Sử dụng thắng tay trong xe hơi (Bài 2)


Phạm Ðình


 


Bài trước chúng ta đã đề cập đến thắng tay (hand brake) và các công dụng của nó. Trong thực tế, thắng tay không mấy được trọng dụng. Vì người ta sợ gài thắng tay, rồi quên không nhả ra thì nó có thể phá nát hệ thống thắng.


Cái đó gọi là lợi bất cập hại, nghĩa là lợi chưa có gì mà hại đã thấy rõ. Rốt cuộc, nó xuất hiện như một ông quan chưa làm việc đã được cho về hưu, ngày ngày chắp tay sau đít nhìn cuộc đời đi qua, cho đến lúc già lão. Nhưng để công bằng hơn, chúng ta phải tìm hiểu thêm một chút cho rõ ngọn ngành, và làm sao bắt “ổng” hợp tác để cùng nâng mức độ an toàn và phục vụ bền bỉ cho cái xe.


 


Thắng tay: Nên hay không nên dùng?


 


Trước tiên, xin tìm hiểu đôi chút về cấu tạo thắng tay. Trong khi thắng chân (tức là hệ thống thắng vẫn dùng, sử dụng bằng cách nhấn chân trên bàn đạp) sử dụng hệ thống thủy lực để vận hành, thì thắng tay lại dùng dây cáp (cable). Dễ hiểu nhất là hình dung thắng tay như cái “phanh xe đạp” mà ai cũng đã quá quen khi còn ở Việt Nam. Khi chúng ta kéo cần thắng lên thì dây cáp bị kéo căng, ép bố thắng sát vào bánh xe, giữ cho xe đứng lại. Khi hạ cần thắng xuống cũng là lúc dây cáp được thả lỏng và bố xe được lơi giãn, bánh xe có thể di chuyển nhẹ nhàng. Ða phần thắng tay tác dụng vào 2 bánh sau. Nhưng cũng có kiểu xe, thắng tay lại tác dụng vào 2 bánh trước.


Nếu không sử dụng thắng tay lâu ngày, sợi cable nối thắng tay có thể bị rỉ sét, bị kẹt. Khi hữu sự thì không sử dụng được nữa. Nếu không muốn xảy ra như thế thì chỉ còn cách là sử dụng thắng tay thường xuyên.


Nhưng nếu sử dụng thắng tay mà quên không nhả thắng thì sự thiệt hại đưa đến không phải là nhỏ. Ðã đành rằng nguyên ủy của vấn đề là vì tài xế quên. Nhưng cũng không thể trách tài xế về cái tánh quên đó. Là vì, không giống như thắng chân tự nhả ra khi chúng ta nhắc chân lên, thắng tay không tự nhả khi chúng ta nhắc tay ra. Vì thế, nếu người tài xế đã gài thắng tay trước khi ra khỏi xe, thì không có cái gì nhắc anh phải nhả thắng tay ra khi trở về xe và chuẩn bị cho xe lăn bánh. Thật vậy, dù chưa thả thắng tay chăng nữa, thì cái xe vẫn chạy. Nhưng chạy trong tư thế không thoải mái vì dây kéo thắng vẫn ép bố thắng vào bánh xe ở một mức độ nào đó, nên bánh xe không bị giữ hẳn lại. Tuy xe chạy một cách nhọc mệt, nhưng cũng không biểu lộ đủ triệu chứng để lưu ý người tài xế.


Nói qua nói lại như vậy hóa ra chúng ta rơi vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan,” không dùng thì hư, mà dùng lại có thể đưa đến sự thiệt hại khác. Như vậy phải làm sao mới là đúng cách?


1. Lập đèn báo thắng tay


Trước tiên là giải pháp của nhà sản xuất. Có thể họ đã nhận thấy sự bế tắc, thật ra đó chính là khiếm khuyết từ sản xuất, nên về sau này có chế thêm một đèn báo ở ngay trước mặt tài xế (trong khu vực Dashboard Panel). Ðèn báo này sẽ nháng lên khi gài thắng tay, và sẽ tắt đi khi thắng được nhả ra. Ðây là một cách nhắc nhở rất hiệu nghiệm, với điều kiện người tài xế phải hiểu ra ý nghĩa của những hiệu đèn trong dashboard. Ðáng tiếc phần lớn chúng ta chỉ biết sử dụng xe, còn những lưu ý về bảo trì tối thiểu cũng lơ là. Có người thấy đèn báo sáng lên rồi, nhưng vẫn không hiểu do đâu, vẫn cố chạy về nhà hỏi… ông xã. Gặp ông xã gà mờ, lại lái thêm quãng nữa ra tới tiệm sửa xe thì coi như xe đã hư hại một vố lớn.


2. Không có đèn báo thắng tay


Nếu xe chỉ có một người sử dụng: Nên tập thói quen gài thắng tay mỗi khi đậu xe để giải tỏa gánh nặng cho hộp số đặt tại chữ P. Khi đậu xe trên dốc, độ dốc tác dụng vào xe khiến áp lực đặt trên bậc số P nặng hơn, thì lại càng nên dùng thêm thắng tay. Nếu đã thành hình thói quen như vậy thì việc nhả thắng tay trước khi xe lăn bánh cũng sẽ thành thói quen.


Nếu xe có nhiều người sử dụng thường xuyên, tức là chiếc xe sẽ ở trong tình trạng “cha chung”: Một người cả đời nhớ, chỉ cần người khác một lần quên – phóng xe đi với cái thắng tay chưa nhả- thì bao nhiêu công phu gìn giữ cũng ra vô ích. Chỉ với một người quyết tâm “không quên” đã là khó. Mong rằng có nhiều người cùng nhớ như vậy là một vấn đề thực sự khó khăn, không thể đòi hỏi được.


Vậy xin thử đề nghị một cách giải quyết như sau:


Nếu xe có nhiều người dùng chung thì không nên khuyến khích gài thắng tay. Nhưng để tránh cho thắng tay trở nên rỉ sét vì không sử dụng, thì người có trách nhiệm chính nên thỉnh thoảng sử dụng nó với một biện pháp nhắc nhở riêng. Chẳng hạn, gài thắng tay thật chắc (đừng gài nửa chừng), để nhỡ ra có quên không nhả thắng thì xe không lăn bánh được, hoặc lăn bánh một cách rất khó khăn để nhắc nhở mình về lý do của sự bất thường ấy. Có người đề nghị nên để một thứ đồ dùng phổ thông nào đó gần bên cái thắng tay, chẳng hạn cái dây “chạc” cell phone, ghim vào đó một mảnh giấy có ghi chữ “nhả thắng tay,” hoặc ghi tên vợ mình với hàng chữ lớn “Coi chừng!” Người ngoài có vô tình đọc được lời cảnh giác đó thì cũng biết rằng mình là người biết kính sợ vợ. Người ta vẫn nói, “Vợ mình mình sợ, chứ mình không có sợ vợ hàng xóm!” Nhắc nhở đến như vậy thì chắc không ai còn dám quên nữa đâu! Như thế chúng ta mới có thể yên tâm nói đến phần sau.


 


Cách sử dụng thắng tay


 


Sử dụng thắng tay chẳng có gì khó: Nếu chỉ nắm lấy cái cần mà lắc thì nó chưa chịu xê dịch. Trước tiên, bạn phải ấn cái nút ở đầu cần vào trong, rồi sau đó mới kéo lên hay hạ xuống. Khi gài thắng thì bạn kéo nó lên và khi nhả thắng thì đẩy nó xuống. Xin đừng lo ra nghĩ đến chuyện khác, và nhất là xin đừng ai cười, có được không? Xin nhắc lại lần nữa, khi gài thắng, bạn cần phải gài tối đa, có nghĩa là kéo nó lên tối đa. Nếu chỉ kéo lưng chừng, bố thắng xiết không chặt, xe vẫn lăn bánh được và làm mòn bố thắng.


Nếu phải sử dụng thắng tay trong trường hợp khẩn cấp, tức là lúc xe đang chạy mà thắng chân bị hỏng thì đề nghị bạn làm thế này:


-Ðừng hấp tấp kéo ngay thắng tay lên. Làm như vậy có thể khiến xe bị xoay, bánh bị khóa và xiết cứng trên đường. Ðó là một tình cảnh đưa đến rất nhiều rủi ro.


-Hãy bình tĩnh, kéo thắng tay lên từ từ và đều đặn, xe sẽ không dừng lại ngay, nhưng sẽ chậm lại, di chuyển từ từ giúp mình vẫn còn điều khiển tay lái được.


Ở những vùng quá lạnh mà xe lại đậu ở ngoài trời, dây cáp nối thắng tay, mặc dầu được bọc trong một lớp “áo” bảo vệ nhưng vẫn bị ảnh hưởng bởi độ lạnh nên có thể đông đặc lại và không sử dụng được nữa. Bạn phải tiên liệu trường hợp này. Tin tưởng rằng hệ thống thắng tay sẽ giúp mình thoát hiểm khi gặp nguy cấp, trong lúc nó không còn sử dụng được nữa, đó mới thực sự là nguy hiểm.


Xem thế mới biết không có bộ phận nào trong xe được coi là nhỏ bé, hoặc thừa thãi cả. Một thứ chúng ta tưởng là vô dụng như cái thắng tay cũng có thật nhiều điều để nói, có thể đóng góp một vai trò đáng kể vào trong tiến trình sử dụng và bảo vệ xe.


Phạm Ðình


[email protected]


 


Xe lột dên, xe kêu lóc cóc, xe rỉ nhớt…? Xin xem Cẩm Nang Bảo Trì Tập III đã phát hành. Cùng với Tập I, Tập II, mỗi tập $6.00+$2.00 cước phí. Money Back Guarantee 3 tháng. Gửi cheque hoặc tiền mặt cho Phạm Ðình, PO Box: 9255, Fountain Valley, California 92728 – 9255. Tel: 714-837-1935. Cho biết điện thoại và email, nếu có. Có thể hỏi tại nhà sách Tú Quỳnh 714-531-4284; hoặc Tự Lực 714-531-5290.

Vàng Ðen (Kỳ 82)

 



“Vàng Ðen” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Dũng Tiến, được xây dựng trên những tư liệu cùng huyền thoại liên quan tới vùng “Tam Giác Vàng,” một trong những nguồn sản xuất và cung cấp thuốc phiện (“vàng đen”) lớn nhất thế giới. Ngoài việc viết văn, tác giả Nguyễn Dũng Tiến cũng là một trong những người Việt Nam đầu tiên có công gầy dựng vườn cây ăn trái cho người Việt ở xứ người. Ông hiện là chủ nhân vườn cây LA Mimosa Nursery, 6270 East Allston Street, Los Angeles, CA 90022-4546. Tel: (323) 722-4543. Ðược sự cho phép của tác giả, Người Việt hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết “Vàng Ðen” trên mục truyện dài của Nhật Báo Người Việt cũng như Người Việt Online.


 

Kỳ 82

 

Bà đã ủi hắn một cú nặng thấy rõ, mặt hắn đỏ bừng, mắt liếc vội đồng bạn. Trong khi tên sếp của D.E.A. cũng đang nhìn hắn dò xét. Ánh mắt ấy, đứa ngu nhất cũng thấy đang ngầm hỏi: À thì ra anh bạn bổ lẻ, anh bạn chỉ đáng chơi với rắn. Thay vì gọi tên hắn, bà đã đem chức vụ của hắn ra gọi, rồi gán cho hắn cái tội bổ lẻ với món tiền của bà quyên được. Hắn ấp úng phân trần:

-Tôi xin bảo đảm với bà số tiền ấy vẫn còn nguyên, cho đến khi nào tôi hạ được Khun Sa, tôi mới chạm đến nó. Chắc bên phía của anh bạn tôi, quỹ hơi eo hẹp nên anh bạn tôi mới thở than như vậy.

-Như vậy số tiền ấy để trả cho kẻ nào đó, do ông thuê để hạ Khun Sa. Nhưng theo tôi biết, ông đã hủy hợp đồng với tụi lính đánh thuê nào đó rồi kia mà.

-Thưa cũng không hẳn như vậy, tôi treo món tiền do bà trao để cho tất cả những tụi giang hồ nào muốn, cứ việc đi lấy đầu Khun Sa. Hiện giờ, chúng tôi cũng đã đốt được khá nhiều chặng đường. Anh bạn tôi đích thân qua Thái Lan để áp lực tụi bên đó giao cho mười tên Tầu mới bắt được, tụi nó là đàn em của Khun Sa. Còn tên dân biểu Thái Lan buôn bạch phiến sang Mỹ, không chóng thì chầy, chúng tôi cũng dẫn điệu sang Mỹ và đem giao tận tay cho bà chị.

-Tất cả những chuyện quý ông vừa kể đều không phải điều tôi muốn. Các ông cũng đã biết, hơn sáu chục phần trăm ma túy được tiêu thụ hàng ngày tại Hoa Kỳ đều đến từ bàn tay Khun Sa. Tôi muốn Khun Sa. Chỉ có vậy thôi.

-Thưa bà, chúng tôi đã chặt được từng cánh tay của Khun Sa. Tôi hy vọng, trong tháng này, tôi sẽ có được tin tốt cho bà.

-Tôi cũng mong cho cái hy vọng của ông được thành tựu.

