế.


Anh luôn bảo, anh không có tội gì cả. Nếu có – theo anh – thì đó chỉ là một sự hiểu lầm về thời gian và không gian trong triết học mà thôi. Anh nói ấm ớ lững lờ và khó hiểu như vậy.


Ba tháng sau, lúc đưa cơm xà lim xong anh đáo qua cửa sổ tôi và bảo:


“Này, cái lão Lung ấy mà. Vẫn chưa chết. Sống dai thế. Không có chăn, không có quần áo ấm để chống rét cơ thể mọc đầy lông cậu ạ. Chỉ còn đôi mắt là vẫn sáng vẫn sống thôi.”

Lục bát Cung Trầm Tưởng

 


Viên Linh


 


Mỗi sinh nhật tôi lại nhớ đến bài thơ ấy của Cung Trầm Tưởng. Mỗi đêm mưa tôi lại đọc bài thơ ấy của Cung Trầm Tưởng. Ðó là mùa mưa Sài Gòn. Ðó là Sài Gòn của chúng tôi.









Cung Trầm Tưởng, cầm lá sớ thơ, và Viên Linh tại trụ sở Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại trên đường Bolsa, quận Cam, 1992. (Hình: Phan Diên)


Ðó là những năm cuối thập niên ’50, những năm của Hiện sinh, của bản ngã, của đời sống thanh niên thành phố vừa vào tuổi hai mươi, của những đêm khuya ngã tư đèn vàng, những đầu tháng tạp chí văn chương. Của khói thuốc và sách vở. Của những buổi hẹn hò ở một góc sân trường; những cuộc tiễn đưa nơi sân ga bến buýt. Của vào đời và tan tác.


Mưa rơi đêm lạnh Sài Gòn


Mưa hay trời khóc đêm tròn tuổi tôi.


Mưa hay trời cũng thế thôi


Ðời nay biển lạnh mai bồi đất hoang.


Hồn tu kín xứ đa mang


Sớm hao tâm thể chớm vàng lượng xuân.


Niềm tin tay trắng cơ bần


Cuối hoàng hôn lịm bóng thần tượng xưa.


Ðêm nay trời khóc trời mưa


Gió lùa ẩm đục trời đưa thu về


Trời hay thu khóc ủ ê


Cổ cao áo kín đi về đường tôi.


(Ðêm Sinh Nhật, Cung Trầm Tưởng)


Ðó là chúng tôi. Ðó là Sài Gòn của chúng tôi, những năm đầu của cuộc vận động đổi mới chữ nghĩa, – dăm ba thần tượng sụp đổ, một vài trường phái manh nha. Chúng tôi ghi nhận trong bất cứ cuộc vận động nào, thơ đi trước. Thơ bao giờ cũng đi trước; thi sĩ là kẻ tiền-hô. Có bao giờ chưa, một cuộc vận động văn học thi sĩ lại không ở hàng đầu? Một biến động thời thế thi sĩ lại không biến đổi trước nhất? Giữa thập niên ’20 Phan Khôi là người phá thể [với bài thơ Tình Già]. Ðầu thập niên ’30 Ðoàn Phú Tứ là kẻ xoay vần [với nhóm Xuân Thu Nhã Tập]. Ðể hình thành nền Thơ Mới. Ra ngoài đất nước, cũng chính là thơ trước nhất đã dựng lại một nền văn học. Vũ Khắc Khoan làm thơ. Mặc Ðỗ làm thơ. Võ Phiến làm thơ. 1975, những nhà văn phải làm thơ. Ðương nhiên các thi sĩ không làm gì khác là làm thơ. Trong khi các nhà văn phải làm thơ vì biến động trước mắt thì các thi sĩ đã làm thơ rồi, vì biến động đã ở dưới chân thi sĩ, từ lâu, trên các nẻo đường xuôi ngược của thi sĩ, không ngừng.


