Bà Bùi Thị Minh Hằng có tin được tha, nhưng 2 ngày vẫn chưa về

 

HÀ NỘI (NV) Bà Bùi Thị Minh Hằng, một người kiên trì biểu tình bảo vệ chủ quyền biển Đông và bị bắt đi cải tạo, được báo chi trong nước đưa tin là đã được thả hôm 26 tháng 4 nhân dịp lễ. Tuy nhiên, hai ngày sau bà vẫn chưa về nhà.

Bà Bùi Thị Minh Hằng trong một cuộc biểu tình tại Hà Nội năm 2011. (Hình: Hoàng Đình Nam/AFP/Getty Images)

Báo An Ninh Thủ Đô, thuộc Sở Công An Hà Nội, đưa tin bà Hằng được “bàn giao cho chính quyền địa phương.”

Tuy nhiên, một số thân hữu tới nhà bà Hằng ở Vũng Tàu thông báo trên các mạng xã hội, tới đêm 28, rạng sáng ngày 29, bà Hằng vẫn chưa có tin gì.

Trang blog Nguyễn Xuân Diện đưa tin khi đọc lệnh thả và “khoan hồng,” bà Hằng không chấp nhận và không ra khỏi trại.

Bà Hằng hiện đang khiếu nại quyết định đưa đi cải tạo, do Luật sư Hà Huy Sơn đại diện. Tuy nhiên, Ủy ban Nhân dân Hà Nội từ chối không trả lời đơn khiếu nại do không có chữ ký bà Hằng.

Bà Hằng được nhiều người biết đến vì khi đi biểu tình bà thường xuyên mặc áo dài nghiêm chỉnh.

Trong cuộc biểu tình tại Hà Nội ngày 21 tháng 8, 2011, đoàn biểu tình mới tới bờ hồ Hoàn Kiếm thì bị bắt hết lên xe bus. Nhiều đoạn video do người biểu tình quay bằng điện thoại cho thấy bà Hằng dù đã bị bắt vẫn tiếp tục dẫn đầu đoàn người trên xe hô khẩu hiệu “Trường Sa – Việt Nam – Hoàng Sa – Việt Nam.”

Với nhiều nhân viên công lực đeo băng đỏ cùng đi trên xe, bà Hằng cũng hô “Đứa nào không yêu nước đứa đó là con chó” – một động thái gây tranh cãi trên mạng.

Bà Hằng được giới blogger bầu làm “Phụ nữ của năm” trong năm 2011.

Ngày 27 tháng 11 năm 2011, bà bị bắt khi đứng biểu tình ở bên hông Nhà Thờ Ðức Bà, Sài Gòn, để ủng hộ những người biểu tình ở Hà Nội bị đàn áp khi họ ủng hộ đề nghị của ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng làm luật biểu tình.

Việc bắt giam bà Hằng suốt nhiều ngày, không ai biết bà bị giữ ở đâu. Con bà đi tìm ở nhiều cơ quan công an cũng không ai cho biết gì, thậm chí còn bị giam 2 ngày. Hơn 10 ngày sau thì “Cơ Sở Giáo Dục Thanh Hà” tỉnh Vĩnh Phúc mới gửi giấy về địa chỉ nhà bà ở Vũng Tàu nói bà bị giam ở đây 2 năm theo lệnh của nhà cầm quyền thành phố Hà Nội.

Việc bắt nhốt một người dân không qua xét xử của tòa án dù người ta chỉ hành xử quyền công dân một cách ôn hòa cho thấy “mặt trái của cái gọi là luật pháp tại Việt Nam,” Phil Robertson, phó giám đốc khu vực Á Châu của Tổ Chức Theo Dõi Nhân Quyền (HRW) phát biểu khi hay tin bà Hằng bị giam ở Vĩnh Phúc.

Ngày 5 tháng 1, 2012 chính phủ Hoa Kỳ qua tòa đại sứ ở Hà Nội kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do cho bà Hằng.

Bà Trần Thị Dung

 

Ông Lê Minh Triết

 

Tháng Tư, 37 năm và cuộc đời một thợ nail

 

Ngọc Lan/Người Việt

 

WESTMINSTER (NV) – “30 Tháng Tư! Tôi nhớ ngày này, 37 năm trước, tôi sang đây. Bắt đầu cuộc đời của một người thợ làm nail từ cuối năm 1975.”

Bà Thuần Lê, một trong 20 phụ nữ gốc Việt đầu tiên học nghề nail tại Hoa Kỳ vào Tháng Năm, 1975. (Hình: (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Người thợ nail này không ai khác hơn là bà Thuần Lê, một trong 20 phụ nữ gốc Việt đầu tiên theo học làm nail trên đất Mỹ, và hiện tại vẫn còn nặng nợ với nghề này.

“Nhờ nghề nail, tôi để dành được tiền gửi về giúp bố mẹ và gia đình. Nhờ nghề nail mà tôi mang được hết cả gia đình sang đây. Thành ra tôi biết ơn nghề này lắm!”

Câu chuyện của bà Thuần Lê cùng những suy nghĩ, tâm tư của bà giúp người ta hiểu thêm về lịch sử, sự hình thành và phát triển của nghề nail, một nghề như đặc ân mà mảnh đất này dành riêng cho phần lớn người di dân gốc Việt, từ mấy mươi năm qua.

***

 

Người Việt đầu tiên học nghề nail tại Hoa Kỳ

 

Thành thực mà nói, cho đến hôm nay, có lẽ không ai có thâm niên đối với nghề nail lâu hơn người phụ nữ này, và cũng không ai khác hơn người phụ nữ này nhìn thấy được sự thay đổi của nghề nail đối với cộng đồng Việt trên xứ Cờ Hoa, trong gần bốn thập niên qua.

Ba mươi bảy năm trước, vào những giờ phút cuối của Sài Gòn, bà Thuần Lê, “khi đó còn trẻ lắm”, cùng chồng mang theo ba đứa con nhỏ, ra đảo Côn Sơn, và bay qua Thái Lan ngay lúc nghe tin “Sài Gòn thất thủ”. Từ Thái Lan, gia đình bà cùng nhiều người Việt khác được đưa sang đảo Guam, rồi đến trại Camp Pendleton, góp mặt vào số người tị nạn đầu tiên đến Hoa Kỳ.

Một tháng sau, gia đình bà Thuần cùng khoảng 80 người khác, dưới sự bảo trợ của hội thiện nguyện “Food for the Hungry,” do nữ tài tử Tippi Hedren sáng lập, được đưa về trại Hope Village ở Sacramento. Trong lúc nhiều người ghi danh vào các lớp học đánh máy hay học may, bà Thuần lại ghi tên vào lớp học làm móng tay, cùng khoảng 20 phụ nữ khác. Và đó có thể xem như những người Việt Nam đầu tiên làm quen với công việc này tại Mỹ.

Bà Thuần Lê nhớ lại những ngày đi học nail bằng sự hoài niệm: “Bà Tippi mang cho mỗi người một bộ dụng cụ làm móng tay. Rồi mỗi cuối tuần, người thợ làm móng tay của bà Tippi từ Beverly Hills bay lên Sacramento để dạy nhóm chúng tôi làm móng tay. Có điều, ngay từ đầu bà nói không dạy làm móng thông thường mà là ‘special macurist’ để kiếm tiền nhiều hơn.”

Học xong thì phải thi. Bà Tippi Hedren, tài tử điện ảnh nổi tiếng từ thập niên 1960 của Hoa Kỳ, lại tìm trường gửi 20 phụ nữ Việt này đến để được huấn luyện đi thi lấy bằng hành nghề.

“Trong trường thì toàn là người Mỹ học tóc, chỉ có nhóm 20 người này là học nghề nail thôi. Lúc đó học toàn bằng tiếng Anh, nên cứ sau giờ ăn là cả nhóm gom lại, người giỏi chỉ người dở để cùng nhau học bài, cứ ráng mà học. Ði học về, tối đến, sau khi lo cơm nước cho chồng con xong, cùng xúm lại học tiếp. Vui lắm, nhưng vừa vui vừa lo vì không biết có đậu không.” bà Thuần kể tiếp.

Trong những ngày tháng chân ướt chân ráo đặt chân đến Mỹ, chuyện kiếm cái quần tấm áo mặc đến trường cũng là những kỷ niệm đáng nhớ với người phụ nữ này. “Lúc đó đi học cũng bắt mặc ‘uniform’ mà tụi này thì làm gì có quần áo trắng đâu, thành ra khi thấy quần áo người ta mang đến trại cho thì mình kiếm coi có cái nào vừa thì lấy mà mặc, rồi cũng phải đi kiếm, đi xin bata mà mang vào để đến trường theo qui định.”

 

Nghề nail buổi đầu trên đất Mỹ

 

Dù ghi danh theo học nghề nail mới mẻ này, nhưng từ đầu, chồng bà Thuần đã tiên đoán “học cho có nghề trong tay chứ không có làm ra tiền đâu vì Mỹ cũng tự làm móng tay lấy ở nhà chứ có ra tiệm đâu”.

Chính bà Thuần Lê cũng thừa nhận, “Khi đó ở Mỹ không có nhiều tiệm làm móng tay, ít khách lắm, chỉ có người thật sang mới đến tiệm làm nail thôi. Thành ra nhiều người học nail cùng tôi lúc đó, khi dọn đến những thành phố nhỏ để ở, họ đều bỏ nghề hết.”

Sau khi lấy được bằng hành nghề, bà Thuần cùng gia đình dọn về Santa Monica, miền Nam California, sinh sống. Như kiểu “đưa người phải đưa đến bến,” bà Tippi Hedren, mẹ đẻ của nghề nail cho phụ nữ gốc Việt, lại đưa bà Thuần đi tìm chỗ làm sau khi yêu cầu người thợ mới này thực hành ngay trên móng của nữ diễn viên.

“Bộ móng tay của bà Tippi mới làm đẹp gần chết, vậy mà bà kêu tôi tháo ra hết và làm lại sao cho giống y như vậy để bà dẫn tôi đi kiếm việc,” bà Thuần kể.

Tuy nhiên, theo bà Thuần, “Ông chủ nhận tôi có lẽ chẳng qua là nể bà Tippi thôi, vì tiệm đã có sẵn bốn người thợ Mỹ rồi, mình đến cũng chỉ ngồi không, dù mỗi ngày ông chủ chỉ lấy có $10 tiền mướn ‘station’ mà mình cũng đâu có khách đâu để mà có tiền trả tiền thuê chỗ.”

Cũng theo lời bà Thuần, “Hồi đó trong một tiệm tóc chỉ có một hai người thợ làm móng tay chung với thợ làm tóc chứ không có hẳn một tiệm làm móng tay như bây giờ,” hay “đồ làm móng tay lúc đó còn thô sơ lắm, chỉ có cái bàn, cái đèn, chứ không có những chiếc ghế spa hay những thiết kế tối tân như bây giờ, hóa chất và vật dụng cũng không nhiều”.

Bà Thuần còn nhớ “lúc đó làm gì có móng tay giả, nên mình phải dặn khách nếu như móng tay của họ bị gãy thì phải giữ nó lại, mang đến tiệm để mình dùng keo dán lại. Mà lúc đó cũng có nhiều người nuôi móng tay để mang đến tiệm bán nữa”.

Vắng khách, và điều kiện, phương tiện dành cho nghề nail không nhiều, thế nhưng, khi có được khách thì những người khách đó lại trở thành bạn bè thân thiết của người thợ nail buổi ấy.

“Nhiều khách đến với tôi từ lúc tôi mới ra nghề đến giờ vẫn còn ở lại với tôi khá nhiều. Cũng chính vì vậy mà tôi không nghĩ đến chuyện cần phải mở tiệm. Nhiều khách của tôi giờ đã vào ở viện dưỡng lão và tôi vẫn đi thăm họ. Khách với mình nhiều khi thân thiết như gia đình.” Bà Thuần Lê tâm sự.

 

Biết ơn nghề

 

Ba mươi bảy năm theo nghề nail, dù chưa một lần tự mình mở tiệm làm chủ, bà Thuần Lê nói một cách chân tình, “Mỗi người có một cách nhìn khác nhau, tôi không muốn kinh doanh, tôi chỉ muốn có một công việc để phụ giúp gia đình vậy thôi. Nên tôi cảm thấy nghề nail đối xử với tôi cũng tốt, tôi nuôi được ba người con thành tài hết mà không ai theo nghề nail hết.”

Cũng trong dòng hoài niệm, bà Thuần chia sẻ tiếp, “Ngày xưa đi học, tôi không nghĩ là có lúc nghề nail này lại trở nên nổi tiếng như hôm nay. Chỉ nghĩ là học đi làm một thời gian rồi đi tìm việc khác. Nhưng đến khi đi làm thì so sánh với những người đi làm kiếm được $5/giờ, trong khi mình kiếm tiền khá hơn người ta, thì thôi cứ ở lại với nghề nail này vậy. Hơn nữa, khách cũng thương mình, cũng quý mình. Ðám cưới, đi chơi, họ cũng rủ mình. Cho nên, theo tôi, đây không phải là một nghề bạc bẽo, hay không chỉ là nghề làm nail bình thường mà nó còn có tình cảm trong đó nhiều lắm.”

Nhìn lại cuộc đời làm nail, bà Thuần nhận xét, “Cái tốt của ngành nail, theo tôi, là những chủ tiệm nail cung cấp được nhiều công việc làm cho những người ở Việt Nam mới qua, vì họ không cần học nhiều, chỉ lấy bằng là có thể ra làm ngay. Nghề này có thể kiếm tiền nhiều hơn nghề may. Trong lúc làm nghề này, ai có nhu cầu muốn tiến xa hơn thì họ vừa đi làm vừa đi học, rồi cũng ra đại học.”