Hai tên đực lẳng lặng ra về, chúng để quên lại cái nghênh ngang lúc mới bước vào. Quơ tay nhặt bậy một điếu thuốc trong bao thuốc lá chúng bỏ quên, bà chánh biện lý Mary J. Blanca tự nghĩ, mình cũng phải khệnh khạng một chút, bàn dân mới nể. Ngả lưng trên chiếc ghế bọc da, hai chân ném thẳng lên mặt bàn, bà nằm dài người thật thoải mái. Chơi thêm điếu thuốc nữa. Coi bộ cũng có lý.

Năm, bẩy phút trôi qua, bà chánh vẫn thoải mái nằm ỳ trên chiếc ghế da, hai chân vắt vẻo trên mặt bàn. Bà không phải dân ghiền thuốc, nhưng lâu lâu đá một điếu cũng chẳng chết thằng cô hồn nào. Thể nào cô thư ký sẽ ngửi thấy mùi, sẽ nhẩy nhổm, nhưng có hai tên đực vừa đi ra đỡ đạn cũng chẳng sao, làm thêm điếu nữa. Lim dim đôi mắt, bà nhớ lại hơn nửa năm trước, nhớ như in, bà đã ký án lệnh cho cảnh sát liên bang bao vây, tấn công khách sạn Kenmore vào giữa tháng 6 năm 94, dưới sự chứng kiến của bà.

Những phàn nàn, chỉ trích của báo chí trong vài năm trước đây khiến bà phải nhúng tay. Báo chí đã đặt cho cái khách sạn ấy cái tên “Ðịa ngục.” Tuy bà chẳng nhìn thấy tận mắt, nhưng những gì F.B.I. đem về cho bà xem, cũng làm bà ớn lạnh. Phải hơn 11 tháng theo dõi, điều tra cùng gài người, bà mới dám ký án lệnh. Phải huy động cả hơn hai trăm cảnh sát chìm, nổi, vòng trong lẫn vòng ngoài, F.B.I. mới hốt trọn gói. Bắt được 18 tên, nhưng chỉ có thể truy tố được 14 tên về tội ma túy. Chừng đó người, chừng đó thời gian cùng những tốn kém, chỉ truy tố được 14 tên cá kèo. Bà thấy thua rõ, hốt trọn một gói, nhưng gói quá nhỏ. Ðược cái, bà được xem một phim vô cùng thật, sống động và gay cấn.

Trong một chiếc xe Van trang bị những loại máy móc truyền tin thật tối tân cùng bốn, năm nhân viên cảnh sát tháp tùng. Bà đã chứng kiến từ đầu đến cuối cuộc đột kích từ bên ngoài. Hơi tiếc, lúc đó bà không đủ gan để theo vào bên trong. Bên ngoài dơ bẩn của cái khách sạn đồ sộ 23 tầng với 621 phòng, cũng đã làm cho bà đủ lợm giọng.

Khách sạn được xây không biết từ đời nào, lớp gạch thẻ đã thay mầu với thời gian, chắc cũng loang lổ như chiếc ra trải giường của con điếm nghèo ngay trong khách sạn. Những cánh cửa sổ kính, loại kéo lên, kéo xuống nham nhở với đủ mầu hoen ố. Tụi gian ác đã túa ra bằng những chiếc cửa sổ ấy để định trốn, có đứa leo qua hàng chữ HOTEL lớn bằng đèn mầu. Hàng chữ lớn thả dài từ trên xuống, chừng đã hỏng từ lâu, vì bóng đèn đã đen mờ. Khi chúng sắp sửa đánh đu, lần mò bám theo hàng đèn xuống phía dưới, chúng mới khám phá ra những bóng cảnh sát đen nghẹt dưới đường. Qua chiếc ống nhòm, bà thấy một vài tên trong bọn gian ác nhe răng cười trước khi chui vào lại lỗ cửa sổ để bị còng tay. Thôi kệ, coi phần hành động ở ngoài cũng tạm đủ, lỡ vào bên trong, đêm về, e đành bỏ ngủ.

Lan man nghĩ mãi, bà chánh biện lý lại nghĩ đến những sòng bạc của tụi Phi làm chủ, tụi F.B.I. cũng nhá chừng mấy lần với bà. Tụi này cũng quậy lắm, mãi dâm, ma túy đủ cả. Chúng thuê cả đám toàn gái Việt Nam làm dealer (người chia bài)… Nhưng vừa chạm vào chữ Việt Nam, bà lại sực nhớ đến một cô gái Việt Nam đã từng gặp một lần đi chung với tên Trung Tá Lone Star, khi hắn đi vận động để tranh chức thượng nghị sĩ kỳ rồi. Bà chỉ nhớ rằng, đôi mắt cô ta quá đẹp, nhưng cũng thật dữ.

Ông Cái Văn Bì

 

Ông Giuse Nguyễn Văn Tải

 

Ông Nguyễn Văn Nhất Lãng

 

Bà Nguyễn Lễ Trí

 

Bà Trần Thị Dung

 

Việt Nam lại bắt TS Nguyễn Quốc Quân, tố cáo Việt Tân ‘khủng bố’


SÀI GÒN (NV) –
Một tiến sĩ Toán người Mỹ gốc Việt trong chuyến đi về Việt Nam bị bắt tại Tân Sơn Nhất và bị tố cáo âm mưu lật đổ chính quyền.










TS Nguyễn Quốc Quân tại Ðại Hội Thanh Niên Sinh Viên Việt Nam Thế Giới ở Sydney năm 2005. (Hình: Enderminh/Wikimedia/Public Domain)


Tiến Sĩ Nguyễn Quốc Quân, một đảng viên Việt Tân từng bị bắt năm 2007, bị bắt khi vào phi trường hôm 17 tháng 4. Tin Tiến Sĩ Quân bị bắt mới được loan trên báo Người Lao Ðộng và các báo khác trong nước hôm 28 tháng 4. Báo chí trong nước đưa tin ông nhập cảnh với thông hành ghi tên “Richard Nguyen.”


Ông bị bắt tạm giam 4 tháng và bị tố cáo “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân.” Tang vật, theo tin trong nước, được thông báo là gồm “một laptop bên trong chứa những thông tin, tài liệu về hoạt động khủng bố.”


Bà Ngô Mai Hương, vợ Tiến Sĩ Quân, phát biểu với báo Người Việt, “Ảnh đi về theo đường chính thức, có visa, thì tôi nghĩ là ảnh đi thăm gia đình thôi.”


Hiện nay, Tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ đã biết việc Tiến Sĩ Quân bị bắt và đã gặp ông trong trại giam. Người nhân viên lãnh sự tỏ vẻ ngạc nhiên vì ông Quân “không ủ rũ, không depressed” mà cười chào hỏi nhân viên vui vẻ, theo bà Mai Hương thuật lại.


Ông Hoàng Tứ Duy, phát ngôn nhân đảng Việt Tân, xác nhận Tiến Sĩ Quân bị bắt vào sáng ngày 17 tháng 4. Ông Duy khẳng định với báo Người Việt:


“Khi anh Quân bị bắt ở Tân Sơn Nhất, anh không vi phạm luật pháp nào của Việt Nam. Vì vậy, bắt ông là không có căn cứ, và những điều chính quyền Việt Nam nói trên báo chí là xuyên tạc.”


Trả lời báo Người Việt, ông Duy nói thêm, laptop Tiến Sĩ Quân cầm về Việt Nam “không có gì bí mật” vì “lúc anh Quân vào trong nước chỉ đem theo tài liệu của anh thôi.”


Tiến Sĩ Nguyễn Quốc Quân là một trong những người sáng lập Hội Chuyên Gia Việt Nam (VPS). Năm 2007, ông bị bắt trong một chuyến đi về Việt Nam.


Công điện ngoại giao của Hoa Kỳ, sau này bị tiết lộ trong Wikileaks, phía Việt Nam tố cáo Tiến Sĩ Quân và nhiều người gốc Việt khác là “khủng bố.” Công điện số 07HANOI1969 còn cho biết Bộ Công An lúc đầu chối không giữ Tiến Sĩ Quân.


Cùng bị bắt trong lượt đó còn có hai công dân Việt Nam là ông Nguyễn Thế Vũ và ông Nguyễn Viết Trung, và một số công dân nước ngoài: ông Leon Trương Văn Ba, công dân Mỹ; bà Nguyễn Thị Thanh Vân, công dân Pháp; và ông Khunmi Somsak, công dân Thái Lan.


Lần đó, họ bị tuyên án 6 tháng tù nhưng vì đã bị tạm giam 6 tháng nên vài ngày sau được thả và trục xuất về nước.


Trong thời gian họ bị bắt, một nhóm đảng viên Việt Tân khác từ ngoại quốc tới gõ cửa trại tù đòi được thăm họ. Những người này, gồm Mai Hữu Bảo từ Mỹ, Bác Sĩ Nguyễn Thị Xuân Trang từ Thụy Sĩ, và Nguyễn Tấn Anh từ Úc, cũng bị bắt luôn. Chuyến đi “thăm bạn trong tù” của những người này gây xôn xao trong các ngoại giao đoàn và họ được thả sau 48 tiếng và cũng bị trục xuất về nước.


Ðảng Việt Tân là một đảng chính trị chủ trương chống chính quyền cộng sản bằng phương pháp bất bạo động. Nhiều đảng viên Việt Tân từng là thành viên Mặt trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam do cố Phó Ðô Ðốc Hoàng Cơ Minh thành lập năm 1980 với mục đích đấu tranh vũ trang lật đổ cộng sản. Chính quyền Việt Nam thường xuyên dùng Mặt Trận để tố cáo Việt Tân là khủng bố, một lập luận được Ðại Sứ Hoa Kỳ Michael Michalak thuật lại trong công điện 07HANOI1978.

TRUNG TAM THUY NGA – Mother Day

 

Biểu tình đòi bầu cử công bằng ở Malaysia


KUALA LUMPUR (AP) –
Người biểu tình xông vào xe cảnh sát, và bị cảnh sát lấy vòi rồng xịt lại, tại Kuala Lumpur, Malaysia hôm Thứ Bảy.

 


 Có ít nhất 25,000 người xuống đường ở thành phố lớn nhất Malaysia đòi thay đổi luật bầu cử mà họ xem là thiên vị đảng cầm quyền. Cảnh sát chống lại bằng lựu đạn cay và nước cho pha hóa chất. (Hình: AP Photo/Mark Baker)

Ðệ Nhị Phu Nhân thành giáo sư thực thụ đại học cộng đồng

Tiến Sĩ Jill Biden, vợ phó tổng thống

 

 

ANNANDALE, Virginia (NV) – Tiến Sĩ Jill Biden, phu nhân của Phó Tổng Thống Joseph R. Biden Jr. cũng là một giáo sư Anh Văn lâu năm, năm 2011 trở thành giáo sư thực thụ tại đại học cộng đồng Northern Virginia Community College, theo tạp chí Higher Education Chronicle. Tạp chí này tiết lộ hồ sơ thuế của hai vợ chồng khai lương của bà đệ nhị phu nhân là $82,022.

Tiến Sĩ Jill Biden tiếp chuyện gia đình quân nhân tại Florida. Tạp chí Higher Education Chronicle đưa tin bà Ðệ Nhị Phu Nhân Mỹ đã trở thành giáo sư thực thụ tại đại học cộng đồng NOVA. (Hình: Chris Trotman/Getty Images for NASCAR)

Tiến Sĩ Biden khởi sự dạy Anh văn ở đại học này vào khóa mùa Xuân năm 2009 với tư cách là thỉnh giảng (adjunct). Sang khóa mùa Thu năm 2009, bà được thu nhận làm việc toàn thời, có giao kèo hai năm. Sau đó bà trở thành phó giáo sư thực thụ khóa mùa Thu năm 2011.

Giới chức trường Northern Virginia Community College, còn gọi là “NOVA,” cho hay bà Biden cũng phải nộp đơn xin việc và xin nhập ngạch cũng như các ứng viên khác.

Tuy nhiên mức lương của bà Biden làm một số giáo sư khác trong trường ngạc nhiên và nhiều người cũng không biết rằng bà trở thành giáo sư thực thụ.

Từ khi chồng bà Biden trở thành phó tổng thống, một số tổ chức hiệp hội các giáo sư bán thời gian và nghiệp đoàn đã nhiều lần liên lạc với bà với hy vọng bà sẽ lên tiếng thúc đẩy có sự cải thiện trong quyền lợi giới phụ giảng và giáo sư bán thời gian.

Giáo sư thỉnh giảng ít khi nào được hưởng quyền lợi bảo hiểm y tế và có khi chỉ được trả chưa tới $1,000 cho các lớp học gồm ba tín chỉ. Tuy nhiên cũng có nhiều nơi trả từ $2,000 cho tới $2,500 cho mỗi khóa học ba tín chỉ và một vài nơi có thể trả tới gần $10,000.

Tuy vậy, bà Biden, với 15 năm kinh nghiệm dạy học tại Delaware Technical Community College, được coi là trả lương cao hơn bình thường tại NOVA. Mức lương trung bình cho phó giáo sư nơi đây là $67,100. Bà Biden dạy ba lớp khóa mùa Thu và mùa Xuân, gồm hai lớp “Preparing for College Writing II” và một lớp “Critical Reading and Study Skills.”

