TT Obama, đảng Dân Chủ gây quỹ được hơn $53 triệu trong Tháng 3

 


WASHINGTON (Reuters) Ủy ban vận động tái tranh cử của Tổng Thống Barack Obama và các nhóm Dân Chủ liên hệ đã gây quỹ được hơn $53 triệu trong Tháng Ba, cho thấy có sự tăng vọt về số tiền thu góp được so với tháng trước giữa khi cuộc tranh cử giữa phía Dân Chủ và Cộng Hòa bắt đầu định hình.








Hơn 567,000 người đã đóng góp cho ông Obama và có khoảng 97% trong số này đóng $250 hay ít hơn.


Mức độ vận động tài chánh của các nhóm ủng hộ ông Obama đang tăng dần lên trong ba tháng qua. Ủy ban của ông Obama và ủy ban trung ương đảng Dân Chủ thu về được hơn $45 triệu trong Tháng Hai và khoảng $29.1 triệu trong Tháng Giêng.


Có hơn 190,000 người đóng góp hồi Tháng Ba là những người lần đầu tiên gửi tiền đến cho quỹ của ông Obama với số tiền trung bình là $50.78.


Ông Mitt Romney, cựu thống đốc tiểu bang Massachusetts, hiện nhiều phần sẽ được đại diện đảng Cộng Hòa ra tranh cử tổng thống, đối đầu với ông Obama vào ngày bầu cử Tháng Mười Một tới đây.


Trong khi ông Romney phải vất vả đối phó với các đối thủ trong các kỳ bầu cử sơ bộ thời gian qua, Tổng Thống Obama dành tất cả thời giờ để đi vận động tài chánh ở Washington cũng như khắp nơi tại Mỹ. (V.Giang)

Google bị FCC phạt $25,000 vì cản trở điều tra

 


NEW YORK (AP)Cơ quan kiểm soát thông tin FCC phạt Google $25,000 vì đã cản trở cuộc điều tra về cách thức công ty này chụp hình để thu thập dữ kiện cho chương trình bản đồ đường phố “Street View.”







Bên ngoài trụ sở trung ương của Google tại Mountain View, tiểu bang California. Hãng cung cấp dịch vụ tìm kiếm thông tin trên mạng này vừa bị cơ quan FCC phạt $25,000 liên quan đến chương trình “Street View.” (Hình: AP/Paul Sakuma)


Trong báo cáo đưa ra hôm Thứ Sáu, FCC nói Google đã “cố ý làm trì trệ” cuộc điều tra hằng tháng trời, qua hành động không đáp ứng lời đòi hỏi cung cấp thông tin và tài liệu.


Ðồng thời, FCC nói, cơ quan sẽ không có hành động gì đối với dữ kiện thu thập được của công ty, nhưng vẫn còn “những thắc mắc quan trọng dựa theo các chứng thực” về chương trình Street View, mà đến nay vẫn chưa nhận được trả lời.


Ðể có được các câu trả lời, FCC gửi trát đòi chất vấn một kỹ sư của Google, người phát triển mã số cho nhu liệu mà công ty dùng để thu thập và tích trữ dữ kiện. Tuy nhiên người này từ chối cung khai, dựa vào Tu Chính Án số 5 chống việc quy trách nhiệm cho bản thân ông.


Qua một văn bản, Google nói họ không đồng ý với FCC và rằng sẽ có phúc đáp. Trong văn bản có đoạn viết: “Dựa theo ghi chú của FCC trong báo cáo của họ, chúng tôi đã cung cấp đầy đủ tài liệu mà cơ quan này cần để kết thúc cuộc điều tra và chúng tôi nhận thấy mình không có vi phạm luật lệ nào cả.”


Trị giá cổ phiếu của Google sụt mất $17.79 tức 2.9%, xuống còn $606.81 vào giữa ngày giao dịch hôm Thứ Hai. Trong khoảng thời gian 52 tuần, cổ phiếu trao đổi của Google đã dao động từ $473.02 đến $670.25. (TP)

Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QP/VNCH


Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QP/VNCH


(Disabled Veterans and Widows Relief Association)


A Non-Profit Corporation – No. 3141107 EIN: 26-4499492


P.O. Box 25554, Santa Ana, CA 92799


Phone: (714) 539-3545, (714) 371-7967


Email: [email protected]; [email protected]


Website: http://www.camonanhtb.com


Chi phiếu xin đề: Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QPVNCH


 


Hải ngoại không quên tình chiến sĩ


Ðồng hương nhớ mãi nghĩa thương binh


 


Danh sách ân nhân gửi tiền đến hội:


(Tính đến ngày 8 tháng 4, 2012)


 


Minh Tiến Nguyễn, Los Angeles, CA $100


Tiền phúng điếu KQ Lê Hữu Hạnh, $1,350, gồm:


Kathie Ðào Lê, Cerritos, CA $1,150


Trâm Anh Phạm, Garden Grove, CA $100


Annie Phạm, Arcadia, CA $50


Lan Que Trương Nguyễn, Fountain Valley, CA $50


Lê Thuận, Houston, TX $100


Thien Ha Cao, Houston, TX $100


Cháu Ngọc M. Châu, Pompano Beach, FL $100


Dr. Hiep Le, Loma Linda, CA $100


Hoàng Nguyễn, Huntington Beach, CA $100


Ðào Thủy Nguyễn, Orange, CA $100


Kien Ðặng c/o Minh N. Ðặng, Fountain Valley, CA $100


Kim Thuy Trần, San Jose, CA $100


Anh Vũ, $50


Bà Bửu Tô c/o Kim Liên Tôn Nữ Công Huyền, Centerville, VA $200


Ra V. Ðặng, Riverside, CA $20


Tu Anh Le (Pretty Nails), Spokane Valley, WA $20


Ut Văn Le, Spokane Valley, WA $20


Stephen Ðặng, Houston, TX $30


Giau Nguyễn, Hanford, CA $50


Nguyễn Thị Ngọc Hội, Reseda, CA $40


Tina Võ, Westminster, CA $50


Lan T. Nghiem, Westminster, CA $50


Ðinh Nguyễn, Midway City, CA $20


Hien Le, Westminster, CA $20


Evy Thuy Le, San Jose, CA $20


Mau Hoàng, San Diego, CA $50


Vessel Day Spa, Paso Robles, CA $25


Minh Ðức Cao & Harrison Trần, Garden Grove, CA $30


 


Danh sách mạnh thường quân ủng hộ ÐNH “Cám Ơn Anh” Kỳ V:


 


Bà Nguyễn L. Phương, Mesa, AZ $50


Thiên, Gilbert, AZ $10


Bà Trần Nataline, Costa Mesa, CA $100


GÐ Washington State, Seattle, WA $1,000


ÔB. Ngô Dự, Garden Grove, CA $100


Top Nails Dana Point, CA $150


Trần Ngọc Minh, Victoria, CAN $100


Trần Huệ, Irvine, CA $100


Vị ẩn danh, $20


Hội San Diego, CA $500


Hội Arizona, Glendale, AZ $978


Hội OR Computer class, $730


Dương Nguyệt Diên, Silver Spring, MD $300


Le Dinh Joe, Fountain Valley, CA $100


Ô. Lý Steven, Garden Grove, CA $100


Phạm Quới, Murrieta, CA $100


ÔB. Trần H. Kim, Westminster, CA $50


Cô Ðặng Cao Thăng Helen, Huntington Beach, CA $200


Lê Anh Kim, San Diego, CA $50


Ưng Catherine, Midway City, CA $50


Bà Cựu ÐT Hồ Tân Nguyên, $200


ÔB. Cựu TrT Vũ Ngọc Thanh, $100


Ô. Nguyễn Hữu Ðức, Hawthorn, CA $50


Bà Nguyễn Xuân Thịnh, Hawthorn, CA $200


Hoa Trung Lập, Garden Grove, CA $500


Hội Phú & Anh Tuấn, $3,520


Lawndale Development, Santa Ana, CA $120


Center, Garden Grove, CA $100


Care West, Newport Beach, CA $100


Fancy Nails, Torrance, CA $100


P & D Inc., DBA Circle K., Costa Mesa, CA $100


ÔB. Trần T. Tân, Fountain Valley, CA $100


Nguyễn U Minh, Santa Ana, CA1z


Harbor Automotive, Inc., Garden Grove, CA $100


American Progress, Inc., Garden Grove, CA $100


ÔB. Hải Ân, Fountain Valley, CA $100


ÔB. Tóng Kê, Irvine, CA $100


Rehab. Clinic, Inc., Westminster, CA $200


Dũng Hữu Nguyễn Corp., Garden Grove, CA $500


Nguyễn Tuấn, $300


Professional Law Corp., Garden Grove, CA $500


Inc., Westminster, CA $1,000


Lee Jennifer, San Gabriel, CA $40


5/68 TÐ, San Jose, CA $60


Thanh Thủy BÐ Thiên Nga, $200


Lady Bell Clinic, Westminster, CA $200


 


Danh sách TPB/VNCH đã được giúp đỡ:


 


Lê Ðình Sự, Tây Ninh, HS CLQ Sq:202.808. Cụt chân trái.


Trần Văn Tiến, Tây Ninh, B1 ÐPQ Sq:305.299. Liệt chân trái.


Lê Văn Chấn, Tây Ninh, HS CLQ Sq:159.476. Bị thương ở chân phải.


Lê Văn Lạc, Tây Ninh TS CLQ Sq:139.252. Bị thương ở đầu, tay, bụng.


Phan Lâm, Tây Ninh, HS Nhảy Dù Sq:830.152. Gãy tay phải.


Lê Hữu Hượt, Tây Ninh, ÐU ÐPQ Sq:134.527. Mù 1 mắt. Mờ 1 mắt.


Phạm Văn Luôi, Tây Ninh, B1 BÐQ Sq:478.947. MDVV 65%.


Nguyễn Minh Tư, Tây Ninh, B2 ÐPQ Sq:306.709. Cụt chân trái.


Phan Hiền Sỉ (Phòng), Tây Ninh, TS CLQ Sq:136.056. Cụt chân phải. Gãy chân trái.


Huỳnh Trung Anh, Tây Ninh, TS CLQ Sq:216.843.


Nguyễn Văn On, Tây Ninh, HS BÐQ Sq:138.439. Bị thương ở 2 tay.


Ðặng Văn Lưu, Tây Ninh, B1 ÐPQ Sq:346.012. Cụt chân trái.


Thái Thanh Mén, Tây Ninh, HS1 CLQ Sq:411.235. Gãy tay trái.


Dương Lý Thuận, Tây Ninh, NQ Sq:309.665. Cụt chân phải.


Lê Văn Lưởng, Tây Ninh, Sq:110.126. Bị thương ở đầu gối trái.


Nguyễn Văn Thông, Tây Ninh, B1 ÐPQ Sq:408.207. Cụt bàn chân trái.


Ðặng Thanh Tòng, Tây Ninh, NQ Sq:351.196 Cụt chân phải.


Hồ Văn Trảng, Tây Ninh, B1 ÐPQ Sq:246.034 Gãy chân phải.


Võ Bước, Tây Ninh, B1 ÐPQ Sq:410.016. Bị thương ở chân trái.


Nguyễn Văn Gòn, Tây Ninh, TS BÐQ Sq:132.932. Cụt chân phải.


Nguyễn Văn Phong, Tây Ninh, B2 ÐPQ Sq:424.993. Cụt bàn chân trái.


Nguyễn Văn Gồng, Tây Ninh, B2 CLQ Sq:109.246. Cụt các ngón chân phải.


Nguyễn Văn Cu, Tây Ninh, B2 CLQ Sq:??? Cụt chân phải.


Ngô Trường Vân, Tây Ninh, ÐU CLQ Sq:130.471. Cụt chân phải.


Nguyễn Văn Truyên, Tây Ninh, B2 CLQ Sq:804.089. Cụt chân phải.


Trần Văn Ðức, Tây Ninh, Biệt Kích. Cụt chân trái.


Ðặng Ðức Khánh, Tây Ninh, B2 CLQ Sq:183.578. MDVV 50%.


Phạm Kim Ngọc, Tây Ninh, B2 CLQ Sq:133.543. Bị thương ở chân trái.


Trà Văn Cảnh, Tây Ninh, NQ Sq:350.533. Liệt tay trái.


Lâm Vy Hướng, Tây Ninh, CSQG Sq:114.012. Cụt chân trái.


Ðỗ Văn Nhiên, Tây Ninh, BÐQ Sq:123.834. Cụt chân phải.


Lê Minh, Tây Ninh, NQ Sq:912.488. Cụt chân phải. Co rút tay trái.


Phan Thanh Phần, Tây Ninh, TS ÐPQ Sq:203.985. Cụt tay trái.


Trần Văn Út, Tây Ninh, B2 CLQ Sq:104.714. MDVV 30%.


