Anh Sinh em cậu Nghĩa Hynos. Anh nhận tin gọi con gái Dì Tám, AL (714) 335-6213; (714) 335-6310.
Anh Sinh em cậu Nghĩa Hynos. Anh nhận tin gọi con gái Dì Tám, AL (714) 335-6213; (714) 335-6310.
LTS – Ông Kiều Duy Vĩnh là một trong những chứng nhân của sự độc ác cùng cực của cai tù CSVN tại nhà tù “Cổng Trời” tỉnh Hà Giang. Ông mất ở Việt Nam ngày 7/7/2012 vừa qua, thọ 81 tuổi. Ông từng tốt nghiệp Võ Bị cùng khóa với ông Nguyễn Cao Kỳ, là đại úy tiểu đoàn trưởng Nhảy Dù. Năm 1954 ông đã không theo đơn vị di cư vào Nam vì lý do gia đình. Ông đã bị bỏ tù hai lần 17 năm trong đó có nhiều năm ông bị giam ở “Cổng Trời,” nơi ông và một người nữa (ông Nguyễn Hữu Ðang trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm) sống sót trong số 72 người tù ở cùng một phân trại. Ông kể lại những ngày tù ở “Cổng Trời” qua các hồi ký từng phổ biến trên tạp chí Thế Kỷ 21 cách đây hơn chục năm. Trong các hồi ký này, ông kể về sự kiên cường giữ vững niềm tin tôn giáo của các giáo dân, tu sĩ và linh mục công giáo mà ông gọi là “các Thánh Tử Ðạo.”
Kỳ 4
Buổi sáng hôm ấy, chín giờ, mọi người chúng tôi ăn cơm xong, ngồi chơi, nhìn nhau, thì cửa mở. Một tiểu đội lính lưỡi lê tuốt trần súng ống chỉnh tề. Ðủ mặt bá quan của Khu A2. Quản giáo trực, giáo dục, phó giám thị phụ trách khu.
Tất cả đều đội mũ bình thiên, lệ phục chỉnh chu. Cuối cùng, giám thị mới xuất hiện. Còn trẻ, nhanh nhẹn mặt mũi sáng sủa, ăn nói lưu loát, sang sảng, dứt khoát, có âm sắc Nam Hà (có điều cho mãi đến tận bây giờ tôi vẫn chưa hiểu nỗi, là tại sao trong chuỗi ngôn từ chính quy, nhân danh pháp luật mà giám thị mới lại xen vào đó một số từ mà người ta chỉ dùng để nói láo với nhau mà thôi).
Bài nói như sau:
“Hôm nay, tôi Nguyễn Quang Sáng. Chánh giám thị mới của trại, thông báo để các anh rõ.
Trại Cổng Trời, Công Trường 25A Hà Nội này là một trại đặc biệt. Trại đã sàng lọc cẩn thận lũ các anh, bọn đầu trâu trán khỉ, bọn phản động chống phá cách mạng một cách điên cuồng, ở các trại dưới các anh không chịu cải tạo, lại còn ra sức truyền đạo và kích động người khác. Chúng tôi đây, chúng tôi cũng được chọn lọc, những phần tử ưu tú nhất, dầy dạn nhất, kinh nghiệm nhất để lên đây trừng trị, trấn áp lũ các anh. Tôi thay mặt cho ban giám thị báo cho các anh biết:
Ban giám thị trại Cổng Trời trực tiếp được Bộ Chính Trị và Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội trao cho quyền hành đặc biệt: Trừng trị thẳng tay những kẻ nào còn dám chống lại đảng và nhà nước. Cụ thể, tôi nhấn mạnh, là tôi sẽ cho đi ngủ với giun (nguyên văn) những kẻ nào không chịu cải tạo và cố tình chống đối lại.
Hôm nay tôi xuống đây để hỏi: Anh Ðỗ Bá Lung.”
Im lặng.
“Tôi hỏi: anh Ðỗ Bá Lung có nghe thấy không?”
Có tiếng đáp nhỏ nhẹ: “Có tôi.”
“Ðứng dậy. Tôi bảo anh đứng dậy.”
Vì buồng giam chật, không có chỗ cho chúng tôi đứng, nên chúng tôi đều ngồi xổm hoặc xếp chân vòng tròn trên giường chỗ gần cửa ra vào. Chỉ có giám thị, quản giáo là có chỗ đứng ngay cửa mà thôi. Tu sĩ Ðỗ Bá Lung từ từ đứng dậy.
Trời rét âm bốn độ, nên trong lúc ngồi nghe chúng tôi ai nấy đều quàng chăn cho khỏi rét.
“Bỏ chăn ra.”
Tu sĩ Lung tuột chăn khỏi vai cho rơi xuống chân mình.
“Anh Ðỗ Bá Lung, hôm nay, sau khi đọc hồ sơ của anh, cùng các nhận xét của các ban giám thị các trại dưới, và được các ông quản giáo báo cáo lại, thấy rằng: Anh là một tên phản cách mạng cực kỳ nguy hiểm, đã đội lốt thầy tu mê hoặc các giáo dân ở các xứ đạo, kích động họ để họ chống lại đảng và chính phủ.
Ðến khi bị bắt vào tù, ở các trại dưới cũng như ở đây, anh vô cùng ngoan cố khăng khăng không chịu cải tạo, từ chối mọi sự giáo dục của ban giám thị và các ông quản giáo. Tôi nói lại một lần nữa cho anh Ðỗ Bá Lung và các anh nghe cho rõ. Kẻ nào còn dám chống lại tôi sẽ cho đi ngủ với giun.
Anh Lung, trước đây lúc nào anh cũng vỗ ngực tuyên bố trước giáo dân và các ban giám thị ở các trại dưới là anh thề không đội trời chung với Cộng sản. [Chính xác thì Tu sĩ Lung nói: Tôi không bao giờ có thể sống chung với Cộng Sản vô thần được]. Bây giờ trước mặt tôi anh có còn dám trắng trợn thách thức như thế nữa không?”
Im lặng trên toàn bộ nhà mồ. Tôi ngồi im một xó, khép kín cái chăn, sụp cái mũ bịt tai lại, tránh mọi cặp mắt.
Giám thị Sáng cao giọng hất hàm:
“Tôi hỏi anh Lung, anh trả lời cho tôi biết. Thế nào?”
Những phút giây này Thần Chết đã có mặt. Người ta thường viết như thế này về những người Cộng Sản trước khi chết: Vào những phút giây này người Cộng Sản kiên cường bao giờ cũng đứng dậy hô to: “Ðảng Cộng Sản muôn năm. Hồ Chủ Tịch muôn năm.” Phút giây thiêng anh đứng dậy ba lần và hô ba lần hô dõng dạc như thế.
Tôi chờ. Tôi chờ. Và thấy tu sĩ Ðỗ Bá Lung ngẩng đầu:
“Tôi có nói như thế và bây giờ tôi vẫn nói như thế.”
Tiếng quát bật ra giận dữ:
“Lôi nó đi.”
Không để ai phải lôi kéo cả.
Tu sĩ Lung từ từ bước ra khỏi giường. Ði ra cửa.
Hàng lưỡi lê giãn ra. Quản giáo, giám thị giãn ra để cho tu sĩ đi. Ðến gần cửa tu sĩ quay lại, móc túi lấy gói thuốc lào, mấy đồng bạc “âm phủ” trao lại cho người ngồi gần. Vì tôi nằm cạnh tu sĩ, nên tu sĩ quay lại phía tôi: “Anh Vĩnh, tôi còn mấy viên thuốc cảm, và cái gối để ở đầu giường, lấy mà dùng.”
Và hướng vào tất cả mọi người trong nhà mồ, tu sĩ nói nhỏ nhẹ:
“Thôi chào các bác, các anh ở lại. Tôi đi.”
Và tu sĩ đi. Cửa sập lại.
Chúng tôi im lặng ngồi nhìn nhau không ai nói với ai một lời. Thần Chết đến và đã đi. Lần này ầm ĩ hơn, có nghi lệ hơn, có bài bản hơn những lần trước.
*
Gần ba tháng sau, Nguyễn Hữu Ðang, “tên cầm đầu bọn Nhân Văn Giai Phẩm” đến gần cửa sổ khu tôi ở. Anh là người độc nhất ở đây được đưa cơm vào xà lim, được đi lại tự do trong bốn bức tường, anh là người được ăn no, đủ muối mắm, thậm chí được mua cả thịt trâu và được hái hoa rừng cài vào cửa sổ. Có lần anh cầm một bó hoa nghệ và bảo tôi: Này Vĩnh, cậu ngửi mà xem có đúng mùi nước hoa Bain de Champagne không.