Không biết làm thơ, vào trong tù, ai cũng có thể làm thơ. Thế thì khi thi sĩ vào tù, thi sĩ thường thường ở tù lâu hơn các ông tướng, và các thứ. Vào tù binh tướng bị lột khí giới; vào tù, khí giới của thi sĩ còn nguyên. Bạn tôi cũng vậy. Cung Trầm Tưởng cũng vậy, trước sau gì cũng vẫn làm thơ. Ở ngoài đời là một tay làm thơ. Tựa bên phải thì làm thơ bằng tay phải; tựa bên trái thì làm thơ bằng tay trái. Vào tù, hai tay bị còng, thì có “Lời Viết Hai Tay.”** [**nhan đề một thi phẩm của CTT.] Từ cuối thập niên ’50 trở đi, Lục Bát Việt Nam không bao giờ còn như xưa nữa. Hình sắc, âm điệu, ngôn ngữ của hai dòng 6-8 đó – như một thôn nữ khăn vuông mỏ quạ váy quai cồng của đồng chiêm lúa mùa nhiều thế kỷ trước chốn Phong Châu – hiện thành Vệ Nữ và Hoàng hậu, hiển lộng và rực rỡ – nhưng lại có chút man dại của bản năng và nhịp thở phố xá, qua thơ Cung Trầm Tưởng.


Ðến anh thì đến hôm nay


Lỡ mai gió giật chở đầy mưa qua


Ðến anh thân thể lụa là


Dài đuôi con mắt ngắn tà váy kiêu


Ðến anh lưng thắt chiết yêu


Sểnh tâm phá giới con diều ái ân


Chờ em anh để râu xanh


(Râu Xanh, Cung Trầm Tưởng)


Trước 1975. Một hôm Cung Trầm Tưởng đến tòa soạn Tạp chí Thời Tập của tôi trên đường Nguyễn Trãi Chợ Lớn rủ tôi đi Cần Thơ dự Ðêm Con Ðuông. Con đuông là một thứ Nhộng của xứ dừa, họa sĩ Ngy Cao Uyên ở Cần Thơ lấy tên Con Ðuông đặt tên cho nhà xuất bản của anh, in ra những tập thơ mỏng, bìa là một họa phẩm nguyên tác nhỏ bằng lòng bàn tay; “Lục Bát Cung Trầm Tưởng” được in ra trong khuôn khổ này. Tôi còn nhớ chuyến bay chỉ có 4 người, kể cả phi công. Khi chiếc Bà Già bay trên ruộng rừng đất nước, nhìn ngắm những hố bom B.52 phía dưới, chúng tôi nói về những tàn phá của cả thù lẫn bạn. Rồi cũng không quên nói về thơ. Ðêm ấy trên những chiếc giường sắt trong căn cứ Không đoàn Vận tải (mà ông họa sĩ chủ trì là trung tá chỉ huy trưởng), chúng tôi nói về màu sắc trong thơ.


1992. Nhớ Cung Trầm Tưởng, không có việc gì, với tấm bản đồ thành phố Paris trong tay, tôi đã lên một con tàu và bước xuống một sân ga: “Ga Lyon đèn vàng”. Sau này qua điện thoại, tôi kể anh nghe tôi xuống sân ga đó không phải để kiểm chứng xem bạn ta có phải là người đi xa về rồi nói chuyện linh tinh hay không, như ở ga Lyon đèn trắng lại nói nó đèn vàng hay không, mà tôi xuống đó, để đứng ở ga Lyon và ngó lên mấy ngọn đèn, nhớ bạn, và đọc thơ bạn và hát nhạc Phạm Duy ở đấy. “Lên xe tiễn em đi, chưa bao giờ buồn thế.” Ngược lại, cũng qua điện thoại, Cung Trầm Tưởng thuật lại tôi nghe khi còn ở Sài Gòn, sau 10 năm ở tù cộng sản ra, đang lóng ngóng chuyện rời bỏ quê hương, thì nghe tôi nói về anh và về Thơ Lục Bát của chúng tôi trên đài Radio France International. Bài nói trên đài RFI ấy chính là trong cái dịp tôi bước xuống ga Lyon vào năm 1992 đó. [Dường như là do Thụy Khuê phỏng vấn.] Và ở hai phía địa cầu, như thế, cái tiếng Lục và cái tiếng Bát mà chúng tôi làm ra, chúng tôi ngâm lên, đã cùng được nghe thấy, trong một phút một giây của thời gian thật:


Hồn tôi cái đĩa thâu thanh


Tròn nguyên nét nhạc trung thành ý ca


Ðồ rê mi phá sol la


Ngẫm từng âm điệu nghe ra trời buồn.


“Cơ bản, Thơ vượt lịch sử.” Cung Trầm Tưởng nói. Tôi đồng ý. Lịch sử vốn tái diễn không ngừng, thơ vốn hồi sinh cùng thi sĩ. Lịch sử lập lại. Thơ không lập lại. Thơ xướng danh lịch sử và sang vòng chuyển hóa mới. Hiện tại của lịch sử là nhà tù: Tập thơ “Lời Viết Hai Tay” là dĩ vãng của thi sĩ.


Viên Linh, Lời bạt cho thi phẩm của Cung Trầm Tưởng, 1992


Bổ sung 2012

Vài khuôn mặt tiêu biểu của mạch ngầm văn chương Nam bộ

 


Du Tử Lê


(Tiếp theo và hết)


 


Nói tới văn chương Nam bộ, là nói tới chiếc chìa khóa căn bản của dòng văn chương này như ngôn ngữ và, văn phong đặc thù. Nhưng sự khác biệt giữa hai dòng văn chương Nam bộ và miền Bắc di cư, không chỉ nằm nơi những vận hành tự nhiên của ngôn ngữ, biểu thị những mô tả, tình cảm, ưu tư của con người trong cuộc sống, cái chết.










Nhà văn Bình Nguyên Lộc.


Cụ thể như, nếu dòng văn chương miền Bắc, về hình thức, mưu cầu đạt tới những kỹ thuật mới mẻ, tân kỳ; mô phỏng theo những trào lưu văn học Tây phương, từ lãng mạn qua tới tượng trưng, siêu thực hoặc cận đại hơn như trào lưu tiểu-thuyết-mới, hay phong trào văn chương hậu-hiện-đại, thì các nhà văn Nam bộ dường chỉ bận tâm về hiệu quả chuyển đạt hay sự tương thông dung dị, gần gũi giữa nhà văn và người đọc mà thôi.


Một trong những nhà văn Nam bộ, nổi tiếng trong 20 năm Văn Học Miền Nam là Sơn Nam. Ông có một truyện ngắn rất phổ biến, nhan đề “Tình nghĩa giáo khoa thư”. Chuyện kể chuyện phái viên một tờ báo ở Saigon, lặn lội về một xã nhỏ thuộc tỉnh Rạch Giá, để tìm một độc giả đã thiếu tòa soạn tới 6 tháng tiền báo dài hạn. Tác giả ghi lại phần mô tả của ông xã trưởng về nhân vật được tìm kiếm như sau:


“…Anh ta nói có dây có nhợ, tích người học trò nghèo tên là người Thừa Cung gì đó… chăn heo; ông quan đại thần Lý Tích đích thân nấu cháo cho chị ăn dè đâu bị lửa táp cháy râu. Chưa hết đâu, thầy phái viên ơi! Hễ gặp ai say rượu anh ta nói một hơi như thầy chùa tụng kinh, có ca có kệ. Cái gì mà các anh hãy trông người kia đi ngoài đường, mặt đỏ gay, mắt lờ đờ…” Thầy phái viên cười lớn, nhịp mạnh tay xuống bàn ba bốn lần như đánh trống chầu hát bội, đôi mắt sáng ngời, chân nhảy nhót như con nít: “- Hay quá! Hay quá! Tôi thăm ông độc giả đó mới được. Ổng làm thầy giáo hả thầy? Nhờ thầy đưa tôi đi tới gặp mặt. Ngộ quá hen! Ừ! Ừ!” (Trích “Những truyện ngắn hay nhất của quê hương ta,” trang 508, Sóng XB, Saigon 1974.) (1)


Cả đoạn văn người đọc không thấy một so sánh hay liên tưởng tân kỳ nào, ngoài những hình ảnh và, những ngôn từ rặc chất Nam bộ.