“Tôi không cảm thấy mặc cảm hay ngượng ngùng gì hết khi đi làm nail. Hãy nghĩ mình cũng là một họa sĩ và hãy tự hào về công việc mà mình đang làm. Hãy làm tốt công việc của mình thì người ta sẽ trân trọng thành quả của mình.” Bà Thuần nói tiếp.

Cũng theo lời kể của bà, sau khi có dịp gặp gỡ và nhìn thấy công việc làm nail của bà vào Tháng Mười Một, 1975, mà vợ chồng ông Diễm Nguyễn, một người bạn của bà Thuần, đã phác họa lên được một kế hoạch từ đi học nail, đến mở tiệm nhỏ và đến năm 1982, họ thành lập trường dạy nail mà đến nay hầu hết mọi người Việt sống tại Hoa Kỳ đều ít nhiều biết đến. Ðó là trường thẩm mỹ ABC (Advance Beauty College) ở Garden Grove.

Kể từ lúc đó, nghề nail tại Mỹ có điều kiện ngày một phát triển, số thợ tăng lên, số tiệm mở càng nhiều, giá làm nail giảm là nguyên nhân lôi kéo thêm được ngày càng nhiều khách đến với tiệm nail. Ðể đến ngày hôm nay, sau 37 năm người Việt đầu tiên bắt tay vào nghề nail, chuyện đến các tiệm làm móng tay đã trở nên bình thường, gần gũi với giới bình dân tại Hoa Kỳ, chứ không còn chỉ là chuyện làm đẹp của giới thượng lưu nhà giàu.

Và cũng từ đó, nghề nail đã làm thay đổi cuộc sống của biết bao gia đình di dân gốc Việt nơi đây.

“Tôi xem bà Tippi là ân nhân, là mẹ đẻ của nghề nail cho phụ nữ gốc Việt. Tôi mang ơn bà rất nhiều, cũng như tôi mang ơn nghề nail rất nhiều.” Bà Thuần Lê kết thúc câu chuyện trước khi bắt tay làm móng cho một người khách quen.

––-

Liên lạc tác giả: [email protected].

Nhìn lại ngày 30 tháng 4 năm 1975


Cuốn sách Tướng Westmoreland của Lewis Sorley


 


Việt Nguyên


 


LTS – Từ Bàn Viết Houston là cột mục bàn về các vấn đề thời sự từ chính trị tới kinh tế, văn hóa… do nhà báo Việt Nguyên trong ban biên tập Ngày Nay phụ trách. Ông cũng là một bác sĩ làm việc tại Houston


 


Mỗi năm cầm bút viết về 30 tháng 4, vết thương như còn mới và lòng vẫn thấy đau. Như những tiền lệ lịch sử khi chiến tranh kết thúc, kẻ thắng huênh hoang đúng là: “Lịch sử là hồ sơ ghi nhận những sự nói láo của kẻ thắng” còn người thua thì chỉ tay đổ lỗi.


Ba mươi bảy năm sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiến thắng của chủ nghĩa tất thắng Marx Lenin chỉ là chiến thắng của Ðảng Cộng Sản Việt Nam trên dân tộc Việt. Về phía kẻ thất trận, lý do không giản dị như Tổng Thống Richard Nixon viết trong hồi ký: “Việt Nam Cộng Hòa thua vì Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và các tướng lãnh còn quân lực VNCH đã chiến đấu anh dũng.”


Những cuốn sách và tài liệu lịch sử như “Không hòa bình chẳng danh dự” của Larry Berman, “Nixon và Mao” của bà Margaret McMillan cùng những tài liệu về hiệp định Ba Lê và những bài viết về phía VNCH của các ông Bùi Diễm, Hoàng Ðức Nhã, Nguyễn Xuân Phong và Nguyễn Phú Ðức và gần đây “Về Trung Hoa” (On China) của Tiến Sĩ Henry Kissinger đã cho thấy ông Kissinger là một trong những nguyên nhân chính gây ra cái chết của VNCH trong bàn cờ thế giới vì những tư lợi, khác với những dư luận và quan điểm những năm trước như Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy và Linh Mục Cao Văn Luận cho rằng Henry Kissinger đã đánh đổi VNCH để giữ Trung Ðông vì ông là người gốc Do Thái. Bà McMillan đã cho thấy ông Kissinger đã đạt được hai điều căn bản khi Nixon và Mao gặp nhau năm 1972: Hoa Kỳ không loại bỏ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và Bắc Việt được giữ quân ở lại miền Nam. Hoa Kỳ đã lầm lẫn đánh giá cao tiềm năng quân sự của Xô Viết và không biết quân Trung Hoa nằm lẫn trong quân Bắc Việt kể cả pháo thủ phòng không.


Tiến Sĩ Henry Kissinger đã bi quan về Việt Nam ngay ngày đầu tiên thăm viếng miền Nam giữa thập niên 1960. Trong khi đa số tướng lĩnh Hoa Kỳ tin trận chiến vì lý tưởng tự do như Tổng Thống John F. Kennedy tuyên bố khi gửi cố vấn quân sự qua giúp VNCH và trận chiến chống cộng sản có thể thắng thì Kissinger chỉ muốn rút quân. Kissinger là người phản bội chỉ biết lợi ích cá nhân, trước theo Tổng Thống Johnson sau chạy theo Tổng Thống Richard Nixon, ông phá hiệp định Paris của TT Johnson qua trung gian “Con Rồng Cái” bà Ann Chennault, để TT Nixon gặp Ðại Sứ Bùi Diễm vào tháng 7, 1968, sau đó đặt máy theo dõi tòa Ðại Sứ VNCH ở Hoa Thịnh Ðốn để biết chắc kế hoạch thành công khi bắt được điện tin ngày 23 tháng 10, 1968 của Ðại Sứ Bùi Diễm gởi TT Nguyễn Văn Thiệu: “Các bạn đảng Cộng Hòa đã tiếp xúc với tôi khuyến khích VNCH giữ vững quan điểm không ký hiệp định Paris.” Các cuộc dò xét điện tin đi thẳng về Cartha De Coach (Deke) làm việc cho giám đốc FBI Edgar Hoover.


Năm năm sau, TT Nguyễn Văn Thiệu ký hiệp định Paris, điều khoản vẫn thất lợi cho VNCH, Hoa Kỳ không giữ lời hứa ném bom khi Việt Cộng và Bắc Việt vi phạm Hiệp Ðịnh Paris.


TS Kissinger bán VNCH và giúp Trung Cộng giàu mạnh để chống lại Nga với giá cao cho cá nhân ông. Sáu năm sau khi ông Kissinger không còn giữ chức cố vấn tổng thống, Kissinger Associates ra đời, công ty tham vấn tư được nhiều khế ước với nhiều quốc gia, nhiều đại công ty và các chính quyền. Mỗi lần gặp Henry Kissinger, các công ty phải trả ít nhất 25,000 Mỹ kim, ông còn nắm ảnh hưởng cơ quan truyền thông, tham vấn cho đài truyền hình CBS và ABC.


Quyền lợi lớn nhất của Kissinger đến từ Trung Cộng qua các đại công ty American Express, Lehman, Daewoo, Heinz, Lockheed, Anheuser Busch, Coca Cola, v.v… Vì lợi ích cá nhân, TS Henry Kissinger đã làm hại đại cuộc, Hoa Kỳ bây giờ phải đối phó với con cọp Trung Cộng. Sáu tháng trước biến cố Thiên An Môn năm 1989, ông thành lập China Adventure, công ty trách nhiệm hữu hạn với các công ty đầu tư ở Trung Cộng, cho nên khi biến cố Thiên An Môn xảy ra, Henry Kissinger dửng dưng, theo Ðặng Tiểu Bình, chống chủ trương cấm vận của chính phủ George H. Bush vì “Trung Hoa giữ một vài trò quá quan trọng cho nền an ninh Hoa Kỳ.”


TS Henry Kissinger là kẻ thù của những người yêu chuộng tự do và dân chủ, ông ủng hộ Trung Cộng, tuyên bố, “Không một chính quyền nào trên thế giới có thể đứng yên nhìn hàng chục nghìn người chiếm quảng trường chính ở thủ đô trong hơn 8 tuần lễ.”


Tiền của Kissinger có máu của những nạn nhân Thiên An Môn và người Việt Nam vì vậy 30 tháng 4 năm 2011 ông đã từ chối dự hội thảo về Việt Nam ở Hoa Thịnh Ðốn và đã nói đùa “Nếu thấy tôi đến chắc người Việt Nam sẽ giết tôi!”


 


Ðại Tướng William Westmoreland


 


Hồi tháng 10 năm ngoái, cựu Ðại Sứ Bùi Diễm gửi cho tôi cuốn sách của Lewis Sorley “để tặng người bạn trẻ cất trong tủ sách.” Nhờ Giáo Sư Sorley, giảng dạy quân sử trường võ bị West Point, tôi lại tìm thấy một nguyên nhân chính khác gây ra thất trận ngày 30 tháng 4, 1975: Ðại Tướng William C. Westmoreland.


Giống như TT Richard Nixon, Giáo Sư Sorley đã ca tụng quân đội VNCH chiến đấu anh dũng nhưng vì những lỗi lầm của Tướng Westmoreland mà “thảm cảnh đã xảy ra cho quân đội Hoa Kỳ và nhất là cho cả miền Nam Việt Nam, những người đã hy sinh trong chiến tranh và mất tất cả.”


Tướng William Childs Westmoreland, dòng dõi nhà binh, sinh ngày 26 tháng 3 năm 1914 tại Saxon, South Carolina, thời chiến tranh Nam Bắc với Tướng Robert Lee, ông là con cưng trong gia đình, người con gương mẫu. Ở trường, ông là học sinh xuất sắc, năng động, nhiều tham vọng, có óc khôi hài, 15 tuổi hoạt động Hướng Ðạo được bằng Hướng Ðạo Ðại Bàng (Eagle Scout), chủ tịch học sinh trong trường trung học, thích đấu quyền Anh (sau dùng chiến thuật đánh võ này áp dụng vào chiến tranh Việt Nam và quân đội VNCH được khuyến khích học quyền Anh). Cuộc đời binh nghiệp của ông thăng tiến rất nhanh từ trường Cao Ðẳng Quân Sự ở South Carolina đi lên West Point, tốt nghiệp năm 1936 đã được bạn bè đặt biệt danh là “Sếp” (Chief) như đoán được tương lai ông sẽ là tham mưu trưởng quân đội. Người cao một thước tám, mũi lớn, lông mày rậm như sâu róm, ông được đồng đội và cấp chỉ huy kính nể. 28 tuổi ông chỉ huy tiểu đoàn pháo binh rồi tham dự chiến tranh thế giới thứ hai ở Casablanca, chịu ảnh hưởng của Tướng Maxwell Taylor, được ông tướng này đỡ đầu, sau đó qua Anh, đến Normandy 4 ngày sau ngày đổ bộ, thành công ở Ðức chỉ huy Sư Ðoàn Bộ Binh 71, về nhà chỉ huy Sư Ðoàn Dù 82. Năm 1950 ông tham dự chiến tranh Ðại Hàn, 13 lần nhảy dù gần sông Hàn, xâm nhập qua lằn ranh Bắc Hàn, qua Nhật sau về lại Ngũ Giác Ðài làm tổng thư ký cho Tướng Maxell Taylor tham mưu trưởng (tháng 7 năm 1955). Ông làm việc rất chăm chỉ, thất bại trong kế hoạch chia sư đoàn làm 5 nhóm mỗi nhóm được chỉ huy bởi đại tá, nhưng một năm rưỡi sau, 42 tuổi ông là thiếu tướng trẻ nhất trong quân đội. Tháng 4 năm 1958, sau bốn năm rưỡi ở Ngũ Giác Ðài ông chỉ huy Sư Ðoàn Dù khét tiếng 101.


Năm 1960, ông chỉ huy trưởng trường võ bị West Point, cải tổ trường, tăng con số sinh viên sĩ quan gấp đôi lên đến 4140. Thiếu trình độ đại học, ông chỉ huy trưởng chịu khó ngồi học lại các môn khoa học căn bản nhưng ông hoàn toàn thiếu sót không học một môn quan trọng trong chiến tranh: khí tượng học. Khuyết điểm này đã có hại về sau, qua những cuộc đụng độ với quân Việt Cộng ở các chiến trường Việt Nam.


Vào thời điểm này, TT John F. Kennedy đến West Point đọc diễn văn năm 1962, đã tiên liệu chiến tranh Việt Nam “chiến tranh du kích, chiến tranh phục kích, xâm nhập làm kẻ thù suy yếu hao mòn để chiến thắng thay vì chiến đấu mặt đối mặt.”


Ngày 3 tháng 12 năm 1963, vị trung tướng trẻ tuổi nhất trong quân đội Hoa Kỳ được Tham Mưu Trưởng Earle Wheeler gởi qua Việt Nam phục vụ dưới quyền Tướng Harkins chỉ huy trưởng quân đội Hoa Kỳ ở VN (COMVS MACV). Sau đó ông thay Tướng Harkins khi ông Cyrus Vance làm bộ trưởng Bộ Binh.