Tôi vốn không ưa cái mùi ung ủng của thứ nước hoa thượng hảo hạng đó. Nhưng anh Nguyễn Hữu Ðang thì anh rất thích cái mùi nước hoa Bain de Champagne đó. Lại có lần qua cửa sổ vào buổi sáng sớm, anh dúi cho tôi một cái bánh sắn to có nhân thịt trâu.
Chao ôi là chao ôi.
Thỉnh thoảng lúc vắng quản giáo và lính canh anh đứng cạnh cửa sổ nói với tôi dăm ba câu chuyện tào lao. Anh được thả lỏng, được ưu đãi có lẽ do cái người cắp cái cặp đen hôm đưa đoàn tù lên. Anh bảo với tôi rằng ông ta tên là Vệ, hình như làm cục phó Cục Quản Lý trại giam. Hồi xưa trước năm 1945, khi anh làm tổng thư ký Hội Truyền Bá Quốc Ngữ với cụ Nguyễn Văn Tố, anh có làm ơn cho ông ta một điều gì đó. Ðến giờ ông ta tử tế đáp lệ lại. Chắc là thế.
Anh luôn bảo, anh không có tội gì cả. Nếu có – theo anh – thì đó chỉ là một sự hiểu lầm về thời gian và không gian trong triết học mà thôi. Anh nói ấm ớ lững lờ và khó hiểu như vậy.
Ba tháng sau, lúc đưa cơm xà lim xong anh đáo qua cửa sổ tôi và bảo:
“Này, cái lão Lung ấy mà. Vẫn chưa chết. Sống dai thế. Không có chăn, không có quần áo ấm để chống rét cơ thể mọc đầy lông cậu ạ. Chỉ còn đôi mắt là vẫn sáng vẫn sống thôi.”
Viên Linh
Mỗi sinh nhật tôi lại nhớ đến bài thơ ấy của Cung Trầm Tưởng. Mỗi đêm mưa tôi lại đọc bài thơ ấy của Cung Trầm Tưởng. Ðó là mùa mưa Sài Gòn. Ðó là Sài Gòn của chúng tôi.

Cung Trầm Tưởng, cầm lá sớ thơ, và Viên Linh tại trụ sở Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại trên đường Bolsa, quận Cam, 1992. (Hình: Phan Diên)
Ðó là những năm cuối thập niên ’50, những năm của Hiện sinh, của bản ngã, của đời sống thanh niên thành phố vừa vào tuổi hai mươi, của những đêm khuya ngã tư đèn vàng, những đầu tháng tạp chí văn chương. Của khói thuốc và sách vở. Của những buổi hẹn hò ở một góc sân trường; những cuộc tiễn đưa nơi sân ga bến buýt. Của vào đời và tan tác.
Mưa rơi đêm lạnh Sài Gòn
Mưa hay trời khóc đêm tròn tuổi tôi.
Mưa hay trời cũng thế thôi
Ðời nay biển lạnh mai bồi đất hoang.
Hồn tu kín xứ đa mang
Sớm hao tâm thể chớm vàng lượng xuân.
Niềm tin tay trắng cơ bần
Cuối hoàng hôn lịm bóng thần tượng xưa.
Ðêm nay trời khóc trời mưa
Gió lùa ẩm đục trời đưa thu về
Trời hay thu khóc ủ ê
Cổ cao áo kín đi về đường tôi.
(Ðêm Sinh Nhật, Cung Trầm Tưởng)
Ðó là chúng tôi. Ðó là Sài Gòn của chúng tôi, những năm đầu của cuộc vận động đổi mới chữ nghĩa, – dăm ba thần tượng sụp đổ, một vài trường phái manh nha. Chúng tôi ghi nhận trong bất cứ cuộc vận động nào, thơ đi trước. Thơ bao giờ cũng đi trước; thi sĩ là kẻ tiền-hô. Có bao giờ chưa, một cuộc vận động văn học thi sĩ lại không ở hàng đầu? Một biến động thời thế thi sĩ lại không biến đổi trước nhất? Giữa thập niên ’20 Phan Khôi là người phá thể [với bài thơ Tình Già]. Ðầu thập niên ’30 Ðoàn Phú Tứ là kẻ xoay vần [với nhóm Xuân Thu Nhã Tập]. Ðể hình thành nền Thơ Mới. Ra ngoài đất nước, cũng chính là thơ trước nhất đã dựng lại một nền văn học. Vũ Khắc Khoan làm thơ. Mặc Ðỗ làm thơ. Võ Phiến làm thơ. 1975, những nhà văn phải làm thơ. Ðương nhiên các thi sĩ không làm gì khác là làm thơ. Trong khi các nhà văn phải làm thơ vì biến động trước mắt thì các thi sĩ đã làm thơ rồi, vì biến động đã ở dưới chân thi sĩ, từ lâu, trên các nẻo đường xuôi ngược của thi sĩ, không ngừng.
Không biết làm thơ, vào trong tù, ai cũng có thể làm thơ. Thế thì khi thi sĩ vào tù, thi sĩ thường thường ở tù lâu hơn các ông tướng, và các thứ. Vào tù binh tướng bị lột khí giới; vào tù, khí giới của thi sĩ còn nguyên. Bạn tôi cũng vậy. Cung Trầm Tưởng cũng vậy, trước sau gì cũng vẫn làm thơ. Ở ngoài đời là một tay làm thơ. Tựa bên phải thì làm thơ bằng tay phải; tựa bên trái thì làm thơ bằng tay trái. Vào tù, hai tay bị còng, thì có “Lời Viết Hai Tay.”** [**nhan đề một thi phẩm của CTT.] Từ cuối thập niên ’50 trở đi, Lục Bát Việt Nam không bao giờ còn như xưa nữa. Hình sắc, âm điệu, ngôn ngữ của hai dòng 6-8 đó – như một thôn nữ khăn vuông mỏ quạ váy quai cồng của đồng chiêm lúa mùa nhiều thế kỷ trước chốn Phong Châu – hiện thành Vệ Nữ và Hoàng hậu, hiển lộng và rực rỡ – nhưng lại có chút man dại của bản năng và nhịp thở phố xá, qua thơ Cung Trầm Tưởng.
Ðến anh thì đến hôm nay
Lỡ mai gió giật chở đầy mưa qua
Ðến anh thân thể lụa là
Dài đuôi con mắt ngắn tà váy kiêu
Ðến anh lưng thắt chiết yêu
Sểnh tâm phá giới con diều ái ân
Chờ em anh để râu xanh
(Râu Xanh, Cung Trầm Tưởng)
Trước 1975. Một hôm Cung Trầm Tưởng đến tòa soạn Tạp chí Thời Tập của tôi trên đường Nguyễn Trãi Chợ Lớn rủ tôi đi Cần Thơ dự Ðêm Con Ðuông. Con đuông là một thứ Nhộng của xứ dừa, họa sĩ Ngy Cao Uyên ở Cần Thơ lấy tên Con Ðuông đặt tên cho nhà xuất bản của anh, in ra những tập thơ mỏng, bìa là một họa phẩm nguyên tác nhỏ bằng lòng bàn tay; “Lục Bát Cung Trầm Tưởng” được in ra trong khuôn khổ này. Tôi còn nhớ chuyến bay chỉ có 4 người, kể cả phi công. Khi chiếc Bà Già bay trên ruộng rừng đất nước, nhìn ngắm những hố bom B.52 phía dưới, chúng tôi nói về những tàn phá của cả thù lẫn bạn. Rồi cũng không quên nói về thơ. Ðêm ấy trên những chiếc giường sắt trong căn cứ Không đoàn Vận tải (mà ông họa sĩ chủ trì là trung tá chỉ huy trưởng), chúng tôi nói về màu sắc trong thơ.
1992. Nhớ Cung Trầm Tưởng, không có việc gì, với tấm bản đồ thành phố Paris trong tay, tôi đã lên một con tàu và bước xuống một sân ga: “Ga Lyon đèn vàng”. Sau này qua điện thoại, tôi kể anh nghe tôi xuống sân ga đó không phải để kiểm chứng xem bạn ta có phải là người đi xa về rồi nói chuyện linh tinh hay không, như ở ga Lyon đèn trắng lại nói nó đèn vàng hay không, mà tôi xuống đó, để đứng ở ga Lyon và ngó lên mấy ngọn đèn, nhớ bạn, và đọc thơ bạn và hát nhạc Phạm Duy ở đấy. “Lên xe tiễn em đi, chưa bao giờ buồn thế.” Ngược lại, cũng qua điện thoại, Cung Trầm Tưởng thuật lại tôi nghe khi còn ở Sài Gòn, sau 10 năm ở tù cộng sản ra, đang lóng ngóng chuyện rời bỏ quê hương, thì nghe tôi nói về anh và về Thơ Lục Bát của chúng tôi trên đài Radio France International. Bài nói trên đài RFI ấy chính là trong cái dịp tôi bước xuống ga Lyon vào năm 1992 đó. [Dường như là do Thụy Khuê phỏng vấn.] Và ở hai phía địa cầu, như thế, cái tiếng Lục và cái tiếng Bát mà chúng tôi làm ra, chúng tôi ngâm lên, đã cùng được nghe thấy, trong một phút một giây của thời gian thật:
Hồn tôi cái đĩa thâu thanh
Tròn nguyên nét nhạc trung thành ý ca
Ðồ rê mi phá sol la
Ngẫm từng âm điệu nghe ra trời buồn.