Phan Công Tánh, Tây Ninh, HS Nhảy Dù Sq: 121.390. Mù mắt phải.


Nguyễn Văn Nói, Tây Ninh, TS CLQ Sq:104.976. Cụt chân phải.


Huỳnh Ðinh, Quảng Ngãi, B2 CLQ Sq:231.655. Gãy chân phải. Bị thương ở bụng.


Phạm Tấn Vinh, Quảng Ngãi, HS CLQ Sq:326.516. Cụt tay trái. Mù mắt trái.


Nguyễn Văn Hương, Quảng Ngãi, TS CLQ Sq:210.495. Cụt tay trái. Mù mắt trái..


Nguyễn Công Xước, Quảng Ngãi, NQ Sq:136.392. Cụt tay phải.


Ðỗ Trung, Quảng Ngãi, NQ Sq:125.094. Cụt chân phải.. Bị thương ở bụng.


Kiều Ngọc Thanh, Quảng Ngãi, NQ Sq:747.431. Cụt chân phải.


Ðào Duy Phước, Quảng Nam, NQ Sq:170.331. Cụt chân trái.


Nguyễn Khánh, Ðà Nẵng, B1 TQLC Sq:147.728. Bị thương ở chân trái.


Nguyễn Cao Phi, Quảng Nam, B2 CLQ Sq:212.063. Liệt tay trái. Bị thương ở hông trái.


Nguyễn Văn Lý, Khánh Hòa, TrU CLQ Sq:431.586. Cụt chân trái.


Trần Huyền Thanh, Saigon, TU CLQ Sq:193.603. Cụt tay trái.


 


Danh sách QP/VNCH đã được giúp đỡ:


 


Nguyễn Thị So, Tây Ninh, Mẹ của Cố TS Trần Văn Hiền. Tử trận năm 1974.


Bùi Thị Ðược, Saigon, Mẹ của Cố HS TQLC Lê Ngọc Thu. Tử trận năm 1972.


Phùng Thị Thành, Bà Rịa-Vũng Tàu, Mẹ của Cố TU Trần Thành Trung. Mất tích năm 1973.


Nguyễn Thị Trọng, Quả phụ Cố CLQ Nguyễn Liên. Tử trận năm 1974.


Nguyễn Thị Trâm, Saigon Quả phụ Cố HS1 Trần Quang Cường. Tử trận năm 1974.


Huỳnh Thị Lâm, Khánh Hòa, Quả phụ Cố HS1 PB Nguyễn Bích. Tử trận năm 1973.


Lương Văn Hưng, Saigon, Con TPB ?? mất 1980.


Nguyễn Thị An, Bà Rịa-Vũng Tàu, Quả phụ Cố HS NQ Trần Thanh Xuân. Tử trận năm 1972.


Trần Thị Chứng, Bà Rịa-Vũng Tàu, Quả phụ Cố HS1 Võ Non. Tử trận năm 1969.


Nguyễn Thị Gòn, Bình Phước, Quả phụ Cố ThS1 BÐQ Nguyễn Văn Nhẫn. Tử trận năm 19??


Nguyễn Thị Út, Saigon, Quả phụ Cố HS Trần Tấn (Văn) Tạo. Tử trận năm 1968.


Ðoàn Thị Ngọc, Khánh Hòa, Quả phụ Cố Biệt Kích Phùn A Sáng. Từ trần năm 1996.


Văn Thị Thiện, Bà Rịa-Vũng Tàu, Quả phụ Cố HS1 Trần Văn Triệu. Tử trận năm 1973.


Nguyễn Thị Mật, Khánh Hòa, Tổ phụ Cố B2 Nguyễn Anh Hùng. Mất bệnh năm 1972.


Nguyễn Thị Kiều, Sóc Trăng, Quả phụ Cố NQ Trần Văn Nam. Tử trận năm 1972.


Nguyễn Thị Phi Hường, Khánh Hòa, Quả phụ Cố ThS Trần Văn Khiết. Tử trận năm 1972.


Nguyễn Thị Hằng, Saigon, Quả phụ Cố HS Võ Văn Nở. Tử trận năm 19??


Vũ Thị Sen, Ðồng Nai, Quả phụ Cố QN Lê Thế Suốt. Tử trận năm 19??


Nguyễn Thị Loát, Saigon, Quả phụ Cố ÐPQ Trần Ðình Trọng. Tử trận năm 1966.


Nguyễn Văn Mai, Vĩnh Long, Tổ phụ Cố B2 Nguyễn Văn Trương. Tử trận năm 1973.


Lê Văn Bé, Saigon, Tổ phụ Cố HS TQLC Lê Văn Hai. Tử trận năm 19??


Nguyễn Thị Nên, Saigon, Tổ phụ Cố B1 Nguyễn Văn Bé. Tử trận năm 1971.


Nguyễn Văn Phúc, Ðồng Nai, Tổ phụ Cố HS Nguyễn Văn Hạnh. Tử trận năm 1972.


Ðỗ Thị Xướng, Bình Thuận, Tổ phụ Cố B1 Trần Ðe. Tử trận năm 1970.


Nguyễn Thị Mai, Bình Thuận, Quả phụ Cố HS Nguyễn Trân. Tử trận năm 1968.


Võ Thị Bé, Ðồng Nai, Quả phụ Cố UVTT Trần Văn Vinh. Tử trận năm 1968.


Trần Thị Gái, Ðồng Nai, Quả phụ Cố TS Vũ Ðức Bảo. Tử trận năm 1974.


Trần Thị Khinh, Sóc Trăng, Quả phụ Cố TS CLQ Liêu Văn Nghi. Tử trận năm 1975.


Trần Thị Liêng, Tiền Giang, Quả phụ Cố HS Võ Văn Hoành. Tử trận năm 1970.


Nguyễn Thị Thanh, Trà Vinh, Tổ phụ Cố NQ Trần Văn Khoăn. Tử trận năm 1970.


Hoàng Thị Bình, Cần Thơ, Quả phụ Cố TS Vũ Văn Tinh. Tử trận năm 1970.


Lâm Thị Phiêu, Kiên Giang, Quả phụ Cố TS1 CLQ Huỳnh Quang Ðiệp. Tử trận năm 1973.


Nguyễn Thị Hà, Hậu Giang, Quả phụ Cố QN Nguyễn Văn Ðặng. Tử trận năm 1971.


Nguyễn Thị Mười, ??, Quả phụ Cố HS1 Phan Văn Lụa. Tử trận năm 1970.


Lê Thị Tuyết, Tiền Giang, Quả phụ Cố TrU KQ Nguyễn Ngọc Toản. Tử trận năm 1974.


Nguyễn Thị Hiền, An Giang, Quả phụ Cố HS1 ÐPQ Bùi Lăng. Tử trận năm 1968.


Nguyễn Thị Xiếu, Vĩnh Long, Quả phụ Cố B1 Lê Văn Diệt. Tử trận năm 1970.


Nguyễn Thị Khen, Cần Thơ, Quả phụ Cố TS ÐPQ Tạ Văn Mun. Tử trận năm 1968.


Bùi Thị Hiên, Cần Thơ, Quả phụ Cố HS BÐQ Nguyễn Khắc Thiện. Mất tích năm 1972.


Nguyễn Thị E, Ðồng Tháp, Quả phụ Cố CLQ ??. Tử trận năm 1969.

Kỷ Niệm Tháng Tư: Sài Gòn ơi! Nỗi nhớ khôn nguôi

 


Dương Vân Ðình


 


Tôi sinh ra tại Hà Nội, cố đô của ngàn năm văn hiến, nhưng lại lớn lên ở Sài Gòn, thành phố đã một thời được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Ðông. Hà Nội với đường Cổ Ngư êm đềm và thơ mộng, với Hồ Gươm hai bờ liễu rủ, ảo mờ trong màn sương những sáng mùa Ðông, tuy có để lại trong tôi ít nhiều xao xuyến nhưng nỗi nhớ chỉ bàng bạc như khói sương, ẩn khuất đâu đó như những bóng hình trong huyền thoại.


Với Sài Gòn thì khác. Sài Gòn với tôi là tất cả. Mảnh đất này là nơi ôm giữ gần trọn cuộc đời tôi, từ khi tôi tập tành làm thiếu nữ, biết soi dung nhan mình trong tấm kính xinh xinh, đến khi rời xa thì đầu đã pha hai màu tóc. Sài Gòn, nơi chôn giấu tất cả các kỷ niệm tôi, sung sướng lẫn khổ đau của một kiếp làm người.


Năm 1954, gia đình tôi theo đoàn người di cư bỏ miền Bắc, dắt dìu nhau đặt chân lên mảnh đất miền Nam với bao nhiêu lạ lẫm thuở ban đầu. Từ đồng bạc giấy xé đôi để thành hai tờ năm cắc đến trái cóc dầm tẻ hoa xanh xanh vàng vàng, cắn vào giòn tan vị chua chua ngọt ngọt nhớ đời… Bản chất người dân miền Nam chân chất và thành thật, thân thiện và xởi lởi, khiến những người bỏ xứ ra đi như chúng tôi cảm thấy thật ấm lòng.


Dần dà theo năm tháng, Sài Gòn, thủ đô của miền Nam tự do trở thành thành phố đẹp đẽ và sung túc nhất nhì vùng Ðông Nam Châu Á. Thành phố với sức sống ào ạt, hầu như không lúc nào im tiếng động. Mới 3, 4 giờ sáng, người ta đã bị đánh thức dậy bởi tiếng nổ inh tai của những chiếc xe ba bánh hay những chiếc xích lô máy chất đầy rau quả đưa về các chợ. Tiếng xe ngựa lóc cóc trên mặt đường nhựa chở những người buôn thúng bán bưng bắt đầu cho một ngày mới. Trong các xóm nhỏ vang vang tiếng trẻ con rao báo, tiếng hàng quà rong, nào xôi, nào cháo, nào bánh, nào rau, ôi thôi không thiếu một loại hàng nào… Sài Gòn đầy dẫy những quán cóc ở đầu mỗi hẻm nhỏ, sáng tinh mơ đã sực nức mùi cà phê thơm ngát. Nơi đây là chỗ gặp gỡ đầu ngày của giới bình dân, xích lô, ba gác hoặc công nhân các hãng xưởng, cầu đường… Phì phèo điếu thuốc, nhâm nhi ly nước đen ngòm, chút vị ngọt pha đầy vị đắng mà thiếu nó thì sẽ ra ngẩn vào ngơ như thiếu người tình…


Sài Gòn với tôi còn là một thời áo trắng Trưng Vương, đầy ắp kỷ niệm ngọt bùi với phấn trắng bảng đen, với bạn bè chia nhau những niềm vui tuổi ngọc, những mộng ước thanh xuân. Con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm với hai hàng cây cao bóng mát, những lá me xinh xinh rơi đầy trên vai áo, rắc kín mặt đường vào lúc chớm Thu. Quanh quẩn đâu đó, hình ảnh những anh chàng tình si, đôi mắt ngẩn ngơ tìm kiếm trong đàn thiên nga vừa vỡ tổ, hình bóng nàng thơ mà chàng đang ấp ủ:


Em tan trường về,


Ðường mưa nho nhỏ


Chim non dấu mỏ


Trong cội hoa vàng…


(Ngày xưa Hoàng Thị – Phạm Thiên Thư)


Trong cặp của mỗi cô nàng Trưng Vương, có một ngăn kín đáo nhất, là nơi cất giữ những tờ giấy pelure mỏng tanh màu hồng phấn, màu xanh phơn phớt da trời chép chi chít những bài thơ tình học trò của Nguyên Sa, những bài thơ đầy hấp lực với những nàng con gái vừa đến tuổi mộng mơ, biết thẹn thùng giấu mặt khi vô tình chạm vào ánh mắt của ai kia đang đăm đắm hướng về mình:


Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc


Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường


Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương


Tôi thay mực cho vừa màu áo tím…


(Màu kỷ niệm)


 


Không có anh nhỡ một mai em chết


Thượng đế hỏi anh sao mắt em buồn?


Sao tay gầy? Sao đôi mắt héo hon?


Anh sẽ phải cúi đầu đi vào địa ngục…


(Cần thiết)


(Ôi bạn bè ta, những người đã chia sớt với ta cả một thời hoa mộng, nay đã tan tác nơi đâu ? Ai còn, ai mất?)


Nhớ đến Sài Gòn, người ta không thể không nhớ đến chợ hoa Nguyễn Huệ mỗi độ Xuân về. Mai, đào, hồng, cúc, thủy tiên, mãn đình hồng… thôi thì trăm nghìn thứ hoa, trăm nghìn màu sắc, muôn hồng ngàn tía khoe sắc khoe hương. Nam thanh nữ tú, ông già bà trẻ, chen vai thích cánh nhau trên con lộ rộng nhất nhì thành phố. Lòng người vui theo cái vui của mọi người, rộn rã theo cái rộn rã của phố phường ngày giáp Tết.