Thành công nhanh, con đường binh nghiệp thăng tiến không trở ngại đã biến Tướng Westmoreland thành một con người kiêu ngạo. Ngày qua Việt Nam, Thiếu Tướng William Yarborough chỉ huy trưởng trung tâm chiến tranh đặc nhiệm ở Fort Bragg đã dặn ông trung tướng, “Chỉ có hai chục phần trăm đụng độ trên chiến trường, tám chục phần trăm còn lại là chiến tranh ý thức hệ, không có gì vô ích hơn là đại hành quân qua vùng Việt Cộng.”


Lời khuyên ấy bị Tướng Westmoreland bỏ ngoài tai, ông đã có chủ đích khi phục vụ cho Tướng Maxwell Taylor. Khác với quan điểm của TT Kennedy, Tướng Taylor chủ trương đánh thẳng đối mặt với chiến tranh du kích bằng những cuộc chiến nhỏ. Gặp Tướng McArthur ở Nữu Ước, Tướng Westmoreland đã chủ trương đối xử với sĩ quan và tướng VNCH như là “sinh viên sĩ quan trường võ bị West Point”! Ôngt đến Saigon, không gặp Tổng Thống Lyndon Johnson ở Hoa Thịnh Ðốn, đặt tổng hành dinh trên lầu cao nhất của rạp Rex (vào ngày Tướng Nguyễn Khánh đảo chánh Tướng Dương Văn Minh) nhìn xuống Saigon “dùng miền Nam VN như phòng thí nghiệm không phải chỉ cho chiến tranh VN mà còn cho các trận chiến du kích khác” (ghi nhận của Trung Tướng Harrold Johnson).


Ngày 20 tháng 6, 1964, Tướng Harkins về Mỹ, Hoa Kỳ bỏ bom Hà Nội, Hoa Thịnh Ðốn không có chiến thật cụ thể ở Việt Nam, để hoàn toàn cho Tướng Westmoreland quyết định. Ngày 1 tháng 8 năm 1964, Ðại Sứ Maxell Taylor gắn lon bốn sao cho Tướng Westmoreland. Kể từ ngày này, Tướng Westmoreland hoàn toàn không hỏi ý kiến VNCH, chủ trương tăng quân, làm xong nhiệm vụ, giao lại VNCH rồi rút quân về và tuyên bố chiến thắng. Tướng Westmoreland điều khiển chiến tranh Việt Nam theo kiểu Hoa Kỳ không cần biết chiến thuật chiến lược có phù hợp với điều kiện phức tạp ở Việt Nam hay không. Ðại sứ VNCH tại Hoa Kỳ, ông Bùi Diễm đã nhận định: “Hoa Kỳ chủ trương Việt Nam hóa chiến tranh Việt Nam tức là trước đó chấp nhận Hoa Kỳ hóa chiến tranh Việt Nam.” Ðại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông Ellsworth Bunker đã đồng ý hoàn toàn với câu chơi chữ của ông Bùi Diễm nhưng Tướng Westmoreland xem thường quân đội VNCH “các anh không thể chiến đấu, chúng tôi không muốn các anh cản đường!”


Tướng Richard Stitwell phê bình, “Tướng Westmoreland đã quên phải đánh Việt Cộng ở bất cứ nơi nào chứ không phải nơi trận địa chiến.” Lỗi lầm này của Tướng Westmoreland đưa đến kết quả là từ 1966, quân đội Hoa Kỳ chủ động, quân VNCH giữ vai trò phụ thuộc và bình định hóa nông thôn nhưng Hoa Kỳ không cung cấp vũ khí và tân trang cho quân đội VNCH.


Chiến dịch “lùng địch diệt địch” của Tướng Westmoreland chủ trương: “Không đánh bại quân Bắc Việt, chỉ áp lực kẻ thù để giới lãnh đạo Bắc Việt biết họ không thể thắng. Họ phải chấp nhận hai nước Việt Nam hoặc phải thương thuyết.”


Trận đánh đầu tiên mà Tướng Westmoreland muốn, đối đầu với quân Bắc Việt tháng 10 năm 1965 ở thung lũng Ia Drang mô tả trong sách nổi tiếng của Trung Tướng Hal Moore và Joe Gallaway “We were soldiers once… and young” sau thành phim với tài tử Mel Gibson và Ðơn Dương. Trung Tá Moore lúc ấy chỉ huy tiểu đoàn đã phàn nàn, “Westmoreland ra lệnh rút lui trước khi trận chiến kết thúc.” Tỷ lệ tử thương trong trận này là mười quân Bắc Việt trên một quân Mỹ (3,561/305 ). Chiến tranh VN thay đổi bộ mặt từ trận này với tinh thần của dân Mỹ đại diện qua Thượng Nghị Sĩ Fritz Hollings, South Carolina, cảnh cáo Tướng Westmoreland “người Mỹ không cần biết con số mười, họ chỉ quan tâm đến con số một.”


Ủng hộ và đứng về phe quân đội VNCH chỉ có thủy quân lục chiến Hoa Kỳ. Tướng Victor H. Krulak làm việc chặt chẽ với quân dân chính VNCH đã gây nhức đầu cho Tướng Westmoreland. Ðiển hình về việc xao lãng tân trang cho VNCH của Tướng Westmoreland là câu chuyện khẩu súng tiểu liên M16. Trong khi quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam được ưu tiên trang bị tiểu liên M16, đại liên M60, súng phóng lựu M79 và máy truyền tin tối tân thì quân đội VNCH vẫn còn trang bị với súng Carbine và khẩu súng cá nhân Garant M1 nặng chình chịch từ Thế Chiến Thứ II. Ưu tiên tân trang của quân đội Hoa Kỳ ở VN là ưu tiên một còn quân lực VNCH nằm trong ưu tiên sáu, trong khi đó quân Bắc Việt đã được trang bị vũ khí hiện đại với AK47. Sau trận Mậu Thân, Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ và Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên đã phàn nàn thẳng với Tướng Westmoreland. Chính giám đốc CIA, William Colby cũng phải nói “quân VNCH thiếu trang bị và tối tân hóa để tự vệ trong bốn năm Westmoreland ở VN.”


Chính sự ngạo mạn của Tướng Westmoreland đã làm mọi người chung quanh ông thất vọng. Một câu chuyện nhỏ cho thấy khuyết điểm lớn này của ông. Trong buổi lễ gắn huy chương cao quý Silver star cho Ðại Tá Nguyễn Văn Toàn (sau là trung tướng) có sự hiện diện của Ðại Tướng Cao Văn Viên và nhiều sĩ quan Việt Mỹ. Tướng Westmoreland sau khi mở rượu champagne đã vui miệng “nhiều người quá, chúng ta nên tổ chức thành một buổi họp” bỏ quên cả việc chia vui với Ðại Tá Toàn cho đến khi Champagne nóng không còn lạnh!


Tướng Westmoreland đã góp phần vào chiến thắng Mậu Thân 1968 của Cộng Sản. Trận chiến do Tổng Bí Thư Lê Duẩn chủ trương không được Tướng Võ Nguyên Giáp đồng ý, đã hoàn toàn bị đánh bại nhưng vì ký giả Walter Conkrite đài CBS tường trình sai và sự tiếp xúc phách lối với báo chí của Tướng Westmoreland mà chiến thắng của VNCH và Hoa Kỳ trong trận Mậu thân trở thành chiến bại dưới cặp mắt của dân Mỹ. Báo chí thiên tả The New York Times ngày ấy hoàn toàn ủng hộ chiến tranh VN đã thất vọng. Tuần báo Time năm 1966 bầu Tướng Westmoreland là “Người trong năm” cũng đổi thái độ.


Sau bốn năm phục vụ tại VN, Tướng Westmoreland về Mỹ, lên làm tham mưu trưởng quân đội. Cuối tháng 4 năm 1968, có 543,400 quân Mỹ ở Việt Nam. Sau thời kỳ Westmoreland, Hoa Kỳ không tăng quân. Trong bốn năm Tướng Westmoreland làm tham mưu trưởng quân đội, tòa Bạch ốc không hề hỏi ý kiến ông về chiến tranh VN trong khi chiến tranh vẫn tiếp diễn! Các Tổng Thống Hoa Kỳ xem Tướng Westmoreland là một lỗi lầm chính trị.


Về hưu, Tướng Westmoreland bị các tướng lĩnh chê bai về thành tích của ông ở VN, từ Tướng Fred Weyland đến Tướng Norman Shwarzkoft (chỉ huy trận bão sa mạc) “VNCH đã thua vì thiếu tiếp viện và súng đạn” cho đến Ðại Sứ Maxwell Taylor “Hoa Kỳ hoàn toàn bỏ quên quân đội VNCH.” Sir Robert Thompson chuyên viên du kích người Anh nói “không phải Tướng Võ Nguyên Giáp đánh bại Tổng Thống Johnson mà chính Tướng Westmoreland!” Các sĩ quan cấp tá ở trường cao đẳng quốc phòng đứng lên đả đảo khi ông Westmoreland đến thăm, chưa có ông tướng tham mưu trưởng nào bị mất uy tín và bi thảm vào cuối đời như ông. Ông mất năm 2005, cuộc đời ông không may mắn như Henry Kissinger dù hai người cùng có lỗi nặng ở Việt Nam.


Ba mươi bảy năm qua, người Việt tị nạn hải ngoại mỗi năm vẫn tưởng nhớ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ở Việt Nam chính quyền Cộng sản không còn tổ chức kỷ niệm chiến thắng của chủ nghĩa Cộng sản, có lẽ vì Hoa Kỳ trở lại vùng Thái Bình Dương hoặc vì năm 2005 ông cựu Bộ Trưởng Hải Quân Jim Webb tuyên bố thẳng: “Nếu quý vị còn huênh hoang, chúng ta hãy dàn quân đánh một trận quyết định xem ai thắng ai thua?”


4 tháng 4, 2012

Con trai Bạc Hy Lai nổi lên sau tai tiếng chính trị ở Trung Quốc


Hồ sơ


 


 


Hà Tường Cát/Người Việt (tổng hợp)


 


Vụ tai tiếng chính trị tại thành phố Trùng Khánh một mặt thể hiện sự tranh chấp quyền lực luôn luôn âm ỉ trong nội bộ đảng Cộng Sản Trung Quốc, mặt khác là cơ hội để phơi bày ra ánh sáng nhiều mặt trái của xã hội và những thủ đoạn của giới lãnh đạo ở nước này.










Một cặp thanh niên đứng quan sát toàn cảnh thành phố Trùng Khánh. (Hình: AP/Alexander F. Yuan)


Nhật báo Washington Post hôm Thứ Tư loan tin Bạc Qua Qua (Bo Guagua), đứa con trai 24 tuổi của Bạc Hy Lai (Bo Xilai), lần đầu tiên lên lên tiếng “bày tỏ sự quan tâm sâu sắc về những biến cố xảy ra với gia đình” và đồng thời phủ nhận cáo buộc về lối sống xa hoa hư hỏng của bản thân anh. Lời lên tiếng được gởi đến báo Harvard Crimson của trường đại học anh đang theo học. Hôm Thứ Ba, Ben Samuels, giám đốc tờ Crimson cho biết phóng viên Justin Wordland đã gặp nói chuyện với Bạc Qua Qua và xác nhận bản lên tiếng ấy là chính xác.


Theo lời Bạc Qua Qua, anh “không bình luận gì liên quan đến vụ việc còn đang được điều tra ở Trung Quốc” mà chỉ muốn nói đến những dư luận đồn đại về anh. Bạc cho biết “chưa bao giờ lái một chiếc Ferrari,” kiểu xe thể thao đắt tiền, và phủ nhận việc dùng danh nghĩa gia đình để kiếm tiền.


Bạc Qua Qua, 24 tuổi là con trai thứ nhì của Bạc Hy Lai và con duy nhất của Bạc Hy Lai với bà Cốc Khai Lai, vợ thứ hai của ông, từng là doanh gia và luật sư có tiếng tăm ở Bắc Kinh. Hiện nay Bạc Qua Qua đang là sinh viên cao học khoa chính quyền học, trường Kennedy School thuộc Ðại Học Harvard.


Bạc Qua Qua không tiết lộ điều gì về tình trạng hay quy chế của mình bây giờ. Sau khi ông bố bị cất chức Bí thư Thành ủy Trùng Khánh và bà mẹ bị bắt giữ điều tra vì tình nghi ám sát thương gia người Anh Neil Heywood, Bạc Qua Qua biến mất khỏi căn phòng cư ngụ gần Harvard Square trung tâm thành phố Cambridge, Massachusetts, thuê với giá $2,950 một tháng. Có những dự đoán cho rằng anh được quản thúc để bảo vệ tránh việc có thể bị gián điệp Trung Quốc bắt cóc. Nhưng Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ phủ nhận là Bạc Qua Qua đã được nhân viên an ninh Mỹ đem đi và đã xin tị nạn chính trị tại Hoa Kỳ.


Tờ The Guardian tại London cho rằng chàng thanh niên con ông cháu cha 24 tuổi thuộc một gia đình đã thu vét được nhiều tiền bạc này, muốn tìm cách xóa bỏ hình ảnh về mình là một tay ăn chơi bị tập trung chú ý trong vụ việc như thế. Lời biện minh ấy không cần thiết trên mặt pháp lý bởi lẽ Bạc Qua Qua không có hành động phạm tội nào. Tuy nhiên về mặt chính trị, trong tình trạng bà mẹ bị điều tra tội tình nghi ám sát và ông bố một nhà lãnh đạo bị thanh trừng vì cáo buộc tham nhũng lạm quyền, Bạc Qua Qua không thể tránh khỏi sự dò xét về những sự việc mà anh ta là thể hiện.