Bà Biden tốt nghiệp cử ngân Anh Văn đại học University of Delaware, cao học sư phạm ở West Chester University, cao học Anh Văn Villanova University, và tiến sĩ sư phạm tại University of Delaware. Ngoài những năm dạy đại học cộng đồng, trước đó bà từng dạy trung học 13 năm. (V.Giang)

Dân biểu Cộng Hòa muốn truy tố bộ trưởng Tư Pháp


WASHINGTON (CBS) –
Các dân biểu đảng Cộng Hòa đang chuẩn bị để yêu cầu truy tố bộ Tư Pháp và Bộ Trưởng Eric Holder vì họ cho là ông này ngăn cản cuộc điều tra của Quốc Hội về chiến dịch Fast and Furious.

Bộ Trưởng Tư Pháp Eric Holder. (Hình: AP/Susan Walsh)

Chiến dịch này do ATF (Văn phòng chống rượu, ma túy, vũ khí) thuộc Bộ Tư Pháp tiến hành nhằm gài bẫy cho các băng đảng tội ác ở Mexico dễ dàng mua vũ khí rồi theo dõi việc sử dụng. Tuy nhiên tới tháng 10 năm 2011 trong số 2,000 vũ khí đưa ra chỉ theo dõi và thâu hồi được 700.

Bộ Tư Pháp bị tố cáo ngăn cản điều tra không trình bày đầy đủ dữ kiện cho Quốc Hội. Dân Biểu Cộng Hòa Darell Issa, California, cầm đầu việc thu thập tài liệu để buộc lỗi Bộ Tư Pháp đã trình bản báo cáo cho Chủ Tịch John Boehner và chuẩn bị đưa ra biểu quyết tại Hạ Viện.

Một giới chức Bộ Tư Pháp giải thích với truyền hình CBS là trước đây đã tuân hành đòi hỏi cung cấp hơn 7,300 trang hồ sơ cho của Quốc Hội và Bộ Trưởng Eric Holder đã rất nhiều lần điều trần về chiến dịch này. Dân Biểu Dân Chủ Elijah Cummings cho rằng việc làm của Dân Biểu Issa mang tính cách chính trị của năm bầu cử hơn là mục tiêu điều tra tường tận.

Nếu Quốc Hội biểu quyết đồng ý, vụ việc có thể được đưa kiện trước tòa án. (HC)

Vàng Ðen (Kỳ 81)


“Vàng Ðen” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Dũng Tiến, được xây dựng trên những tư liệu cùng huyền thoại liên quan tới vùng “Tam Giác Vàng,” một trong những nguồn sản xuất và cung cấp thuốc phiện (“vàng đen”) lớn nhất thế giới. Ngoài việc viết văn, tác giả Nguyễn Dũng Tiến cũng là một trong những người Việt Nam đầu tiên có công gầy dựng vườn cây ăn trái cho người Việt ở xứ người. Ông hiện là chủ nhân vườn cây LA Mimosa Nursery, 6270 East Allston Street, Los Angeles, CA 90022-4546. Tel: (323) 722-4543. Ðược sự cho phép của tác giả, Người Việt hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết “Vàng Ðen” trên mục truyện dài của Nhật Báo Người Việt cũng như Người Việt Online.


 


Kỳ 81


 


-Hắn từ chức không có nghĩa là nguyên băng hắn phải rã đám. Hắn đã chuyển hơn 49 tấn bạch phiến vào Mỹ trong mười năm, chứng tỏ hắn phải có một tụi Mỹ nào đó đứng sau lưng, ngay tại Mỹ.


Lại nữa, đừng khinh thường lực lượng của Khun Sa. Hắn có đến 10,000 lính, trong đó có hơn 2,000 thật sự thiện chiến. Ảnh hưởng của hắn bao trùm đến cả Chiang Mai. Quân đội Miến Ðiện đã thử cựa hắn mấy năm nay, nhưng chỉ có ôm đầu máu đi về.


-Tôi chỉ sợ trễ cho tụi nhỏ bên đó.


-Tụi nó chịu nổi cho đến khi mình đến, mình sẽ trực thăng vận, nhẩy thẳng xuống chỗ tụi nó cần. Tôi đã chuẩn bị trực thăng xong rồi. Mấy thằng cựu C.I.A. ở lại Thái Lan đang nắm một công ty trực thăng chở du khách đã đồng ý nằm ụ chờ tôi rồi. Nếu anh đi khi mình chưa có một tin tức chính xác hơn, cả anh lẫn tôi sẽ bị lúng túng. Chờ thêm một chút đi.


-Ðược, trung tá.


Có nhiều người sợ chết, riêng đại úy Vi của đơn vị lính đánh thuê lại ngứa ngáy khi phải chờ đợi để được đùa giỡn với thần chết.


***                                      


Tại New York. Trong văn phòng của bà chánh biện lý Mary J. Blanca.


-Tôi hoàn toàn không hiểu một chút gì hết về những chuyện quý ông đã làm. Tôi muốn một lời giải thích thỏa đáng nơi quý ông. Bằng không, tôi sẽ cho mọi chuyện nổ tung ra hết, cũng như cái tương lai chính trị của tôi, tôi cũng sẽ chẳng cần. Nào, mời quý ông.


-Xin bà một chút bình tĩnh, xin bà bình tĩnh. Trong vòng nửa năm qua, bà thấy chúng tôi đã làm hết sức mình, bằng chứng những thành quả vô cùng khả quan về diệt trừ ma túy được đăng trong báo hằng ngày.


-Ông cho tôi vài thí dụ.


-Thưa bà, vụ nổ nhất là chúng tôi đã tiếp tay với chính quyền Columbia bằng cách bỏ nhỏ cho họ biết Escobar đang ẩn náu ở đâu, nhờ vậy, cảnh sát và quân đội Columbia mới hạ sát được tay trùm cocain này.


-Hạ được Escobar, nhưng hai ông đã chận đứng được hoàn toàn ma túy xâm nhập vào Hoa Kỳ bằng ngã Columbia hay chưa? Các ông đã chận được những chuyến hàng đến Mễ Tây Cơ từ Columbia bằng phi cơ vận tải hay chưa? Mỗi chuyến cũng không thể nào dưới sáu, bẩy tấn. Các ông có thể nào kiểm soát được hết biên giới Mễ Tây Cơ và Hoa Kỳ hay không?


-…


Bà chánh biện lý Mary J. Blanca đã phẫn nộ như chưa bao giờ từng phẫn nộ. Hai gã ngồi trước mặt bà đâu phải tay vừa, chúng là những thứ bự của nước Mỹ, không hiểu sao chúng lại trả lời bà bằng những giọng thiếu thông minh, ngang phè như vậy. Chúng vòng vo quanh câu hỏi chính của bà về chuyện ma túy. Một tên được gán cho cái ghế sếp sòng về tình báo hải ngoại, tên còn lại cũng sếp sòng về kiểm soát ma túy cho Mỹ lẫn hải ngoại. Vai trò của chúng rõ ràng lớn hơn bà. Chúng đến văn phòng của bà, nhưng lại khệnh khạng như tổng thống.


Tuy chúng có gồ ghề hơn thật, nhưng chúng phải né cái họng lớn của bà đối với dư luận, lại nữa bà có một chính nghĩa thật sáng ngời, cả xứ Mỹ phải nể phục. Chính nghĩa của bà lại rất giản dị. Bà lên án tội ác một cách mãnh liệt, quy kết tội ác do hậu quả của ma túy, do đó phải tận diệt ma túy bằng mọi giá. Chuyện tận diệt ma túy ấy đương nhiên phải tận diệt tại gốc của nó. Khốn thay, hai tên bự đang ngồi trước mặt bà, có trách nhiệm làm việc ấy, chúng lại chỉ gãi ngứa loanh quanh. Bà phải gào ghê gớm lắm mới triệu được cả hai về đây cùng lúc. Chính đương kim tổng thống Mỹ phải ra lệnh cho chúng đến gặp bà.


Thế lực cùng uy tín của ngài tổng thống đang tuột dốc một cách thảm hại, hắn cũng đang cần có bà để yểm trợ chính nghĩa cho hắn. Hai vợ chồng hắn đã binh những chi sập xám một cách ngoan cố, dương chi đầu thay vì thủ, trong khi chi cuối, thực lực chính lại không có một chút gì. Không chờ tàn canh sập xám, mọi người đã thấy hai vợ chồng hắn binh lủng. Ngài tổng thống cùng phu nhân đang chờ đợi một cú lớn nơi bà để nhẩy vào ăn có, nên lúc nào cũng sẵn sàng đáp ứng những đòi hỏi hợp lý của bà. Ðã vậy tội gì không lên lớp hai tên đực này một chập nữa.


-Rồi vụ nổ ghê gớm thứ nhì của quý ông?


Lúc này tên sếp sòng D.E.A. mới lên tiếng:


-Thưa bà, thực ra chẳng có vụ nào nhất, nhì cả. Chúng tôi chỉ cố gắng chận đứng tất cả nguồn ma túy trên thế giới, hầu không để cho chúng luân chuyển vào nội địa Hoa Kỳ nữa. Dĩ nhiên chúng tôi cũng có những khó khăn riêng, như nhân lực hoặc tài chánh chẳng hạn…


-Quý ông nói đến tài chánh? Có phải quý ông muốn cười vào mũi tôi không? Ngoài quỹ chính đã được quốc hội chuẩn phê để diệt trừ ma túy, chính tôi đã đi quyên từng đồng một để đưa cho quý ông…


Dường như cơn tức giận làm bà chánh nghẹn lại trong vài giây, nhưng thủ thuật của một con buôn chính trị cao đẳng như bà đã biến nó thành một cái gì đó rất thánh thiện. Bà đưa tay chặn ngang ngực, mắt mở lớn, làm như không thể nào có thể tin được rằng, hai tên đực lại dám nói với bà những chuyện vô lý nhất.


-… Vậy chứ ông C.I.A., ông làm ơn cho tôi biết số tiền gần ba triệu tôi chuyển qua trương mục của quý vị nó cũng hết rồi à?

Hai đội bóng Tây Ban Nha vào chung kết

Europa League:

 

 

TỔNG HỢP – Fernando Llorente thiết lập hai đường chuyền cho đồng đội ghi hai bàn thắng, sau đó Llorente lại có dịp tung lưới đối phương ở phút 88 đưa đội nhà Athletic Bilbao đá bại đội Sporting Lisbon 3-1 trong trận đấu bán kết lượt về đêm Thứ Năm vừa qua.


Các cầu thủ đội bóng Athletic Bilbao vui mừng chiến thắng sau trận đấu bán kết lượt về Europa League với Sporting Lisbon diễn ra trên sân San Mames ở Bilbao ngày 26 Tháng Tư, 2012. (Hình: Rafa Rivas/AFP/Getty Images)

 Với kết quả 4-3 qua hai trận bán kết lượt đi và về, (lược đi Sporting Lisbon thắng 2-1), Bilbao có mặt ở trận tranh chung kết Europa League 2012 cùng với đội bóng câu lạc bộ Tây Ban Nha khác là Atletico Madrid.

Market Susaera ghi bàn thắng phút 17 cho Athletic và Ibai Gomez có thêm bàn tung lưới thứ hai vào phút thứ hai trong giờ đá bù thêm hiệp đầu, ngay sau khi Ricky van Wolfswinket quân bình tỷ số 1-1 cho Sporting Lisbon phút 44.

Trong trận đấu này, hậu vệ Hoa Kỳ Oguchi Onyewu mặc áo ngồi ghế dự bị nhưng không ra sân.

Ở một trận bán kết khác, giữa Atletico và Valencia, cầu thủ Adrian Lopez ghi bàn thắng vào phút 60, củng cố chiến thắng 1-0 tại Valencia và với kết quả 5-2 cả hai trận lượt đi và về, Atletico Madrid loại Valencia để đương đầu với Bilbao cho chiếc cúp vô địch Europa League mùa bóng này.

Tiền vệ Sergio Canales của Valencia phải rời khỏi sân vào phút 58 vì chấn thương ở đầu gối phải. Trước đây cầu thủ này cũng bị thương phải ngồi làm khán giả trong suốt sáu tháng.

Trận chung kết giải sẽ diễn ra vào ngày 9 Tháng Năm trên sân Bucharest, Romania.

Trong khi Chelsea và Bayern Munich sẽ tranh ngôi vương miện Champions League sau khi cả hai đội này loại hai đội bóng nhất nhì Tây Ban Nha là Barcelona và Real Madrid cách đây vài ngày, Bilbao đã bảo đảm là Tây Ban Nha sẽ đem về chiếc cúp vô địch của giải đấu Châu Âu lớn thứ nhì cấp câu lạc bộ lần thứ tư trong vòng bảy năm.

Thủ môn Thibaut Courtois của Atletico Madrid nhảy lên đón bắt banh trước các cầu thủ Adil Rami của Valencia trong trận bán kết lượt về Europa League giữa Valencia và Atletico Madrid diễn ra trên sân Estadio Mestalla, Valencia, Tây Ban Nha ngày 26 Tháng Tư, 2012. (Hình: Angel/Getty Images)

Cầu thủ Fernando Llorente trong lúc cùng đồng đội vui mừng chiến thắng đã nói: “Thật là ngoài sức tưởng tượng. Ðây là lần đầu tiên mà tôi muốn khóc trên sân cỏ trong khi tôi vẫn đang thi đấu. Ðây là trận đấu tuyệt vời hơn cả những gì muốn nói đến. Chúng tôi đã tạo nên lịch sử đêm nay và tôi hy vọng chúng tôi sẽ tiếp tục như thế trong trận chung kết mà lúc nào tôi cũng mong muốn chúng tôi vô địch bởi vì cả cầu thủ và những người ủng hộ chúng tôi đều ao ước có được.”