Sài Gòn còn là những đêm Giáng Sinh ngập tràn dòng người trên khắp các con đường Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Tự do… dẫn về nhà thờ Ðức Bà. Người ta đi lễ thì ít mà đi ngắm nhau thì nhiều. Ở đó có bao nhiêu cặp tình nhân tay trong tay, mắt trong mắt. Ðêm của gặp gỡ, đêm của hẹn hò. Ðêm như chảy hội, đêm như thác lũ…


Ta đi bên nhau giấu tình trong đôi mắt


Giấu lời hẹn hò trong mỗi bước chân êm…


Sài Gòn còn là những cơn mưa đầu mùa Hạ. Trời đang nắng chang chang, nắng như đổ lửa, nắng rát thịt da.. bỗng đâu cơn mưa ập đến. Mưa ào ạt, mưa tới tấp, mưa như trút nước… rồi tạnh rất mau.


Anh còn nhớ không anh, chiếc xích lô chở đôi ta đi dưới trời mưa tầm tã. Lời thầm thì ngọt ngào hơn khúc hát tình ca. Mưa ơi cứ dài thêm đi nhé cho tim ta thơm đủ một vườn hồng…


Sài Gòn ơi, một thời ta mới lớn


Mỗi con đường đều ngát hương ngọc lan


Mỗi hàng cây đều có tổ chim non


Ríu rít hót bài ngợi ca hạnh phúc…


Tình yêu lớn theo năm tháng và những đứa con bé bỏng lần lượt chào đời.


Tôi dắt con đi giữa lòng Sài Gòn êm ả. Ðây Givral với những ly kem mát lạnh, món giải khát không thể thiếu mỗi lần dạo phố cho các cô cậu bé con . Ðây nhà sách Khai Trí, với vô vàn sách truyện mà mẹ thường say mê đọc cọp thời còn là nữ sinh. Ðây quán cà phê La Pagode, nơi không hẹn mà thường xuyên có mặt bố với các bạn bè.


Biết bao nhiêu tên gọi của Sài Gòn thân yêu đã đi qua trí nhớ non nớt của tuổi thơ các con tôi…


Ðêm về trên bánh xe qua


Nhớ tôi Xa Lộ, nhớ nhà Hàng Xanh


Nhớ em kim chỉ khứu tình


Trưa ngoan lớp học, chiều lành khóm tre


Nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè


Nắng Trương Minh Giảng, lá hè Tự Do…


(Ðêm nhớ trăng Sài Gòn – Du Tử Lê)


Tháng 3, 1975, hàng ngày tin tức chiến sự từ xa đưa về toàn là tin xấu. Pleiku mất, Ðà Nẵng mất, rồi Nha Trang cũng chẳng còn… Từ miền Trung xa xôi, miền Tây trù phú, người người lũ lượt kéo về, Sài Gòn trở thành một thành phố cực kỳ rối loạn. Rối loạn từ ngoài đường phố đến trong lòng mọi người. Nhìn đâu cũng thấy những khuôn mặt hốc hác, lo âu, những đôi mắt thất thần, những đôi môi khô héo, gặp nhau chỉ hỏi một câu duy nhất “ở hay đi?”


Mà đi thì đi đâu chứ? Và đi bằng cách nào?


Ðầu tháng 4, 1975 những biến động chính trị ở miền Nam càng ngày càng dồn dập và anh, dẫu đang là luật sư của văn phòng phụ tá về luật pháp Phủ Tổng Thống lại bị chính ông tổng thống ra lệnh bắt giữ. Em cuống cuồng như con chim mắc bẫy, giãy giụa trong tuyệt vọng, nào biết đâu số phận đang an bài cho mình những tháng năm nghiệt ngã, khốn cùng…


Bất ngờ trưa ngày 27 tháng 4 anh được thả về, đúng vào những giây phút cuối cùng khi Sài Gòn đang giãy chết.


29 tháng 4, dắt díu nhau, chúng ta tìm đường chạy trốn nhưng mọi ngả đường đều là tuyệt lộ!


Trưa 30 tháng 4, 1975, lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh như tiếng đạn pháo kích phá toang lồng ngực người dân Sài Gòn. Nỗi bàng hoàng làm thân thể tôi dường như mất hết gân cốt…


Cơn bão lốc đã hoàn toàn ngự trị thành phố. Rực khắp nơi chỉ thấy một màu cờ:


Tôi bước đi,


Không thấy phố,


Không thấy nhà


Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ


(Trần Dần)


Mỗi sáng tiếng loa phóng thanh vang lên chát chúa lời người xướng ngôn viên, toàn là một giọng điệu tuyên truyền xảo trá và bịp bợm, ca tụng cái xác ướp đã bao năm, ca tụng cái chiến thắng đầy máu xương và hận thù. Những bài hát hoàn toàn lạ lẫm: “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng…” Ðại thắng ư? Thành phố của ta – Thành phố có người lãnh đạo vừa lên tiếng đầu hàng, đang thảm thương như người mẹ tuyệt vọng ôm lũ con mình đầy thương tích trong vòng tay run rẩy mà lau đi những giọt lệ bi ai – mỉa mai thay cho hai từ “đại thắng”!


Thành phố của anh


Nhục nhằn duyên cưỡng ép


Cay đắng phận rau răm


Tim lay lắt chập chờn nỗi đợi


Mòn mỏi nén nhang khuya…


(Giã biệt – Tô Thùy Yên)


Tiếp theo là hàng loạt thanh trừng dành cho kẻ bại trận. Trước hết là lệnh tập trung toàn bộ sĩ quan và công chức chế độ miền Nam. Không chút nghi ngờ, anh bảo:


“Em đừng xếp nhiều quần áo cho anh, chỉ đi có 10 ngày thôi mà…”


Chỉ 10 ngày thôi ư? Chính phủ cách mạng sao mà khoan dung, độ lượng thế nhỉ?


Thương thay cho cái ngu ngơ của dân miền Nam và cái gian manh, xảo quyệt của lũ hình người dạ thú.


10 ngày đã trở thành 10 năm hay hơn nữa, nào ai học được chữ ngờ!


Các trại tù mọc khắp từ Nam ra Bắc để giam giữ những người bại trận. Bao nhiêu người đã ngã xuống trước họng súng của cai tù? Và bao nhiêu người đã vùi thây nơi thâm sơn cùng cốc vì nhục hình, trốn trại, đói khát, bệnh tật?…


Không bị nhốt trong các ngục mang tên Hàm Tân, Thanh Hóa, Nam Hà, Xuân Phước, v.v… nhưng người dân Sài Gòn và cả miền Nam cũng sống trong một trại tù khác, khổng lồ hơn và nghẹt thở với đủ các đợt trả thù: đổi tiền, đốt sách, đánh tư sản, đuổi đi kinh tế mới, giam giữ, v.v…


Kẻ chiến thắng đóng các cửa ngõ với thế giới bên ngoài, ôm cái vinh quang thấm đầy máu và nước mắt để hát hò, để xưng tụng… trong khi gạo và thực phẩm do chính sách hợp tác xã ngu đần đã cạn kiệt. Kết quả là sau năm 1977 từ Bắc vào Nam, ruộng đồng bát ngát như thế mà thóc gạo thì chẳng còn, người dân phải ăn khoai mì khoai lang hà độc, ăn bo bo, thứ thực phẩm chỉ dành để nuôi ngựa!


Tội nghiệp con bé út 3, 4 tuổi của tôi. Trông thấy bát bo bo là nó vừa cười méo xệch cái miệng thật xinh, vừa giả bộ xoa xoa cái bụng lép kẹp mà nói: “Mẹ ơi, con no rồi,” để đừng phải nhai cái bát bo bo đến trẹo quai hàm! Bữa tối sang nhất là có chút cơm với 3 phần gạo hẩm và 1 phần sạn, những cục sạn nếu nhặt không kỹ sẽ vỡ răng như chơi!


Ðó là những năm tháng Sài Gòn chìm trong bể khổ. Quanh mình, từ xóm giềng đến trường lớp, con mắt nào cũng là con mắt của soi mói, dò xét. Mỗi lời nói ra dường như có cái máy thâu âm vô hình lắp đặt ở đâu đó sẵn sàng ghi lại. Sai sót ư? Nhẹ nhất là kiểm thảo trước tổ dân phố hay ngoài đồn công an, không thì đi kinh tế mới, còn nếu bị ghép vào tội phản động thì tù đầy chẳng hẹn ngày về…


Ôi Sài Gòn thân yêu, còn đâu hình ảnh của Hòn Ngọc Viễn Ðông vui tươi, phồn thịnh ngày nào. Sài Gòn đang héo khô như hoa cỏ mùa nắng hạn. Sài Gòn đang quằn quại như người thiếu phụ trong giờ vượt cạn mà kẻ phụ tình đã cao chạy xa bay…


Ở đây, địa ngục chín từng sâu,


Cả giống nòi câm lặng gục đầu,


Cắn chết hàm răng, ứa máu mắt,


Chung xiềng nhưng chẳng dám nhìn nhau.


(Mùa hạn – Tô Thùy Yên)


Làm thân cô giáo như tôi, sớm chiều phải túc trực tại trường sở để học tập đường lối chính sách mới, để được dạy dỗ rằng mình là vợ một tên lính “ngụy,” kẻ tội đồ của dân tộc! Cuộc sống là những ngày nối tiếp ngày tràn ngập lo lắng và sợ hãi. Ðêm đêm trên đường đến lớp dạy bổ túc văn hóa tại trường Lê Quý Ðôn, khi chiếc xe đạp lọc xọc chạy ngang qua câu lạc bổ thể thao (cercle sportif) trên đường Hồng Thập Tự, trái tim tôi dường như bị mũi dao đâm trúng. Trời có mưa không mà mặt tôi nhạt nhòa… “Anh ơi anh đâu rồi…?” Hình như mới hôm qua hay hôm kia thôi, chiều đến, sau giờ tan sở, chồng tôi còn về đón mấy mẹ con đến câu lạc bộ này cho các con bơi lội, chơi đùa… Thôi giấc mơ đời đã vội tan!


Sài Gòn còn chứng kiến biết bao cảnh chia lìa vì những cuộc trốn chạy trên những chiếc bè mỏng manh như chiếc lá giữa mặt bể mênh mông trùng trùng sóng dữ hay những cuộc vượt rừng một sống mười chết giữa cạm bẫy của súng đạn, rắn độc, bọ cạp và lạc đường… Hình ảnh hai anh tôi quỳ lạy mẹ và ôm tôi từ biệt trước khi ra đi là những kỷ niệm đau đớn tận cùng, dẫu đã cố chôn vùi để quên đi nhưng mỗi năm cứ gần đến Tháng Tư oan khuất hay tháng 7 giỗ kỵ , nước mắt tôi tự nhiên chứa chan không sao cầm giữ được. Ðứa cháu trai 16 tuổi, đứa con trai duy nhất của anh cả tôi đang giam thân trong trại tù đã do chính tay tôi dắt cháu ra khu chợ cũ Sài Gòn để xuống tàu ở bến Bạch Ðằng trong cái ngày oan nghiệt đó. Trước lúc chia ly, cháu nắm chặt bàn tay tôi, đôi mắt trong sáng đầy tin yêu nhắn lại “Cô ơi, bố về cô nói giùm con yêu bố. Con đi, sẽ lo cho cả nhà”! Chuyến tàu định mệnh đó mang theo 10 người thân yêu của tôi ra đi và đi mãi vào trong lòng biển thẳm.


“Khôi ơi, cô xin lỗi con, lời nhắn của con cô đã vĩnh viễn chôn vùi vì không dám khơi dậy trong lòng bố con vết thương mãi mãi chẳng lành!”


Ðêm đêm tôi thường mất ngủ vì những toan tính lúc nào cũng ngập ngụa trong đầu. Làm sao với cái thân thể còm cõi, cô đơn này, tôi có thể gánh vác nổi một gia đình 6 con còn thơ dại, chồng mòn mỏi trong ngục tù đói khát ốm đau, mẹ già liệt nửa thân mình kèm với những cơn đau tim vật vã xác thân kể từ sau ngày hai anh và các cháu ra đi mà biệt vô âm tín? Làm sao để các con tôi đừng biết rằng ngày mai mẹ chúng không còn đồng xu trong túi, sẽ sẵn sàng bỏ học để lao ra chợ đời phụ mẹ kiếm sống với cái tuổi lên 10, 12, 13? Những câu hỏi cứ chằng chịt ám ảnh tâm trí tôi mà không có lời giải đáp. Tôi sụm xuống như một bà già tàn tạ. Hình như tôi không còn nước mắt để khóc cho thân phận mình mà trong cõi lòng lúc nào cũng chỉ đầy ắp sự lo lắng và nỗi sợ hãi tận cùng…


Năm 1992, gia đình tôi rời Việt Nam đi định cư tại Mỹ. Tôi bỏ lại sau lưng nắm tro xương của Mẹ, bỏ lại người anh ruột độc nhất còn lại trên thế gian này, bỏ lại thành phố Sài Gòn mà mỗi cành cây, ngọn cỏ, mỗi con đường, khu phố, căn nhà… còn âm vang, còn réo gọi trong tôi những kỷ niệm thiết tha của gần 40 năm gắn bó…


Khi chiếc phi cơ rời khỏi phi trường Tân sơn Nhất, bay vút lên trời cao, lòng tôi bỗng vỡ vụn những cảm giác xót xa, mất mát!