Những gia đình giầu có và quyền thế ở Trung Quốc đều tìm cách đầu tư tài sản – tiền bạc và con cái của họ – ở nước ngoài. Bạc Qua Qua gần như hoàn toàn được giáo dục ở ngoại quốc, thoạt đầu vào Harrow – một trường tư nổi tiếng cho con em các gia đình danh giá với học phí hàng năm $50,000 – rồi lên Balliol College ở Oxford, Anh quốc và bây giờ tới Harvard, Hoa Kỳ.


Theo báo chí Anh, tại Oxford, Bạc Qua Qua học hành kém cỏi nhưng anh ta lập luận rằng mình cũng đã đạt thành tích khá và “đã dành nhiều thời gian và năng lực cho những sinh hoạt ngoài học đường.” Ðiều ấy không được kiểm chứng rõ ràng nhưng trong ít tuần lễ gần đây người ta thấy trên Internet nhiều hình ảnh của anh ta trong những buổi hội họp tiệc tùng bên cạnh các thiếu nữ Tây phương với bộ điệu say khướt.


Nhưng bằng những quan hệ cá nhân của mình, Bạc Qua Qua cũng từng giúp ích được cho Oxford. Anh đã đưa diễn viên điện ảnh Hong Kong Thành Long (Jackie Chan) đến trường nói chuyện và tổ chức buổi dạ vũ “Con đường tơ lụa” cho Tổng hội Sinh viên Oxford. Sinh hoạt này được bảo trợ bởi hãng xe hơi Shenyang Jinbei ở Liêu Ninh (Liaoning). Liêu Ninh, và thành phố Ðại Liên (Dalian) ở đây, là nơi Bạc Hy Lai đã nhiều năm làm chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân và bí thư Ðảng Ủy. Nhiều người thắc mắc là hãng xe Shenyang Jinbei không có quan hệ thương mại gì ở Âu Châu tại sao lại đứng bảo trợ và một phát ngôn viên của hãng này sau đó trả lời mập mờ rằng ông ta không biết rõ hãng có thương mại ở Anh cũng như có bảo trợ sinh hoạt tại Oxford hay không.


Một bí mật khó hiểu khác là vì sao một website mang địa chỉ – Guagua.com – có thể được một công ty có liên hệ với gia đình Bạc mua lại tới giá $100,000 từ một người ở Tenerife năm 2010. Nguyên thủy website là của Antonio Marin, 53 tuổi, một người ở Tenerife, ham thích xe lửa và xe điện. Theo lời Marin, thoạt đầu ông từ chối đề nghị mua domaine name này của một người Trung Quốc, ông không nhớ e-mail đề nghị mua từ đâu tới “nhưng chắc chắn không phải người nào mang tên Guagua.” Ông cho biết: “Sáu tháng sau họ đưa đề nghị một lần nữa và với một giá rất hời. Tôi không bao giờ hỏi vì sao họ muốn website này, nhưng họ đã trả đúng $100,000 và tôi bán.”


Guagua.com sau đó đăng ký ở Hoa Kỳ, theo luật có thể giữ kín tên chủ nhân, nhưng cho tới năm ngoái đăng ký cùng địa chỉ với Guagua Technology Company do người cô Gu Wangning – một thương gia giầu có – thành lập với vốn 2 triệu nhân dân tệ ($320,000). Những tin tức khác nhau nói Bạc Qua Qua là giám đốc hoặc cố vấn, nhưng sau đó lại có cải chính nói là do sự lầm lẫn.


Trong bản lên tiếng gởi bằng e-mail đến báo Harvard Crimson, Bạc Qua Qua nói: “Tôi không bao giờ cho mượn tên hay tham gia bất cứ một dịch vụ thương mại kiếm lời nào, ở Trung Quốc cũng như hải ngoại. Tôi chỉ tham dự vào những mạng xã hội bất vụ lợi ở Trung Quốc…” Bạc Qua Qua cho rằng không thể nào trả lời mọi lời đồn đại hay cáo giác và “hiểu rằng hiện nay những sự tò mò về đời tư của tôi không thể nào hết, nhưng tôi tha thiết mong mỏi các giới truyền thông kềm chế không nên xâm nhập đến đời tư của các ông thầy, đồng học và bạn bè của tôi.”


Về tin tức báo chí nói năm ngoái Bạc Qua Qua đã có lần lái một chiếc Ferrari màu đỏ đến tư thất đại sứ Hoa Kỳ ở Bắc Kinh đón cô con gái của đại sứ lúc đó là Jon Huntsman, Bạc Qua Qua khẳng định, “Tôi chưa bao giờ lái một chiếc xe Ferrari vào tòa đại sứ Hoa Kỳ.” Nhưng nhật báo New York Times phỏng vấn cô Abby Huntsman Livingston, con gái cựu đại sứ, cho biết một buổi sau bữa ăn tối, Bạc Qua Qua có tới chở cô em là Mary Anne đi, nhưng cô không để ý là bằng xe hiệu gì. Từ ngày Thứ Tư, trên mạng của dịch vụ Sina Weibo ở Trung Quốc, người ta không thể tìm được những mục có tên “Ferrari” và “Guagua.”


Bài báo trên tờ Wall Street Journal hôm Thứ Sáu cho biết ở Massachusetts, từ 2009 đến 2011, Bạc Qua Qua ba lần bị cảnh sát ghi giấy phạt trong lúc lái một chiếc xe Porsche Panamera màu đen, trị giá khoảng $80,000.


Theo điều tra của hãng thông tấn Bloomberg, gia đình và thân nhân của Bạc Lai Hy, trong nhiều trường hợp bằng những tên khác nhau, có phần tham gia trong mạng lưới thương vụ quốc tế trị giá tổng cộng $160 triệu. Bạc Qua Qua nhấn mạnh rằng tiền học của mình ở các trường Anh và Mỹ là nhờ học bổng và “tiết kiệm của gia đình, bao gồm tiền hành nghề luật sư và viết sách của mẹ.”


Li Wangzhi, người anh của Bạc Qua Qua, có khi dùng tên Li Xiaobai hay Brendan Li, đầu tư vào các công ty ở Ðại Liên và giám đốc các công ty đăng ký hoạt động Mauritius, Virgin Islands cũng như đã làm việc trong Citigroup. Bác của Bạc Hy Lai, Bo Xiyong, cũng có tên là Li Xueming, là giám đốc một công ty phát triển địa ốc ở Hong Kong và phó giám đốc China Everbright Group có đầu tư vào ngành năng lượng sạch. Ông vừa từ chức hôm Thứ Tư.


Jiang Weiping, một nhà báo nổi tiếng quốc tế khi bị bắt năm 2001 ở Trung Quốc và lãnh án tù 8 năm về tội “tiết lộ bí mật quốc gia” và 5 năm sau được tống xuất qua Canada, đã viết nhiều phóng sự điều tra về tệ nạn tham nhũng trong chính quyền Cộng Sản Trung Quốc. Về Bạc Hy Lai, theo ông: “Thu nhập hợp pháp của Bạc chỉ là số tiền lương không đáng kể, khoảng $19,000 một năm. Tài sản thực sự của gia đình này là từ những gì Bạc đã kiếm được bằng sự chấp thuận hợp đồng của các công ty, những dự án đầu tư và nhiều phương cách khác nhờ quyền lực trong thời gian lãnh đạo tỉnh Liêu Ninh và thành phố Ðại Liên. Anh của Bạc, vợ và em vợ đều tham gia trong những hoạt động tham nhũng toàn diện ấy.”


Tại đại hội đảng Cộng Sản Trung Quốc kỳ thứ 16 năm 2002, Bạc Hy Lai là một trong những nhân vật đủ tư thế của “thế hệ lãnh đạo thứ 5” nắm quyền năm 2012. Nhưng cá tính, hoàn cảnh và nhiều lý do phức tạp khác trong vấn đề tranh đấu nội bộ lúc ấy đã không đưa đến cho Bạc cơ hội nổi lên hơn hai đối thủ là Tập Cận Bình (Xi Jinping) bí thư Thành Ủy Thượng Hải và Lý Khắc Cường (Li Keqiang) bí thư Tỉnh Ủy Hà Nam.


Năm 2007 về làm bí thư Thành Ủy Trùng Khánh, bằng những chiến dịch chống tội phạm, băng đảng và đường lối xã hội kiểu Cách Mạng Văn Hóa của Mao Trạch Ðông, Bạc Hy Lai đã nổi tiếng với “mô hình Trùng Khánh.” Nhưng có lẽ sự nổi tiếng trên bề mặt không giúp cho Bạc tiến xa hơn và vô số những nhược điểm cá nhân phía sau khiến cho khi các đối thủ chính trị dễ dàng tìm cách khai trừ ông khi bắt đầu cảm thấy có sự đe dọa nguy hiểm.


Vụ ám sát doanh nhân người Anh của Cốc Khai Lai sẽ không xảy ra và những chuyện về Bạc Qua Qua chẳng là gì đáng kể nếu Bạc Hy Lai còn vị thế trong tập đoàn lãnh đạo. Nhưng bây giờ tất cả đều trở thành những yếu tố góp phần cho sự suy tàn của một ngôi sao đang lên và sắp tắt trong bộ máy chính trị Trung Quốc. Theo nhận định của tờ Guardian, những liên hệ dòng dõi và quyền thế của thành phần ưu tú trong xã hội Trung Quốc thật ra cũng không khác giai cấp quý tộc Âu Châu hay giới tài phiệt Hoa Kỳ xưa kia. Nhưng tại đại quốc Á Châu này, mọi sự đều mờ ám hơn nhiều cho tới khi nào xảy ra một chuyện tai tiếng làm sụp đổ những bức tường giấu diếm và cấu kết che đậy. Người ta sẽ rất khó để dự đoán tương lai cuối cùng của nó.


Một vấn đề nhỏ cũng có thể là tế nhị trên mặt chính trị với Trung Quốc mà chính quyền Obama sẽ còn phải giải quyết là tình trạng của Bạc Qua Qua khi hộ chiếu du học hết hạn, chưa được rõ là bao giờ.


Trong những ngày gần đây, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ từ chối bình luận về quy chế tương lai của anh ta cũng như về chi tiết hộ chiếu mà anh ta đang giữ. Tuyên bố với các phóng viên hôm Thứ Hai, nữ phát ngôn viên Victoria Nuland Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ mô tả Bạc Qua Qua “là một sinh viên có thành quả tốt ở Harvard. Quý vị tùy nghi rút ra kết luận từ đó.”

Tòa chưa quyết định tăng tiền tại ngoại của Zimmerman


SANFORD, Florida (Reuters) –
Thẩm phán tòa Seminole County hôm Thứ Sáu bác bỏ yêu cầu của luật sư bên phía gia đình Trayvon Martin đòi George Zimmerman phải nạp thêm tiền tại ngoại.

Thẩm Phán Kenneth Lester, Jr. nghe hai phía trình bày về vụ George Zimmerman bắn chết thiếu niên Trayvon Martin. (Hình: Red Huber/The Orlando Sentinel-Pool/Getty Images)

Công tố viên Bernardo de la Rionda trình bày là Zimmerman đã gây quỹ được trên $200,000, như thế tiền bond có thể xét lại. Zimmerman đã được tạm thời trả tự do sau khi đóng bail tuần này. Trước đây các công tố viên đề nghị bail $1 triệu nhưng sau khi nghe gia đình Zimmerman trình bày là họ không có tài nguyên cần thiết để đóng một số tiền lớn như thế Thẩm Phán Kenneth Lester Jr. đã ấn định tiền tại ngoại $150,000.

Thẩm Phán Lester nói ông chưa vội vã có quyết định khác trong khi còn cần biết thêm thông tin về việc gây quỹ của Zimmerman. Những mạnh tường quân vô danh đã đóng góp tiền giúp quỹ pháp lý cho Zimmerman.

Ông Ben Crump, một luật sư của gia đình Trayvon Martin, bày tỏ sự phẫn nộ về việc gây quỹ, nói rằng đã không được tiết lộ trước phiên tòa ấn định tiền tại ngoại, và như vậy phải ấn định lại vì Luật Sư Mark O’Mara của bị can đã từng mô tả Zimmerman là không có một xu dính túi.

Zimmerman được ra khỏi nhà tù đi đến một nơi bí mật vì Thẩm Phán Lester đồng ý với Luật Sư O’Mara rằng đương sự bị đe dọa có thể nguy hiểm đến sinh mạng. Tuy nhiên, Zimmerman phải đeo một dụng cụ điện tử để nhân viên hữu trách theo dõi. (H.C.)

Mức thất nghiệp tăng trước bầu cử tổng thống vòng nhì ở Pháp


PARIS (AP) –
Viễn tượng kinh tế suy thoái của Pháp nay đang là đề tài hàng đầu trong cuộc vận động tranh cử tổng thống quốc gia này sau khi các dữ kiện công bố hôm Thứ Sáu cho thấy mức thất nghiệp tăng trong Tháng Ba, liên tục trong 11 tháng qua.

Nhân viên hãng Technicolor ở Rennes hôm Thứ Sáu mặc trang phục nhân vật truyện tranh Astérix, biểu tình phản đối quyết định đóng xưởng ở Angers. Mức thất nghiệp ở Pháp tăng trong Tháng Ba, liên tục trong 11 tháng qua. (Hình: Thomas Bregardis/AFP/GettyImages)

Ông Francois Hollande, người đại diện đảng Xã Hội đối lập ra tranh cử chống ông Nicolas Sarkozy trong cuộc bầu cử vòng nhì hôm 6 Tháng Năm này, nhanh chóng dùng con số thất nghiệp do Bộ Lao Ðộng đưa ra là tăng thêm 0.6%, nghĩa là hiện có 2.88 triêu người Pháp thất nghiệp, để tấn công ông Sarkozy.