“Cơ bản, Thơ vượt lịch sử.” Cung Trầm Tưởng nói. Tôi đồng ý. Lịch sử vốn tái diễn không ngừng, thơ vốn hồi sinh cùng thi sĩ. Lịch sử lập lại. Thơ không lập lại. Thơ xướng danh lịch sử và sang vòng chuyển hóa mới. Hiện tại của lịch sử là nhà tù: Tập thơ “Lời Viết Hai Tay” là dĩ vãng của thi sĩ.
Viên Linh, Lời bạt cho thi phẩm của Cung Trầm Tưởng, 1992
Bổ sung 2012
Du Tử Lê
(Tiếp theo và hết)
Nói tới văn chương Nam bộ, là nói tới chiếc chìa khóa căn bản của dòng văn chương này như ngôn ngữ và, văn phong đặc thù. Nhưng sự khác biệt giữa hai dòng văn chương Nam bộ và miền Bắc di cư, không chỉ nằm nơi những vận hành tự nhiên của ngôn ngữ, biểu thị những mô tả, tình cảm, ưu tư của con người trong cuộc sống, cái chết.
Nhà văn Bình Nguyên Lộc.

Cụ thể như, nếu dòng văn chương miền Bắc, về hình thức, mưu cầu đạt tới những kỹ thuật mới mẻ, tân kỳ; mô phỏng theo những trào lưu văn học Tây phương, từ lãng mạn qua tới tượng trưng, siêu thực hoặc cận đại hơn như trào lưu tiểu-thuyết-mới, hay phong trào văn chương hậu-hiện-đại, thì các nhà văn Nam bộ dường chỉ bận tâm về hiệu quả chuyển đạt hay sự tương thông dung dị, gần gũi giữa nhà văn và người đọc mà thôi.
Một trong những nhà văn Nam bộ, nổi tiếng trong 20 năm Văn Học Miền Nam là Sơn Nam. Ông có một truyện ngắn rất phổ biến, nhan đề “Tình nghĩa giáo khoa thư”. Chuyện kể chuyện phái viên một tờ báo ở Saigon, lặn lội về một xã nhỏ thuộc tỉnh Rạch Giá, để tìm một độc giả đã thiếu tòa soạn tới 6 tháng tiền báo dài hạn. Tác giả ghi lại phần mô tả của ông xã trưởng về nhân vật được tìm kiếm như sau:
“…Anh ta nói có dây có nhợ, tích người học trò nghèo tên là người Thừa Cung gì đó… chăn heo; ông quan đại thần Lý Tích đích thân nấu cháo cho chị ăn dè đâu bị lửa táp cháy râu. Chưa hết đâu, thầy phái viên ơi! Hễ gặp ai say rượu anh ta nói một hơi như thầy chùa tụng kinh, có ca có kệ. Cái gì mà các anh hãy trông người kia đi ngoài đường, mặt đỏ gay, mắt lờ đờ…” Thầy phái viên cười lớn, nhịp mạnh tay xuống bàn ba bốn lần như đánh trống chầu hát bội, đôi mắt sáng ngời, chân nhảy nhót như con nít: “- Hay quá! Hay quá! Tôi thăm ông độc giả đó mới được. Ổng làm thầy giáo hả thầy? Nhờ thầy đưa tôi đi tới gặp mặt. Ngộ quá hen! Ừ! Ừ!” (Trích “Những truyện ngắn hay nhất của quê hương ta,” trang 508, Sóng XB, Saigon 1974.) (1)
Cả đoạn văn người đọc không thấy một so sánh hay liên tưởng tân kỳ nào, ngoài những hình ảnh và, những ngôn từ rặc chất Nam bộ.
Lại nữa, các nhà văn Nam bộ tuồng cũng không chú tâm lắm tới phần tả cảnh (nhất là với các truyện ngắn). Ða số chỉ chú trọng những chi tiết về nơi chốn, dữ kiện cụ thể, hầu giúp người đọc cảm nhận câu chuyện được kể là có thật. Thí dụ truyện ngắn “Chuyện tình” của nhà văn nổi tiếng Ngọc Linh, với hình thức nhập đề trực-khởi:
“Tôi cầm hai quyển tiểu thuyết ‘Cuốn theo chiều gió’, sắp hàng đứng trước quầy thu tiền và xếp lá phiếu ghi giá lên quầy theo thứ tự, chờ tới phiên mình trả tiền. Hôm nay sắp bãi trường, nhà sách Khai Trí thật là đông. Mọi người đứng chen chân với nhau để lựa sách. Bà chủ vốn là người điềm đạm, ít nói mà có lúc cũng lên giọng: ‘- Xin lỗi! Ông chờ một chút! Chưa tới phiên mà!’ Ðứng trước tôi là một cô gái rất đẹp, mặc đầm, áo sơ mi trắng, jupe soirée màu xanh đậm, tóc xõa mượt mà ngang vai. Nhìn thoáng qua đã thấy có cảm tình. Cô ta ôm một chồng sách trên tay, cao gần tới cổ, có hơn 10 cuốn sách dày, bìa cứng. Khách mua hàng càng chen lấn, cô càng xoay xở khó khăn. Ðứng đợi lâu quá có lẽ mỏi tay, nên cô gái đặt chồng sách. Người bán hàng ngó cô, cô mỉm cười lấy lòng, chớ không nói một lời…” (2)
Ngay nhà văn Bình Nguyên Lộc, một tên tuổi hàng đầu của văn giới Nam bộ, trong truyện ngắn nổi tiếng “Rừng mắm,” mở đầu truyện, tuy có mô tả cảnh vật, nhưng ông cũng chỉ mô tả một cách giản dị, dễ hiểu, tựa như văn nói:
“Chim đang bay lượn bỗng đứng khựng lại, khiến thằng Cộc thích chí hết sức. Nó theo dõi con chim thầy bói ấy từ nãy đến giờ, chờ đợi cái giây phút nầy đây.
Thật là huyền diệu sự đứng yên được một chỗ trên không trung, trông như là chim ai treo phơi khô ngoài sân nhà.
Chim thầy bói nghiêng đầu dòm xuống mặt rạch giây lát rồi như bị đứt dây treo, nó rớt xuống nước mau lẹ như một hòn đá nặng. Vừa đụng nước, nó lại bị bắn tung trở lên như một cục cao su bị tưng, mỏ ngậm một con cá…” (Sđd. Trang 13) (3)
Cũng vậy, về nội dung, các nhà văn Nam bộ tuồng không hề nêu ra trong văn chương của họ, những tình huống tâm lý trầm trọng, hiểm hóc, xa rời thực tế. Họ cũng không mấy bận tâm về những vấn đề có tính cách triết lý, siêu hình như “Thượng đế đã chết” (?)Một đại ngôn của triết gia F. Nietzsche. Hoặc “địa ngục ta là kẻ khác,” một câu văn gây chấn động một thời của cha đẻ thuyết hiện sinh Jean Paul Sartre.
Vấn đề của các nhà văn Nam bộ là đem mọi hoạt cảnh đời sống hàng ngày của đám đông vào văn chương. Ngọn hải đăng cho cõi văn chương của họ, thường không ra ngoài những tiêu chí căn bản như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Cộng thêm tinh thần hào hiệp, giúp người sa cơ, nâng đỡ người kẻ thất thế… vốn là truyền thống của người dân miền Nam. Vì thế, kết thúc truyện ngắn hay truyện dài của họ, thường mang thông điệp nhắc nhở, răn dạy người đọc ăn ở hiền lương, cao thượng…
Nhà văn Sơn Nam và thủ bút.