Sài Gòn ơi tôi đã mất người trong cuộc đời


Sài Gòn ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời


Giờ còn đây, những kỷ niệm sống trong tôi


Những nụ cười nát trên môi,


Những giọt lệ ôi sầu đắng…


(Vĩnh biệt Sài Gòn – Nam Lộc)


Những tháng năm dài nhớ quê hương…

Liên Hiệp Quốc siết chặt cấm vận Bắc Hàn

 


LIÊN HIỆP QUỐC (AFP)Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc hôm Thứ Hai siết chặt thêm việc cấm vận đối với Bắc Hàn, ngay sau khi nước cộng sản này cho bắn một hỏa tiễn dù rằng đã bị thất bại. Bắc Hàn cũng bị cảnh cáo sẽ chịu thêm “hành động” khác, nếu cứ tiến hành một cuộc thử nguyên tử.







Ban quân nhạc Bắc Hàn hát đồng ca tại thủ đô Pyongyang hôm Thứ Hai, 16 Tháng Tư, 2012, nhân kỷ niệm sinh nhật thứ 100 của Kim Il Sung. Bắc Hàn vừa bị LHQ siết chặt thêm biện pháp cấm vận sau khi cho phóng một hỏa tiễn hôm Thứ Sáu. (Hình: AP/David Guttenfelder)


Hội đồng gồm 15 thành viên, kể cả thành viên thường trực là Trung Quốc, nhất loạt đồng ý qua một văn bản, mạnh mẽ lên án cuộc bắn hỏa tiễn vừa qua vào hôm Thứ Sáu, bị cho là đã gây nên “quan ngại về an ninh rất nghiêm trọng” ở vùng Châu Á.


Ủy ban cấm vận LHQ được lệnh xem xét lại từng cá nhân, công ty và các thực thể của Bắc Hàn, chịu sự trừng phạt của quốc tế.


Hội đồng nói cuộc phóng hỏa tiễn nhưng thất bại này, là một “vi phạm nghiêm trọng” đến nghị quyết 1718 và 1874 của LHQ. Trong khi Bắc Hàn vẫn khăng khăng là họ chỉ đưa một vệ tinh thời tiết lên quỹ đạo, thì Hoa Kỳ lại cho rằng họ muốn thử một phi đạn tầm dài. Hội Ðồng Bảo An đòi hỏi Bắc Hàn ngưng hẳn mọi cuộc phóng “sử dụng đến kỹ thuật đạn đạo.” (TP)

Nhân viên Secret Service bị cấm cửa

Trên 5 quân nhân Mỹ bị điều tra bê bối


 


WASHINGTON (AP/CBS)Cơ quan mật vụ bảo vệ tổng thống Secret Service rút chỉ tiêu xem thông tin “tối mật” (top secret clearance) của 11 nhân viên Secret Service bị tố cáo liên quan tới mãi dâm trong chuyến đi Colombia, và cấm họ không được vào các trụ sở cơ quan này. Ðồng thời, một số quân nhân được điều động tham gia trong chuyến đi cũng bị điều tra “hành động bất chính” tại một khách sạn ở Colombia.







Khách sạn El Caribe ở Cartagena, Colombia nơi 11 nhân viên Secret Service của Mỹ bị cho về nước vì cáo buộc có liên hệ đến mại dâm. Trên 5 quân nhân Mỹ khác cũng bị cho là dính dấp về vụ bê bối này. (Hình: AP/Fernando Vergara)


Tùy viên báo chí Bộ Quốc Phòng George Little hôm Thứ Hai nói ông không thể tiết lộ con số cụ thể các binh sĩ nhưng chỉ cho biết là có trên năm người. Theo ông, họ được chỉ định yểm trợ cho Secret Service để chuẩn bị cho cuộc viếng thăm của tổng thống tại Colombia. Ông thêm là họ không liên hệ trực tiếp đến an ninh của tổng thống. Ông Little nói: “Chúng tôi tin chắc có thể có hơn năm người dính dấp đến vụ này.”


Secret Service triệu hồi ngay 11 nhân viên về nước sau khi có lời tố cáo họ mướn gái điếm tại một khách sạn ở Cartagena. Trong khi các nhân viên quân sự bị điều tra cũng ngụ chung trong cùng khách sạn này.


Các nhân viên Secret Service bị đưa thẳng về nước và người khác được đưa ra thay thế để bảo vệ tổng thống. Họ bị tố cáo đã mua dâm và có những hành vi bất chính khác.


Những người này bị tạm nghỉ tại nhà, bị tịch thu vũ khí và không được phép vào các cơ sở của Secret Service.


“Họ bị vào danh sách ‘không cho vào’ và phương tiện của họ đã bị tịch thu,” một viên chức công lực nói với đài CBS News.


Trong số 11 người có 2 người điều hành và có 3 người trong đội phản công Counter-Assault Teams, những người thường thấy mặc đồ đen và mang súng lớn.


Trước đây vào hôm Thứ Bảy, bộ chỉ huy quân sự US Southern Command loan báo, 5 nhân viên được chỉ định công tác liên hệ đến chuyến đi Colombia của tổng thống, đã vi phạm lệnh giới nghiêm cũng như liên quan đến “hành vi bất chính.”


Tổng Thống Obama hôm Chủ Nhật tuyên bố: “Tôi mong nội vụ sẽ được điều tra đến nơi đến chốn và nếu sau khi điều tra, sự kiện quả đúng như lời của báo chí loan tải, thì tôi sẽ phẫn nộ… Chúng ta đại diện cho nhân dân Hoa Kỳ, khi chúng ta du hành sang nước khác, tôi thiết nghĩ chúng ta nên hành xử theo tiêu chuẩn cao nhất.”


Dân Biểu Darrell Issa, California, chủ tịch một ủy ban điều tra Hạ Viện, nói rằng, ông không chắc là Quốc Hội sẽ mở cuộc điều trần về hành vi bất chính bị cáo buộc này hay không. Nhưng các nhà lập pháp sẽ kiểm điểm lại hoạt động của cơ quan Secret Service, để bảo đảm là phương pháp huấn luyện và thanh lọc nhân viên của cơ quan không có phương hại đến các nhân vật Tối Quan Trọng (VIP) của quốc gia. (TP)

Sài Gòn và ‘cơn bão xù lương’

 


Phùng Thức/Người Việt


 


SÀI GÒN Ở đầu một con hẻm khu bến xe ngã tư Ga, quận Gò vấp, chúng tôi gặp một cô gái bán chuối sáp và khoai lang nấu. Nhìn qua là đoán được cô này mới ra nghề.







Nhiều công ty phá sản, giá cả tăng tỷ lệ nghịch với tiền lương người lao động, khiến nhiều người bị chủ xù lương. (Hình: AP/Chitose Suzuki)


Cô cho biết. Chỗ bán này là của người bà con nhường lại. Còn cô trước đây làm nghề “Osin” tính theo giờ, tháng rồi cô bị cắt nhiều mối nên không đủ sống nên thử chuyển qua bán hàng rong.


“Trước đây chủ nhà họ làm biếng, bây giờ khó kiếm tiền họ phải làm siêng nên họ cho mình nghỉ. Ðã vậy mà họ còn thiếu tiền công của mình, đâu có đáng bao nhiêu tiền mà phải chầu chực để đòi.”


Bị thảy ra đường phố, những người như cô gái bán chuối sáp hay những người làm nghề tự do khác không được nhà nước thống kê trong đội quân thất nghiệp khổng lồ hiện nay.


Ở Bình Dương, anh Hồng, công nhân kỹ thuật ngành bao bì bị thất nghiệp đang đi tìm việc làm mới, anh nói: “Hơn tháng nay phải nhờ tiền nhà từ Rạch Giá gởi lên mới trụ lại được mà tìm việc.” Tìm hiểu xem cái công ty phá sản mà anh làm có xù lương anh không thì anh cho biết: “Tôi bị xù tháng cuối, nhưng điều khốn nạn là ngủ một đêm sáng dậy chủ cha, chủ con gì biến hết, đến cái sổ bảo hiểm thất nghiệp cũng không biết đòi ai để có ít tiền trợ cấp mà cầm cự.”


Từ đầu năm 2011 đến nay, có một hiện tượng khá phổ biến ở Việt Nam là chuyện xù lương công nhân, xù tiền công nhật của giới chủ, kể cả những ông chủ người nước ngoài.


Ngày 9 tháng 4, gần 100 công nhân công ty TNHH Thương mại-Dịch vụ May mặc Trung Thu, xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn đã trải chiếu, giăng màn ngay trước cổng công ty đòi thanh toán hết tiền lương tháng 3, 2012.


Ông Cher Chun Sik, quản lý sản xuất của công ty, cũng bị công nhân “giam lỏng” bên trong, không cho ra ngoài cho đến khi thanh toán hết tiền lương. Ở Hải Phòng, công an huyện Kiến Thụy đang truy tìm 2 ông chủ người Trung Quốc thuộc công ty TNHH Duân Hòa xù lương hơn 50 công nhân gia công mũi giày.


Vụ phá sản, chạy làng của bà chủ công ty Thủy Sản Bình An-Cần Thơ, đang trở thành vụ nóng, báo hiệu cho cao trào tháo chạy thoát thân của giới chủ lớn bé từng một thời tạo nên vẻ phồn vinh giả tạo của diện mạo kinh tế thị trường chế độ.


Trong bối cảnh tồi tệ của kinh tế Việt Nam lúc này không chỉ là bao nhiêu khu công nghiệp trống hoác, bao nhiêu chủ đầu tư người nước ngoài rút đi, bao nhiêu doanh nghiệp trong nước sập tiệm mà cái chính là hàng triệu công nhân không biết ngày mai của mình ra sao. Ông chủ công ty chuyên sản xuất đồ chơi trẻ em có văn phòng ở quận 11 nói. “Tôi hàng ngày soi gương thấy mặt mình xám xịt vì bất an. Cỡ tôi mà còn không biết chắc ngày mai ra sao huống gì là công nhân.”


Khi chúng tôi đặt vấn đề về chuyện rủi công ty ông có “chuyện” ông có “chơi bài” xù lương công nhân không? Ông nói: “Chuyện bất nhân thì không ai muốn làm nhưng hứa chắc thì không ai dám.”


Một nhà báo chuyên viết kinh tế, ông TC, cho biết: “Con số những công nhân bị xù lương từ đầu năm đến nay được thông tin trên báo chí chỉ là chuyện hột muối bỏ biển. Không đâu đưa ra thông tin về số các công ty trong và ngoài nước phá sản, nhưng suy từ báo cáo của Ủy Ban Kinh Tế trích dẫn nguồn từ cơ quan thuế cho biết, từ đầu năm đến nay có khoảng 30% số doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh phải phá sản, giải thể, đóng cửa, tạm ngừng sản xuất. Như vậy tính rằng có hàng triệu công nhân bị xù lương hoặc bị xù một phần lương cũng không có gì quá đáng.”

VIỆT MỸ ENTERTAINMENT

 

AGLA

 

‘Ðồng chí’

 


Hỏi Ai


 


Chào tất cả những ai đang đọc những dòng chữ này.


Tôi ở vào tuổi 60, học vấn không cao vì vậy lịch sử Việt Nam không rành lắm, nhưng có một điều chắc chắn tôi nhớ rất rõ là trước năm 1975 danh từ “đồng chí” “bộ đội” “công an” tôi chưa từng nghe qua.


Ngày hôm nay Tháng Tư ngày 12, 2012 vô tình tôi thấy mục Phân Ưu của đài Global TV 57.8. Họ dùng danh từ “đồng chí” để chia buồn. Mà “đồng chí” này là thành viên của đảng Dân Tộc VN, Tổng Ðoàn Thanh Niên VN. (Người quá cố chỉ là cha của thành viên trong đảng.)


Tôi có gọi đến đài để hỏi, nhưng họ đem cả một lịch sử Việt Nam để giải thích, chẳng khác nào nước đổ đầu vịt.


Câu hỏi của tôi là có nên dùng danh từ “đồng chí” trong cộng đồng Việt Nam chống Cộng triệt để của chúng ta hay không?