Lại nữa, các nhà văn Nam bộ tuồng cũng không chú tâm lắm tới phần tả cảnh (nhất là với các truyện ngắn). Ða số chỉ chú trọng những chi tiết về nơi chốn, dữ kiện cụ thể, hầu giúp người đọc cảm nhận câu chuyện được kể là có thật. Thí dụ truyện ngắn “Chuyện tình” của nhà văn nổi tiếng Ngọc Linh, với hình thức nhập đề trực-khởi:


“Tôi cầm hai quyển tiểu thuyết ‘Cuốn theo chiều gió’, sắp hàng đứng trước quầy thu tiền và xếp lá phiếu ghi giá lên quầy theo thứ tự, chờ tới phiên mình trả tiền. Hôm nay sắp bãi trường, nhà sách Khai Trí thật là đông. Mọi người đứng chen chân với nhau để lựa sách. Bà chủ vốn là người điềm đạm, ít nói mà có lúc cũng lên giọng: ‘- Xin lỗi! Ông chờ một chút! Chưa tới phiên mà!’ Ðứng trước tôi là một cô gái rất đẹp, mặc đầm, áo sơ mi trắng, jupe soirée màu xanh đậm, tóc xõa mượt mà ngang vai. Nhìn thoáng qua đã thấy có cảm tình. Cô ta ôm một chồng sách trên tay, cao gần tới cổ, có hơn 10 cuốn sách dày, bìa cứng. Khách mua hàng càng chen lấn, cô càng xoay xở khó khăn. Ðứng đợi lâu quá có lẽ mỏi tay, nên cô gái đặt chồng sách. Người bán hàng ngó cô, cô mỉm cười lấy lòng, chớ không nói một lời…” (2)


Ngay nhà văn Bình Nguyên Lộc, một tên tuổi hàng đầu của văn giới Nam bộ, trong truyện ngắn nổi tiếng “Rừng mắm,” mở đầu truyện, tuy có mô tả cảnh vật, nhưng ông cũng chỉ mô tả một cách giản dị, dễ hiểu, tựa như văn nói:


“Chim đang bay lượn bỗng đứng khựng lại, khiến thằng Cộc thích chí hết sức. Nó theo dõi con chim thầy bói ấy từ nãy đến giờ, chờ đợi cái giây phút nầy đây.


Thật là huyền diệu sự đứng yên được một chỗ trên không trung, trông như là chim ai treo phơi khô ngoài sân nhà.


Chim thầy bói nghiêng đầu dòm xuống mặt rạch giây lát rồi như bị đứt dây treo, nó rớt xuống nước mau lẹ như một hòn đá nặng. Vừa đụng nước, nó lại bị bắn tung trở lên như một cục cao su bị tưng, mỏ ngậm một con cá…” (Sđd. Trang 13) (3)


Cũng vậy, về nội dung, các nhà văn Nam bộ tuồng không hề nêu ra trong văn chương của họ, những tình huống tâm lý trầm trọng, hiểm hóc, xa rời thực tế. Họ cũng không mấy bận tâm về những vấn đề có tính cách triết lý, siêu hình như “Thượng đế đã chết” (?)Một đại ngôn của triết gia F. Nietzsche. Hoặc “địa ngục ta là kẻ khác,” một câu văn gây chấn động một thời của cha đẻ thuyết hiện sinh Jean Paul Sartre.