Trong cuộc phỏng vấn dành cho đài phát thanh RTL hôm Thứ Sáu, ông Hollande nói rằng tạo ra công việc làm là vấn đề chính trong cuộc tranh cử hiện nay.

Ông Hollande đả kích rằng ông Sarkozy từng hứa sẽ giảm mức thất nghiệp xuống còn 5% nhưng nay ở cuối nhiệm kỳ của ông ta, mức thất nghiệp lại là 10%.

Ông Sarkozy nói rằng sở dĩ nước Pháp tiếp tục có mức thất nghiệp cao là vì cuộc khủng hoảng nợ công đang xảy ra ở Âu Châu. Thủ Tướng Francois Fillon cho hay tuy vậy mức thất nghiệp ở Pháp còn thấp hơn các quốc gia Âu Châu khác. (V.Giang)

Thất nghiệp Tây Ban Nha gần 25%


MADRID (AP) –
Nền kinh tế Tây Ban Nha có các chỉ dấu khủng hoảng trầm trọng hơn hôm Thứ Sáu qua việc chính phủ tiết lộ mức thất nghiệp nay lên tới gần 25%, chỉ một ngày sau khi một cơ quan thẩm định tín dụng có quyết định giảm giá trị của nợ quốc gia này và cảnh cáo rằng sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc phục hồi kinh tế.

Người dân Tây Ban Nha đứng xếp hàng ở văn phòng sở thất nghiệp tại Palma de Mallorca hôm Thứ Sáu. Tỷ lệ thất nghiệp tại đây lên tới 24.4%. (Hình: Jaime Reina/AFP/GettyImages)

Các con số của chính phủ cho thấy mức thất nghiệp nay lên tới 24.4% trong ba tháng đầu năm 2012-cao nhất trong 17 quốc gia sử dụng đồng Euro-từ mức 22.9% vào cuối năm 2011. Dữ kiện này cho thấy có thêm 365,000 người thất nghiệp trong ba tháng đầu năm nay, đưa tổng số người thất nghiệp tại Tây Ban Nha lên tới 5.6 triệu người. Mức thất nghiệp trong những người dưới 25 tuổi hiện là 52% so với con số 48.5% ba tháng trước đó.

“Các con số này tệ hại cho mọi người và cũng tệ hại cho chính phủ,” theo lời Ngoại Trưởng Jose Manuel Garcia-Margallo nói với đài phát thanh quốc gia. “Tây Ban Nha đang trong cuộc khủng hoảng với tầm vóc lớn lao.” (V.Giang)

Sẽ còn nhiều vụ cướp đất ở Văn Giang


HÀ NỘI (NV) –
Theo một bài viết của Thời Báo Kinh Tế Việt Nam (TBKTVN) hôm Thứ Sáu, 27 tháng 4, 2012, một số tư bản đỏ nổi tiếng đang nhăm nhe một số dự án nhà đất ở huyện Văn Giang, nơi vừa xảy ra vụ cưỡng chế vang dội cả thế giới.










Lễ cất nóc tòa tháp D, dự án Rừng Cọ thuộc Ecopark vào cuối năm 2011. Vị thế đắc địa đã khiến cho Văn Giang đặc biệt hấp dẫn các nhà đầu tư bất động sản. (Hình: Thời Báo Kinh Tế Việt Nam)


Theo chiều hướng này, hàng ngàn gia đình nông dân địa phương có thể sắp bị đẩy vào những vụ “quy hoạch” đô thị kiểu Ecopark của công ty Việt Hưng, chỉ vì huyện Văn Giang chỉ cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 10 cây số.


Nhà cầm quyền “quy hoạch” đất sản xuất và nhà cửa của nông dân rồi bán lại cho các công ty tư bản đỏ xây dựng chung cư, biệt thự kiếm lời, đẩy người ta vào vòng cùng khổ.


Huyện Văn Giang gồm 10 xã và 1 thị trấn, nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Hưng Yên, tả ngạn sông Hồng. Phía Bắc và Tây Bắc giáp huyện Gia Lâm, phía Tây giáp huyện Thanh Trì và phía Tây Nam giáp huyện Thường Tín của thành phố Hà Nội.


Nhìn trên bản đồ, người ta có thể thấy thị trấn Văn Giang chỉ cách hồ Gươm khoảng 12 km trong khi điểm gần nhất của huyện này là điểm đầu của khu đô thị Ecopark cũng chỉ cách hồ Gươm khoảng 9 km theo đường chim bay. Với các cầu Thanh Trì, Vĩnh Tuy và Vĩnh Tuy giai đoạn 2 đang xây dựng, thời gian di chuyển từ Văn Giang về Hà Nội được rút ngắn khá nhiều.


TBKTVN cho hay ngoài dự án Ecopark đang tiến hành với các chung cư và biệt thự bán với giá từ 20 triệu đồng m2 tới 45 triệu đồng m2, “hàng loạt công ty khác đã và đang triển khai các dự án bất động sản tại đây.”


Trong số đó, TBKTVN nói “phải kể đến Công ty Cổ phần Vincom, nhà đầu tư của hàng loạt dự án bất động sản lớn trên toàn quốc” của ông Phạm Nhật Vượng.


Nguồn tin cho biết, “Theo đề xuất của Vincom, đã được UBND tỉnh Hưng Yên tiếp nhận và đang xem xét, công ty này muốn lập quy hoạch xây dựng một dự án khu đô thị sinh thái trên địa bàn xã Nghĩa Trụ và Long Hưng (Văn Giang).”


Bên cạnh đó “công ty TNHH Xuân Cầu, một nhà đầu tư có trụ sở tại Hà Nội cũng đã được UBND tỉnh Hưng Yên ‘thống nhất về nguyên tắc’ về việc triển khai dự án ‘Khu đô thị nhà vườn sinh thái’ và ‘Khu nghỉ dưỡng Văn Giang’ trên địa bàn thị trấn Văn Giang và xã Liên Nghĩa, với diện tích 243 ha.”


Và đây là một số dự án khác được TBKTVN mô tả tóm tắt: “Techconvina, một công ty nổi tiếng với hoạt động xây dựng công nghiệp hiện cũng đang triển khai một dự án mang tên ‘Khu đô thị mới Ðông Văn Giang’ tại xã Long Hưng với diện tích 117 ha, dự kiến tổng vốn đầu tư 35 triệu USD. Nhà đầu tư này cho biết dự án sẽ bao gồm các khu nhà liền kề, biệt thự và chung cư cao tầng. Ở quy mô khiêm tốn hơn, Công ty Cổ phần Ðầu tư Xây dựng Thương mại Thăng Long có trụ sở tại Hưng Yên cũng đã đề xuất một dự án mang tên ‘Khu vui chơi giải trí và nghỉ dưỡng Thăng Long’ trên diện tích 5.5 ha trên địa bàn thị trấn Văn Giang. Trong khi đó, Công ty Cổ phần Hanec, một công ty cũng có trụ sở tại Hưng Yên đã đề xuất dự án ‘Chợ và nhà ở thương mại huyện Văn Giang’ trên diện tích 6 ha tại thị trấn Văn Giang.”


Một bài viết trên tờ báo nghiêng về phân tích và bình luận “Tầm Nhìn” ngày 26 tháng 4, 2012 cảnh cáo vụ cưỡng chế ở Văn Giang ngày 24 tháng 4, 2012 có “nhiều hệ lụy.” Bài viết này đã bị gỡ xuống ngay trong ngày xuất hiện trên Internet.


Các vụ cưỡng chế phục vụ tư bản đỏ luôn luôn được hiểu ngầm là có sự móc ngoặc, chia chác giữa kẻ có quyền và kẻ có tiền. Tác giả bài viết trên “Tầm Nhìn” cảnh cáo “với thực trạng tham nhũng đã ăn vào tận ruột từ nhiều năm qua, có thể không loại trừ những Bạc Hy Lai Việt Nam.” (TN)

Quan tham nhũng, cả ngàn dân bao vây trụ sở xã


HÀ NỘI (NV) –
Vụ việc cưỡng chế ở huyện Văn Giang, Hưng Yên, vừa mới chỉ xong giai đoạn đàn áp được hai ngày thì tại Hà Nội, vụ xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng vẫn còn nguyên đó, cả ngàn người dân của một xã ở huyện Liên Hiệp, Hà Nội đã vây trụ sở xã, nấu cháo ăn ngủ ngay tại đó để đòi nhà cầm quyền trả lời các nghi vấn.










Người dân nấu cháo tại trụ sở xã và “bám trụ” để buộc trả lời các chất vấn nghi ngờ tham nhũng. (Hình: Dân Việt)


Họ nghi ngờ các viên chức cầm đầu xã Liên Hiệp, huyện Phúc Thọ đã tước đoạt đất của dân rồi “dùng sai mục đích”. Ðúng ra, các quan đã kinh doanh kiếm ăn ngay trên số đất đó trong sự thiệt thòi của người dân.


Xã Liên Hiệp, huyện Phúc Thọ trước kia thuộc tỉnh Sơn Tây, nay trở thành một phần Hà Nội mở rộng.


Vụ này diễn ra cũng chưa hề thấy có tiền lệ trong tất cả các vụ chống đối sự lạm dụng quyền hành của nhà cầm quyền để chấm mút tham nhũng, gây thiệt hại cho người dân.


Theo bản tin báo Dân Việt hôm Thứ Sáu, thay vì tới chất vấn hay biểu tình chống đối rồi về nhà, dân địa phương “biến sân của UBND xã thành bếp nấu hàng chục nồi cháo, khói lửa nghi ngút”.


Họ nấu cháo ăn rồi “bám trụ” ở đó “để được chính quyền quan tâm trả lời thắc mắc việc quản lý và sử dụng đất đai của chính quyền xã có dấu hiệu bất thường hàng chục năm nay”. Dân Việt dẫn lời một người dân tên Nguyễn Văn Khâm cho biết.


Theo nguồn tin, ông Nguyễn Chí Trọng, đại diện dân địa phương, cho hay, “Sở dĩ dân bức xúc là do có bằng chứng chính quyền xã sử dụng đất đai của dân sai mục đích. Năm 1998, xã chủ động dồn điền đổi thửa đã tự ý cắt đất canh tác của dân. Mỗi khẩu bị cắt đi khoảng 24m2, tổng cộng cả xã được 36,066m2, sau đó cho 14 hộ làm nghề mạ kẽm thuê làm nhà xưởng.”


Dẫn chứng, họ cho biết nhà cầm quyền đã “cấp hơn 5,000 m2 cho ông Ðinh Thế Thắng làm xưởng cơ khí, cấp 5,634 m2 cho ông Lê Hiền Khanh để làm dự án, nhưng ông này lại bán để kiếm lời. Ðến năm 2008, vẫn bài chia lại diện tích đất, xã ‘cắt’ mỗi khẩu thêm 15m2 đất ven sông Ðáy rồi cho thuê và người dân không được hưởng lợi gì từ tiền thuê đất này”.


Báo Ðất Việt nói buổi trưa 26 tháng 4 năm 2012, “Khoảng 400 người dân vây kín hội trường xã yêu cầu chủ tịch xã Từ Tất Tuấn trả lời. Phải vô cùng khó khăn chúng tôi mới đưa được ông Tuấn sang phòng ông Ðỗ Hữu Tích – bí thư kiêm chủ tịch hội đồng nhân dân xã, nhưng vẫn bị người dân ùa theo. Họ yêu cầu phải mở cửa để họ được nghe cuộc làm việc giữa phóng viên và đại diện chính quyền ở đây.”


Nguồn tin kể theo lời ông Tuấn cho biết, “14 hộ dân mạ kẽm đưa dây chuyền mạ kẽm vào hoạt động nhưng không xử lý hóa chất độc hại mà thải ra môi trường. Người dân bức xúc vì có khoảng 4ha đã bị nước thải tàn phá, không thể canh tác được”.


Nhà cầm quyền xã “hầu như tê liệt không làm được việc gì vì bà con tập trung ở trụ sở quá đông”. Tờ Dân Việt nói “Việc bà con tập trung nấu cháo rồi ăn nghỉ luôn ở trụ sở ủy ban, ông Tuấn đã báo cáo trực tiếp đến chủ tịch huyện Phúc Thọ là ông Hoàng Mạnh Phú nhưng chưa nhận được bất cứ sự chỉ đạo nào”.


Ðến chiều tối 26 tháng 4 năm 2012, nguồn tin cho biết hàng trăm người dân vẫn tụ tập, “vây” trụ sở xã. (T.N.)

Gần 100,000 dân California sắp bị cúp trợ cấp thất nghiệp


SACRAMENTO, California –
Gần 100,000 dân California mất việc làm sẽ hết được hưởng trợ cấp thất nghiệp của liên bang trước cuối Tháng Năm, báo LA Times trích thuật lời nhắc nhở của giới chức tiểu bang.

Do tình hình kinh tế ở California có tiến triển và mức thất nghiệp giảm xuống còn 11% hồi Tháng Ba, trợ cấp thất nghiệp triển hạn cho cư dân California sẽ bị ngưng trước cuối Tháng Năm. (Hình: Brendan Hoffman/Getty Images)

Phần phụ cấp $450 mỗi tuần này nằm trong phần triển hạn của liên bang từ chương trình thông thường của tiểu bang.