Tìm Trung Úy Nguyễn Văn Lích


Em là Nguyễn Thị Tím, đang sống ở Sài Gòn. Tìm anh là Nguyễn Văn Lích, số quân: 59-108207, Trung Ðoàn 43, Sư Ðoàn 18 Bộ Binh.


Ði tù cải tạo tại Ðồng Ban, Tây Ninh. Hòm thư 7590. L2-T2-Ðội 7. Trốn trại vào tháng 6 năm 1977 và mất tích. Ai có tin gì về Trung Úy Nguyễn Văn Lích, xin báo cho bạn của Tím là Ngọc Ðóa: 714-667-7822.

Nhiễu âm và trống trận

 


 


Viễn ảnh kinh tế Hoa Kỳ trong tranh cử


 


Nguyễn-Xuân Nghĩa


 


Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ bước qua giai đoạn hai khi ông Mitt Romney coi như sẽ đại diện bên Cộng Hòa ra tranh cử với Tổng Thống Barack Obama bên Dân Chủ. Vì hai đề mục đang được dân Mỹ quan tâm nhất hiện vẫn là kinh tế và việc làm, nên đề nghị của hai ứng viên nhằm giải quyết hai ưu tiên này sẽ quyết định về kết quả bầu cử vào mùng 6 tháng 11 tới đây.


Nhưng vì vấn đề kinh tế xuất phát từ các nguyên nhân sâu xa về cơ cấu, lại bị giáng một đòn là nạn bể bóng thị trường gia cư và khủng hoảng tín dụng loại thứ cấp – là cái “duyên” chứ không là cái “nhân” của sự suy sụp từ bốn năm qua – việc tìm ra giải pháp khả dĩ huy động được hậu thuẫn của dân chúng không là điều dễ.


Lý do thứ hai là dù quá dài, cuộc tranh cử mới chỉ qua khỏi vòng sơ bộ bên đối lập, với nhiều tranh cãi vớ vẩn về ưu tiên – như kinh tế hay xã hội, đạo đức – nên mọi sự còn chờ đại hội hai đảng, cuối tháng 8 bên Cộng Hòa, đầu tháng 9 bên Dân Chủ, và bốn cuộc tranh luận của hai liên danh. Trong khi chờ đợi, ta thấy xuất hiện nhiều nhiễu âm hơn là thực chất của hai chương trình hành động.


Nhiễu âm là loại âm thanh ồn ào với mục tiêu tạo ra ấn tượng về chính trị trong khi lại gây rủi ro là làm cử tri không thấy đâu là giải pháp. Hai thí dụ nóng về loại nhiễu âm này là vai trò của phụ nữ và giải pháp đánh thuế nhà giàu.


Hoa Kỳ là xứ dân chủ và cởi mở nên giữa vụ tổng suy trầm nghiêm trọng nhất từ 70 năm nay, người ta vẫn có thể tranh luận việc mà người khác cho là phù du, như có nên tài trợ nhu cầu mua thuốc ngừa thai cho phụ nữ không. Một nữ sinh viên kỳ cựu, đã 31 tuổi, vẫn có 15 giây nổi tiếng trong đời khi đòi chính quyền liên bang phải yêu cầu các hội thiện yểm trợ việc đó, nếu không là can tội kỳ thị phụ nữ. Lập tức phe bảo thủ về đạo đức bên Cộng Hòa nhập cuộc và vụ cãi vã lây lan qua việc phu nhân của ông Mitt Romney không đi làm khiến Ðệ nhất Phu nhân Michelle Obama phải nhảy vào bênh vực bà Ann Romney.


Loại nhiễu âm thứ hai là biện pháp đánh thuế nhà giàu. Ðó là đề nghị gọi là “Buffett Rule” của ông Obama nhằm tăng thuế trên lợi tức đầu tư của 1% những người giàu nhất như tỷ phú Warren Buffett, một người tham gia vào ban tranh cử của ông. Vì mục đích tái lập công bằng xã hội, đề nghị ấy ảnh hưởng đến chừng 22 ngàn người giàu nhất và nếu lạc quan thì thu về cho công quỹ chừng 47 tỷ Mỹ kim trong 10 năm tới, khi bội chi ngân sách một năm đã vượt 1,500 tỷ. Nếu có chia cho khoảng 46 triệu dân Mỹ nghèo thì khoản bội thu, giả dụ 4.67 tỷ một năm, chỉ cho mỗi người trăm bạc. Mặt trái là biện pháp này sẽ làm sụt mức đầu tư của “bọn nhà giàu” đến cỡ nào và giảm thất nghiệp bao nhiêu thì chưa ai rõ.


Ðề nghị ấy có mục đích gây ấn tượng chính trị hơn là giải quyết vấn đề kinh tế, nhưng cũng làm cử tri sôi nổi tranh luận, xem đảng nào lo cho dân nghèo và đảng nào lo cho kinh tế, v.v…


Chúng ta cố len qua đám nhiễu âm nhiễu xạ ấy để nhìn vào thực tế kinh tế, ngõ hầu có cơ sở thẩm xét đề nghị giải quyết của hai đảng và nhất là ước đoán ra là kinh tế Mỹ sẽ đi về đâu.


***


Sau đây là vài sự thật về kinh tế mà người viết xin lỗi trước là phải tóm lược cho gọn.


Từ mấy chục năm nay, Hoa Kỳ vay mượn quá nhiều và tiêu xài phóng túng với hệ thống tài chánh ngân hàng quá sáng tạo so với luật lệ kiểm soát nên đến hồi trả nợ bằng nâng tiết kiệm và giảm tiêu thụ. Khi kinh tế suy trầm từ cuối năm 2007, các biện pháp kích thích kinh tế đều nhắm vào tăng chi để bù vào khoản giảm chi của công chúng và doanh nghiệp nên mới gây bội chi ngân sách quốc gia và nâng mức công trái của nhà nước – mà không hiệu quả như dự trù.


Việc Ngân Hàng Trung Ương hạ lãi suất tới số không và bơm tiền cho doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư lại dẫn tới hậu quả bất lường: doanh nghiệp lấy tiền chỗ rẻ đầu tư vào chỗ có lời: thị trường chứng phiếu. Họ an toàn kiếm lời, chịu thuế ít, mà vẫn không tạo thêm việc làm và chẳng phải băn khoan gì với yêu sách của nghiệp đoàn hay phải góp phần trả thuế an sinh xã hội, trợ cấp y tế hoặc chung tiền bảo hiểm sức khỏe cho nhân viên mà họ không tuyển!


Kinh tế Mỹ ra khỏi suy trầm từ tháng 7 năm 2009 mà chưa phục hồi và thất nghiệp còn cao. Thất nghiệp cao là lợi tức giảm, nguồn thuế khóa giảm theo và bội chi vẫn còn cao nếu phải kể thêm gánh nặng trợ cấp thất nghiệp. Ðấy là cái vòng luẩn quẩn khó gỡ.


Huống hồ thất nghiệp không chỉ là một vấn đề chu kỳ nhất thời mà còn có cả nguyên nhân sâu xa trong sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất qua hình thái hậu công nghiệp. Hiện tượng ấy xuất hiện từ cả chục năm mà vẫn chưa thấy giải pháp thỏa đáng. Chúng ta sẽ còn cơ hội tìm hiểu về vụ này.


Trong khi ấy, ngay trước mắt, kinh tế Hoa Kỳ lại có nguy cơ trôi vào một nạn suy trầm nữa!


Khi các chính khách còn tranh luận về trách nhiệm và giải pháp, sự thật éo le ở đây là nền kinh tế chỉ khởi sắc nếu tiêu thụ gia tăng. Mỗi đợt thống kê về tiêu thụ hay bán lẻ lại là một lần nhức tim và vòng xoáy lại thắt chặt khi thất nghiệp chưa giảm mạnh: chưa có việc làm mà nhà cửa vẫn mất giá hoặc mất luôn thì ai dám phóng tay tiêu xài?


Việc tiêu xài tùy thuộc vào tâm lý lạc quan hay không về tương lai. Với giới thiêu thụ, tâm lý đó chưa thay đổi. Chuyện xăng dầu nhất thời lên giá thì dù chẳng nhiều và có thể sẽ hạ vẫn chưa giúp nhà tiêu thụ an tâm. Những tranh luận triền miên và chuyện đổ lỗi liên hồi trên chính trường càng làm dân Mỹ e ngại, nghe ngóng và chờ đợi những ách tắc chính trị như đã thấy năm ngoái.


Mà không chỉ có giới tiêu thụ mới hoang mang! Nơi tạo ra việc làm là doanh nghiệp loại nhỏ, mới được thành lập trong vòng dăm ba năm, chứ không phải là các đại tổ hợp. Trong mấy năm qua, các doanh nghiệp này đã “tăng năng suất” – sa thải nhân viên và tiết giảm phí tổn – để cầm hơi. Nếu họ không đuổi bớt người thì đã mừng, đó là việc số người lần đầu khai báo thất nghiệp có giảm. Nhưng con số lạc quan này chưa hẳn là doanh nghiệp đã tuyển thêm người mới.


Các doanh nghiệp chưa yên tâm với chiều hướng chính trị hiện nay, khi họ vẫn bị xem là bọn nhà giàu có tội và đáng bị đánh thuế thêm một đợt nữa để góp phần tái lập công bằng…


Nhìn ra bên ngoài, vì Hoa Kỳ giao thương với cả thế giới, tình hình cũng chưa có gì khả quan.


Kinh tế Trung Quốc có thể giảm đà tăng trưởng và nếu Bắc Kinh có mở biên độ giao dịch đồng Nguyên thì việc xuất cảng vào thị trường này chưa thể là giải pháp cứu nguy kinh tế Mỹ. Ðã thế, Âu Châu có khi lại lãnh họa và gây hậu quả bất lợi cho Hoa Kỳ.


Sau Hy Lạp rồi Ý đến Tây Ban Nha cũng đã thay đổi lãnh đạo và áp dụng chánh sách khắc khổ, mà Liên Hiệp Âu Châu và khối Euro chưa đẩy lui khủng hoảng. Từ nay đến tháng 6, Pháp lại có bầu cử – vòng sơ bộ vào tuần tới và vòng loại vào tháng 5 – rồi bầu Quốc Hội vào tháng 6.


Nếu đảng Xã Hội và cánh tả thắng cử, như người ta dự đoán ngay trước ngày bầu cử, Chính quyền mới của Pháp sẽ tăng thuế, nâng mức trợ cấp xã hội, tăng chi để tuyển thêm công chức và phủ nhận thỏa thuận về chánh sách kiệm ước của 25 nước Liên Âu hôm mùng 2 tháng 3, trong đó có nước Pháp. Khi ấy, tương lai cả Âu Châu và khối Euro sẽ treo trên cổ nước Ðức, và chấn động từ đó sẽ dội về Hoa Kỳ.


Kinh tế Mỹ có thể lại bị suy trầm vào mùa Thu, trước khi dân Mỹ đi bầu.


Từ trong ra ngoài, mấy hồi trống trận ấy mới thực sự nguy nàn, hơn hẳn những nhiễu âm hiện nay của cuộc tranh cử.

Quân y hiện dịch QLVNCH hội ngộ lần đầu tiên

 


 


Ðỗ Dzũng/Người Việt


 


WESTMINSTER (NV)Gần 150 bác sĩ, nha sĩ và dược sĩ từng phục vụ trong QLVNCH vừa có cuộc hội ngộ lần đầu tiên tại The Villa Banquet Room, Westminster, hôm Chủ Nhật.







Cựu sinh viên quân y QLVNCH ôn lại kỷ niệm xưa qua những bức ảnh cũ. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)


Bác Sĩ Phạm Gia Cổn, trưởng ban tổ chức, cho nhật báo Người Việt biết: “Thực ra, chúng tôi muốn tổ chức hội ngộ nhiều lần lắm, nhưng vì anh em quá bận rộn. Hơn nữa, khi còn hiện dịch, chúng tôi ‘dính’ trong nhiều binh chủng khác nhau. Thành ra, khi ra hải ngoại, ít nhiều anh em cũng sinh hoạt trong các hội ái hữu của các binh chủng này.”


“Tuy nhiên, cách đây hai năm, nhân dịp chúng tôi thành lập một diễn đàn quân y, được anh em ủng hộ và khuyến khích, rồi liên lạc với nhau. Thế là chúng tôi rủ nhau tổ chức buổi hội ngộ này,” Bác Sĩ Cổn nói thêm.


Ông cho biết thêm, với bước đầu rất khả quan, có nhiều người từ những nơi xa xôi và ở những quốc gia khác về tham dự, ban tổ chức hy vọng trong thời gian tới sẽ tiếp tục tổ chức hội ngộ, ít nhất hai năm một lần.