Vấn đề của các nhà văn Nam bộ là đem mọi hoạt cảnh đời sống hàng ngày của đám đông vào văn chương. Ngọn hải đăng cho cõi văn chương của họ, thường không ra ngoài những tiêu chí căn bản như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Cộng thêm tinh thần hào hiệp, giúp người sa cơ, nâng đỡ người kẻ thất thế… vốn là truyền thống của người dân miền Nam. Vì thế, kết thúc truyện ngắn hay truyện dài của họ, thường mang thông điệp nhắc nhở, răn dạy người đọc ăn ở hiền lương, cao thượng…










Nhà văn Sơn Nam và thủ bút.


Tính chất không cầu kỳ, không bí hiểm của dòng văn chương miền Nam 20 năm trước đây, cũng phản ảnh rõ nét trong thi ca nhiều tác giả như:


“chiều nay bất chợt cơn mưa đổ xuống


may mắn anh tìm được mái hiên nhỏ nhắn trú mưa…”


(Trương Ðạm Thủy, “Mái Hiên Mưa,” hợp tuyển “Bến Tâm Hồn: Tôi còn kỷ niệm,” trang 78. Thanh Niên XB. Saigon 2009) (4)


Hay:


“Ồ thích quá! Linh hồn ta cao ngất


Và không gian nhỏ lại gấp trăm lần.”


(Tâm Ðạm, “Say Xuân.” Sđd. Trang 21.) (5)


Hoặc:


“Buổi sáng nào nhẹ giọt sương tan


em mặc áo vàng màu vua chúa,


buổi trưa nào nắng đổ


mặt trời vàng thêu áo lụa em bay.”


(Thiên Hà, “Hạ vàng.” Sđd. Trang 96) (6)


Hoặc nữa:


“Ong bầu vờn đọt mù u


Lấy chồng càng sớm, tiếng ru càng buồn.”


(Kiên Giang, “Quê hương thơ ấu.” Sđd. Trang 126) (7)


Tôi trộm nghĩ, có dễ vì đặc tính không cầu kỳ, không bí hiểm, xa rời quần chúng, nên dòng văn chương Nam bộ là mạch ngầm ăn sâu, bám rễ bền chặt trong sinh hoạt tinh thần của đại đa số người dân miền Nam. Và, giá trị lớn lao của nó, ở chính chỗ đó.


Du Tử Lê,


16 tháng 7, 2012


 


Chú thích:


(1) Nhà văn Sơn Nam, tên thật Trương Minh Tài (khai sinh ghi Tầy) sinh năm 1926 tại Rạch Giá, mất năm 2008 ở Saigon.


(2) Nhà văn Ngọc Linh, tên thật Dương Ðại Tâm, sinh năm 1931 tại Cà Mau, mất năm 2002 ở Saigon.


(3) Nhà văn Bình Nguyên Lộc, tên thật Tô Văn Tuấn, sinh năm 1915 tại Biên Hòa, mất năm 1987 tại Hoa Kỳ.


(4) Nhà thơ Trương Ðạm Thủy, tên thật Trương Minh Hiếu, sinh năm 1940 tại Bến Tre.


(5) Nhà thơ Tâm Ðạm/Dương Trữ La, tên thật Dương Ngọc Lạc, sinh năm 1937 tại Gia Ðịnh, mất năm 2000 ở Saigon.


(6) Nhà thơ Thiên Hà, tên thật Dương Cao Thâm, sinh năm 1941 tại Cà Mau. Ông hiện chủ trương hợp tuyển “Bến Tâm Hồn,” đăng tải thơ, văn, họa của những người nổi tiếng trước thời điểm 1975.


(7) Nhà thơ Kiên Giang, tên thật Trương Khương Trinh sinh năm 1928 tại Rạch Giá.

Cháu Nguyễn Thanh Sơn

Cháu Nguyễn Thanh Sơn

Tin mới cập nhật