Trong cuộc tranh tài Europa League, Bilbao đã loại Manchester United và Schalke, lần đầu tiên chơi trận chung kết giải kể từ khi thất bại trước Juventus trong trận chung kết UEFA Cup 1977.

Ngoài ra Bilbao sẽ thi đấu trận chung kết Cúp Nhà Vua trong với Barcelona vào ngày 25 Tháng Năm tới đây. (TD)

Josep Guardiola giã từ Barcelona

Bóng tròn:

 

 

TỔNG HỢP – Huấn luyện viên trưởng đội bóng câu lạc bộ Barcelona, Josep Guardiola, vừa tuyên bố trong cuộc họp báo ngày Thứ Sáu vừa qua là ông sẽ rời khỏi đội vào cuối mùa bóng này, chấm dứt triều đại kéo dài bốn năm trong thời kỳ vàng son nhất của Barcelona.

Huấn luyện viên trưởng Josep Guardiola của đội bóng câu lạc bộ Barcelona, trong cuộc họp báo tại sân Camp Nou, Barcelona, Tây Ban Nha ngày 27 Tháng Tư, 2012. Ông tuyên bố sẽ rời khỏi đội Barcelona vào cuối mùa bóng này. (Hình: David Ramos/Getty Images)

Guardiola, 41 tuổi, tuyên bố trong cuộc họp báo: “Ðây không phải là tình thế rất dễ dàng đối với tôi.”

Theo nguồn tin chính thức từ câu lạc bộ cho biết phụ tá huấn luyện viên Tito Vilanova sẽ thay thế chiếc ghế của Pep Guardiola.

Guardiola nói tiếp trong phòng họp báo ngay tại sân Camp Nou đầy những phóng viên báo chí và cầu thủ: “Bốn năm cầm quân Barca là thời gian dài vô tận. Thời gian làm mọi thứ thay đổi theo chiều hướng xuống, tôi cảm thấy gần như cạn kiệt và tôi cần phải lấy lại.”

Guardiola xin lỗi về việc phải kéo dài thời gian dài mới tuyên bố rời khỏi đội như thế này trong khi ông xem xét kỹ lưỡng việc có thể kéo dài thêm một năm hợp đồng nữa hay không. Hợp đồng này sẽ hết hạn vào tháng 6 tới đây.

Guardiola cho biết muốn chờ đợi cho đến khi chức vô địch Champions League và La Liga được giải quyết trước khi đưa ra lời tuyên bố chính thức.

Ðội bóng Barcelona vừa bị loại khỏi giải đấu Châu Âu cấp câu lạc bộ danh giá nhất trên thế giới khi để thua đội Chelsea của Premier League, Anh quốc 3-2 cả hai trận bán kết lượt đi và về – lượt đi Barcelona thua 0-1, lượt về hòa 2-2 trong trận đấu ngày Thứ Ba vừa qua. Và Barcelona thật sự cũng vẫy cờ trắng giải La Liga Tây Ban Nha sau khi thất bại trước Real Madrid 1-2 trong trận “El Classico” vài ngày trước đó.

Với bên cạnh là chủ tịch câu lạc bộ Barcelona, ông Sandro Rosell trên bục sau khi đưa ra lời tuyên bố rút lui khỏi chức vụ huấn luyện viên, Guardiola nói thêm: “Người thay thế tôi sẽ có thể mang đến cho đội bóng luồng gió mới.”

Ông xác nhận sẽ tiếp tục làm công việc huấn luyện nữa nhưng không phải ngay lúc này.

Ông nói: “Tôi không thể tạo nên sức mạnh nếu tôi làm huấn luyện viên ngay lúc này, tôi không muốn. Tôi cần thời gian nghỉ ngơi, với cảm giác về một công việc mà tôi đã thực hiện tốt trước khi tôi mất cơ hội có thêm hai chiếc cúp vô địch.”

Guardiola cũng cám ơn các cầu thủ từng gắn bó với ông trong suốt thời gian qua, một số cũng hiện diện trong buổi họp báo này là Gerard Pique, Cesc Fabregas và Xavi Hernandez. Tất cả đều bày tỏ họ được may mắn khi có được ông là huấn luyện viên của đội.

Trong khi đó chủ tịch Rosell cũng hết lời ca ngợi Guadiola là một trong những huấn luyện viên vĩ đại nhất trong lịch sử đội bóng.

Ðược biết sau khi ra sân thi đấu cho Barcelona trong suốt thời gian sự nghiệp cầu thủ, Guadiola trở thành huấn luyện viên Barcelona B trước khi đảm nhận ghế huấn luyện viên đội hình chính Barcelona trong tháng Sáu 2008 thay thế chỗ của Frank Rijkaard.

Dưới triều đại của ông, Barcelona đã có 13 danh hiệu vô địch và được đánh giá là đội bóng hàng đầu trong làng bóng tròn thế giới, đồng thời cũng giúp phát triển một số cầu thủ tài năng trong đó có siêu sao tiền đạo Lionel Messi ba lần đoạt giải thưởng FIFA Ballon d’Or (Cầu thủ xuất sắc nhất trên thế giới trong năm của FIFA).

Ðề cập đến người thay thế mình, Pep Guardiola tuyên bố: “Vilanova là lựa chọn chính xác và tuyệt vời của Barcelona bởi vì anh ấy là một huấn luyện viên đầy khả năng và hiểu rõ các cầu thủ của mình.”

Huấn luyện viên trưởng Josep Guadiola của đội FC Barcelona và các phóng viên báo chí trong cuộc họp báo tại sân Camp Nou, Barcelona, Tây Ban Nha ngày 27 Tháng Tư, 2012. Ông tuyên bố sẽ không gia hạn hợp đồng với Barcelona vào cuối mùa bóng này. (Hình: David Ramos/Getty Images)

Vilanova được các báo chí chú ý đến vào mùa Hè vừa qua khi huấn luyện viên đội Real Madrid là Jose Mourinho, dùng tay xỉa xói vào mắt của vị phụ tá huấn luyện viên này ở ngoài sân sau chiến thắng của Barcelona trước Real Madrid trong trận đấu giải Supercup trên sân Nou Camp.

Khi được báo chí hỏi về vụ này trong cuộc họp báo sau trận đấu, Mourinho tuyên bố: “Tito Vilanova ư? Tôi không biết ông ta là Tito.”

Vilanova, 42 tuổi, chỉ ra sân là một cầu thủ chuyên nghiệp trong thời gian ngắn ở giải La Liga trước khi chuyển sang nghề huấn luyện viên vào cuối sự nghiệp của mình và tìm cách trở lại câu lạc bộ Barcelona thời trẻ của ông.

Vilanova tái gia nhập đội bóng Catalans với tư cách huấn luyện viên đội trẻ trong năm 2007 và làm việc bên cạnh Guardiola trong mùa bóng 2008-2009 mà vào cuối mùa này Barcelona cùng năm giơ cao sáu chiếc cúp vô địch bao gồm cả Champions League. (TD)

Ðại học cộng đồng Mỹ: Chưa đáp ứng nhu cầu thế kỷ 21


Lê Tâm (theo Higher Education Chronicle)


 


Mới đây Hiệp Hội Các Ðại Học Cộng Ðồng Mỹ (AACC) đưa ra bản báo cáo kêu gọi giới lãnh đạo đại học cộng đồng có nỗ lực cải tiến để đáp ứng nhu cầu của sinh viên và của nền kinh tế Mỹ trong thế kỷ 21.










Khuôn viên đại học Orange Coast College. Hiệp hội các Ðại học Cộng đồng Mỹ cảnh báo cần cải tiến để đáp ứng nhu cầu của sinh viên và của nền kinh tế Mỹ trong thế kỷ 21. (Hình: TFNorman/Wikimedia/Public Domain)


Phổ biến trong đêm khai mạc cuộc họp thường niên ở Orlando, Florida, bản báo cáo nêu lên sự phát triển lớn lao và thành công của các đại học cộng đồng, nhưng cũng công nhận một thực tế là nhiều sinh viên của hệ thống này không hoàn tất được chương trình học. Bản nghiên cứu cũng cho thấy chương trình huấn luyện sinh viên không đáp ứng được cho nhu cầu đòi hỏi của thị trường việc làm, cũng như sự kết hợp chặt chẽ hơn giữa đại học cộng đồng và các trường trung học cùng các đại học bốn năm.


Bản báo cáo, với tựa đề “Giành Lại Giấc Mơ Mỹ Quốc: Ðại Học Cộng Ðồng và Tương Lai Quốc Gia,” nói thẳng là các đại học cộng đồng phải “duyệt xét lại cách tổ chức, nhiệm vụ và sinh viên của mình” để bảo đảm rằng họ đáp ứng được nhu cầu của một xã hội đang thay đổi.


Các chuyên gia lao động tiên đoán rằng thị trường tương lai sẽ đòi hỏi nhiều người dân Mỹ có bằng cấp hay chứng chỉ sau Trung Học mới có hy vọng kiếm được việc làm.


Bản báo cáo đưa ra đề nghị gồm bảy điểm, theo đó có mục tiêu là đến năm 2020 sẽ giảm đi một nửa con số các sinh viên vào đại học mà không được chuẩn bị trước để đáp ứng đòi hỏi khó khăn hơn về khả năng học vấn, đưa ra các chính sách và phương cách thi hành theo đó đòi hỏi sự cố gắng, sự minh bạch và trách nhiệm rõ ràng để đạt được kết quả học tập trong các trường đại học cộng đồng.


Walter G.Bumphus, chủ tịch hiệp hôi AACC, thẳng thắn công nhận rằng, “trong nhiều năm chúng ta chỉ chú trọng về việc số lượng sinh viên, nay chúng ta cần phải chú ý hơn về việc đào tạo để sinh viên có thể thành công.”


Trước đây, các đại học cộng đồng vẫn được ca ngợi là tạo cơ hội cho các thành phần dân thiểu số và lợi tức thấp có cơ hội đi học đại học, nhưng ngày càng có nhiều chỉ trích là phẩm chất giáo dục ở các trường này thường không được chú trọng và cũng không đồng đều. Bản báo cáo cũng cho hay là “có khoảng cách lớn lao” giữa những gì sinh viên học được ở các đại học cộng đồng và những gì mà thị trường lao động quanh họ đòi hỏi.


Hiệp hội ACCC nói rằng để các đại học hai năm có thể tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong giáo dục đại học, các trường này phải nhìn lại về thành phần sinh viên mà họ đón nhận, nhiệm vụ của mình, các ngành học nào nên giữ lại và những ngành nào nên bỏ đi.


Tuy nhiên, bản báo cáo cũng khẳng định là hệ thống đại học cộng đồng phải tiếp tục duy trì chính sách thâu nhận “mở,” tạo cơ hội dễ dàng cho sinh viên vào học, nhưng phải tìm cách làm sao cho con số sinh viên tốt nghiệp tăng cao hơn.

Ông giáo sư dạy Sử


Vương Mộng Long


 


Một chiều cuối năm 1998 tôi vào trường University of Washington (UW) để đón đứa con gái áp út tan giờ học. Tình cờ tôi nhìn thấy một ông già đứng chờ xe bên bến bus. Có lẽ ông cụ lớn tuổi hơn tôi nhiều.


  Hỏi chuyện, tôi mới hay, ông cụ đã qua tuổi bảy mươi, ăn tiền hưu, và đang học môn Truyền Thông (Communication) năm Senior. Tôi chợt nghĩ, thời gian này mình cũng không bận lắm, tại sao không trở lại trường? Ít ra cũng học thêm được vài điều hay. Thế là, hôm sau tôi nộp đơn xin trắc nghiệm trình độ Toán và Anh Văn để xếp lớp tại Shoreline Community College (Shoreline C. C.).


So với các trường đại học cộng đồng quanh vùng, thì học phí của Shoreline C. C. tương đối nhẹ. Thật là, không có gì diễn tả nỗi niềm vui sướng tột cùng của tôi buổi đầu được cắp cặp trở lại trường làm học trò. Ba mươi lăm năm sau khi rời ghế nhà trường (1963) để tình nguyện vào quân ngũ, tôi đâu ngờ còn có ngày được ngồi dưới lớp nghe lời thầy giáo giảng? Xung quanh tôi là những người trẻ tuổi vừa qua bậc trung học.


Tôi làm việc mười tiếng đồng hồ một ngày, bốn ngày một tuần lễ. Ngày, ngày, vừa tan sở, tôi lại vội lái xe tới lớp. Từ ấy, tôi làm việc full time, đi học full time, bận bịu vô cùng. Học kỳ (quarter) đầu tiên, tôi ghi danh một lớp Toán, và hai lớp Anh Văn, mỗi lớp 5 tín chỉ (credit). Tôi miệt mài trong công việc suốt ngày, và chuyên cần trong học tập mỗi đêm. Vào mùa thi, tôi thức trắng hai, ba đêm là thường. Tôi ghi danh full time để thúc đít thằng con út. Thằng nhỏ sợ ông bố theo kịp, nên phải gắng chạy có cờ để thoát lên đại học bốn năm.


Một niên khóa trôi qua. Con đường học hành của tôi đang có vẻ rộng mở thênh thang, thì bỗng dưng lại quẹo vào một khúc quanh, chỉ vì mùa Fall 2000 tôi đã ghi danh lớp History 274 “U.S. and Vietnam.”