Chính quyền liên bang lập chương trình Fed-ED, và được biết dưới tên Fed-ED, viết tắt từ Federal-State Extended Duration Benefits, vào Tháng Ba, 2009, nhằm giúp dân thất nghiệp ở California trong thời gian thất nghiệp kéo dài, do gặp phải cơn suy thoái tệ hại nhất trong 50 năm.

Tuy nhiên, sự trợ giúp này sẽ chấm dứt vào Tháng Năm, khi tình hình kinh tế ở California có tiến triển và mức thất nghiệp cũng giảm xuống còn 11% hồi Tháng Ba.

Sở Thất Nghiệp California (EDD), đã gửi giấy thông báo đến người được hưởng trợ cấp, báo trước là họ sắp sửa bị ngưng nhận ngân phiếu trợ cấp thất nghiệp.

Giám đốc cơ quan EDD, bà Pam Harris, nói: “Trước cơn suy thoái nghiêm trọng khiến nhiều người lâm vào tình trạng thất nghiệp kéo dài, chương trình triển hạn Fed-ED giúp họ sống còn trong khi tìm kiếm việc làm trở lại. Tuy nhiên, chúng tôi hiểu rằng quyết định ngưng trợ cấp sẽ gây khó khăn cho thân chủ của chúng tôi. Chúng tôi đang làm mọi cách để nhắn nhủ họ, nhờ vậy họ có thể có kế hoạch đối phó thích hợp.”

Hiện thời, người thất nghiệp được ăn tiền trợ cấp tối đa đến 99 tuần, trong đó 26 tuần từ EDD, và 73 tuần triển hạn do chính quyền liên bang trả. California đang gửi tiền thất nghiệp đến hơn 1.1 triệu người, trong đó hầu hết đang nhận được sự trợ giúp từ chương trình triển hạn của liên bang.

Tổng số phúc lợi này sẽ giảm xuống còn 89 tuần vào ngày 13 Tháng Năm, và 79 tuần bắt đầu từ ngày 27 Tháng Năm.

Vào năm ngoái, dân thất nghiệp nhận được $17.1 tỉ từ chương trình trợ cấp của tiểu bang lẫn liên bang, cộng thêm $4.7 tỉ trong năm nay, tính đến ngày 13 Tháng Tư. (TP)

Mỹ, Ấn Ðộ ký hợp đồng quốc phòng $8 tỷ


NEW DELHI (Reuters) –
Các công ty Mỹ sắp ký các thỏa thuận quốc phòng trị giá tổng cộng khoảng $8 tỉ với Ấn Ðộ, theo lời Ðại Sứ Mỹ Nancy Powell, trong bài diễn văn đầu tiên trước công chúng từ khi nhậm chức hồi tháng này.

Quân nhân Ấn Ðộ tập luyện ở Shimla. Các công ty Mỹ sắp ký các thỏa thuận quốc phòng trị giá tổng cộng khoảng $8 tỉ với Ấn Ðộ, theo lời đại sứ Mỹ. (Hình: Strdel/AFP/Getty Images)

Bà Powell không nêu tên các công ty này hay nói rõ thời điểm ký kết, tuy nhiên các giới chức tòa đại sứ nói những thỏa thuận này gồm cả giao kèo bán phi cơ trực thăng võ trang Apache và động cơ cho phi cơ chiến đấu Ấn Ðộ.

“Chúng tôi sắp ký thêm các thỏa thuận trị giá $8 tỉ gồm các món hàng thương mại và quân sự,” theo lời bà Powell. “Do chúng ta sử dụng cùng loại trang cụ, mối quan hệ quốc phòng song phương lại càng mạnh mẽ hơn.”

Ấn Ðộ hiện là quốc gia nhập cảng võ khí lớn nhất thế giới và dự trù sẽ chi ra khoảng $100 tỉ trong 10 năm tới để canh tân trang bị của quân đội, vốn phần lớn có từ thời Liên Xô. (V.Giang)

TT Obama cảnh báo các trường lường gạt cựu chiến binh


FORT STEWART, Georgia (AP) –
Tổng Thống Barack Obama hôm Thứ Sáu hướng đến thế hệ các chiến binh trẻ tuổi, khi ông đưa thêm một biện pháp mới nhằm bảo vệ họ và gia đình binh sĩ tránh được sự lừa đảo, qua các chương trình nhắm đến những phúc lợi giáo dục của họ do chính phủ liên bang cấp.

TT Obama vừa ký một sắc lệnh mới hầu có biện pháp đối phó với tình trạng một số trường đại học chỉ biết lợi dụng các cựu chiến binh và gia đình quân nhân. (Hình: AP/Pablo Martinez Monsivais)

Tổng thống nói: “Họ có màng gì đến quí vị đâu, họ chỉ nhắm đến tiền bạc của quí vị thôi.”

Ông Obama ký một sắc lệnh hầu đáp lại các khiếu nại đang ngày càng có nhiều, than phiền về chiến dịch lôi kéo các gia đình binh sĩ được hợp lệ trợ cấp giáo dục, căn cứ theo đạo luật GI Bill.

Với giọng có vẻ giận dữ, Tổng Thống Obama nói rằng một số các trường này đang đeo đuổi nam nữ quân nhân “chỉ vì tiền.” Ông tiếp: “Kinh khủng thật, họ đang tìm cách lừa bịp quí vị.”

Qua một nhận xét vang vọng lại bài nói chuyện hùng hồn ông phát biểu trong năm ra tranh cử tổng thống, ông Obama nói ông hứa với các quân nhân và cựu chiến binh rằng, Hoa Kỳ sẽ tranh đấu cho họ như họ đã chiến đấu cho đất nước. Ông đề cập đến điều mà ông gọi là “thế hệ 9/11,” của cả người ở trong và ngoài quân ngũ, trong khi ông kể đến những thành tựu đạt được trong nhiệm kỳ đầu của mình.

Mặc dù ít có điều gì chính quyền liên bang có thể làm được để đóng cửa các cơ sở giáo dục xấu đó, biện pháp bảo vệ mới khiến cho các cơ sở giáo dục hậu trung học hay trường kỹ thuật khó khăn hơn trong việc lừa bịp sinh viên gốc nhà binh.

Mục tiêu chính trong hành động của Tòa Bạch Ốc là các trường đại học chỉ biết vụ lợi, chuyên dồn nỗ lực vào các gia đình quân nhân vì biết rằng họ dễ xin được tiền của liên bang qua luật GI Bill. (TP)

California bị điểm B-trừ về cởi mở và D-trừ về tiếp cận thông tin


SACRAMENTO, California –
Tiểu bang California được đánh giá thế nào về sự minh bạch và thối nát về chính trị? Theo một nghiên cứu mới được công bố đầu tuần này, các tiểu bang được xếp hạng về cởi mở chính trị đều có câu trả lời không đến nỗi tệ. Tuy nhiên khi chấm điểm về tiếp cận thông tin công cộng thì hình ảnh lại không mấy tốt đẹp.

Bảng tính điểm tiểu bang California có tên “Corruption Risk Report Card,” cho thấy tiểu bang này được điểm B- về cởi mở chính trị, trong khi chỉ có D- về tiếp cận thông tin công cộng. (Hình: Suzanne Manneh và Zaineb Mohammed/New America Media)

Tiểu bang được mệnh danh Golden State đứng hạng tư trong bản báo cáo về rủi ro có tham nhũng (Corruption Risk Report Card), tính chung được điểm B-.

Tuy nhiên về sự tiếp cận thông tin công cộng thì tiểu bang chỉ được điểm D-, một điểm làm cho ít ai ngạc nhiên, và điều mà hầu hết đều đồng ý, là phải sửa đổi càng sớm càng hay.

Carol Shull nằm trong số các phóng viên nêu lên vấn đề để giúp cho cuộc điều tra. Bà khảo sát về nguy cơ có tham nhũng ở California, và ghi nhận rằng, trong khi đạo luật như California Public Records Act của năm 1968, được đề ra nhằm để có thể tiếp cận dễ dàng hơn các thông tin từ những cơ quan công cộng, thì lại tỏ ra chỉ tốt đẹp trên mặt giấy tờ, trong khi “chúng được thực hiện rất khác biệt ở từng cơ quan.”

Hope Johnson, người đứng đầu lực lượng đặc nhiệm Sunshine Ordinance Task Force ở San Francisco (SOTF), cũng tán đồng. Bà miêu tả việc California được điểm D- về tiếp cận thông tin là điểm “tương đối hợp lý.” Bà Johnson nói: “Ở California, chúng ta có được một vài luật tốt về hồ sơ công cộng, nhưng điểm quan trọng chính là việc cưỡng bách thi hành các luật ấy, và điều đó cũng còn tùy thuộc vào cách lãnh đạo.”

Bà cũng nhấn mạnh rằng ý thức quần chúng cũng là yếu tố quan trọng không kém. Bà giải thích:

“Nhiều người không hiểu rõ về các quyền của mình, và một số không thấy được tầm quan trọng của chúng. Họ thắc mắc: ‘Ðược rồi, điều này liên hệ gì đến tôi?’ [Tiếp cận thông tin công cộng] thích thú lắm sao, nhưng thật khó lòng khi quí vị trong vị thế cần tiếp cận thông tin. Nhất là đối với phóng viên đang cần phải có để làm việc cho kịp thời gian tính, điều này lại càng khó khăn hơn.”

Bà Johnson thêm: “Nếu không ai lo đến tiến trình chờ tiếp nhận thông tin, thì sẽ có sự cù nhày cho đến khi thông tin ấy chẳng còn hữu ích gì nữa.” Bà thêm rằng, trong một số trường hợp công chúng phải có hành động pháp lý đối với cơ quan chính quyền để có thể lấy được các tài liệu, mà đúng ra chúng phải dành sẵn cho họ.”

Bà Johnson kết luận: “Rồi ra chỉ gây tốn kém thật nhiều từ người thọ thuế.”

 

Một giá không nhỏ phải trả

 

Bà Johnson nhắc lại một cuộc điều trần của SOTF hồi tháng 10, 2010, theo đó SOTF có ý kiến với hội đồng giám sát thành phố về vấn đề cởi mở của chính quyền.

Một nhân viên làm việc cho một cơ quan công vụ địa phương nộp bản thỉnh cầu hồi Tháng Sáu 2010 xin được lấy hồ sơ liên quan đến công tố viên thời bấy giờ tên là Kamala Harris. Bà Johnson kể rằng, sau cuộc tranh cãi trước tòa khiến thành phố phải tốn hết $7,500, người nhân viên chỉ nhận được 2 trong số 11 hồ sơ và phải chờ mãi đến Tháng Chín mới nhận được.

Daniel Newman là giám đốc điều hành của MapLight, một tổ chức bất vụ lợi ở Berkeley, California, chuyên theo dõi tiền gây quỹ vận động tranh cử. Ông nói với New America Media rằng, “sự thiếu vắng một cơ quan cưỡng bách việc thi hành đạo luật về hồ sơ công cộng là một điều tai hại” cho một chánh quyền cởi mở. Tuy nhiên ông vẫn xếp California “vào hạng C, vì tiểu bang này có sẵn quyền được xin tiếp cận thông tin và quyền được thu luật sư phí [nếu người đòi tiếp cận thắng kiện ở tòa án.]”

Hồi Tháng Mười Hai, 2008, MapLight và The First Amendment Coalition (FAC) cùng nộp đơn kiện Office of Legislative Counsel of California, căn cứ theo đạo luật California Public Records Act. Họ khiếu nại rằng vào Tháng Bảy cùng năm họ bị từ chối thỉnh cầu xin được lấy hồ sơ dữ liệu điện tử để biết các nhà làm luật của tiểu bang đã bỏ phiếu như thế nào. Trong cuộc dàn xếp vào Tháng Sáu 2009, MapLight và FAC được phép tiếp cận thông tin mà họ đòi hỏi.

 

Cần có sự cải tiến

 

Bà Shull nêu rằng, việc bắt người ta phải ra tòa để chống lại quyết định không cho họ tiếp cận thông tin công cộng là yếu tố khiến California bị điểm thấp như vậy. Bà nói: “Chúng tôi mong các tiểu bang nên lập ra một ủy ban hay tổ chức riêng biệt để xét về những thỉnh cầu tương tự.”

Việc để cho công chúng được dễ dàng tiếp cận thông tin, mà đúng ra theo luật phải có sẵn cho họ, là một thách thức khác khiến California bị hạ điểm.

Hầu hết giới chức cao cấp do dân bầu hoặc được bổ nhiệm, phải nộp văn bản kê khai với ủy ban California Fair Political Practices Commission (FPPC) các thứ như: quà cáp họ nhận được, co ẩphiếu và đầu tư họ đang có, lợi tức kiếm được từ ngoài tiểu bang, và tài sản họ đang sở hữu. Tuy nhiên, các viên chức khác của tiểu bang, thành phố, và quận hạt, như cấp quản trị thành phố hay giám đốc ủy ban quy hoạch, lại chỉ nộp những hồ sơ đó ở địa phương nơi họ làm việc mà thôi.

Hiện nay không có cách nào để tập trung tất cả những thông tin đó và phân tích xem có nhóm interest group nào liên hệ đến các hoạt động trên khắp tiểu bang hay không. Ann Ravel, chủ tịch ủy ban FPPC, nói rằng nhóm interest group phải có được các bản sao của tất cả văn bản về lợi ích kinh tế, để gia tăng tính minh bạch, đồng thời giúp cho công chúng tiếp cận được với các thông tin.