Tờ chương trình được phóng lớn cạnh “mannequin” một sĩ quan quân y trong lễ phục rất đẹp, ngay lối vào nhà hàng. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)


Bước vào nhà hàng, mọi người đều nhìn thấy một tờ chương trình được phóng lớn, để cạnh “mannequin” một sĩ quan quân y trong lễ phục rất đẹp và hai tủ kiếng trưng bày những cái nón và huy hiệu các binh chủng QLVNCH có quân y phục vụ.


Bên trong nhà hàng, phía bên trái, là những lá cờ các binh chủng QLVNCH, bên phải là triển lãm những hình ảnh của lực lượng quân y, bao gồm hình ảnh ở mặt trận, ở trường Ðại Học Y Khoa Sài Gòn, lễ mãn khóa, khi các sĩ quan này còn là sinh viên y khoa.


Nhiều người lặng lẽ nhìn những tấm hình gợi nhớ một thời phục vụ và chiến đấu của họ, trong cuộc chiến cách đây gần 40 năm. Một số khác chỉ vào những tấm hình, ôn lại kỷ niệm cũ với đồng đội.


Sau nghi thức chào quốc quân kỳ, một số diễn giả, là những giáo sư, niên trưởng, lên kể lại kỷ niệm thầy trò và chia sẻ những câu chuyện ngày xưa.







Bác Sĩ Phạm Gia Cổn, trưởng ban tổ chức Hội Ngộ Quân Y Hiện Dịch QLVNCH. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)


Một diễn giả được nhiều người chú ý nhất. Ðó là cựu phóng viên chiến trường người Tây Ðức, ông Uwe Siemon-Netto, từng có mặt tại Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1970.


Ông cho biết “rất hân hạnh được mời đến nói chuyện, gần nửa thế kỷ sau lần đầu tiên đến Việt Nam với tư cách phóng viên chiến trường Tây Ðức.”


Ông kể lại những kỷ niệm ở Việt Nam, về cuộc chiến Việt Nam, về cuộc chiến hiện nay ở Afghanistan, về suy nghĩ của ông, và nói “tôi tin rằng tất cả chúng ta đều có trách vụ là những nhân chứng của lịch sử.”


“Chúng ta có hy vọng, hy vọng cho Việt Nam, hy vọng cho Afghanistan, hy vọng cho nhân loại,” ông Siemon-Netto nói. “Chúng ta không biết rõ tương lai, nhưng chúng ta kêu gọi sự đóng góp của mọi người cho một tương lai tươi sáng hơn.”


Theo sách “Quân Y Quân Lực VNCH” do Bác Sĩ Trần Xuân Dũng thực hiện và phát hành năm 2000, trường Quân Y Trung Ương được thành lập năm 1951 tại bệnh viện Bác Sĩ Patterson ở phố Hàng Chuối, Hà Nội, do Y Sĩ Trung Tá Phạm Biểu Tâm làm giám đốc.


Khóa 1 chỉ có 54 sinh viên, đa số là tình nguyện thẳng từ các trường y dược và một số tuyển lại từ các sinh viên y dược đã bị gọi động viên tại các trường quân sự Nam Ðịnh và Thủ Ðức.


Một năm sau, trường tổ chương trình nội trú cho sinh viên.


Năm 1956, trưởng giải tán và sát nhập vào Trung Tâm Huấn Luyện Quân Y, ở Quân Y Viện Chi Lăng.


Năm 1957, trung tâm dọn về trụ sở mới ở số 4 đại lộ Hùng Vương, Chợ Lớn.


Năm 1961, trường lấy lại tên Trường Quân Y.


Giám đốc cuối cùng của trường là Y Sĩ Ðại Tá Hoàng Cơ Lân, từ năm 1973 đến năm 1975.


Tổng cộng, từ năm 1953 đến năm 1975, trường có 13 vị giám đốc hay chỉ huy trưởng.


Mọi chi tiết liên quan đến cựu sinh viên quân y QLVNCH, xin vào trang web www.svqy.org.


 


––


Liên lạc tác giả: [email protected]

Ði tìm nhân vật Dạ Lan

 


Bài: Huy Phương/Người Việt









Ảnh: Photo Nguyễn Kỳ (Saigon 1964)

Hiện nay, ở quận Cam có một ca sĩ tên Dạ Lan cũng như ở đài Little Saigon Radio có một xướng ngôn viên tên Nhã Lan, nhiều người đã hỏi tôi có phải đó là cô Dạ Lan ngày xưa trong đài Quân Ðội VNCH hay không. Gần nửa thế kỷ trôi qua, sao mọi người cứ nghĩ như chuyện mới ngày hôm qua. Nên trả Dạ Lan về cho sự thật đúng nghĩa của nó: một vở kịch đã buông màn hay một huyền thoại đã xa xôi. 


Có một chương trình phát thanh mang tên Dạ Lan 


Dạ Lan là tên một chương trình phát thanh của đài phát thanh Quân Ðội VNCH khởi đầu từ năm 1964 và kéo dài cho đến ngày Saigon thất thủ. Theo danh từ chuyên môn đây là một chương trình binh vận, nghĩa là nhằm tác động tinh thần chiến đấu của binh sĩ. Chương trình phát thanh này được phát mỗi đêm trên làn sóng dành riêng cho quân đội trong hệ thống phát thanh quốc gia, qua đài tiếp vận Quán Tre, có công suất rất mạnh có thể nghe đến Bến Hải, nghĩa là khắp 4 Vùng Chiến Thuật.


Năm 1964, Ðại Tá Trần Ngọc Huyến, được bổ nhiệm vào chức vụ Giám Ðốc Nha Chiến Tranh Tâm Lý, Bộ Quốc Phòng và chính ông người khai sinh ra chương trình phát thanh “Dạ Lan” của đài Phát Thanh Quân Ðội, vì sau biến cố 1963, cần ổn định lại tinh thần của các binh sĩ ngoài mặt trận. Chương trình Dạ Lan, phỏng theo một chương trình địch vận của Ðài Loan hướng về Trung Quốc lục địa vào thập niên 50, nếu tôi nhớ không lầm, theo lời Ðại Tá Huyến, mang tên “Hoa Hồng Ðen.” Ðại Tá Trần Ngọc Huyến lấy tên Dạ Lan đặt tên cho chương trình như một loài hoa nở về đêm, dùng một giọng nói thiếu nữ đêm đêm chuyện trò qua làn sóng điện với các chiến sĩ ngoài tiền đồn mà có thể không cần đến nhan sắc.


Dạ Lan 1 


Ðược như vậy cần phải chọn một giọng nói thật ngọt ngào, quyến rũ. Một ứng viên duy nhất được ban tham mưu chương trình chọn lựa từ trong nội bộ ngành truyền thanh là cô Hoàng Xuân Lan, nguyên xướng ngôn viên đài phát thanh Ðồng Hà. Cô Xuân Lan người Trung nhưng nói giọng Bắc khá chuẩn. Một ban biên tập được thành lập để lo bài vở cho chương trình mỗi đêm gồm có lá thư Dạ Lan, câu chuyện thời sự, tin tức, điểm báo và phần nhạc yêu cầu cho “tiền tuyến.”


Mỗi đêm từ 7 giờ đến 9 giờ tối, trên làn sóng đài phát thanh Quân Ðội, “em gái hậu phương Dạ Lan” với giọng nói dịu dàng, ngọt ngào “như mật rót vào tai” đã bay xa đến với anh em chiến sĩ ở những vùng đất xa xôi, tiền đồn heo hút. Chương trình thành công vượt bực và thư từ anh em chiến sĩ, nhất là từ các vùng đất xa xôi, tiền đồn heo hút gửi về cho Dạ Lan tới tấp, đến nỗi đài Quân Ðội phải mướn bốn nữ nhân viên dân chính, công việc mỗi ngày chỉ để ngồi viết thư trả lời cho các anh chiến sĩ. Bốn cô đặc trách 4 Vùng Chiến Thuật, và lẽ cố nhiên dưới mỗi lá thư đều ký tên Dạ Lan. Quý bạn thử đặt trường hợp của một người lính xa nhà, ở một nơi tiền đồn heo hút, xa ánh đèn thành phố, không sách báo, mỗi đêm chỉ có một cái radio chạy pin để nghe em gái Dạ Lan tỉ tê, tâm sự lại được một lá thư hồi âm của em gái Dạ Lan từ KBC 3168, hạnh phúc biết bao.


Nếu như anh chàng bộ đội Trung Cộng mỗi đêm thường nghe lén cô nàng Hoa Hồng Ðen từ Ðài Loan, có hâm mộ bao nhiêu cũng không thể bơi qua eo biển Ðài Loan để gặp nàng, nhưng các quân nhân ái mộ Dạ Lan ở đài Quân Ðội mỗi lần đi phép về Saigon đều tìm cách ghé thăm cô Dạ Lan trong mộng. Tuy vậy chủ trương của người làm chương trình này, Dạ Lan chỉ là một giọng nói mà không là người thật, nên không anh chiến sĩ nào có cơ hội được gặp mặt cô Dạ Lan.


Ít lâu sau để đáp ứng “nhu cầu chiến sĩ” cô Hoàng Xuân Lan được cho phép đi chụp ảnh in thành carte-postale, để gửi tặng anh em chiến sĩ. Ðó là bức ảnh được in trên bìa báo Xuân Chiến Sĩ Cộng Hòa năm 1965, do nhà nhiếp ảnh nổi tiếng Nguyễn Kỳ ở Saigon vào thập niên 60, chụp. Bức ảnh đã được làm mờ các chi tiết, sở trường trong các bức chân dung của Nguyễn Kỳ. Sai lầm của Ðài Phát Thanh Quân Ðội là đã tặng ảnh chân dung Xuân Lan cho các quân nhân thính giả vì hình ảnh trong tưởng tượng bao giờ cũng đẹp hơn sự thật ngoài đời. 


Dạ Lan  2:


Năm 1966, tôi không nhớ là khoảng tháng nào, trong khi chương trình Dạ Lan đang thành công như vậy, thì người xướng ngôn viên, cô Hoàng Xuân Lan, bỏ đài lên Ðà Lạt, gây bối rối không ít cho quản đốc đài là Thiếu Tá Nguyễn Văn Thúy (vừa qua đời tại Nam Cali) và Q. Cục Trưởng Cục Tâm Lý Chiến là Trung Tá Cao Ðăng Tường (lúc bấy giờ Nha CTTL đã đổi thành Cục Tâm lý Chiến và Ðại Tá Trần Ngọc Huyến đã rời nhiệm sở này). Thay vì ngưng phát chương trình Dạ Lan thì đài Quân Ðội dùng cô Hồng Phương Lan (cũng là Lan), một xướng ngôn viên có sẵn của đài vào thay thế. Cô này có hiệu là Mỹ Linh, thường phụ trách mục nhạc ngoại quốc yêu cầu của đài, có giọng Bắc khả ái như cô Hoàng Xuân Lan tức là Dạ Lan 1. Ngoài nhân viên của đài, không ai phân biệt được sự khác biệt giữa hai giọng nói Dạ Lan, đêm đêm giọng nói nghe như vẫn còn đó, nhưng người nói đã thay đổi.


Chương trình Dạ Lan của đài Quân Ðội dần dà trở thành một chương trình mang tên Dạ Lan, bình thường như những chương trình phát thanh khác và sự hâm mộ em gái Dạ Lan cũng dần dần phai nhạt. Thư từ không còn tới tấp gửi về như những năm đầu. Rồi biến cố tháng 4, 1975 xẩy ra, người và việc trôi dần vào quên lãng. 


Ði tìm nhân vật Dạ Lan 


Khoảng năm 2005, ký giả Nguyễn Khắp Nơi của tuần báo Việt Luận ở Sydney, Úc có lòng nhớ đến chương trình phát thanh Dạ Lan năm xưa, đã viết một bài báo nhắc đến chương trình Dạ Lan và cho rằng cô Dạ Lan “phải được ngưỡng mộ và vinh danh trước quần chúng,” và đòi hỏi rằng “cô cũng nên xuất hiện để cho chúng ta ngưỡng mộ như một chiến sĩ” nhưng có lẽ chính ông cũng không biết có đến hai người đóng vai Dạ Lan.


Qua sự thăm hỏi của nhiều người, cuối cùng người ta được biết, cô Hoàng Xuân Lan (DL.1) hiện đang sống ở Saigon và cô Hồng Phương Lan (DL.2) đang định cư tại S. Carolina, và cho đến giờ này, trong thư từ và cả email giao thiệp cả hai cô đều ký tên mình là Dạ Lan.


Chúng ta nên phân biệt nhân vật của một vở kịch và người đảm nhiệm vai kịch. Thanh Nga không phải là cô Lựu hay Thái Hậu Dương Vân Nga. Dạ Lan là một chương trình phát thanh binh vận của đài Phát thanh Quân đội, cô Hoàng Xuân Lan và cô Hồng Mỹ Linh đã tiếp tục thay nhau để đảm nhận vai trò này trong một giai đoạn cần thiết nào đó, cho nên không thể nói cô này là Dạ Lan hay cô kia là Dạ Lan.