Tôi “lấy” lớp Sử Ký này với mục đích tìm hiểu xem cuộc chiến tranh vừa qua đã được các sử gia Mỹ ghi chép lại như thế nào? Từ đó, hy vọng biết được phần nào, nguyên nhân vì sao, giữa đường, Mỹ đã bỏ rơi Việt Nam, vì sao chúng ta đã thua trận.


Người từ lâu độc quyền phụ trách lớp Sử 274 là thầy Dan. Trong thời gian dài cả chục năm qua, ông giáo kỳ cựu này đã đào tạo hàng ngàn môn sinh. Những học trò của ông sau khi chuyển tiếp lên trường đại học bốn năm, đã trở thành những thạc sĩ, tiến sĩ. Lâu lâu họ lại ghé về trường xưa, thăm ông thầy cũ.


Lớp “U.S. and Vietnam” mùa Fall 2000 có chừng hơn hai chục học viên, trong đó da trắng chiếm đa số. Có bốn học trò gốc Châu Á, gồm hai anh Tàu lục địa, một cậu bé H’Mong và tôi. Bạn đồng lớp với tôi còn nhỏ lắm. Họ trẻ hơn mấy đứa con tôi nhiều.


Tôi cứ tưởng rằng những tài liệu lịch sử mà các thầy giáo đem truyền bá, phải nằm trong chương trình đã kiểm duyệt và cho phép của Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ. Nhưng thực tế không phải vậy. Nền giáo dục của Mỹ đã đi vào tự trị từ lâu. Thầy giáo có toàn quyền lèo lái, hướng dẫn con thuyền học vấn chở học trò mình tới bất kỳ bến bờ nào mà thầy đã chọn. Thầy giáo chỉ định sách giáo khoa nào thầy sẽ dạy để chúng tôi mua. Thầy phổ biến những tài liệu nào mà thầy ưng ý. Trong hai phần ba thời gian đầu của học kỳ Fall 2000, mỗi khi nói tới phong trào Việt Minh, ông giáo sư dạy Sử không ngớt ca tụng HCM như một lãnh tụ tài ba, và vô cùng sáng suốt đã khôn khéo hướng dẫn dân tộc Việt Nam tới chiến thắng thoát ách đô hộ của đế quốc Pháp.


Thầy khẳng định rằng, chính phủ Hoa Kỳ là nguyên nhân cuộc chiến tranh Ðông Dương lần thứ hai (1954 1975). Vì theo lời thầy, thì HCM đã năm lần gửi mật thư cho Tổng Thống Harry Truman để xin thần phục và hợp tác, nhưng Tổng Thống Harry Truman đã từ chối. Thầy cho rằng người Mỹ đã lầm lẫn trợ giúp quân Pháp trở lại tái chiếm Ðông Dương trong khi cao trào dân chủ, đấu tranh giành độc lập đang lan tràn trên toàn thế giới, và chủ nghĩa thực dân đã lỗi thời.


Chúng tôi đã được cho xem những đoạn phim cũ về trận Ðiện Biên Phủ, về Hiệp Ðịnh Geneve, và về cuộc di cư năm 1954. Với những trận có âm vang quốc tế như Plei Me, Khe Sanh, Kontum, Bình Long, Long Khánh vân vân… chúng tôi chỉ được thấy những cảnh thương vong của quân đội Ðồng Minh và Việt Nam Cộng Hòa. Trận Mậu Thân, chỉ là cảnh… nhà cháy, dân chạy loạn. Tất cả những “tư liệu” này đều có thực, nhưng thầy Dan chỉ trưng bày những phần có lợi cho Việt Cộng. Tôi chưa nghe được từ miệng thầy một lời nói tốt nào cho phía Việt Nam Cộng Hòa. Thầy mô tả Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa như một đội quân kém cỏi về cả tổ chức lẫn khả năng tác chiến. Với thầy Dan, chiến tranh Việt Nam chỉ là một gánh nặng cho ngân sách Quốc Phòng Hoa Kỳ, một sự phí phạm công quỹ. Ðã có đôi lần tôi giơ tay nêu ý kiến bênh vực quân đội ta, chính quyền ta, thì ông chỉ cười, chỉ tay vào quyển Sử dày cộm,


“Book said!”


Cứ cái điệp khúc “Sách dạy!” đó, ông thầy phản chiến đã lịch sự gián tiếp nhắc nhở cho tôi hay rằng, tôi là một học trò, còn ông là một vị giáo sư nói có sách, mách có chứng.


Thầy hùng hồn thuật lại những lần thầy tham gia biểu tình chống chiến tranh thời 1960s và nặng lời đả kích lệnh động viên ngày đó, đã đưa hàng trăm ngàn thanh niên Hoa Kỳ vào chỗ chết.


Kết quả hai lần khảo hạch giữa học kỳ (Mid Term) tôi đều lãnh điểm (F) bởi vì tôi chỉ làm trót lọt phần A, B, C khoanh, còn về bài tiểu luận (essay) thì tôi bị loại thẳng tay.


Cả hai bài đều lãnh điểm “không” (0) chỉ vì tôi đã viết không hợp ý ông thầy. Ngặt một điều là, lớp History 274 này bị tính điểm đem lên trường đại học bốn năm. Bị đánh rớt lớp này thì giấc mơ chuyển tiếp lên University of Washington của tôi sẽ thành mây khói.


Tôi theo học lớp này đúng vào lúc nhà trường đang sôi sục với cuộc vận động bầu cử tổng thống. Ông thầy dạy Sử không phải là người độc nhất có ác cảm với chiến tranh, mà tiểu bang Washington tôi đang cư ngụ cũng là thành trì của Ðảng Dân Chủ. Tâm sự này kiếm cả trường chắc cũng chẳng có ai thông cảm!


Thời gian này lòng tôi thật muộn phiền. Tôi tự trách rằng, mùa Fall 2000 có thiếu gì lớp tương đương với History 274 mà sao tôi lại nộp mạng vào cái lớp chết tiệt này? Ðúng là bỏ tiền ra ghi danh để ngồi nghe người ta chửi mình, chửi quân đội mình. Càng nghĩ tôi càng thấy tức! Thằng con trai thấy ông bố rầu rầu bèn lân la hỏi chuyện. Khi hiểu nguồn cơn nỗi buồn của tôi, nó mới cho tôi hay, năm ngoái nó cũng ghi danh học lớp này, và đã bị một “vố” đau. Ðể thoát thân, từ bài thi thứ nhì nó phải viết theo ý ông giáo. Vất vả lắm nó mới kiếm được đủ điểm.


Sau ngày có kết quả khảo hạch kỳ thứ nhì, tôi bỏ công xuống thư viện nghiên cứu, sao chép những tài liệu sử liên quan tới chiến tranh Việt Nam. Tôi không màng đến vấn đề chuyển tiếp lên University of Washington nữa. Tôi chờ, nếu có cơ hội là tôi sẽ “choảng nhau” với ông giáo phản chiến này một trận, rồi muốn ra sao thì ra. Tôi lục lạo kệ sách loại chọn lọc (preference) và tìm được một quyển Sử Ký, trong đó, chứa đựng nhiều tài liệu ghi chép rõ ràng những thành quả mà Việt Nam Cộng Hòa đã thực hiện được. Trong số những tài liệu quý giá đó, có cả một bài đề cập tới đơn vị tôi, Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân. Tôi vui mừng và cẩn thận photo copy những chứng cứ thu nhận được để dùng làm bằng chứng khi cãi lý với ông giáo sư dạy Sử. Tôi cũng tận dụng thời gian rảnh cuối tuần để sắp xếp cho có thứ tự những điều cần tranh luận. Tôi ghi sẵn những câu phê bình, những câu chất vấn thẳng thắn với thầy Dan về cung cách giáo dục học trò của ông, và về những tài liệu mà ông đã dùng để trợ huấn. Buổi học áp chót của mùa Fall chúng tôi có một giờ đầu thi A, B, C khoanh. Sau đó thày giáo phát đề bài làm ở nhà. Thời gian còn lại, thày sẽ giảng gợi ý cho bài tiểu luận. Bài tiểu luận sẽ phải giao nộp vào đầu giờ buổi học cuối cùng.Vừa nghe chuông giải lao, tôi tiến tới bàn ông giáo Sử. Dù trong bụng đã chuẩn bị sẵn một mớ ngôn từ đao to búa lớn cho một cuộc đấu khẩu sống mái, nhưng tôi vẫn dằn lòng, nhỏ nhẹ:


– Thưa giáo sư. Xin giáo sư vui lòng cho phép tôi được trình bày với ông đôi điều liên quan tới sự giảng dạy của ông trong thời gian vừa qua. Tôi có thể làm phiền ông vài phút được không?


Thầy Dan niềm nở:


– Dĩ nhiên là được. Ông có điều gì cần cứ nói.


Thấy câu chuyện đã mở đầu trót lọt, tôi mạnh miệng:


– Thưa giáo sư, tôi là một người Việt Nam tị nạn. Tôi là một cựu sĩ quan của Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa. Tôi còn nhớ trong bài giảng đầu tiên, thầy có nhắc đi, nhắc lại rằng, phi vụ đầu tiên của pháo đài bay B 52 trên cao nguyên Việt Nam là vụ oanh tạc Thung Lũng Ia Drang. Thầy có biết không? Cũng vào ngày hôm đó, tôi đang tập dượt lễ mãn khóa sĩ quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Và mười năm sau, trước khi tàn cuộc chiến, vùng đất mà tôi chịu trách nhiệm trấn giữ cũng bao gồm cả cái Thung Lũng Ia Drang đó.


Thầy chỉ biết tới những trận đụng độ đẫm máu trong thung lũng Ia Drang qua báo chí, truyền thanh, và truyền hình. Còn tôi là người đã lặn lội mười năm ở đó, đã nhiều lần bị thương đổ máu ở đó, đã rơi lệ vuốt mắt cho nhiều đồng đội nằm xuống ở đó. Trong số những người nằm xuống ấy, không thiếu những thanh niên Mỹ đồng trang lứa với thầy. Nơi đó chúng tôi chiến đấu quên mình từng ngày, vì nền độc lập của đất nước tôi, và vì quyền lợi của nước Mỹ. Thầy chưa từng khoác áo nhà binh, chưa một lần có mặt trên chiến trường. Suốt đời thầy không hiểu nổi thế nào là niềm kiêu hãnh của một người lính chiến, thế nào là lòng khát khao chiến thắng, thế nào là tình huynh đệ chi binh.


Suốt đời thầy không hiểu được vì sao hơn hai chục thương binh què quặt của một đơn vị Biệt Ðộng Quân Việt Nam Cộng Hòa phải mở đường máu rút lui mà vẫn cưu mang theo ba người lính Mỹ, trong đó có hai người bị trọng thương; và vì sao một đại tá Hoa Kỳ đã đưa thân che chở cho một thương binh Việt Nam để rồi ông bị mảnh đạn vỡ đầu. Mạng lưới truyền thông thiên Cộng khổng lồ của Hoa Kỳ đã tiếp tay với bộ máy tuyên truyền của Cộng Sản Quốc Tế cố tình xuyên tạc, bóp méo tất cả những c liên quan tới nguyên nhân, diễn tiến, và hậu quả của cuộc Chiến Tranh Việt Nam. Từ đó, tên Việt Cộng khát máu HCM đã được tô vẽ, đánh bóng thành một vị lãnh tụ đức độ anh minh.


Chính tên sát nhân này và đảng Cộng Sản Việt Nam đã giết oan không biết bao nhiêu đồng bào vô tội của tôi trong suốt thời gian ba mươi năm chiến tranh. Nằm trong số hàng trăm ngàn nạn nhân bị giết, tù đầy, thủ tiêu, cha tôi và chú tôi cũng bị chặt đầu trôi sông trong thời gian đó. Nếu chế độ cộng sản là tốt đẹp, thì đã không có một triệu dân miền Bắc di cư vào Nam sau Hiệp Ðịnh Geneve năm 1954, và sẽ chẳng có những cuộc vượt biên bi thảm của hàng triệu thuyền nhân trên biển bỏ quê hương sau khi Miền Nam rơi vào tay cộng sản năm 1975. Thầy chỉ mới thấy hình bé gái Kim Phúc trần truồng, vừa khóc vừa chạy, thân mình phỏng cháy vì bom Napalm của quân Ðồng Minh đánh lầm vào nhà dân, mà thầy đã thấy xót xa, cho rằng quân Ðồng Minh tàn ác.


Nếu thầy ở vào vị trí của tôi, không hiểu thầy sẽ nghĩ sao? Ngày 18 tháng 4 năm 1974, sau khi tái chiếm Căn Cứ Hỏa Lực 711, Pleiku, tôi đã tận mắt chứng kiến một cảnh dã man chưa từng thấy. Trong một căn hầm trú ẩn đầy ruồi nhặng, trên chiếc giường tre là cái xác trần truồng của một người vợ lính. Chị bị Việt Cộng lột hết quần áo, bị hãm hiếp, rồi bị đâm chết bởi nhiều nhát lưỡi lê, ruột gan lòi lòng thòng. Trên nền đất, máu đọng thành vũng. Trong góc hầm là xác đứa con trai hai tuổi của nạn nhân. Cháu bé bị trói hai tay, hai chân bằng dây dù và cũng bị hàng chục nhát lưỡi lê đâm vào bụng, vào ngực. Hai người này vừa theo chuyến xe tiếp tế của đơn vị lên thăm chồng và cha của họ được vài ngày. Họ đã không kịp chạy khi Việt Cộng tràn ngập căn cứ trưa 15 tháng 4 năm 1974.