Tính chất không cầu kỳ, không bí hiểm của dòng văn chương miền Nam 20 năm trước đây, cũng phản ảnh rõ nét trong thi ca nhiều tác giả như:
“chiều nay bất chợt cơn mưa đổ xuống
may mắn anh tìm được mái hiên nhỏ nhắn trú mưa…”
(Trương Ðạm Thủy, “Mái Hiên Mưa,” hợp tuyển “Bến Tâm Hồn: Tôi còn kỷ niệm,” trang 78. Thanh Niên XB. Saigon 2009) (4)
Hay:
“Ồ thích quá! Linh hồn ta cao ngất
Và không gian nhỏ lại gấp trăm lần.”
(Tâm Ðạm, “Say Xuân.” Sđd. Trang 21.) (5)
Hoặc:
“Buổi sáng nào nhẹ giọt sương tan
em mặc áo vàng màu vua chúa,
buổi trưa nào nắng đổ
mặt trời vàng thêu áo lụa em bay.”
(Thiên Hà, “Hạ vàng.” Sđd. Trang 96) (6)
Hoặc nữa:
“Ong bầu vờn đọt mù u
Lấy chồng càng sớm, tiếng ru càng buồn.”
(Kiên Giang, “Quê hương thơ ấu.” Sđd. Trang 126) (7)
Tôi trộm nghĩ, có dễ vì đặc tính không cầu kỳ, không bí hiểm, xa rời quần chúng, nên dòng văn chương Nam bộ là mạch ngầm ăn sâu, bám rễ bền chặt trong sinh hoạt tinh thần của đại đa số người dân miền Nam. Và, giá trị lớn lao của nó, ở chính chỗ đó.
Du Tử Lê,
16 tháng 7, 2012
Chú thích:
(1) Nhà văn Sơn Nam, tên thật Trương Minh Tài (khai sinh ghi Tầy) sinh năm 1926 tại Rạch Giá, mất năm 2008 ở Saigon.
(2) Nhà văn Ngọc Linh, tên thật Dương Ðại Tâm, sinh năm 1931 tại Cà Mau, mất năm 2002 ở Saigon.
(3) Nhà văn Bình Nguyên Lộc, tên thật Tô Văn Tuấn, sinh năm 1915 tại Biên Hòa, mất năm 1987 tại Hoa Kỳ.
(4) Nhà thơ Trương Ðạm Thủy, tên thật Trương Minh Hiếu, sinh năm 1940 tại Bến Tre.
(5) Nhà thơ Tâm Ðạm/Dương Trữ La, tên thật Dương Ngọc Lạc, sinh năm 1937 tại Gia Ðịnh, mất năm 2000 ở Saigon.
(6) Nhà thơ Thiên Hà, tên thật Dương Cao Thâm, sinh năm 1941 tại Cà Mau. Ông hiện chủ trương hợp tuyển “Bến Tâm Hồn,” đăng tải thơ, văn, họa của những người nổi tiếng trước thời điểm 1975.
(7) Nhà thơ Kiên Giang, tên thật Trương Khương Trinh sinh năm 1928 tại Rạch Giá.
Việt Nam
Cộng đồng/Ðịa phương
Hoa Kỳ
Thế giới
HÀ NỘI (NV) – Trung tá công an Nguyễn Văn Ninh, người đánh chết ông Trịnh Xuân Tùng, chỉ bị y án sơ thẩm là 4 năm tù giam trong phiên tòa phúc thẩm tại Tòa Án Tối Cao ở Hà Nội vào hôm 17 Tháng Bảy.
Gia đình nạn nhân Trịnh Xuân Tùng trước khi đến tòa án tham dự phiên phúc thẩm xử bị cáo Nguyễn Văn Ninh. (Hình: Dân Làm Báo)
Phiên tòa này từng dự định mở vào ngày 14 Tháng Năm nhưng đã hoãn vào phút chót ‘với lý do không triệu tập đủ nhân chứng’.
Bị cáo Nguyễn Văn Ninh là công an phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
Vì không đội mũ bảo hiểm, ông Trịnh Xuân Tùng bị công an và dân phòng bắt về đồn công an và Nguyễn Văn Ninh đánh gãy cổ ông Tùng khiến ông thiệt mạng vào ngày 28 Tháng Hai năm 2011.
Sau một thời gian dài im lặng, phiên tòa sơ thẩm diễn ra vào Tháng Giêng năm 2012 tại tòa án thành phố Hà Nội và tuyên bản án 4 năm tù đối Trung Tá Nguyễn Văn Ninh với tội danh “Làm chết người trong khi thi hành công vụ”.
Bản án dành cho Nguyễn Văn Ninh trong phiên tòa phúc thẩm lần này được coi là quá nhẹ. Cô Trịnh Kim Tiến, con gái ông Trịnh Xuân Tùng, cho hay, phiên tòa này là quá bất công với gia đình cô và bản án đã được dàn dựng sẵn.
Ngoài Trung Tá Nguyễn Văn Ninh lãnh án 4 năm tù giam, những kẻ liên quan trong vụ đánh chết ông Trịnh Xuân Tùng đều không bị truy tố. (K.N.)
Long có người chị tên Ngô Thị Kim Oanh. Trước năm 1990 ở Fullerton.
Ðọc được tin này gọi Gioan Vo (509) 948-1299.
ÐÀ NẴNG (NV) – Nhà cầm quyền thành phố Ðà Nẵng hôm 17 Tháng Bảy công bố việc cho thành lập ‘Chi cục Biển và Hải đảo’ trong bối cảnh đang có căng thẳng trên biển Ðông giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Từ vùng biển dưới chân bán đảo Sơn Trà nhìn về TP. Ðà Nẵng. (Hình: ‘Infonet.vn’)

Ngoài vị trí địa địa lý giáp với biển Ðông, thành phố Ðà Nẵng, về mặt hành chính, quản lý quần đảo Hoàng Sa, dù quần đảo này bị Trung Quốc cướp của Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1974.
Trang mạng ‘Infonet.vn’ cho hay chi cục này “là tổ chức hành chính trực thuộc Sở Tài Nguyên Môi Trường, có chức năng giúp giám đốc Sở Tài Nguyên Môi Trường tham mưu cho Ủy Ban Nhân Dân thành phố Ðà Nẵng thực hiện chức năng quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất quản lý các vấn đề về biển, đảo trên địa bàn”.
Bản tin nói thêm, chi cục này ‘đồng thời chịu sự hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Tổng Cục Biển và Hải Ðảo Việt Nam thuộc Bộ Tài Nguyên Môi Trường’.
Thành phố Ðà Nẵng thời gian vừa qua đã có nhiều hành động nhằm khẳng định chủ quyền biển đảo. Gần đây nhất, hồi đầu tháng 7, thành phố này đưa ra nghị quyết phản đối Trung Quốc thành lập thành phố Tam Sa trong kỳ họp Hội Ðồng Nhân Dân.
Riêng bí thư thành ủy Nguyễn Bá Thanh cũng đưa ra lời lẽ cứng rắn rằng, “Nếu có bất cứ hành động xâm phạm lãnh thổ Việt Nam, chúng ta sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ sự toàn vẹn của tổ quốc.”
Trên vùng biển Ðà Nẵng, một phúc trình của Bộ Ðội Biên Phòng Ðà Nẵng cho hay, “Từ đầu năm đến nay đã có 198 tàu thuyền nước ngoài, chủ yếu là của Trung Quốc, xâm phạm lãnh hải Việt Nam tại vùng biển Ðà Nẵng.”
Căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc trên biển Ðông tiếp tục gia tăng, với việc gần đây nhất là Trung Quốc đưa 30 chiếc tàu đánh cá với sự hộ tống của tàu hải giám đến quần đảo Trường Sa để đánh bắt hải sản. (K.N.)
Ngô Nhân Dụng
Ông Ben S. Bernanke, chủ tịch Ngân Hàng Trung Ương Mỹ (hệ thống Dự Trữ Liên Bang, gọi là Fed) đang ra điều trần trước các ủy ban Quốc Hội Mỹ ngày hôm qua (Thượng Viện) và hôm nay (Hạ Viện). Thị trường chứng khoán khắp thế giới chờ nghe.
Sau khi báo động các nghị sĩ trong ủy ban ngân hàng Thượng Viện về tỷ lệ thất nghiệp còn nặng nề, ông Bernanke kêu gọi Quốc Hội hãy có những biện pháp kích thích kinh tế. Ông nhấn mạnh hai yếu tố đang ngăn cản sự phát triển kinh tế Mỹ là cuộc khủng hoảng ở Âu Châu và mối lo về chính sách của Quốc Hội.