Sai lầm của công chúa Mỵ Nương là muốn gặp mặt cho bằng được con người mang tên Trương Chi có tiếng sáo bay bổng tuyệt vời đêm đêm, và sai lầm của đài phát thanh Quân Ðội là đã cho phát tán hình ảnh thật của cô Hoàng Xuân Lan.


Ðến nay, chúng tôi thấy không cần thiết phải đòi hỏi sự xuất hiện của hai cô thủ vai Dạ Lan, dù với mục đích hay hảo ý nào đi nữa. Vả lại, thời gian đã gần 40 năm trôi qua, nên giữ lại những hình ảnh đẹp đẽ của “những ngày xưa thân ái”, với giọng nói dịu dàng, êm ái đêm đêm như ru hồn đã làm ấm lòng biết bao nhiêu chiến sĩ, thế là đủ. Người giữ vai xin đừng ai nhận mình là Dạ Lan và người ái mộ đi tìm không nên truy bức tận cội nguồn của những nhân vật, đã được gọi là… huyền thoại.

Vết thương ngày 30 tháng 4

 


Nguyễn Gia Kiểng


(Nguồn: Thongluan.co)


 


“…Ngày 30 tháng 4, 1975 đã có thể là một ngày vui lớn của dân tộc, một ngày khởi hành vào một kỷ nguyên của tình anh em tìm lại, của cố gắng chung và của thành công chung…”


Trong bóng tối ruỗng im quái gở


Lúc dứt lặng trận chiến man rợ


Hắn rũ bỏ ký ức, và đi.


(Thanh Tâm Tuyền)


Tôi biết X từ đầu thập niên 1960 tại trường Chu Văn An. X nổi tiếng học giỏi. Sau đó X đi du học Mỹ, tốt nghiệp một trường đại học danh tiếng, rồi về nước dạy đại học và làm tổng giám đốc một công ty, cưới vợ đẹp, thông minh và thuộc gia đình lớn. Nói chung là một cuộc đời hoàn toàn thành công. Không bằng X nhưng tôi cũng khá may mắn. Ngày 30 tháng 4, 1975 đã ập tới, đánh một dấu chấm hết tàn bạo lên sự nghiệp của chúng tôi và kéo chúng tôi xuống vực thẳm.


Khi tôi đi cải tạo về, tôi lại gặp X, được trả tự do cách đó ít lâu. Chúng tôi làm cùng một cơ quan và ngồi cùng một phòng. Trong hơn một năm liền, hai đứa cả ngày gặp nhau và tâm sự. Chúng tôi theo đuổi cùng một dự định là vượt biên, nhưng còn chia sẻ với nhau một dự định khác to lớn hơn nhiều là thay đổi dòng lịch sử. Quyết tâm của chúng tôi là ra đi để tìm đường cứu nước chứ không phải để mưu tìm cuộc sống tiện nghi cá nhân.


Thời thế tạo anh hùng, một thư sinh như X mà hoàn cảnh đẩy đưa tới những thành tích khó tưởng tượng. Có lần trong hai ngày X bị bắt ba lần và đều vượt ngục được. Lần áp chót, X tổ chức đánh cướp một chiếc tàu nhà nước nhưng thất bại, bị bắt và trèo tường vượt ngục ngay tại Sài Gòn. Tôi phải giúp X lẩn trốn và tìm đường cho X vượt biên thoát vòng truy nã của công an. Ðang loay hoay thì X cho hay đã tìm được một chuyến đi. Và lần này X đi lọt. Tôi nhận được thư báo tin mừng khoảng một hai tuần sau đó. Ðó là cuối năm 1980.


Tôi kể câu chuyện này dài dòng như vậy chỉ để nói lên một điều: chúng tôi rất gắn bó với nhau và những kỷ niệm của chúng tôi chỉ có thể là sống để bụng chết mang theo.


Hai năm sau tôi cũng ra được nước ngoài và không hề nghe ai nhắc đến X. Tôi vốn đã ngạc nhiên ngay từ khi còn ở Việt Nam vì thấy X bặt tăm luôn. Tôi xin được địa chỉ của X nhưng không liên lạc, chờ tìm hiểu xem tại sao có sự bỏ cuộc đó. Tôi đánh mất địa chỉ X mấy lần, xin lại được, rồi lại để đó. Cho tới gần đây tôi quyết định gọi điện thoại cho X. Ðiều tôi không thể ngờ là X hoàn toàn quên tôi, kể cả tên! Tôi cố nhắc lại những kỷ niệm ngày xưa, X chỉ còn nhớ mang máng. Tôi biết X không nói dối, hắn quên thực, hắn cố nhớ mà không được. Nhưng X không hề mất trí, hắn đang giữ một chức vụ quan trọng, lương cao, trong một công ty kỹ thuật hiện đại. Hắn chọn ở một thành phố không có người Việt và không tìm gặp một người Việt nào. Chắc chắn đã phải có một chấn động ghê gớm, kinh khủng đến nỗi X quyết định quên hết, kể cả tổ quốc Việt Nam mà trước khi ra đi hắn coi như là một lý tưởng để phục vụ. Ðiều cũng chắc chắn là chấn động kinh khủng đó đã không, hay ít nhất không hoàn toàn, xảy ra trong lúc vượt biên, bằng cớ là khi đến nơi X vẫn còn viết thư về cho tôi. Phải hiểu rằng chính khi đã bình tĩnh ngồi ôn lại đời mình, X đã thấy tất cả đều vô nghĩa và lấy quyết định xóa bỏ quá khứ.


 


Ê chề như nhau


 


Ngày 30 tháng 4, 1975 đã không đến trong niềm vui thống nhất đất nước, hòa giải và hòa hợp dân tộc mà mọi người mong ước. Sau ngày 30 tháng 4, 1975, tôi đã nói với các cộng sự viên của mình là một trang sử vừa lật qua, có những lúc phải chống nhau nhưng cũng có những lúc phải cố gắng để bắt tay nhau xây dựng đất nước. Tôi chấp nhận thất bại và bằng lòng trả giá cho sự thất bại đó bằng cách từ đây không đòi hỏi bất cứ một vinh dự nào. Tôi chỉ còn một tham vọng làm được một vài điều lợi ích cho đất nước trong vai trò của một chuyên viên. Nhưng chỉ vài ngày sau tôi hiểu là ngay cả cái ao ước rất tầm thường đó cũng không thực hiện được. Những loa phóng thanh đặt khắp đường phố suốt ngày phát ra những bài vừa đắc thắng vừa miệt thị. Mọi chức vụ tại các công sở, nhà thương, trường học đều bị xóa bỏ, mọi thâm niên công vụ, hưu bổng, trợ cấp phế tật cũng đều bị xóa bỏ. Các xí nghiệp tư cũng được “tiếp thu.” Thanh thiếu niên diện ‘”ngụy quân ngụy quyền” bị đuổi khỏi trường học. Các đường phố, trường học mang tên những danh nhân miền Nam được đổi thành những đường mang tên liệt sĩ cộng sản, có khi chỉ là những tay khủng bố rất tầm thường. Sài Gòn cũng mất tên. Người chết cũng không yên, tượng tử sĩ ở nghĩa trang quân đội cũng bị giật sập. Khoai mì từ đây phải gọi là sắn, bắp là ngô, heo là lợn, nhà bảo sanh là nhà đẻ, hay xưởng đẻ. Người miền Nam mất tài sản, địa vị và vai trò. Miền Nam mất ngôn ngữ, mất tên và mất cả căn cước. Ðây không phải là một cuộc thống nhất, mà là một cuộc chiếm đóng. Hòa giải và hòa hợp dân tộc được hiểu một cách giản dị là tha chết cho kẻ chiến bại.


Cho tới nay vẫn còn một số rất đông người cho là đảng cộng sản không hiểu gì về tổ chức của xã hội miền Nam khi bắt các sĩ quan biệt phái đi học tập cải tạo trong khi trên thực tế họ đã giải ngũ và chỉ là những người dân sự mà thôi. Làm sao đảng cộng sản lại không hiểu? Họ hiểu, và họ hiểu rất rõ tổ chức của miền Nam. Nhưng chính sách tập trung cải tạo nhắm một mục đích khác: đánh gục vĩnh viễn miền Nam. Những sĩ quan biệt phái không bị bắt giam vì đã bị coi lầm là sĩ quan hiện dịch, họ bị tập trung cải tạo vì họ đã được huấn luyện quân sự và có khả năng chỉ huy một đơn vị quân đội. Bắt giam họ là để tiêu diệt mọi tiềm năng chống đối. Cũng không phải chỉ có họ, tất cả viên chức từ cấp phó giám đốc trở lên, rồi đến các doanh nhân có một chút tầm vóc và các văn nghệ sĩ, nói chung là tất cả những ai có thể có một vai trò lãnh đạo trực tiếp hay gián tiếp, dù là chính trị, quân sự, kinh tế hay văn hóa. Mục đích của chính sách cải tạo là để tiêu diệt đại bộ phận thành phần tinh nhuệ và trí tuệ của miền Nam. Không tàn sát, nhưng đập tan ý chí bằng cách đày đọa, và nhất là làm nhục.


Kế hoạch này không thể không thành công. Những năm dài tù tội đói khổ, sự thèm thuồng cục đường, trái chuối, củ khoai, miếng cơm cháy, và việc cất giấu đồ thăm nuôi, trùm chăn ăn lẻ làm con người mất sự tự trọng, hay ít nhất sự kính trọng lẫn nhau. Những đêm trằn trọc thương con, xót vợ. Những buổi “làm việc” ê chề với những câu hỏi khiêu khích (ăn hối lộ bao nhiêu? Hiếp dâm bao nhiêu lần? Bắt bao nhiêu con gà? v.v…), kèm theo những lời quát tháo, lăng mạ. Những bản tự khai phải viết đi viết lại nhiều lần vì không thành thật khai báo, không đủ ăn năn hối cải. Những bài giảng chính trị của các cán bộ giảng dạy ngớ ngẩn, hách dịch và đắc chí. Một người bình thường không thể chống cự được quá một năm mà không thành phế nhân về một khía cạnh nào đó, trong khi thời gian giam cầm trung bình của một sĩ quan, công chức, doanh nhân hay trí thức lại không phải là một năm, mà là năm năm.


Nhưng cái nhục lớn nhất không phải ở trong trại tù mà ở ngoài xã hội. Phải thụ động chứng kiến cả một công trình đập phá đất nước và đập phá chính đời mình. Phải nhìn sự ngu dốt và xảo trá ngự trị trên chính quyền, và còn phải hoan hô!


Một lần tôi đi công tác với một cán bộ đảng ủy đến làm việc với một xí nghiệp “công tư hợp doanh.” Nói là công tư hợp doanh nhưng thực ra đó là xí nghiệp của một tư nhân lập ra, sau này được nhà nước “cho hợp doanh” bằng cách cướp trắng xí nghiệp, giáng ông giám đốc chủ nhân xuống làm phó giám đốc và cử một đảng viên hoàn toàn không biết gì về nghề nghiệp cũng như về quản trị xí nghiệp làm giám đốc. Xí nghiệp lúc đó còn hoạt động cầm chừng. Anh đảng ủy, một người rất chất phác và dễ mến, nói “bây giờ còn làm việc được, nhưng vài tháng nữa sẽ phải đi vào nền nếp và lúc đó là hết sản xuất.” Anh ta nói một cách rất thản nhiên và thành thực. Hình như anh ta thấy việc phá hoại một xí nghiệp là bình thường, cũng như việc nhà nước cướp trắng một cơ nghiệp của một người dựng ra bằng mồ hôi nước mắt. Tôi liếc nhìn ông phó giám đốc cựu chủ nhân và gặp mắt ông ta cũng nhìn tôi. Tôi chắc ông ấy muốn hét lên, văng tục, đập phá nhưng vẫn phải làm ra vẻ tán thành. Người miền Nam đã mất tất cả, mất nước trên chính quê hương mình, không có cả quyền khóc và không có cả quyền buồn.


Không phải chỉ đập phá vì ngu dốt mà còn vì nhẫn tâm. Ông Võ Văn Kiệt khi làm bí thư thành ủy Sài Gòn đã lấy quyết định “giải tỏa” nghĩa trang Mạc Ðỉnh Chi. Hàng đêm ông cho bọn côn đồ vào đập phá mồ mả để cho người ta đau xót mà phải tự động dời mộ thân nhân đi. Tôi vào giúp người bạn cải táng mộ mẹ anh và chứng kiến hàng ngàn ngôi mộ bị đập phá tan tành, mỗi ngôi mộ thường là của cả gia đình với hàng chục hài cốt, có những người qua đời đã trên trăm năm. Rất nhiều gia đình đang di tản hài cốt thân nhân. Nhiều phụ nữ khóc sụt sùi, nhưng nói chung mọi người đều im lặng. Ánh mắt nào cũng đầy một hận thù ghê gớm. Không ai chửi mặc dầu không có công an ở đấy, mà dù có cũng không sao vì trong hoàn cảnh ấy ai cũng thông cảm. Nhưng người ta không chửi vì hình như sợ nếu chửi sẽ bớt căm thù. Mục đích của ông Kiệt chỉ là để chiếm một khu đất rộng xấp xỉ một hecta.