Câu chuyện vừa tới đây thì hết giờ giải lao, học trò trở lại lớp. Ông giáo vỗ vai tôi,


– Ông cứ ngồi đây, ta sẽ tiếp tục.


Rồi ông lớn tiếng cho phép lớp nghỉ sớm, để học trò có thời gian chuẩn bị bài thi viết. Chờ cho người học trò sau cùng ra khỏi cửa, thầy Dan nói nhỏ với tôi,


– Ông hãy tiếp tục câu chuyện của một nhân chứng sống. Tôi mong được nghe thêm.


Tôi không ngần ngại, tiếp lời:


– Cám ơn giáo sư. Tôi chỉ nói những gì thấy tận mắt, nghe tận tai, và những gì xảy ra cho chính bản thân và gia đình tôi để thầy có một nhận định chính xác về cuộc chiến tranh Việt Nam đã ảnh hưởng như thế nào đối với người dân Việt.


Tôi tâm sự với thầy Dan rằng, tôi là một học trò tốt nghiệp trung học vào đúng thời điểm đất nước lâm nguy nên tôi đã tình nguyện vào quân ngũ để cứu nước. Tôi tóm lược cuộc đời chinh chiến của mình cho ông giáo nghe. Tôi thấy thầy Dan đặc biệt lưu tâm tới những chiến dịch xảy ra trên Tây Nguyên, và ông có vẻ rất quen thuộc với những địa danh Ban Mê Thuột, Pleiku, Plei Me, Ðức Cơ, Kontum. Nghe tôi nói ở Tây Nguyên chiến trận, chết chóc xảy ra hàng ngày, ông vội hỏi,


– Mỗi lần ra trận, ông có sợ không?


Tôi cứ tình thực trả lời,


– Sợ chứ! Vào chỗ chết, ai mà không sợ? Nhưng tinh thần trách nhiệm đã làm cho tôi quên cái sợ.


Thấy ông giáo sư có vẻ muốn nghe truyện chiến trường, muốn hiểu tâm tư người đi trận ra sao, tôi đã không ngần ngại thuật lại hoàn cảnh của tôi trong trận Dak Tô năm 1969. Cuối trận này tôi đã phải mở khói đỏ yêu cầu máy bay đánh ngay trên đầu mình để cùng chết với quân thù. Vào giờ phút tuyệt vọng nhứt của trận đánh đó, tôi đã nghĩ gì, tôi cũng thổ lộ cho ông giáo biết. Ông giáo sư đã từng nghe nói tới cái tên “Ðường Mòn HCM” nhưng chưa bao giờ ông ngờ rằng đó là cả một hệ thống đường giao thông chằng chịt che giấu dưới rừng già dọc Trường Sơn. Tôi đã chia sẻ với ông những cảm giác hồi hộp, căng thẳng của người có cái kinh nghiệm đi toán Viễn Thám săn tin dọc biên giới Việt Miên Lào từ Khâm Ðức tới Bu Prang vào những năm 1972-1973.


Ông cũng rất hứng thú khi nghe tôi thuyết trình về kỹ thuật bắn xe tank mà Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã áp dụng trong trận Xuân Lộc tháng 4 năm 1975. Trận Xuân Lộc này ông có nghe qua, nhưng ông không ngờ, một trong những cấp chỉ huy trực tiếp của trận đánh lừng lẫy ấy đang ngồi trước mặt ông. Tôi không quên nói tới những lần dừng quân bên xóm làng quê nghèo nàn, nhận những bát nước chè xanh, những củ khoai luộc của đồng bào tôi đem ra mời mọc. Tình quân dân cá nước ấy đã là những liều thuốc bổ giúp tinh thần chúng tôi mạnh mẽ hơn khi đối mặt với quân thù. Tôi thuật lại cho thầy nghe, trong tình thế hoàn toàn tuyệt vọng, chúng tôi đã chiến đấu kiên cường như thế nào.


Và sau khi biết rằng chỉ trong vòng một tháng cuối cùng, chín mươi phần trăm của quân số hơn năm trăm người thuộc Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã chết vì tổ quốc, thì ông giáo đã giơ hai tay lên trời, lắc đầu thốt ra hai tiếng,


– Trời ơi!”


Thầy Dan cũng muốn tìm hiểu xem, sau khi mất nước thì số phận của tôi và gần một triệu quân nhân, công chức chính quyền Việt Nam Cộng Hòa ra sao. Ông đã trố mắt ngạc nhiên khi biết ra rằng, từ sau tháng 4 năm 1975, khắp đất nước tôi, “Trại Cải Tạo” đã mọc lên như nấm. Cái tên “Re Education Camp” mà ông đã nghe qua, trên thực tế chỉ là những trại tù khổ sai. Những “học viên” trong các trại đó sống không khác gì những con vật, quằn quại với cái đói. Họ bị ép buộc làm việc tới kiệt lực. Tinh thần bị khủng bố, căng thẳng liên miên bởi những buổi ngồi đồng học tập, phê bình, bầu bán. Tôi thú thật với ông giáo rằng, trong thời gian đó, tôi chỉ nghĩ tới tự do; làm sao để tìm lại được tự do, dù có chết cũng cam lòng. Ông giáo đã tỏ ra say mê theo dõi truyện hai lần tôi trốn trại thất bại, cùng những cực hình mà tôi phải gánh chịu. Tôi cũng không ngần ngại thuật lại hoàn cảnh của vợ tôi ngày đó, một nách bốn đứa con thơ dại, vất vả, tảo tần nuôi con, chờ chồng trong 13 năm tôi bị giam giữ, tù đầy.


Tôi cho ông giáo biết tôi là người sinh ra tại Miền Bắc Việt Nam. Tháng 7 năm 1954 gia đình tôi đã cùng gần một triệu người khác di cư vào Nam để trốn lánh cộng sản. Tôi cặn kẽ phân tích cho thầy rõ, sau Hiệp Ðịnh Geneve năm đó, hai miền Nam, Bắc Việt Nam đã thành hai quốc gia, độc lập và có chủ quyền, có biên giới. Chính HCM và đảng Cộng Sản Việt Nam đã chủ trương, phát động và điên rồ theo đuổi một cuộc chiến tranh tiến chiếm Miền Nam. Quân đội và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa chỉ làm nhiệm vụ tự vệ. Quân Mỹ và Ðồng Minh vào Việt Nam là để phụ giúp chúng tôi chống lại một cuộc xâm lược từ phương Bắc.


Chúng tôi thất trận không phải vì chúng tôi kém khả năng, thiếu tinh thần chiến đấu, mà vì người Mỹ đã phản bội, nửa đường rút quân, cắt viện trợ. Từ khi người Mỹ rút lui, chúng tôi bị bó chân bó tay, bụng đói mà vẫn phải chiến đấu. Trong khi đó, Miền Bắc lại tràn ngập lương thực, quân dụng, quân nhu, và vũ khí viện trợ từ khối Cộng. Thời gian khởi đầu chương trình Việt Nam Hóa chiến tranh, còn được cung ứng vũ khí, lương thực dồi dào, chúng tôi đã chứng tỏ khả năng có thể cáng đáng bất cứ nhiệm vụ nào của quân đội Ðồng Minh bàn giao lại. Ðể chứng minh điều này, tôi mở tờ copy từ quyển History của thư viện, trong đó có sơ đồ các cánh quân Việt Nam Cộng Hòa vượt biên tiến chiếm miền Bắc Cam Bốt trong chiến dịch Bình Tây 1, 2, 3 cuối năm 1970 của Quân Ðoàn II. Tôi chỉ cho ông cái dấu hiệu quân sự hình tam giác có chữ R ở giữa, cạnh trên có ba cọng râu, bên trái là con số 2,


– Ðây! Thưa thầy, cuối năm 1970, tại vùng 2 Chiến Thuật, chúng tôi đã đánh đuổi quân Bắc Việt tới bờ đông của sông Mê Kông trên đất Miên. Ngày đó tôi là người chỉ huy một đơn vị trực thuộc Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân. Tôi đã đánh chiếm thành phố Ba Kev, và đóng quân tại nơi này một thời gian. Chúng tôi đã chứng tỏ rằng khả năng chiến đấu của chúng tôi đã hơn hẳn quân đội Bắc Việt. Nhưng những năm sau, viện trợ cắt giảm dần. Mặc dầu tinh thần của chúng tôi không suy giảm, nhưng chiến đấu trong cảnh thiếu thốn thường xuyên, chúng tôi vất vả lắm. Tôi xin đan cử ra đây một so sánh để thầy thấy rõ sự khác biệt.


Trước khi Mỹ rút, tháng 6 năm 1968, có một lần tôi đang dàn quân tiến chiếm một ngọn đồi thì Bộ Chỉ Huy Task Force South của Mỹ ở Ðà Lạt đã bắt tôi ngừng lại để chờ pháo binh và không quân yểm trợ. Tôi đã nhận được một phi tuần hai phi xuất F4C và sau đó là một hỏa tập tám trăm quả đạn đại bác 105 ly trên mục tiêu trước khi xung phong. Mục tiêu đó chỉ rộng bằng diện tích khuôn viên trường Shoreline C. C. này. Chỉ hơn một năm sau khi Mỹ rút, tháng 8 năm 1974, tiền đồn Plei Me do tôi trấn giữ đã bị một lực lượng địch đông gấp chín lần vây hãm 34 ngày đêm. Plei Me cũng chỉ rộng bằng trường Shoreline C.C. thôi. Vậy mà mỗi ngày chúng tôi đã hứng chịu từ một ngàn tới hai ngàn viên đạn pháo cối của địch. Ðể chống lại, ngoài hai khẩu 155 ly của quân bạn yểm trợ từ xa, tôi chỉ có hai khẩu đại bác 105 ly. Vì tình trạng khan hiếm, tôi chỉ được phép bắn theo cấp số đạn giới hạn là bốn viên cho mỗi khẩu súng một ngày. Chiến đấu trong tình trạng thiếu thốn như thế, chúng tôi vẫn chiến thắng. Thầy nghĩ sao về chuyện này?


Chúng tôi đã chiến đấu cho chính nghĩa như thế đấy, chúng tôi đã hy sinh như thế đấy, và chúng tôi đã bị bỏ rơi như thế đấy. Tôi cũng không hiểu vì sao người Mỹ phản chiến, trong đó có thầy, lại xuống đường tranh đấu, cổ vũ cho kẻ thù của chúng tôi, và ngược đãi chiến binh của chính nước Hoa Kỳ? Thầy ơi! Sao thầy lại nỡ nhẫn tâm như thế! Thầy đã tiếp tay với kẻ thù, đâm sau lưng thân nhân và bạn bè đồng minh của thầy. Nhân dịp này, tôi cũng chuyển lại cho thầy nghe tâm sự của anh Bill, một bạn cựu quân nhân Mỹ trở về từ Việt Nam năm 1973. Anh Bill hiện nay (2000) là Supervisor của hãng mà tôi đang làm việc. Ðây là lời của anh ấy,


– Bạn có cảm thông nỗi đau đớn của chúng tôi ngày đó không? Hôm chúng tôi cặp bờ Everett, Washington, dân chúng Mỹ, kể cả những người thân, tiếp đón chúng tôi bằng cách giơ cao ngoắc ngoắc ngón tay giữa! Ði đâu chúng tôi cũng bị nhìn với đôi mắt khinh khi. Bao nhiêu ê chề nhục nhã đổ lên đầu người thua trận. Thua trận đâu phải lỗi của chúng tôi? Có bạn tôi đã buồn mà tự tử. Rồi tôi bị giải ngũ. Thời gian ấy kiếm được một việc làm là điều khó khăn trần ai. Hãng xưởng nào cũng không mặn mà với những hồ sơ xin việc của những cựu chiến binh. Cũng may, có người bạn học thời Mẫu Giáo đã giới thiệu tôi vào làm việc cho hãng này. Lương hướng thời ấy chỉ có 3 USD một giờ cũng đã khiến tôi mừng quá lắm rồi.


Sau câu chuyện này, tôi chuyển sang phê bình cách giảng dạy của ông thầy, tôi nói thẳng với ông giáo sư rằng, bao năm nay ông đã bóp méo lịch sử của cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam và Bắc Việt Nam, làm như thế ông đã phạm tội đối với lịch sử. Cách giảng dạy của ông đã gieo vào trí óc học trò những thành kiến sai lầm đối với Việt Nam Cộng Hòa, làm giảm giá trị sự trợ giúp của chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ đối với nước tôi. Cuối cùng, tôi hỏi ông giáo,


– Thầy còn nhớ, năm ngoái, có một cậu bé Việt Nam, mặt mày sáng sủa, lông mày rậm, tóc hớt kiểu nhà binh theo học lớp Sử 274 này không?


– Nhớ chứ! Mỗi lớp chỉ có vài học trò Á Châu, dĩ nhiên là tôi nhớ!


– Cậu bé Việt Nam đó chính là thằng con út của tôi! Năm ngoái, bài tiểu luận đầu của nó bị điểm “không” (0) vì nó viết theo quan điểm của một người dân Miền Nam. Những bài sau nó phải đổi cách viết, để thầy cho điểm khá hơn. Tôi là cha nó; tôi là một trong những người chứng kiến, tham gia và trực tiếp gánh chịu hậu quả của cuộc chiến tranh vừa qua; tôi không thể làm như con tôi được. Tôi đã nói hết những đều cần nói với giáo sư, và tôi sẵn sàng chấp nhận hậu quả.