Sau bài thuyết trình của ông Bernanke, chỉ số các thị trường chứng khoán ở Mỹ và trên thế giới đã tăng lên. Vì những hình ảnh bi quan ông nêu ra cho thấy Ngân Hàng Trung Ương Mỹ có thể sẽ bơm thêm tiền vào nền kinh tế (với biện pháp gọi là QE-3), vào Tháng Bảy, hoặc Tháng Tám, trong các phiên họp định kỳ của ủy ban chính sách tiền tệ (gọi tên là Ủy Ban Thị Trường), cho các xí nghiệp và người tiêu thụ có thể vay thêm tiền sử dụng.
Không cần nghe ông Bernanke, chúng ta cũng biết trạng kinh tế Mỹ hiện nay rất xấu. Tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức 8.2% không giảm. Số việc làm mới tạo ra còn thấp, trong ba tháng liền. Số hàng bán lẻ giảm sút trong hai Tháng Năm và Tháng Sáu; do đó nhiều người rất bi quan về tương lai.
Khi bi quan, chúng ta rất dễ nhìn cái gì cũng chỉ thấy điềm xấu. Thí dụ, khi đọc bản tin về công ty Boeing trúng mối thầu bán nhiều máy bay, một vị độc giả báo Người Việt viết: “Boeing có trúng thầu lớn cũng chẳng có lợi gì cho dân lao động Mỹ. Bởi vì tất cả các phụ tùng để sản xuất thành một chiếc phi cơ đều đặt làm tại Trung Quốc và các nước Á Châu vì giá nhân công ở Á Châu rẻ hơn sẽ mang nhiều lợi nhuận cho công ty…” Chắc nhiều người cũng chia sẻ các ý kiến bi quan này. Nhưng bi quan quá đáng thì không có căn cứ.
Dù các công ty Mỹ có đặt làm bộ phận ở nước ngoài, khi họ bán được hàng thì vẫn lợi lộc cho cả nền kinh tế Mỹ chứ không phải chỉ làm giàu cho công nhân Trung Quốc! Một cái máy bay có hàng vạn bộ phận, có thứ đắt, thứ rẻ. Thí dụ, trong chiếc máy bay mới Boeing 787 gọi là Dreamliner, công ty này đã đặt các xí nghiệp Ấn Ðộ làm hệ thống đèn trên sàn máy bay; một phần cánh máy bay làm ở Nhật Bản; cánh cửa máy bay và bộ phận bánh xe hạ cánh làm ở Pháp và Thụy Ðiển. Một số bộ phận cái đuôi làm ở Nam Hàn và Italy. Các bộ phận được đặt làm tại 50 quốc gia trên thế giới, vì ở đâu có đủ kỹ thuật và làm rẻ thì người ta đặt; nhưng cũng vì công ty Boeing muốn lấy lòng chính phủ các nước này, để sau sẽ bán hàng cho họ dễ hơn. Hiện đã có khách hàng đặt mua 800 cái Dreamliner dù nó chưa ra đời.
Cuối cùng thì các công ty như Boeing đã bán cái gì cho khách hàng, bên cạnh những bộ phận mua từ nước khác? Quan trọng nhất là họ bán một “sản phẩm trí óc” là bản họa đồ toàn thể chiếc máy bay. Nhờ khả năng “kỹ thuật hàng không” với kinh nghiệm lâu đời mà các công ty nước khác không địch được với Boeing, nên vẫn đem mối lợi lớn nhất về nước Mỹ. Trên thế giới bây giờ chỉ có công ty Air Bus của các nước Âu Châu là cạnh tranh ngang hàng với Boeing. Mà Air Bus cũng vừa mới quyết định đặt một xưởng sản xuất máy bay ở Mỹ, mặc dù nhiều nhà chính trị Pháp, Ðức phản đối rằng quyết định đó khiến cho công nhân nước họ mất việc làm, cho công nhân bên Mỹ hưởng! Chia một số việc cho người ngoại quốc làm, nhưng nhờ thế bán được máy bay, vẫn thêm việc làm cho nhiều người Mỹ. Mà những người làm việc ở Mỹ phụ trách các phần quan trọng, thiết yếu nhất, thì lãnh lương cao hơn gấp bội.
Trong việc chế tạo chiếc máy bay Boeing không thấy nói đến tên các nhà cung cấp bộ phận từ Trung Quốc. Nếu có thì chắc cũng là những thứ rất rẻ tiền, như vải bọc các chiếc ghế, hay những hộp để mắc áo cho nhân viên phi hành đoàn. Một thí dụ để so sánh, là trong một chiếc iPad của hãng Apple bán giá 500 đô la, thì chỉ có 8 đô la được trả cho người Trung Quốc khi lắp ráp. Chính hãng Apple thu về hơn 160 đô la, riêng cho giá trị của “sản phẩm trí tuệ” vì họ đã vẽ kiểu ra cái máy đó. Cho nên, chúng ta đừng hiểu lầm rằng cái gì người Mỹ cũng nhờ người Tàu làm, kiểu đem vàng đi đổ sông Ngô!
Kinh tế toàn cầu hóa là hiện tượng tự nhiên, mà những nước tiền tiến cũng có lợi chứ không phải chỉ có các nước nghèo mới được lợi. Ðiều mọi người không để ý là số xuất cảng của nền kinh tế Mỹ đang tăng lên một cách ngoạn mục, nhờ bán bán cho các nước kinh tế đang lên. Kể từ năm 2008 đến năm ngoái, số tiền nước Mỹ thu về nhờ xuất cảng sang Trung Quốc đã tăng hơn gấp rưỡi (53%) trong khi số bán sang các nước giàu (nhóm OECD) chỉ tăng 20%. Trong các món mà nước Mỹ xuất cảng, dịch vụ chiếm 30%. Riêng đối với ba nước lớn, Brazil, Ấn Ðộ và Trung Quốc, số dịch vụ do Mỹ xuất cảng sang các nơi đó đã tăng gấp đôi kể từ năm 2006 đến nay.
Nói xuất cảng hàng hóa thì dễ thấy, nhưng nhiều người không biết các dịch vụ được xuất cảng là những thứ gì. Tuần báo Nhà Kinh Tế (The Economist) mới nêu một thí dụ. Tòa nhà Shanghai Tower ở thành phố Thượng Hải, khi được khánh thành năm 2015 sẽ nhất Trung Quốc, là do công ty Gensler, một công ty Mỹ họa kiểu. Cấu trúc chính để xây tòa nhà này là do các kỹ sư một công ty Mỹ khác thiết kế, công ty Thorton Tomasetti. Tòa nhà cao tên Jin Mao (Kim Mậu) đang là trụ sở Trung Tâm Tài Chánh Hoàn Cầu của thành phố Thượng Hải, cũng là do các kiến trúc sư và kỹ sư Mỹ vẽ kiểu. Và rất nhiều cao ốc khác khắp nước Trung Hoa. Trung Quốc có nhiều kiến trúc sư và kỹ sư giỏi không thua gì nước Mỹ; nhưng chưa có một nhóm nào đủ kinh nghiệm bằng các công ty cố vấn kỹ thuật ở Mỹ. Ðó là một “món hàng” do Mỹ xuất cảng, rất đắt tiền so với những bộ quần áo may cho các lực sĩ thể thao Mỹ đang làm dư luận xôn xao! Những dịch vụ khác về tài chánh, nhu liệu vi tính, Internet, cố vấn quản trị cũng vậy; nước Mỹ vẫn mạnh nhất trong nền “kinh tế dùng óc” (economy of knowledge).
Khi ở Mỹ người ta “bày ra” những thứ như iPhone, Facebook, được khắp thế giới ham chuộng, thì có 311,000 người Mỹ kiếm được việc làm nhờ họ đã “bày ra” những trò chơi, các nhu liệu để dùng trong các phát minh đó. Mấy trăm ngàn người này đã bán các món “hàng hóa ảo” (virtual goods) như thế, và năm ngoái tạo ra được hơn một tỷ đô la cho kinh tế Mỹ, một phần ba là bán ra nước ngoài, xuất cảng.
Năm 2010, Tổng Thống Barack Obama đoán trong 5 năm nước Mỹ sẽ tăng gấp đôi số xuất cảng. Tới nay nước Mỹ thật sự đã đạt được một nửa chặng đường đó rồi. Không phải vì nhờ vào chính phủ mà vì sức mạnh tự nhiên trong nền kinh tế tự do. Trong năm 2010 có 293,000 công ty Mỹ xuất cảng ra ngoài, con số tăng gần một phần năm (19%) so với năm 2006. Các công ty lớn, xuất cảng nhiều, như Boeing hay General Electrics ai cũng biết. Nhưng ngày càng nhiều các công ty nhỏ (dưới 500 nhân viên) tham dự thị trường xuất cảng để đối phó với tình hình kinh tế trong nước yếu đi. Năm 2006 số thu của các công ty nhỏ bằng 29% số tổng số tiền xuất cảng, đến năm 2010 đã tăng thành 34%.