Bà Ravel nói: “Công chúng cần được biết về các thông tin đó nhờ vậy có thể hiểu được các viên chức cộng đồng có thực hiện những quyết định đáp ứng đúng với lợi ích của họ hay không.”

Bà Johnson thuộc tổ chức SOTF ghi nhận rằng, tiểu bang California có thể được lợi từ một qui định áp dụng trên toàn tiểu bang hoặc từ một bộ phận quản lý của tòa án, cưỡng bách việc thực thi quyền tiếp cận tài liệu công cộng, nhờ vậy giảm được các vi phạm của chính quyền cởi mở.

Dân biểu tiểu bang Warren T Furutani (thuộc đảng Dân Chủ đơn vị khu vực Nam quận Los Angeles), là một người hoạt động tích cực cho các cộng đồng, đang tham gia về chính trị và thông tin thích đáng, đặc biệt về các dịch vụ song ngữ, cũng tỏ ra quan tâm đến các vận động để có được một chính quyền tốt. (TP)

Bị điều tra vì diễu đòi ‘cướp máy bay, giết Obama’


SALT LAKE CITY (Reuters) –
Một trò đùa dai nhắm vào bạn đồng nghiệp, theo đó đe dọa cướp phi cơ và ám sát Tổng Thống Barack Obama khiến một người đàn ông ở Utah gặp khó khăn với giới chức an ninh liên bang Mỹ.










Nữ phi công Mỹ kiểm tra an toàn phản lực cơ tại căn cứ Hill Air Force Base, Utah. Một nhân viên căn cứ này vừa bị điều tra vì “diễu” đòi cướp máy bay và giết tổng thống. (Hình: Jim Verchio/USAF/Getty Images)


Các công tố viên liên bang cho hay Jeremiah Hill viết trên một tờ giấy các lời đe dọa rồi để vào trong cặp của bạn đồng nghiệp khi cả hai cùng làm việc ở căn cứ không quân Hill Air Force Base, nằm về phía Bắc thành phố Salt Lake City hồi Tháng Tám năm ngoái.


Tờ giấy có hàng chữ: “1-Cướp máy bay, 2-Giết Obama,” theo hồ sơ tại tòa liên bang ở Salt Lake City.


Các nhân viên kiểm soát phi trường tìm thấy mảnh giấy này khi khám hành lý trước chuyến nay Delta đến Arizona và cơ quan FBI mở cuộc điều tra.


Ông Hill, 31 tuổi, khai với FBI và Cơ Quan Ðặc Vụ rằng đây chỉ là trò đùa và ông cố ý để lòi miếng giấy ra ngoài để các bạn đồng nghiệp khác cùng thấy. (V.Giang)

Ðồng tiền người Việt quận Cam: Kiếm khó, được ít


LTS: Bài viết nằm trong loạt bài đặc biệt ‘Kinh tế của người Việt ở Quận Cam’ do báo Người Việt thực hiện, nhân tưởng niệm biến cố 30-04-1975 và đánh dấu 37 năm cộng đồng Việt Nam có mặt tại Hoa Kỳ. Mời quý độc giả bấm vào đây để đọc loạt bài này.





Những con số của U.S. Census

 

 

Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt

 

WESTMINSTER (NV) – Với hơn một triệu người trên đất Mỹ, và gần 200,000 người ở Quận Cam, cộng đồng Việt Nam đang trở thành một lực lượng dân số đáng kể. Những cửa tiệm chi chít trên đường Bolsa, Brookhurst, Westminster, khắp vùng Little Saigon, cũng minh chứng cho hoạt động sầm uất của người Việt quận Cam về kinh tế.

Trong 5 tiểu bang nhiều người Việt Nam nhất, tiểu bang California có mức tăng dân số Việt thấp nhất từ kỳ Census 2000 tới Census 2010. (Hình: Khoa Vũ/Người Việt)

Nhưng sự sầm uất đó thật sự là tới đâu? Những con số thực sự về nền kinh tế của người Việt quận Cam là bao nhiêu? Những cửa tiệm đẹp đẽ có phản ánh sự thành công của chủ nhân, hay chỉ che lấp sự vất vả của người quần quật làm ăn nuôi gia đình?

Câu trả lời nằm trong cơ quan kiểm kê dân số U.S. Census. Cơ quan này có rất nhiều con số chi tiết về nước Mỹ. Ngoài cuộc kiểm kê dân số mỗi 10 năm (“Census”), cơ quan này còn thăm dò thường xuyên, trong đó quan trọng nhất là cuộc thăm dò người dân mang tên American Community Survey “ACS” và cuộc thăm dò thương gia mang tên Survey of Business Owners “SBO”.

Những con số, vừa từ Census, vừa từ ACS, vừa từ SBO, khắc họa hình ảnh một cộng đồng Việt Nam lớn lên nhanh, làm việc siêng năng, nhưng số tiền làm ra không nhiều.

Con số Census 2010 cho thấy, California có hơn 580,000 người Việt Nam. Vùng miền Nam California, mà cơ quan Census gọi là vùng đô thị (MSA) Los Angeles-Long Beach-Santa Ana, có 271,234 người. Ðứng hạng nhì là vùng MSA San Jose-Sunnyvale-Santa Clara với 125,774 người. Hạng 3 là vùng Houston, hạng 4 vùng Arlington, hạng 5 vùng Virginia.

Riêng quận hạt Orange County, tức quận Cam, có 183,766 người Việt Nam. Nếu tính thêm những người vừa sắc tộc Việt Nam vừa có một hoặc hai sắc tộc khác nữa, quận Cam có 187,948 người Việt Nam thuần hoặc lai.

Từ lần thăm dò trước, năm 2000, tới 2010, dân số gốc Việt ở Mỹ tăng 37.9%, từ 1.1 triệu lên 1.5 triệu.

Tuy nhiên, với nạn thất nghiệp cao tại California, ở quận Cam cũng như ở khu kỹ nghệ điện tử quanh San Jose, mức tăng ở California thấp hơn của toàn quốc: Dân số người Việt ở California tăng 30% trong 10 năm. Trong khi đó, ở Texas, nơi nhiều việc làm hơn, dân số Việt Nam tăng 56% trong cùng thời gian đó. Không riêng gì với Texas: Trong 5 tiểu bang đông dân Việt nhất, tiểu bang California đứng đầu về số dân nhưng lại đứng chót về mức gia tăng.

Mức thất nghiệp tại quận Cam ảnh hưởng ngay vào cộng đồng Việt Nam. Theo thăm dò ACS, trung bình 3 năm 2008-2010, quận Cam thất nghiệp 9.0%, nhưng trong cộng đồng Việt Nam mức thất nghiệp còn cao hơn, 10.2%.

Con số này cao hơn hẳn so với trước cuộc khủng hoảng tài chính thời 2007-2008. Trong ACS trước đó, trung bình 3 năm 2005-2007, cộng đồng Việt Nam quận Cam thất nghiệp 4.8%.

Không chỉ gặp khó khăn về việc làm, cộng đồng Việt Nam còn bị kẹt về nhiều yếu tố khác khiến họ khó bứt lên trong kinh tế, trong chuyện kiếm tiền.

 

Ngôn ngữ, và những trở ngại khác

 

Khó khăn đầu tiên là về ngôn ngữ. Tỷ lệ người Việt Nam tại quận Cam tự nhận là nói tiếng Anh chưa tới mức “very well” (rất rành) lên tới 55.6%. Trong khi đó, người gốc Á tại quận Cam nói chung, tỷ lệ này chỉ có 38.2%.

Tiếng Anh của người Việt Nam cũng thua tiếng Anh của người gốc Mỹ La Tinh, tức người Hispanic hay Latino. Tỷ lệ nói tiếng Anh chưa tới mức “rất rành” của họ chỉ có 41.3%.


Tỷ lệ người gốc Việt tại quận Cam nói tiếng Anh chưa tới mức “rất rành” (“very well”) cao hơn phân nửa. Trong khi người gốc Mỹ La Tinh chỉ bị có 42% và người gốc Á nói chung chỉ bị tới mức 32%. (Hình: Khoa Vũ/Người Việt)

Nói cách khác, chưa tới một nửa người gốc Việt là “rất rành” tiếng Anh, so với quá nửa người gốc Á nói chung hay người gốc Mỹ La Tinh. “Ðiều này không có gì ngạc nhiên,” Giáo Sư Linda Võ Ðại Học UC Irvine nói với báo Người Việt. “Cộng đồng Mỹ gốc Việt hầu hết là di dân thế hệ thứ nhất, người sinh trưởng ở ngoại quốc.” Giáo Sư Võ chuyên nghiên cứu về phát triển cộng đồng Mỹ gốc Á, nhất là gốc Việt Nam ở miền Nam California. Giáo sư nói thêm, “Ðiều này không áp dụng với thế hệ thứ nhì sinh trưởng ở Mỹ, dùng tiếng Anh thoải mái hơn.”

Cũng vì không rành tiếng Anh, nên người Việt cũng ít dùng tiếng Anh ở nhà. Tỷ lệ người Việt quận Cam dùng thuần túy tiếng Anh ở nhà chỉ có 9.1%, tức là 11 nhà mới có 1 nhà dùng thuần túy tiếng Anh. Trong khi đó, đối với người Châu Á khác, là 24.1%, cao gần gấp hai rưỡi; và đối với người gốc Mỹ La Tinh, là 20.6%, hơn gấp đôi.

Học vấn người Việt Nam cũng thấp hơn các cộng đồng bạn. Những tấm gương sáng của những người Việt Nam thành danh trong học vấn, tuy đáng hãnh diện, vẫn lộ ra là một thứ ngoại lệ đặc biệt, làm phai đi thực trạng của người di dân chật vật với chuyện trường lớp, bằng cấp.

Tỷ lệ người Việt Nam quận Cam 25 tuổi trở lên mà vẫn chưa xong trung học (ở Mỹ hay ở nước khác) là tới 27.7%. Tức là, cứ 4 người thì hơn 1 người chưa xong trung học. Tỷ lệ này cao hơn quận Cam nói chung (16.9%), và cao hơn người gốc Á nói chung (13.7%). Nếu có phần an ủi, thì tỷ lệ người gốc Mỹ La Tinh chưa xong trung học còn cao hơn người Việt, tới 43.8%.

Có thể vì vậy, người Việt quận Cam làm những công việc nặng nhọc, ít đòi hỏi ngôn ngữ và học vấn, hơn người quận Cam nói chung.

Bốn ngành nhiều người Việt nhất, theo thứ tự, là: (1) Hãng xưởng (manufacturing); rồi tới (2) Giáo dục, y tế, xã hội; rồi (3) Dịch vụ không chuyên; rồi (4) Bán lẻ.

Trong khi đó, quận Cam nói chung, bốn ngành nhiều người nhất là: (1) Giáo dục, y tế, xã hội; sau đó là (2) Dịch vụ chuyên môn, khoa học, quản trị; rồi mới tới (3) Hãng xưởng; và (4) Bán lẻ.

Tỷ lệ người gốc Việt tại quận Cam chưa xong trung học là 28%, thấp hơn người gốc Mỹ La Tinh, nhưng cao hơn quận Cam nói chung và cao hơn người gốc Á nói chung. (Hình: Khoa Vũ/Người Việt)

Người Châu Á tại quận Cam có các ngành này nhiều người nhất: (1) Giáo dục, y tế, xã hội; rồi (2) Hãng xưởng; (3) Dịch vụ chuyên môn, khoa học, quản trị; (4) Bán lẻ.

Cụ thể, ngành dịch vụ không chuyên (trong đó có ngành nails) nằm trong Top 4 của người Việt Nam, không trong Top 4 cộng đồng bạn. Ngược lại, bạn có dịch vụ chuyên môn, khoa học, quản trị trong Top 4, mà người Việt Nam không có.

 

Thu nhập

 

Với ngành nghề khác, số tiền người Việt Nam kiếm được cũng khác người ta. Trong khi một gia đình tại quận Cam có thu nhập trung bình (median, chính xác hơn là “trung vị”) $72,832, thì một gia đình Việt Nam thua tới 1/6, chỉ có thu nhập $60,026.

Những gia đình thu nhập bằng tiền kiếm được (“earnings”), như lương hoặc tiền lời mở tiệm, gia đình Việt Nam trung bình $78,727; gia đình quận Cam trung bình $96,936.

“Người Việt Nam hầu hết là người tỵ nạn, di dân. Nền giáo dục và kinh nghiệm làm việc của họ khác, nên điều này ảnh hưởng tới khả năng hội nhập và tìm việc làm lương cao sau khi nhập cư,” Giáo Sư Võ giải thích.

Và nếu tiền lương thấp hơn, thì tiền hưu cũng thấp hơn, và thấp hơn nhiều: Tiền hưu trung bình của người Việt Nam là $17,147; của quận Cam hơn gấp rưỡi, $26,650.

Người gốc Việt nhận food stampngang với người gốc Hispanis. (Hình: Khoa Vũ/Người Việt)

Ngay cả tiền già, tiền trợ cấp của một gia đình Việt Nam, cũng thấp hơn của một gia đình quận Cam nói chung. Trung bình Social Security của gia đình Việt Nam là $12,163 một năm, còn của gia đình quận Cam là $16,469. Tiền trợ cấp: Việt Nam $5,890; quận Cam: $6,293.

Có tiền SSI thì người Việt Nam lãnh cao hơn người quận Cam nói chung: Người Việt Nam trung bình $10,675; quận Cam: $9,225.