Ông thầy dạy Sử như bừng tỉnh cơn mơ,


– Tôi tin lời ông, vì chẳng có lý do gì để ông nói dối. Có điều là, từ đó tới nay, hơn hai mươi năm dài, kể từ ngày những gia đình Việt Nam đầu tiên tới định cư ở Hoa Kỳ, chưa ai nói cho tôi nghe những điều này. Có thể, người ta muốn quên đi quá khứ, hoặc là người ta không có can đảm nói ra. Tôi đã hiểu, và tôi phải cám ơn ông. Ông quả là một chiến binh thực thụ.


Nghe được những lời nói chân tình từ miệng ông giáo sư, lòng tôi cảm thấy ấm áp lạ lùng. Trước mắt tôi, ông đã thành một người bạn đồng minh, ông đưa bàn tay hộ pháp ra cho tôi bắt,


– Thưa người chiến binh. Ông vừa lập một chiến công!


Ðêm ấy trên đường về nhà, lòng tôi rộn ràng như thuở nào giữa sân vận động Pleiku, sau chiến thắng Plei-Me, tôi đã đứng trước một đoàn hùng binh, quần áo hoa rừng, nhận những vòng hoa rực rỡ, tai nghe bản nhạc “Bài Ca Chiến Thắng” do ban quân nhạc Quân Ðoàn II hòa tấu.


Ngày chấm dứt mùa Fall năm 2000 ông thầy dạy Sử tươi cười trao cho tôi bản tổng kết cuối khóa, trên đó điểm trung bình (GPA) lớp History 274 của tôi ghi 4 chấm (4.00).


Cuối mùa Spring 2001 tôi dự lễ cấp văn bằng tốt nghiệp A.A. nơi vận động trường có mái che của Shoreline Community College. Khán đài đông nghẹt thân nhân. Vợ tôi và bốn đứa con tôi cũng có mặt ngày hôm ấy. Khi người điều hành gọi tên tôi lên bục để nhận văn bằng, cả hội trường đều ngạc nhiên vì thấy nơi hàng ghế giữa của khu giáo sư có tiếng ai gào lên như tiếng sấm:


– Long! I’m proud of you!


Ðến lúc bà hiệu trưởng bắt tay tôi thì ông giáo Dan đứng dậy, bắc loa tay hướng về sân khấu, “My soldier! I’m loving you!”


Ông là một người cao lớn. Trong chiếc áo thụng đen, trông ông dềnh dàng như nhân vật chính trong phim “Người Dơi.”


Những người có mặt trong hội trường buổi ấy đều quay mặt nhìn về hướng ông giáo, ai cũng ngạc nhiên vì hành động phá lệ của một ông thầy xưa nay nổi tiếng là mô phạm. Thấy ông giáo Dan réo tên tôi ầm ầm, vợ con tôi và những khán giả ngồi trên khán đài cũng vỗ tay, reo hò, la hét theo. Hai năm sau, khi tốt nghiệp B.A. từ University of Washington, tôi về thăm và báo cho ông biết, ông vui lắm.


Từ đó cho tới khi tôi ngồi viết lại những dòng này (2011) hàng chục ngàn học trò đã tới, rồi giã từ Shoreline Community College. Và chắc chắn, hàng trăm lượt người trẻ tuổi đã đi qua lớp History 274. Mười một năm qua, tôi vẫn nhớ buổi tối năm nào, tôi với ông giáo sư dạy Sử đã ngồi tâm sự với nhau. Lời khen của ông, mà tôi quý như một tấm huy chương, vẫn còn văng vẳng,


– Thưa người chiến binh. Ông vừa lập một chiến công!


Seattle, tháng 7 năm 2011


Vương Mộng Long K20

Triển lãm vườn Xuân năm thứ 23 tại South Coast Plaza


COSTA MESA (NV) –
Làm vườn từ khi mới ba tuổi, bà Pat Welsh sẽ xuất hiện tuần này tại một nơi dành cho người hâm mộ “Triển lãm vườn Xuân” năm thứ 23 tại South Coast Plaza. Bà là tác giả cuốn sách “Pat Welsh’s Southern California Organic Gardening,” một tác phẩm cổ điển được yêu chuộng vừa mới được sửa đổi do Chronicle Books xuất bản.

Hoa lan triển lãm tại South Coast Plaza. (Hình: www.springgardenshow.com)

Ðược biết, đây là cuộc triển lãm lớn nhất ở miền Tây Hoa Kỳ, và thu hút hơn 100,000 người.

“Khung cảnh thật quyến rũ và hoàn toàn thú vị,” bà nói. “Thật khó thấy các cửa hàng ở đây bởi vì bầu không khí phản ánh rất nhiều màu sắc thiên nhiên.”

Chủ đề năm nay tập trung vào khu vườn chữa bệnh, các cây cảnh trưng bày màu sắc tuyệt đẹp, thơm tho. Ngoài ra, còn có các phòng đặc biệt dành cho các hoạt động của trẻ em như thủ công, các dự án làm vườn và các sô trình diễn chim hiếm quý, cùng với các cuộc hội thảo dành cho người lớn.

Trong phần hướng dẫn hàng tháng, bà Pat Welsh giải thích lịch trình trồng các loại rau phổ biến nhất trong luống để trên cao hoặc trên mặt đất, sử dụng thời gian làm sao để tránh các vấn đề và chỉ dẫn tiết kiệm tiền như phân bón miễn phí. Bà sẽ nói chuyện và trả lời các câu hỏi của khán giả vào ngày Thứ Bảy, từ 1 đến 2 giờ 30 chiều, “Hãy đến xem để thấy những người trồng, các loại cây và các trang bị đặc biệt kỳ diệu,” bà nói: “Bây giờ là thời dùng vườn nhà trồng cây lấy.”

Ðể biết lịch trình của diễn giả khác và các chi tiết, xin vào: www.springgardenshow.com. (L.N.)


 

Triển lãm vườn Xuân năm thứ 23 tại South Coast Plaza

“The Garden As Art Gallery”

*Trồng Hoa Lan tại Orange County

Chủ Nhật, 29 Tháng Tư, từ 12:15pm-13:15pm

*Hướng dẫn biến cảnh hoa lan thành khu vườn chữa bệnh

Chủ Nhật, 29 Tháng Tư, từ 5:15pm-06:15pm

Ðịa chỉ: Phía South Coast Plaza Crate & Barrel/Macy’s Home Store

San Diego Freeway (405) góc đường Bristol, Costa Mesa

 

Thương tiếc một ân nhân của người Việt tị nạn ở Ðan Mạch


Hà Giang/Người Việt


 


Không gian tại trụ sở chính của A.P. Møller-Mærsk, tại Copenhagen, Ðan Mạch, hôm Thứ Sáu 20 Tháng Tư như ngừng đọng, nhân viên của hãng đi lại với khuôn mặt khép kín, những lá cờ thường ngày phất phới bay cao được hạ xuống nửa chừng. Chủ hãng và vị lãnh đạo tài ba đáng kính của hãng, ông Maersk Mc-Kinney Moeller, vừa qua đời mấy hôm, hưởng thọ 98 tuổi.


 


Vô cùng thương tiếc


 


Trong gian phòng kín hoa tang, một nhóm người Việt cư ngụ tại Arhus theo chân dòng người đến phúng điếu, trịnh trọng khiêng vào một vòng hoa nữa, trên sợi miếng vải tím lớn là hai hàng chữ “Thuyền nhân Việt Nam xin tri ân” và “Vô cùng thương tiếc.”










Ông Maersk Mc-Kinney Moeller, chủ hãng và lãnh đạo tài ba đáng kính của A.P. Møller-Mærsk Moeller, ân nhân của nhiều người tị nạn Việt Nam, vừa qua đời, hưởng thọ 98 tuổi. (Hình: AP)


Ðón tiếp họ, người nhân viên tiếp tân có vẻ hơi ngạc nhiên, nhưng cảm động. Hoa của nhóm thuyền nhân Việt Nam không lộng lẫy và lớn so với vòng hoa của những nhân vật và cơ sở quan trọng, nhưng vẻ mặt chân thành và nặng trĩu xúc cảm của họ thì khó ai bì.


Họ là những người đại diện tất cả thuyền nhân Việt Nam và gia đình tại Arhus và khắp Ðan Mạch, đại diện thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy, thuyền trưởng con tàu Trường Xuân, và gần 4,000 thuyền nhân được tàu Clara Maersk cứu vớt năm 1975 trong những giờ phút nguy kịch nhất trên đường vượt biển tìm tự do.


Họ là những người trước kia cùng chịu ơn cứu tử của ông Maersk Mc-Kinney Moeller, và giờ đây chia sẻ một nỗi tiếc thương chung.


Nhìn họ lặng lẽ đến ghi lời phúng điếu vào một cuốn sổ lưu niệm, người nhân viên hãng Maersk chợt nhớ đến tinh thần biết ơn của người Việt Nam, đã từng được ông Thorkild Simonsen, bộ trưởng Bộ Nội Vụ Ðan Mạch ca ngợi, khi ông nói “đất nước Ðan Mạch cứu giúp nhiều giống dân, nhưng chưa ai nói được lời cám ơn như người Việt Nam.”


 


Nhưng ai có thể quên được ơn cứu tử?


 


Tiếp xúc với phóng viên người Việt qua điện thoại, bà Mỹ Linh Nguyễn, thuyền nhân trên con tầu Trường Xuân được cứu vớt cách đây 37 năm, và giờ là một nhân viên của hãng A.P. Møller-Mærsk, cho biết “hôm đó nếu không có tàu Clara Maersk đến cứu thì chúng tôi chết hết cả rồi.”


Không chỉ tàu Trường Xuân, mà phần lớn những thuyền nhân Việt Nam đến tị nạn ở Ðan Mạch từng được các tàu chở hàng của công ty hàng hải lớn bậc nhất thế giới này cứu vớt.


Thế nên, tin ông Maersk Mc-Kinney Moeller qua đời được người Việt tị nạn ở khắp Ðan Mạch truyền nhau với nỗi ngậm ngùi, và người ta được ôn lại những hình ảnh khốn cùng và giây phút thoát hiểm xẩy ra cách đây gần bốn thập niên.


 


Ôn chuyện cũ, người tị nạn nhớ ơn xưa


 


Trong một buổi họp bạn tại Odense, cách Copenhagen khoảng 150 cây số, chị Minh Thu Nguyễn, 49 tuổi, vượt biên năm 1979, kể lại cảnh được tầu của hãng Maersk vớt, và nhấn mạnh là nếu không may mắn gặp được tàu, có lẽ chị đã vùi thân xuống biển.


Cùng 74 người khác, chị Minh Thu rời bến từ Cam Ranh, trên hai con tầu khác nhau, một chở nước và thức ăn, một chở người. Chưa ra đến cửa biển, tàu chở lương thực bị bắt lại, tàu chở người tiếp tục đi.










Vòng hoa phúng điếu ông Maersk Mc-Kinney Moeller, của người Việt tị nạn tại Ðan Mạch. (Hình: Mỹ Linh Nguyễn cung cấp)


Sau 14 ngày lênh đênh trên biển, hết thức ăn, hết nước, mọi người trên tầu gần như chết lả. Ðang lúc tuyệt vọng, một máy bay trực thăng bay vòng vòng trên không quăng xuống một cái chai. Chị Minh Thu nói còn nhớ rõ người trên tầu lúc đó nhôn nhao tìm cách vớt chai, mở ra thì trong có miếng giấy viết hỏi tàu đang đi về hướng nào, có phải là thuyền nhân không, và nếu cần cấp cứu thì đốt khói.


Trong giây phút cực kỳ tuyệt vọng, cái chai, miếng giấy, và chiếc trực thăng không biết của nước nào, là biểu hiện cho nguồn hy vọng duy nhất, hay đúng hơn, một phép lạ.


Một người biết tiếng Anh trên tàu nhanh chóng viết lại một tờ giấy khác bỏ vào lọ, cho biết mọi người sắp lả vì đói khát. Trong khi đó, thuyền trưởng của con tàu tị nạn dùng bánh xe và quần áo đốt lên thành chữ “SOS.”


Sau những vòng khói um tùm, và vài cái chai được vớt lên thả xuống, và không đầy 2 tiếng đồng hồ sau, chiếc tầu của Maersk xuất hiện, đến gần.


Thủy thủ đoàn trên tàu Maersk thả thang dây xuống, nhưng mọi người yếu lả không ai lên nổi, thế là họ lại leo xuống đỡ từng người lên. Vớt xong người cuối cùng, thủy thủ đoàn Maersk đập vỡ thuyền cho chìm xuống biển.


“Chỉ trễ một ngày nữa là chết hết!” Chị Minh Thu nói.


Ông Hà Văn Thành, một dân cư khác của Odense, cho biết ông vượt biên năm 1981, vài ngày sau Tết, chen chúc cùng 87 người khác trên chiếc thuyền dài 11 thước.


Lênh đênh 6 ngày, thuyền ông Thành ra đến hải phận quốc tế thì khoang chứa nước bị nước mặn ngấm vào. Nguy kịch, thuyền trưởng liên tục gửi tín hiệu xin cấp cứu, gặp hơn 20 tầu, nhưng không tàu nào chịu vớt.