Dân Trung Quốc hiện nay tiêu thụ hàng xa xỉ nhiều nhất thế giới, sắp vượt qua cả dân Mỹ. Không phải chỉ vì người Tàu mới giàu muốn làm sang, nhưng còn vì họ cần mua để hối lộ các quan chức! Công ty Ethan Allen ở Connecticut làm đồ đạc trong nhà như bàn ghế, quầy tủ loại sang trọng. Kinh tế xuống thì công ty này cũng xuống theo; nhưng hàng bán sang Trung Quốc vẫn lên. Hiện nay họ có 69 cửa hàng bên Trung Quốc, sau khi mở thêm 25 cửa hàng mới vào năm ngoái.
Chúng ta không nên vì tình trạng bi quan trong mấy tháng nay mà nghĩ rằng kinh tế nước Mỹ xuống dốc mãi. Thực sự, trên đường dài thì kinh tế nước Mỹ vẫn đầy đủ những ưu điểm mà các nước khác không có được. Tình trạng hồi phục kinh tế chậm chạp vì bản chất cuộc khủng hoảng vừa qua là bắt đầu từ hệ thống ngân hàng và tài chánh, chứ không bắt đầu trong lãnh vực sản xuất như mọi khi. Nhưng kinh tế đang hồi phục và sẽ hồi phục nhanh hơn các nước Âu Châu trong dăm năm tới.
Cơn khủng hoảng tài chánh từ năm 2007 là do các ngân hàng quá tự do cho nên bất cẩn. Họ cho vay quá dễ dãi khiến người tiêu thụ cũng vay nợ và tiêu tiền quá sức trả nợ của mình, đặc biệt là nợ mua nhà. Năm 2000, số nợ của một gia đình Mỹ trung bình còn nhỏ hơn số lợi tức kiếm được mỗi năm, đến năm 2007 số nợ lên tới 133% lợi tức, kiếm được 100 đồng thì mang nợ 133 đồng. Từ năm 2008 gặp khủng hoảng vỡ nợ, người ta bớt tiêu thụ, một lý do khiến cho kinh tế đi xuống. Trong khi đó các ngân hàng cũng mất tiền, và thắt chặt lại việc cho vay, ảnh hưởng dây chuyền khiến các xí nghiệp đều giảm đầu tư, người tiêu thụ mất việc càng giảm chi tiêu hơn nữa.
Nhờ 700 tỷ đô la cấp cứu của cựu Tổng Thống Bush năm 2008, các ngân hàng nay đã hồi phục. Hầu hết đã trả lại cho chính phủ, kể cả tiền lãi. Họ đã xóa 500 tỷ nợ xấu, gọi thêm vốn được 318 tỷ. Bây giờ tỷ lệ tiền vốn trên tổng số cho vay của các ngân hàng Mỹ lên tới 10%, cao hơn tỷ số vốn trước khi bị khủng hoảng, và cao hơn tất cả các ngân hàng lớn bên Âu Châu. Tỷ lệ nợ nần của dân Mỹ cũng giảm, từ 133% năm 2007 nay đã xuống chỉ còn bằng 114% lợi tức. Nhưng trước khi trả bớt được nợ nần thì dân Mỹ vẫn chưa tiêu thụ mạnh, cho nên kinh tế chưa phục hồi được. Trong khi số xuất cảng tăng lên, số việc làm không tăng được bao nhiêu vì những món được xuất cảng không cần dùng nhiều nhân công, họ chỉ dùng số nhân công nhỏ mà trả lương rất cao.
Một triển vọng lạc quan khác trong nền kinh tế Mỹ là dầu và hơi đốt. Khi giá dầu tăng lên trên thế giới, ai cũng lo tốn tiền. Nhưng cũng vì giá dầu cao nên các công ty ở Mỹ đã tăng sản xuất; hiện lên tới 5.7 triệu thùng dầu mỗi ngày, con số cao nhất kể từ năm 2003. Nhờ đó, số dầu mà nước Mỹ nhập cảng, sau khi trừ số dầu xuất cảng, trong năm nay xuống đến mức thấp nhất kể từ năm 1995 đến giờ. Kỹ nghệ dầu và hơi đốt (gas) ở Mỹ mới đạt được một đột phá đặc biệt. Ðó là kỹ thuật khoan mới theo chiều ngang để lấy hơi đốt từ các lớp đá phiến mềm, gọi là shale gas. Một nhà kinh doanh, ông George Mitchell chỉ đầu tư 6 triệu nhưng trong bảy năm đã thành công, đang thay đổi cả thị trường dầu khí với kỹ thuật mới phát minh mà các công ty hơi đốt đang dùng khai thác hơi đốt khắp nước Mỹ. Nhờ thế, giá hơi đốt ở Mỹ rẻ chỉ bằng 30% giá ở các nước Á Châu và Âu Châu, và Mỹ trở thành một quốc gia xuất cảng hơi đốt. Kỹ thuật này cũng đang được áp dụng để lấy dầu lửa từ đá phiến mềm (shale oil), nhờ thế trong mươi năm tới sẽ sản xuất thêm được gần bằng số dầu mà nước Mỹ đang nhập cảng hiện nay (thêm 7 triệu, so với 9 triệu thùng dầu đang nhập cảng mỗi ngày).
Chúng ta có thể thấy triển vọng của nền kinh tế Mỹ vẫn rất lạc quan. Tất nhiên, đó là chuyện đường dài, còn trong hiện tại nước Mỹ vẫn chưa qua được hết cơn khủng hoảng do nợ nần địa ốc gây ra. Nếu trong Tháng Bảy hoặc Tháng Tám này, Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang bơm thêm tiền vào với chính sách QE-3 thì chắc chắn sẽ thúc đẩy kinh tế lên nhanh hơn. Một chính sách như vậy sẽ gây hiệu quả trông thấy sau vài ba tháng, tức là sẽ không ảnh hưởng mấy trước cuộc bầu cử đầu Tháng Mười Một! Nhưng thị trường chứng khoán chỉ cần đoán hành động của Ngân Hàng Trung Ương là sẽ kích thích thì cũng đủ để cho giá các cổ phiếu đứng vững rồi!
VIỆT NAM (NV) – Một phúc trình mới được công bố hôm 17 tháng 7 của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam cho biết, diện tích đất trồng các loại cây gây nghiện tăng vọt trong thời gian gần đây.
Cây cần sa trồng trong chậu, sau nhà ở Hà Nội. (Hình: Internet)

Phúc trình này nói rằng chỉ trong vòng 6 tháng đầu năm 2012, diện tích trồng cần sa, thuốc phiện bị khám phá tăng thêm gần 50 ha. Tại hầu hết các tỉnh biên giới miền Bắc như Sơn La, Ðiện Biên, Lai Châu… người dân đua nhau xuống đất gieo trồng thuốc phiện, cần sa.
Gần đây, đất trồng các loại ma túy lan đến các tỉnh: Nghệ An, Phú Thọ, Yên Bái…
Tại miền Nam Việt Nam, người ta cũng đã thấy xuất hiện cây thuốc phiện, cây cần sa tại các tỉnh: Ðắc Nông, Lâm Ðồng, Bình Phước, Bình Dương, Tiền Giang, Kiên Giang… Ðặc biệt, một số vườn ma túy đã bị phá hủy mới hôm trước ngay lập tức mọc trở lại chỉ một thời gian ngắn sau đó.
Ở một số vùng, cán bộ thẩm quyền đổ trách nhiệm cho nhau về việc chậm khám phá đất trồng ma túy, nại lý do “không nhận ra và không phân biệt được loại cây thường và cây cần sa, cây thuốc phiện”.
Mới đây, theo báo Thanh Niên, người ta còn nghi diện tích đất trồng cây ma túy đã lan đến các vùng đồng bằng như Bà Rịa-Vũng Tàu, Vĩnh Long, Cần Thơ, Cà Mau…
Báo Thanh Niên cho biết, Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Cộng Sản Việt Nam hứa hẹn sẽ đưa các đoàn cán bộ đi lùng soát một số vùng nghi đang là lãnh địa của các loại cây ma túy.
Trong khi đó, một số cán bộ thẩm quyền thì cho rằng “không thể kiểm soát nổi tình trạng nói trên”.
Theo họ, người dân thường trồng cây ma túy ở các vùng xa xôi, khó đi lại, hoặc vùng biên giới mà cán bộ nhà nước ít đặt chân đến. Hơn nữa, người dân trồng ma túy thường áp dụng biện pháp “liều”: Cây này vừa bị “dập” thì lập tức trồng cây khác; không có cán bộ nào theo cho xuể.