Và tỷ lệ người Việt Nam nhận food stamp (SNAP) cũng cao nhất so với các cộng đồng khác: 8.7% gia đình Việt Nam nhận food stamp, ngang với người gốc Mỹ La Tinh. Trong khi đó, chỉ có 3.5% gia đình quận Cam nói chung, chỉ có 3.6% gia đình gốc Á quận Cam, và chỉ có 5.5% gia đình người da đen ở quận Cam, là nhận food stamp.

“Lý do là vì Little Saigon,” Tiến Sĩ Thúy Võ-Ðặng giải thích cho báo Người Việt. Tiến Sĩ Võ-Ðặng hiện nghiên cứu và dạy tại Ðại Học UC Irvine về cộng đồng Việt Nam.

“Vùng Little Saigon là một hiện tượng mà xã hội học gọi là ‘institutional completeness’ – một chỗ cung cấp tất cả các thứ cho một cộng đồng sắc tộc. Người ta có thể đi bác sĩ, đi chợ, tìm việc làm, giải trí, sinh hoạt văn hóa, mà không cần ra khỏi Little Saigon. Những khu như vậy thường thu hút người di dân mới qua, nếu tỷ lệ những người này nhận SNAP nhiều thì không có gì là lạ.”

 

Làm ăn, mở tiệm

 

Như nhiều người di dân khác, nhiều người trong cộng đồng Việt Nam chọn con đường mở tiệm riêng để làm ăn, thay vì đi làm cho người khác. Nhiều cuộc nghiên cứu trước đây cho thấy người di dân thế hệ thứ nhất thường hay mở tiệm hoặc công ty riêng, nhưng thường thì kiếm được tiền ít hơn các cửa tiệm hay công ty của người sinh tại Mỹ.

Con số về người Việt Nam tại quận Cam cũng có kết quả tương tự. Ở Quận Cam, cuộc thăm dò SBO năm 2007 của U.S. Census cho thấy người Việt Nam có 14,662 thương nghiệp, với tổng thương vụ (tiền kiếm được) là gần $2.86 tỷ.

Ðó là một con số lớn. Tuy nhiên, chia trung bình ra, mỗi thương nghiệp Việt Nam kiếm được chưa tới $195,000 một năm.

Trong khi đó, toàn bộ quận Cam có 329,380 thương nghiệp, với thương vụ hơn $442 tỷ. Trung bình một thương nghiệp quận Cam, do đó, kiếm được hơn $1.3 triệu một năm.

Nói cách khác, người Việt Nam chịu khó mở tiệm, nhưng kiếm tiền chưa bằng 1/7 các thương nghiệp quận Cam nói chung.


Mỗi doanh nghiệp gốc Việt tại Quận Cam thu được mỗi năm $195,000, ít hơn các doanh nghiệp gốc Ấn, gốc Hoa, gốc Nhật, gốc Hàn, nhưng cao hơn doanh nghiệp gốc Philippines. (Hình: Khoa Vũ/Người Việt)


Số tiệm, công ty, xưởng của người Việt Nam cao hơn các sắc dân Á Châu khác trừ người Hoa. Người Mỹ gốc Hoa tại quận Cam có 15,903 thương nghiệp. Còn lại thì đều ít hơn Việt Nam: Người gốc Hàn có 8,905 doanh nghiệp, gốc Philippines 8,890; gốc Ấn 6,427; gốc Nhật 4,664.

Mỗi thương nghiệp của người gốc Ấn ($505,000), người gốc Hoa ($461,000), người gốc Nhật ($405,00), người gốc Hàn ($297,000) tại quận Cam đều kiếm được nhiều tiền hơn thương nghiệp người Việt. Bù lại, thương nghiệp người Việt kiếm nhiều tiền hơn của người gốc Philippines ($78,000).

“Tôi cho rằng lý do là vì các thương nghiệp Việt Nam vẫn làm theo kiểu gia đình, ‘mom-and-pop,’” Tiến Sĩ Võ-Ðặng nói. “Trong khi các cộng đồng Châu Á khác đã có nhiều thương nghiệp làm theo mô hình hiện đại, phát triển lớn, thì cộng đồng Việt Nam vẫn rất ít. Mô hình franchise, chẳng hạn, ngoài Lee’s Sandwiches ra cộng đồng Việt không có bao nhiêu.”

Ngoài số tiền kiếm vào không cao, một dấu hiệu khác các thương nghiệp Việt Nam không lớn, là một tỷ lệ rất lớn các thương nghiệp gốc Việt không có nhân viên làm ăn lương.

Trong số 14,662 thương nghiệp Việt Nam, chỉ có 2,581 thương nghiệp là có nhân viên làm ăn lương. Tỷ lệ này chỉ có 18%: Trong 5 tiệm, chưa tới 1 tiệm có nhân viên.

Trong khi đó, tỷ lệ các thương nghiệp trong cộng đồng khác có nhân viên làm ăn lương đều cao hơn: Thương nghiệp gốc Ấn có 29% có nhân viên ăn lương, thương nghiệp gốc Hàn 31%, thương nghiệp gốc Nhật 26%, thương nghiệp gốc Hoa 19%.

Trong cộng đồng gốc Á tại quận Cam, người Việt Nam có tỷ lệ doanh nghiệp tới 23%, nhưng tỷ lệ số tiền thu được (doanh thu) chỉ có 14%. (Hình: Khoa Vũ/Người Việt)

Riêng các thương nghiệp gốc Philippines, tỷ lệ có nhân viên ăn lương thấp hơn của Việt Nam, chỉ có 9%.

Có thể nào con số của thăm dò SBO bị thấp vì thương nghiệp Việt Nam trả tiền mặt cho nhân viên và không nói ra? Giáo Sư Linda Võ nói, “Ðiều đó mình biết là đang xảy ra trong tất cả các cộng đồng Châu Á, không riêng gì cộng đồng Việt Nam. Tuy nhiên, chúng ta không có con số thống kê khả tín về tình trạng này.”

Vì đây là xảy ra trong nhiều cộng đồng, mà thương nghiệp Việt vẫn ít nhân viên ăn lương, nên, theo Giáo Sư Võ, điều này có nghĩa là “thương gia Việt Nam phải cố gắng làm việc nhiều giờ, trông cậy vào sức lực trong gia đình, chứ không đủ khả năng thuê nhân viên ngoài”.

Ngay cả những thương nghiệp đủ phát triển để có thuê nhân viên, thương nghiệp gốc Việt thuê ít nhân viên hơn các sắc dân khác. Theo SBO của U.S. Census, mỗi thương nghiệp gốc Việt, nếu có nhân viên, thuê trung bình 6 người – nhiều hơn thương nghiệp gốc Hàn và gốc Philippines (5 người). Nhưng thấp hơn thương nghiệp gốc Nhật, gốc Hoa, gốc Ấn (9 người).

Tức là, con số nhiều thương nghiệp giải thích tại sao khu phố người Việt Nam ở quận Cam tấp nập các cửa tiệm, người ra người vào rộn ràng. Tuy nhiên, khi chỉ có một số ít tiệm có nhân viên ăn lương, và số nhân viên cũng ít, điều đó cho thấy các vị chủ nhân các thương nghiệp cũng chính là nhân viên luôn: Họ lấy công làm lời, mang sức lực gia đình ra để kiếm tiền.

Những cố gắng quần quật đó lại không kiếm ra bao nhiêu. Cộng với trình độ Anh ngữ giới hạn, học vấn dang dở, có những mối hợp đồng mà các thương nghiệp Việt Nam sẽ vẫn khó kiếm được. Kết quả xuất hiện ngay trong con số thống kê: Số tiền các doanh nghiệp Việt Nam kiếm ra còn rất thấp so với các cộng đồng bạn. Ðường đi đến sự thành công thực sự của người Việt Nam về kinh tế, vẫn còn dài và cần nhiều sự giúp đỡ.

Ðan Mạch bắt ba người tình nghi khủng bố


COPENHAGEN, Ðan Mạch (AP) –
Có ba người đàn ông bị bắt tại thủ đô Copenhagen của Ðan Mạch vì bị tình nghi âm mưu mở cuộc tấn công khủng bố, và cảnh sát tịch thu được võ khí của họ, theo cơ quan tình báo Ðan Mạch hôm Thứ Sáu.

Xe chở nghi can khủng bố đến sở cảnh sát ở Ðan Mạch. Tình báo quốc gia này vừa bắt ba người tình nghi khủng bố. (Hình: Nils Meilvang/AFP/Getty Images)

Cơ quan tình báo PET của Ðan Mạch cho hay những người này bị bắt ở hai địa điểm trong thủ đô Ðan Mạch sau cuộc điều tra.

Nguồn tin trên cho hay ba người này gồm một công dân Jordan 22 tuổi, một người Thổ Nhĩ Kỳ 23 tuổi sống ở Ðan Mạch, và một công dân Ðan Mạch 21 tuổi sống ở Ai Cập.

Cơ quan an ninh không cho hay ba người này có thuộc nhóm khủng bố nào hay không.

Từ năm 2005 đến nay, sau khi xảy ra việc báo chí đăng tải 12 bức hình hí họa của Nhà Tiên Tri Mohammad, cơ quan PET liên tiếp cảnh cáo là Ðan Mạch nằm trong tầm ngắm của thành phần khủng bố Hồi Giáo quá khích. (V.Giang)

EU và ASEAN tạo quan hệ mới với Myanmar


BANDAR SERI BEGAWAN (AFP) –
Ngoại trưởng các quốc gia vùng Ðông Nam Á và Âu Châu hôm Thứ Sáu khởi sự cuộc họp ở Brunei để “mở ra một trang mới” trong mối liên hệ vì nay đang có phần thuận lợi hơn vì những cải cách dân chủ ở Myanmar.

Ngoại Trưởng Guido Westerwelle của Ðức phát biểu với báo giới tại hội nghị EU-ASEAN ở Brunei. Hai khối này đồng ý tạo quan hệ mới với Myanmar. (Hình: Deankassin/AFP/GettyImages)

Các hành động vi phạm nhân quyền và đàn áp đối lập trước đây đã khiến Myanmar là cái gai trong mối quan hệ giữa khối ASEAN và cộng đồng quốc tế, kể cả khối Liên Âu.

Tuy nhiên, trong năm qua, chính phủ mới ở Myanmar dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống Thein Sein đã khởi sự các biện pháp cải cách, kể cả việc trả tự do cho hàng trăm tù chính trị, giảm bớt giới hạn truyền thông và để cho phía đối lập được sinh hoạt trong chính trường.

Myanmar cũng tổ chức cuộc bầu cử lịch sử hôm 1 Tháng Tư, trong đó nhà lãnh đạo đối lập Aung San Suu Kyi đắc cử vào Quốc Hội, thả nổi tiền tệ và cho hay sẵn sàng đón nhận đầu tư ngoại quốc.

Khối EU tháng này đáp ứng nỗ lực cải cách của Myanmar bằng cách loan báo việc tạm ngưng thi hành các biện pháp trừng phạt trong một năm.

Cao Ủy Ngoại Giao và An Ninh EU, bà Catherine Ashton, cho hay sự chuyển đổi ở Myanmar hiện nay sẽ “thắt chặt hơn nữa mối quan hệ giữa EU và ASEAN.”

Khối EU hồi Tháng Giêng cũng cho hay sẽ mở văn phòng đại diện tại Yangon, thành phố lớn nhất ở Myanmar, để điều hành các chương trình viện trợ. (V.Giang)

Mỹ và Ðài Loan lo ngại tiến bộ không gian của Trung Quốc


WASHINGTON (Reuters) –
Tiến bộ kỹ thuật không gian ngày càng cao của Trung Quốc có thể ngăn cản các phản ứng của quân đội Mỹ nếu Bắc Kinh dùng võ lực để thống nhất Ðài Loan, theo kết quả một cuộc nghiên cứu thực hiện cho Quốc Hội Mỹ vừa được phổ biến hôm Thứ Sáu.










Mô hình hỏa tiễn Trung Quốc trưng bày trong Viện Bảo Tàng Không Gian Thượng Hải. Những tiến bộ của Trung Quốc trong lãnh vực không gian khiến Mỹ và Ðài Loan lo ngại Trung Quốc sẽ dùng làm vũ khí. (Hình: Peter Parks/AFP/Getty Images)


Quân đội Trung Quốc “đang nhanh chóng tăng cường khả năng chiến đấu không gian,” theo bản báo cáo dài 84 trang của Viện Project 2049 Institute, một nhóm nghiên cứu chuyên về các vấn đề an ninh ở vùng Á Châu-Thái Bình Dương.


Washington, theo một đạo luật mang tên Taiwan Relations Act, do Quốc Hội thông qua năm 1979, “coi các hành động can dự vào tương lai của Ðài Loan bằng võ lực là mối đe dọa cho an ninh và ổn định của toàn vùng Tây Thái Bình Dương và là mối quan tâm lớn lao của Mỹ.”


Cuộc nghiên cứu cho hay nỗ lực phát triển chương trình quân sự không gian của Trung Quốc “có thể làm phức tạp hơn các hành xử của Mỹ trong vùng Á Châu-Thái Bình Dương.” Một thí dụ được nêu ra là Bắc Kinh có thể dùng vệ tinh của họ để theo dõi các hàng không mẫu hạm Mỹ và hướng dẫn hỏa tiễn bắn vào các mục tiêu này.


Cơ quan Project 2049 Institute nói rằng Trung Quốc đang cải thiện khả năng trinh sát không gian ở vùng Á Châu-Thái Bình Dương bằng một hệ thống vệ tinh và có thể đe dọa nhiều nơi trong vùng Tây Thái Bình Dương. (V.Giang)

Tin mới cập nhật