Ông Thành kể rằng sáng hôm đó hết sạch không còn một giọt nước, những người yếu sức lờ đờ nửa mê nửa tỉnh. Riêng ông, và có lúc chợt thấy một chiếc tàu to, rồi lại không thấy, nên tưởng mình bị choáng váng. Một lúc sau định thần, mới thấy là thuyền đang bị sóng nhồi, và lúc sóng đưa thuyền lên cao thì thấy tầu lớn, lúc xuống thấp lại không thấy nữa.


Tàu đến gần hơn, chữ “Maersk” cũng hiện rõ dần. Thuyền trưởng và một số thanh niên tìm được ở đâu ra miếng vải lớn, viết chữ “Water” rồi căng lên. Sau này nói chuyện mới biết tàu mang tên Maersk thấy thuyền tị nạn, nhưng vẫn ở xa theo dõi từ 8 giờ sáng. Mười hai giờ trưa, tầu đến gần hơn, thả ống nước xuống, mọi người lấy nước từ ống đổ vào đầy các sô. Thuyền trưởng tầu Maersk giới thiệu họ là tầu Ðan Mạch bảo rằng sắp có bão rất lớn, thuyền nhỏ không thể sống sót, nên bắt đầu xúc tiến việc vớt hết người tị nạn lên tầu.


“Vớt hết người xong họ chia đàn ông và đàn bà ra hai phòng riêng, cho tắm rửa rồi cho ăn liền.” Ông Thành kể, rồi cười: “Lúc đó tôi tự hỏi không biết sao tầu họ có nhiều buồng tắm thế!”










Gần 4,000 người tị nạn Việt Nam của tầu Trường Xuân được vớt lên tầu của hãng Maersk vào Tháng Năm, 1975. (Hình: Mỹ Linh Nguyễn cung cấp)


Ðược tàu của hãng Maersk cứu sống còn có ông Nguyễn Kim Hải, cũng vượt biên với khoảng 80 người khác trên một con thuyền mong manh, được tị nạn ở Ðan Mạch lúc mới 29 tuổi, sau này làm kiến trúc sư hàng hải và làm việc thiết kế cho hãng A.P. Mợller-Mỉrsk suốt 5 năm trời.


Qua điện thoại, ông Hải cho biết lý do theo ngành này, và làm cho hãng, là để trả ơn.


“Lúc nào tôi cũng nghĩ rằng ăn quả phải nhớ kẻ trồng cây. Lúc xưa vượt biên tôi tưởng chết rồi, nhưng nhờ lòng tốt của ông Maersk Mc-Kinney Moeller mà được sống, nên tôi muốn hiến mình cho ngành hàng hải, biết đâu sau này mình cứu được người khác,” ông Hải chia sẻ.


Ông Maersk Mc-Kinney Moeller qua đời để lại biết bao nhiêu tiếc thương. Ðám tang ông có cả gia đình của hoàng gia Ðan Mạch đến dự.


Ở nước ngoài, ông là người đầu tiên không phải người Mỹ được vào Hội Ðồng Quản Trị của công ty IBM, vị trí ông giữ vững trong vòng 14 năm. Ở trong nước, ông được trao danh tước “Danish Order of the Elephant,” một tước vị mà chỉ một vài người Ðan Mạch không thuộc hoàng gia, hay không phải là quốc trưởng, được có vinh hạnh khoác lấy.


Dưới sự lãnh đạo của ông, từ một vị trí khiêm nhường, AP Moller-Maersk Group trở thành công ty có gần 117,000 nhân viên, làm việc ở hơn 130 quốc gia.


Nhưng thật ra, dù ông chỉ là một người bình thường, ơn cứu mạng của ông vẫn được người Việt tị nạn tại Ðan Mạch mãi mãi khắc ghi.


 


––


Liên lạc tác giả: [email protected]

Tình và lý

Tạp ghi Huy Phương

 

 

Cuối tháng 12, 1998, Trần Trường, chủ tiệm Hi-Tek, sang băng phim truyện trên đường Bolsa, California, treo cờ Việt Cộng và ảnh Hồ Chí Minh trong tiệm của y, tại phố Bolsa, quận Cam, California.

Biểu tình chống Trần Trường. (Hình: Lý Kiến Trúc)

Cậy mình đang ở trên một xứ sở tự do, theo tu chính án số I của Hiến Pháp Hoa Kỳ, Trần Trường cũng như mọi công dân Hoa Kỳ được bảo vệ quyền tự do phát biểu, không ai có quyền bắt Trần Trường phải tháo gỡ ảnh và cờ của y xuống. Người ta nói y khùng, vì chính lá cờ và bản mặt này, mà y đã bỏ nhà cửa, mồ mả ông cha vượt biên đến Mỹ, bây giờ đến một lúc mà y nghĩ có quyền tự do của một công dân Mỹ, y nghĩ có quyền làm những việc y thích. Trần Trường được sự bênh vực của các luật sư Mỹ trong hội ACLU, được cảnh sát bảo vệ tối đa.

Y tin tưởng vào lý, nhưng về tình, Trần Trường đã xát muối lên vết thương của đồng bào, gây sự phẫn nộ cho hàng nghìn người Việt tỵ nạn cộng sản, tập trung đến khu phố này, để biểu dương thái độ chống hành động thách thức của một thành viên trong cộng đồng. Y có quyền tự do phát biểu thì đồng bào ở đây cũng có quyền bày tỏ thái độ của mình. Từ ngày 19 tháng 1, 1999, mỗi ngày có hằng trăm người tập trung trước cửa tiệm để biểu tình chống đối và đòi Trần Trường phải hạ cờ và ảnh Hồ. Không ai dùng quyền và lý để phô trương hình ảnh Hitler trong cộng đồng Do Thái mà ruột thịt của họ đã chết trong lò thiêu của Ðức Quốc Xã, cũng như Pol Pot đối với tập thể người Kampuchea sống sót sau thảm kịch Kmer Ðỏ. Chuyện treo ảnh và cờ đỏ có thể là chuyện nhỏ trong một thế giới lớn, nhưng là cái gai nhọn đâm vào con mắt người tị nạn phải nhổ đi.

Cao điểm nhất là vào tối ngày 20 tháng 2, 1999, theo lời kêu gọi của báo chí truyền thông Việt Nam hàng nghìn người Việt Nam đã tập họp tại khu phố Hi-Tek này, mang theo cờ và biểu ngữ đả đảo cộng sản, hát nhạc tranh đấu, lên án thái độ của Trần Trường và đả đảo chế độ cộng sản. Cảnh sát Westminster đã huy động hằng trăm cảnh sát với chó nghiệp vụ, vũ khí, xe chữa lửa, sẵn sàng đương đầu với người biểu tình.

Cuối cùng, cuộc tranh đấu ôn hòa nhưng quyết liệt, ròng rã trong 53 ngày đêm của đồng bào Nam California, được sự đồng tình chi viện của nhiều nơi, đã đưa đến thắng lợi. Ðể tránh sự giao động bất an, mất trật tự thành phố, trong bóng tối, đã có người gỡ ảnh và cờ trong tiệm Hi-Tek xuống đem đi và Trần Trường đối diện với luật pháp vì tội danh sang băng lậu.

Hiện nay vì nhu cầu đổi không khí, trong nước thèm nhạc vàng, và vì thù lao cao gấp nhiều lần, ca sĩ hải ngoại đua nhau về trình diễn trong nước càng ngày càng đông, và đôi khi vì muốn lấy lòng các cơ quan chính quyền trong nước, đám ca sĩ này thường tuyên bố với báo chí và truyền thông những lời tâng bốc, ca tụng rất sống sượng. Ca sĩ có quyền về hát ở trong nước, họ cũng có quyền tuyên bố vung vít như vậy, kể cả phủ nhận những tình cảm và sự vinh danh của hải ngoại đã dành cho họ, nuôi họ từ ngày chân ướt chân ráo bước chân lên mảnh đất tự do. Bây giờ đã đến lúc “trắng da dài tóc,” lại sắp qua thời son trẻ, nên vội vàng tranh thủ đi Việt Nam kiếm tiền. Nhưng nói về tình, trong một đất nước bất công đang xẩy ra hằng ngày, những nhà tranh đấu đang bị giam cầm, tù đày, các ca sĩ lại là những người tỵ nạn đã bỏ đất nước ra đi, nay lại quay về nhởn nhơ như bầy “thương nữ hát khúc Hậu Ðình Hoa,” nên lấy tấm gương Việt Khang mà tìm lại chút lòng liêm sỉ. Và cũng đừng nên “qua sông phụ sóng,” xem thường khán giả hải ngoại đã nuôi họ những ngày đầu khó khăn, như lời tuyên bố “ca sĩ về Việt Nam là vì họ cần khán giả.” Như vậy phải chăng người ta đánh giá hải ngoại toàn “tai trâu!”

Ngay những ca sĩ khi về trình diễn Việt Nam mặc trang phục hở hang, quê mùa, thiếu thẩm mỹ, tưởng như vậy là độc đáo, ăn khách, đã bị chính báo chí trong nước lên án, chê bai, đến nỗi phải cúi đầu chịu nhục xin lỗi. Về tình, cũng là cái nhục chung cho hải ngoại, khi người trong nước có cái nhìn “cá mè một lứa,” vì những người này lại trở về ca hát, nhún nhẩy trên sân khấu hải ngoại!

Chúng tôi cũng biết rằng ngày 3/2, 2/9, 30/4… không phải là ngày riêng của ai, cho nên ai muốn nghĩ gì thì cứ nghĩ, ai muốn làm gì thì làm. Nhưng không lẽ khi nhà hàng xóm có ông bố vừa mới mất mà chúng ta rước ban nhạc về nhà ca hát suốt đêm. Về lý không ai cấm đoán, nhưng về tình, sao nỡ nào muối mặt đi làm những chuyện như vậy.

Ðối với miền Nam, biến cố 30 tháng 4, 1975 là ngày “mất nước,” “đứt phim,” “tan hàng,” “ngày quốc hận,” tháng 4 là “Tháng Tư Ðen,” một thời điểm ô nhục, mang nỗi đau của người lưu vong phải sống xa quê hương, nhưng cũng có người không quan tâm, nếu ngày đó không mang dấu ấn gì, phải chăng họ và gia đình ở trong số “một triệu người vui,” có sá gì đến chuyện bên cạnh đó, có “một triệu người buồn!”

Tại Nam Cali, các vị dân cử đại diện cho những địa hạt có nhiều cử tri Việt Nam đã là đồng tác giả nghị quyết “Tuần Tưởng Niệm Tháng Tư Ðen.” Nghị quyết được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của 66 đồng viện và được thông qua với tỷ số 100% tại Hạ Viện California ngày 16 tháng 4, 2012 với mục đích: “Mong muốn được chia sẻ nỗi đau buồn với dân tộc Việt Nam và vinh danh các chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến Việt Nam trong Tuần Tháng Tư Ðen.” Người Mỹ kêu gọi dành thời gian 30 tháng 4 để tưởng nhớ những người đã hy sinh, thông cảm nỗi đau buồn của chúng ta, trong khi chúng ta, những người đã là nạn nhân của ngày 30 tháng 4, có thể nào cho rằng tôi không cần biết ngày này, tôi muốn đi đâu, làm gì thì làm.

Trong tình nghĩa, người Việt chúng ta đâu có thể coi ngày 30 tháng 4 cũng như mọi ngày, một ngày cuối tuần, một ngày lễ, một ngày để vui chơi, hội hè, một ngày thuận lợi để kiếm khách, đàn ca hát xướng theo sở thích riêng của mình? Ðem mục đích chính trị đặt cho một buổi trình diễn văn nghệ như thế theo tôi là hơi cao, vì sao chúng ta không nghĩ chẳng qua lý do là bởi đồng tiền, mà mỗi khi đã vì tiền, người ta có thể quên tất cả.

Trong luật giao thông của DMV, vấn đề an toàn quan trọng hơn là quyền ưu tiên khi lái xe, mặc dầu quyền ưu tiên thuộc về pháp lý.

Và không phải lúc nào chúng ta cũng hãnh tiến, lấy lý sự ra mà đương đầu, đối đáp, nhiều lúc phải xử sự, lấy tình nghĩa ra mà ăn ở với nhau. Những chuyện chúng ta lấy làm vui, cho là phải, chúng ta có quyền làm, nhưng nếu làm cho người khác bị tổn thương, đau xót thì sao? Ðến một lúc nào đó, người ta sống không phải vì tiền, cũng không phải vì danh vọng, nhưng sống sao cho thuận với lòng người, không thẹn với lương tâm, không phản bội những người đã chết, sống sao cho được là người tử tế, không phải để thỏa mãn lòng tự ái nhất thời, cho dư luận chỉ là lời gió thoảng. Lắng nghe dư luận không phải là có đầu óc nô lệ, mà là có tri thức. Ông Âu Dương Tu, đời Tống cho rằng, trong đạo làm người, bỏ ngoài tai lời thiên hạ, khinh thường mà không suy xét, thì trăm việc đều hư, mà đưa đến sự tan vỡ!

Tình và lý như chuyện những đứa con bất hiếu, bỏ bê cha mẹ, không xã hội nào lấy luật pháp, lý lẽ ra mà trừng phạt, cũng không thể dùng xe bắt chó mà xử lý, nhưng về tình nghĩa, đạo lý, dư luận có quyền lên án hay không?

Tin mới cập nhật