Vì vậy, diện tích đất trồng ma túy ở Việt Nam thời gian gần đây chỉ tăng mà không giảm. (P.L.)
WASHINGTON, D.C. – Cận cảnh một tấm bích chương tưởng niệm nạn nhân AIDS, được trưng tại Vương Cung Thánh Ðường Quốc Gia, Washington D.C., ngày 17 Tháng Bảy, 2012.
Chương trình chống AIDS có tên “AIDS Memorial Quilt,” được trưng bày cho đến ngày 26 Tháng Bảy, trong đó có một buổi lễ tưởng niệm những người đã chết vì căn bệnh này, và cả những người đang mang “căn bệnh thế kỷ”. Ðây là năm thứ 25 kể từ khi phát hiện virus HIV. (Hình: Alex Wong/Getty Images)
VIỆT NAM (NV) –Tình trạng quá đông bệnh nhân tại hầu hết các bệnh viện ở Việt Nam hiện nay ngày càng thê thảm. Người thăm nuôi và bệnh nhân đông kịt đến nỗi hành lang, gầm giường không còn chỗ trống để… nằm.
Cảnh nằm vạ dưới gầm giường. (Hình: Infornet)

Theo báo mạng Infornet, bệnh viện càng lớn thì tình trạng đông đúc càng khủng khiếp hơn bao giờ hết, từ Nhi Ðồng Trung ương, Bạch Mai, phụ sản Trung ương, Ung thư… ở miền Bắc, và bệnh viện Chấn thương-Chỉnh hình ở miền Nam.
Một số bệnh nhân cho biết “ở đâu cũng phải chờ, và việc gì cũng phải chờ một thời gian dài, từ gửi xe, đóng tiền mua phiếu khám bệnh…” Ðáng nói là số bệnh nhân được ghép nằm chung giường mỗi lúc một nhiều, từ 2, rồi 3, đến 4…
Cũng theo Infornet, thân nhân và người nuôi bệnh nằm lan khắp các hành lang, dưới gầm giường, đặc biệt về đêm, cứ có chỗ trống thì… lăn vạ ra nằm.
Báo này cho biết, Bạch Mai là bệnh viện lớn nhất miền Bắc hiện nay là nơi điều trị nội trú của trên 3,000 người và mỗi ngày tiếp nhận khoảng 10,000 người đến khám bệnh.
Còn tại bệnh viện Nhi đồng trung ương, thời gian trẻ có mặt tại bệnh viện chờ khám bệnh hiện nay không dưới 4 tiếng đồng hồ cho mỗi lượt khám. Theo tài liệu thống kê của bệnh viện này, mỗi ngày có trên 2,000 bệnh nhân trẻ em chen chúc trong một khu vực khám chỉ có thể chứa tối đa… 400 em.
Một bà mẹ, cư dân tỉnh Hưng Yên than thở: “Cháu mắc bệnh sốt xuất huyết, nằm bệnh viện này hầu như chỉ làm bệnh trở nặng hơn.”
Trong khi đó tại phần lớn các bệnh viện ở Sài Gòn, người dân lại khổ sở vì tình trạng chờ đợi mua thuốc chữa trị cho bệnh nhân.
Tại bệnh viện Chấn thương-Chỉnh hình, một cư dân Long An than thở “đã phải chờ hơn 4 tiếng đồng hồ để mua mấy hủ thuốc cho thân nhân khi làm thủ tục ra về”.
Ở bệnh viện Từ Dũ chiều ngày 13 tháng 7, một ông chồng rên siết khi nói về việc xếp hàng chờ gần 3 tiếng đồng hồ để nhận thuốc cho người nhà. Bệnh nhân, vợ của ông nằm ở phòng cấp cứu sau khi mổ lấy thai ngoài tử cung, lúc đó đang chờ thuốc.
Ngồi chờ mua thuốc Tây cho bệnh nhân. (Hình: Báo Sài Gòn Tiếp Thị)

Báo Sài Gòn Tiếp Thị dẫn lời của ông Nguyễn Hải Long, “người chồng đau khổ” cho biết ông không tìm được thuốc cho vợ tại các nhà thuốc Tây. Cuối cùng, quay trở lại bệnh viện quá đông người chờ đợi, ông Long mất gần ba tiếng đồng hồ mới mua được thuốc cho vợ.
Theo báo Sài Gòn Tiếp Thị, tình trạng này mới xảy ra chừng một tháng trở lại đây sau khi Sở Y Tế Sài Gòn ra lệnh dẹp bớt nhà thuốc trong phạm vi bệnh viện để chỉ chừa lại một mà thôi.
Theo dư luận, chủ trương này của Sở Y Tế Sài Gòn mới đúng với tinh thần “có một mới được độc quyền”. (P.L.)
Tiền hải ngoại gởi về Sài Gòn giảm 23%
VIỆT NAM (NV) – Dù tăng mạnh, từ $1.75 tỉ hồi năm 2001 vọt lên $9 tỉ năm 2011, nhưng số tiền của người Việt hải ngoại ở trên 100 quốc gia khắp thế giới gửi về Việt Nam đang có nguy cơ suy cạn.
Tiền của người Việt ở hải ngoại gửi về Việt Nam đang giảm mạnh. (Hình: VietNamNet)

Nhà nước Cộng Sản Việt Nam gọi khoản tiền “từ trên trời rơi xuống” này là “kiều hối,” là “dòng sông vàng tuôn chảy”… vì giúp bù đắp 92% khoản thâm hụt cán cân thương mại của họ.
Theo báo mạng VietNamNet, “kiều hối” gửi về Sài Gòn sáu tháng đầu năm 2012 giảm 23% so với cùng giai đoạn của năm 2011, tức giảm đến $500 triệu và chỉ đạt $1.9 tỉ.
Tài liệu trích dẫn thống kê của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam tại Sài Gòn nói rằng “kiều hối” gửi về riêng tại Sài Gòn hồi năm 2011 lên tới $5 tỉ trên tổng số 9 tỉ, chiếm tỉ lệ 55%. Một tài liệu khác cũng nói, “kiều hối” từ Hoa Kỳ gửi về chiếm hơn một nửa.
Một nguồn tin khác từ báo USA Today thì cho rằng tiền kiều hối được gửi về Việt Nam nhằm các mục đích: Mua bất động sản, kinh doanh kiếm lời, trợ giúp thân nhân còn kẹt lại Việt Nam.
Trong khi đó, theo Ngân Hàng Thế Giới (World Bank – WB), “kiều hối” của người Việt ở hải ngoại gửi về Việt Nam tăng dần hàng năm.
Từ năm 1999 xấp xỉ $1 tỉ, con số này tăng dần đều và lên đến $9 tỉ trong năm 2011, đưa Việt Nam vào danh sách “Top 16” các quốc gia nhận “kiều hối” nhiều nhất thế giới.
Có thể nói, khoản tiền $9 tỉ “kiều hối” của năm 2011 tương đương 7.4% tổng sản lượng quốc dân (GDP) của Việt Nam, vượt cả vốn FDI, ODA mà Việt Nam vay được của thế giới một cách chật vật, khó khăn. Dư luận còn cho rằng với “kiều hối” đổ về, nhà nước Cộng Sản Việt Nam có thêm nguồn ngoại tệ ổn định, tăng dự trữ ngoại tệ quốc gia, giảm thâm hụt ngân sách và thâm thủng cán cân thương mại trên thị trường quốc tế…
Tại Việt Nam, các ngân hàng thương mại gọi lượng “kiều hối” đổ về Việt Nam trong năm 2011 là “mùa thu hoạch vàng,” giúp Việt Nam tiếp tục giữ vị trí một trong 16 quốc gia nhận “kiều hối” nhiều nhất thế giới.
Các ngân hàng thương mại ở Việt Nam khoe đã tìm mọi cách “phát triển mạng lưới nhận tiền ở hải ngoại gửi về,” đôi khi chỉ cần 5 phút để thực hiện một thương vụ chuyển ngân. Khách hàng của Vietin Bank ở Việt Nam còn có thể gửi và nhận tiền “24 tiếng đồng hồ trong ngày và 7 ngày trong tuần”.
Tài liệu do bà giám đốc điều hành Western Union khu vực Châu Á-Thái Bình Dương công bố còn cho biết hiện có trên 4 triệu người Việt Nam ở hải ngoại, trong đó có chừng 400,000 “lao động xuất khẩu” đang sinh sống ở 101 quốc gia khắp thế giới. Theo bà, lực lượng này đã chuyển về Việt Nam số “kiều hối” tăng dần hàng năm.
VietNamNet còn trích dẫn nhận định của Bộ Lao Ðộng-Xã Hội Việt Nam xác nhận rằng các “thị trường kiều hối truyền thống” của Việt Nam gồm Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Ðức và Úc. Còn số thị trường mới “khơi nguồn” từ năm 2005 trở lại đây gồm Ðài Loan, Nhật, Nam Hàn, Malaysia…

Công nhân Việt Nam “lao động xuất khẩu” bị trả về nước nhiều hơn số được tuyển mộ. (Hình: VietNamNet)
Ðối với loại thị trường mới “khơi nguồn” thì “kiều hối” được chuyển về nông thôn phần lớn. Báo mạng ‘Baomoi.com’ trích tài liệu của ủy ban giám sát tài chính của nhà nước Việt Nam xác nhận có đến 52% lượng “kiều hối” được đổ vào bất động sản.
Tuy nhiên, theo VietNamNet, giờ đây “dòng sông vàng” đang có dấu hiệu suy thoái rõ rệt qua việc sụt giảm nguồn thu được ghi nhận tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam.
Cũng theo VietNamNet, sự sụt giảm này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân: Sự trì trệ của khu vực bất động sản, kinh tế Việt Nam bất ổn, chính sách thắt chặt tiền tệ của nhà nước, va, một số quốc gia Ðông Nam Á hạn chế thu nhận công nhân “xuất khẩu lao động”… (P.L.)
ÐẮC NÔNG (NV) – Lần đầu tiên tại Việt Nam, dân chúng phản ứng mạnh với những người bán hàng Trung Quốc “dởm” bằng cách biểu tình mang theo nồi niêu xoong chảo… đòi trả hàng, lấy lại tiền.
Dân tụ tập đòi trả lại hàng “dởm” “Made in China”. (Hình: Báo Tuổi Trẻ)

Báo Tuổi Trẻ cho biết, cuộc biểu tình diễn ra một ngày rưỡi, từ chiều ngày 16 tháng 7 kéo dài cho tới ngày hôm sau tại thị trấn Gia Nghĩa, thuộc tỉnh Ðắc Nông. Hàng trăm cư dân tụ tập trước nhà hàng Tây Nguyên ở trung tâm xã Gia Nghĩa suốt thời gian nói trên để đòi trả lại hàng “dởm” “Made in China”.
Một số nhân chứng cho biết, vào ngày 15 tháng 7, một nhóm người trong đó có vài người Trung Quốc đến thuê nhà hàng Tây Nguyên để mở “hội nghị khách hàng giới thiệu sản phẩm” của họ. Họ trưng bày rất nhiều vật dụng bếp núc, gia đình bằng kim loại như nồi, niêu, xoong, chảo, dao, kéo… ghi xuất xứ của công ty “Hoàng Hà” ở tỉnh Quảng Ðông, Trung Quốc.
Họ “mồi chài,” chiêu dụ khách hàng bằng cách tặng một món hàng cho bất cứ ai ghé vào mua một món.
Tuy nhiên, đến chiều ngày 16 tháng 7, một số bà nội trợ xài thử hàng mới mua đã khám phá ra tất cả đều là hàng “dởm”. Các bà tức giận kéo nhau đến vây “hội nghị khách hàng” đòi trả hàng, lấy lại tiền. Cuộc biểu tình mỗi lúc một đông, qui tụ hàng trăm người.
Khi công an thị xã Gia Nghĩa đến nơi can thiệp thì tất cả các thành viên “hội nghị khách hàng” đều đã nhanh chân bỏ trốn, kể cả số người Trung Quốc đứng bán hàng.
Cuối cùng, người ta chỉ qui trách nhiệm cho một phụ nữ tên Bùi Thị Thu đã “lợi dụng sự cả tin của người dân để bán hàng kém phẩm chất, thu lợi”. Bà này tự xưng là người điều hành công ty xuất nhập cảng Ðông Thịnh, đặt trụ sở tại thành phố Nam Ðịnh, đơn vị liên kết với công ty Trung Quốc tổ chức “hội nghị khách hàng” để bán hàng “dởm” của Trung Quốc.
Số nồi niêu, xoong, chảo, dao kéo của người dân mang trả chất thành đống, đếm được khoảng 145 bộ, trị giá lên tới 232 triệu đồng, tương đương 11,600 đô la. (P.L.)
SÀI GÒN (NV) – Ðậu nành rang, bắp rang cộng với hóa chất và hương liệu là vật liệu của một xưởng sản xuất cho ra lò hàng tấn cà phê mỗi ngày tại quận Tân Phú, Sài Gòn.
Ðậu nành chất thành đống ở xưởng “cà phê” Thông Phát. (Hình: Báo Thanh Niên)

Hoạt động rầm rộ cả ngày lẫn đêm với 3 máy rang, chưa kể kho hàng chứa đầy hóa chất, người chủ xưởng Thông Phát giữ bí mật trò lừa nói trên suốt 2 năm qua. Nhiều người cư ngụ lân cận cho biết, chỉ nghe mùi cà phê thơm lừng bốc ra từ những lò “rang xay cà phê” bốc lửa hừng hực.
Chẳng ai ngờ ở đó không có lấy một hạt cà phê mà mỗi ngày đều đặn tung ra thị trường đến hàng tấn bột cà phê.
Theo báo Tuổi trẻ, vật liệu dùng để sản xuất cà phê của xưởng Thông Phát gồm đậu nành, bắp và các loại hóa chất như bột màu, đường hóa học, bơ, rượu…
Báo Tuổi Trẻ trích lời kể của các công nhân xưởng Thông Phát cho biết đã được giao phận sự rang đậu nành cho cháy đen rồi đổ vào thùng nhựa lớn để trộn một hỗn hợp hóa chất có màu đen nhánh. Ðến đây, người ta lại rang đậu nành được ướp hóa chất một lần nữa để hạt đậu thấm đều. Sau đó, đậu biến thành những “hạt cà phê thứ thiệt” óng ánh được đổ ra một cái khay tôn đặt trên nền đất để công nhân dùng xẻng đập cho vỡ ra và trộn đều.
Theo báo Thanh Niên, loại “nước hỗn hợp đen nhánh” bao gồm nhiều loại hóa chất như đường hóa học, phẩm màu, hương liệu tạo mùi cà phê… Hỗn hợp này có màu đậm đặc hoặc hơi loãng một tí tùy theo yêu cầu của khách hàng.
Người đại diện xưởng Thông Phát – ông Lê Minh Thông hồn nhiên cho biết xưởng ông hoàn toàn “sản xuất theo đơn đặt hàng” của khách suốt hai năm nay. Ông Thông còn nói rằng hầu hết khách hàng cung cấp cho ông đậu nành, tinh dầu cà phê, hương liệu, màu tẩm ướp… coi như xưởng của ông chỉ làm phận sự “gia công”. Trong trường hợp khách không có sẵn thì ông cho người đi mua. “Chợ Kim Biên ở quận 5 món gì cũng có,” ông Thông cho biết.
Ông này còn tiết lộ, mỗi ngày xưởng ông xuất xưởng khoảng 1.5 tấn “cà phê thành phẩm”. Trong số các khách hàng lớn của Thông Phát, theo ông, có công ty Nguyễn Thuấn, công ty Cường Phát ở Sài Gòn, công ty An Phúc ở miền Trung. Ông này cũng cho hay, cứ mỗi 100 kí đậu nành thì cần khoảng 100gr đường hóa học, khoảng 2 kí lô tinh dầu cà phê, còn số lượng bắp thì hầu như không đáng kể.
Công nhân trộn “cà phê” từ hạt đậu nành rang. (Hình: Báo Thanh Niên)

Báo Thanh Niên còn trích dẫn lời của một số chuyên viên hóa chất cho biết các loại phẩm màu đã bị cấm nhưng vẫn có người sử dụng để chế biến thực phẩm vì ham lợi. Các phẩm màu này chứa nhiều tạp chất và kim loại nặng rất nguy hiểm đối với sức khỏe của người tiêu thụ.
Cũng theo báo Thanh Niên, ông chánh thanh tra Sở Y Tế tại Sài Gòn sáng ngày 17 tháng 7 cho hay đã ra lệnh đóng cửa xưởng “rang cà phê Thông Phát”.
Còn theo báo Tuổi Trẻ, tin này đã gây chấn động giới ghiền cà phê.
“Không biết đâu là cà phê thật, và đâu là đậu nành tẩm hóa chất,” một người đàn ông rùng mình cho biết. Theo ông, tốt nhất là “mua hạt cà phê rồi mang về nhà nhờ bà xã xay giùm để uống”. (P.L.)