Chỉ có một số ít người có phương tiện để vượt biên. Nhưng vượt biên có thể là một tủi nhục còn lớn hơn. Một người, dù mệt mỏi và say sóng đến đâu, nhưng nếu đã phải chứng kiến một phụ nữ, có khi là chính vợ con mình, bị hải tặc hãm hiếp mà không thể can thiệp sẽ không thể giữ được trọn vẹn lòng tự hào trong phần còn lại của đời mình. Sau đó là cuộc sống rẻ rúng trên các trại tị nạn, những buổi xếp hàng ghi danh xin trợ cấp xã hội, cuộc sống buồn tẻ lầm lũi với những công việc không tương xứng tại xã hội tiếp cư.


Không phải ai cũng có điều kiện để quên hết như anh bạn X của tôi. Phần đông cũng rất muốn quên mà không được. Họ vẫn phải sống trong những khu đông người Việt, vẫn phải nghe tới và nói tới Việt Nam. Họ vật vã để quên một cách khác. Họ coi những khu đông người Việt như những vùng đất Việt Nam còn giữ được, có vai trò thay thế cho đất nước Việt Nam mà họ đã rời bỏ. Tôi hiểu sự phẫn nộ của những người xuống đường biểu tình trong vụ Trần Văn Trường tháng 2 vừa rồi tại Bolsa. Sự tức giận của họ có thể tóm tắt như thế này: “Ta đã bỏ cho nó cả nước Việt Nam, ta đã mất tất cả, mà nó cũng không để ta yên.” Nếu không thì không thể giải thích được tại sao các cuộc mít-tinh biểu tình vì tự do, dân chủ và nhân quyền đã chỉ thưa thớt vài trăm người trong khi một tên khùng lại có thể làm cả chục ngàn người xuống đường.


Các bạn tôi ở Mỹ cố gắng giải thích rằng Trần Văn Trường chỉ là ngòi nổ, người Việt Nam ở Cali đã xuống đường vì một cái gì đó sâu sắc hơn. Nhưng họ không giải thích được rõ rệt cái sâu sắc hơn đó là cái gì. Lý do sâu xa đó có lẽ một cựu sĩ quan ở Paris đã diễn tả đúng. Anh nói “nếu tôi ở Cali, tôi cũng đi biểu tình vì vụ này nó nhắc lại cho tôi một quá khứ mà tôi không muốn nhớ lại nữa.” Người ta phẫn nộ vì chính mình đã phải treo cờ cộng sản và ảnh Hồ Chí Minh trong một thời gian dài; trong lòng nguyền rủa mà bề ngoài vẫn phải ra vẻ tự nguyện. Ðó đã là một cuộc cưỡng hiếp hàng ngày.


Các bạn bên Mỹ báo tin: các cuộc biểu tình bây giờ đã thay đổi định hướng, đã vượt lên khỏi cờ và ảnh để trở thành những cuộc biểu tình thắp nến vì dân chủ và nhân quyền, với sự nhập cuộc của tuổi trẻ. Tôi phân vân. Có thể đẹp như vậy được sao? Nhưng sau đó thì cuộc “đấu tranh” cũng mất dần khí thế. Ðộng cơ của nó chỉ là sự tức tối, khi gạt bỏ sự tức tối nó cũng mất sức mạnh. Thực chất đó vẫn chỉ là những cuộc biểu tình chống treo cờ cộng sản và ảnh Hồ Chí Minh ở một khu được hoang tưởng hóa thành phần đất bất khả xâm phạm của những người nghĩ rằng mình đã mất tất cả. Khu đất đó cho tới nay có vai trò là để giúp người ta khỏi phải bận tâm với đất nước Việt Nam đã bỏ lại đằng sau như một kỷ niệm đen tối.


Ðối với những người còn lại trong nước, đất nước lại càng nhức nhối hơn. Nó là một sự bất lực hàng ngày, một sự khiêu khích và thách đố thường trực, trong khi không nhìn thấy một hy vọng nào. Lại càng phải cố gắng để quên đi bằng cách tập trung mọi ưu tư vào việc mưu sinh vốn đã khó khăn, để yên phận tù đày. Như câu thơ đầu bài của Thanh Tâm Tuyền, người Việt Nam rũ bỏ ký ức và ra đi. Ði ra nước ngoài, nhưng cũng có thể “đi” ngay trên đất nước. Vẫn ở đấy mà vắng mặt.


Ngày 30 tháng 4, 1975 không phải chỉ là một tủi hận cho người miền Nam. Ðối với người miền Bắc, đặc biệt là đối với những người đã đóng góp cho guồng máy cộng sản, sự tủi hận có lẽ còn lớn hơn. Họ không chịu đựng từ 1975, mà từ hai mươi năm về trước. Họ đã phải im lặng trong đợt cải cách ruộng đất, đã phải chà đạp lên chính lương tâm mình để đánh hôi nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm, nhóm Xét Lại Chống Ðảng. Họ không những chỉ là những nạn nhân chịu đau mà không dám than khóc, họ còn bị bắt buộc phải làm đồng lõa cho cái tồi bại. Khi một đứa con bị bắt buộc phải chỉ vào mặt mẹ mà quát, “Con này, mày có biết tao là ai không?” thì không phải chỉ có đứa con và người mẹ là khốn khổ, không phải chỉ có chế độ là đểu cáng, mà cả dân tộc cũng bị làm nhục. Và nhục nhã nhất là chính những người phải tiếp tay cho guồng máy ghê tởm đó. Nhân cách và sự tự trọng không thể sống sót, người ta sau đó không còn cả lòng tự hào để nghĩ đến chống lại nữa. Những tiếng gào thét “chống Mỹ cứu nước,” “giải phóng miền Nam” chỉ có thể là thành thực với một số nhỏ, đối với đa số nó chỉ là sự phục tùng trước bạo lực, đối với những người có ý thức nó chỉ là cuộc chạy trốn chính lương tâm mình. Ðối với đa số người miền Bắc, đặc biệt là đối với trí thức, ngày 30 tháng 4, 1975 đã là một hy vọng lớn. Biết đâu sau khi nhu cầu chiến tranh không còn nữa, đất nước đã thống nhất, đảng lại không thay đổi, lại không có tự do hạnh phúc thực sự, hòa giải dân tộc thực sự, đất nước lại chẳng khởi hành vào một kỷ nguyên mới? Thất vọng lại càng lớn, sự tủi nhục lại càng lớn, vì mình không phải chỉ là nạn nhân mà còn là đồng lõa của sự gian ác, một sự đồng lõa cực kỳ vô duyên vì nó chẳng hề đem lại một lợi ích cá nhân nào. Kết quả của chiến thắng 30 tháng 4, 1975 đối với đại đa số đảng viên kỳ cựu chỉ là thiếu tá vá xe, đại tá bán chè.


Rồi hơn hai mươi năm xã hội chủ nghĩa. Hai mươi năm nội chiến từng ngày nhường chỗ cho hai mươi bốn năm cưỡng hiếp từng ngày. Mọi người đều mất và mất hết, ê chề như nhau. Sự thất vọng và chán chường, không phải của riêng miền Nam và những người chống cộng mà của mọi người trên cả nước, đã quá to lớn và dai dẳng. Nó đã biến thành sự chán chường đối với chính đất nước. Ðại đa số người Việt không còn muốn nghĩ tới đất nước nữa.


 


Tại sao?


 


Tại sao người ta có thể có những liều lĩnh ghê gớm như bán nhà lấy tiền đem vợ con vượt biên trên những con thuyền mong manh, làm mồi cho công an, hải tặc và sóng gió mà lại không dám đứng lên tranh đấu đổi đời?


Tại sao các chế độ độc tài trên thế giới, kể cả những chế độ độc tài đã khá thành công về mặt kinh tế và dân sinh, theo nhau sụp đổ trong khi chế độ cộng sản Việt Nam vẫn không gặp chống đối nào đáng kể, dù nó đã thất bại trong mọi địa hạt và trên mọi phương diện?


Có phải tại chế độ quá mạnh đến nỗi người ta không thể tưởng tượng có thể chống đối lại nó hay không? Chắc chắn là không. Ai cũng biết nó phân hóa, tham nhũng, mất phẩm chất, chao đảo, mâu thuẫn nội bộ. Chính ban lãnh đạo đảng cộng sản cũng không chối cãi. Có phải nó quá hung bạo đến nỗi làm người ta khiếp sợ không? Cũng không nốt. Trong ba năm qua, kể từ 1996, chế độ cộng sản đã chỉ bắt giam một trí thức đối lập là Nguyễn Thanh Giang và đã chỉ quản chế ba người là Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc và Tiêu Dao Bảo Cự. Họ cũng đã chỉ khai trừ một mình Trần Ðộ và cắt điện thoại của khoảng mười người. Theo tiêu chuẩn quốc tế hiện nay, chế độ cộng sản Việt Nam không nằm trong danh sách những chế độ vi phạm nhân quyền hung bạo nhất.


Vấn đề là người Việt Nam không tranh đấu chứ không phải là không thể tranh đấu.


Và tại sao lại không tranh đấu? Ðó là vì dân tộc ta đã rã hàng, mỗi người tự thấy mình cô đơn, có muốn cũng chẳng làm được gì. Ðó cũng là vì đã quá chán đất nước, đã mệt mỏi, đã mất ý chí và lòng tự hào.


Ðảng cộng sản không phải chỉ đánh gục phe quốc gia, hay miền Nam. Họ đã đánh gục được cả dân tộc Việt Nam. Chúng ta đã bị đả thương quá đau nên không thể đứng dậy.


 


Hai nhận định giải thoát


 


Dân tộc nào cũng trải qua những giai đoạn tan nát mà chỉ có một trấn tĩnh tinh thần mới cho phép nhìn ra lối thoát. Chúng ta cần trước hết là một sự hiểu biết về chính mình. Ít nhất chúng ta cần hai suy tư.


Suy tư thứ nhất là dân tộc ta không hèn mà chỉ là một dân tộc bị đả thương quá nặng. Chúng ta tự giam hãm trong mặc cảm hèn nhát và bất lực, đến nỗi mất lòng tin và ý chí, vì chúng ta không nhìn rõ gánh nặng lịch sử đè lên mình.


Từ đầu thế kỷ 16 chúng ta đã tiếp xúc với phương Tây, sự tiếp xúc đó là một khúc quanh đặc biệt quan trọng. Người phương Tây đem đến cùng với hàng hóa và kỹ thuật cả một văn hóa mới. Ðặc biệt các giáo sĩ đem đến một nhân sinh quan và một vũ trụ quan mới. Cuộc va chạm này đã tác động rất mạnh lên xã hội Việt Nam. Khổng Giáo, nền tảng của chế độ quân chủ tuyệt đối, không còn giữ được vai trò độc tôn nữa, nó đã bị lung lay. Chế độ quân chủ chao đảo trong nền tảng, mất dần sự chính đáng, suy yếu đi, kéo theo loạn lạc, đói kém. Xã hội Việt Nam tan rã và sụp đổ. Trong khoảng trống toàn diện đó, một lực lượng bạo loạn – anh em Tây Sơn – đã nắm được chính quyền bằng bạo lực và cai trị bằng bạo lực, để rồi cũng bị tiêu diệt bằng bạo lực. Nhà Nguyễn làm chủ đất nước, không ý thức được sự thay đổi văn hóa xã hội đã và đang diễn ra trước mắt họ, đã thi hành chính sách mù quáng bài phương Tây và cấm đạo, làm chia rẽ trầm trọng hơn nữa một dân tộc vốn đã hoang mang và phân hóa cùng độ. Hậu quả là chúng ta đã mất nước. Riêng sự kiện một số rất nhỏ người Pháp đã có thể dùng chính người Việt Nam để thống trị Việt Nam đủ chứng tỏ dân tộc Việt Nam đã rã hàng đến mức nào rồi. Tủi nhục nhất là suốt trong Thế Chiến II, một nắm nhỏ người Pháp đã thua trận và đã mất nước vẫn tiếp tục thống trị được người Việt một cách hung bạo. Họ đã chỉ bị Nhật, chứ không phải người Việt Nam, đánh đổ. Ðến khi Nhật thua trận và đầu hàng thì chính quyền Việt Nam hoàn toàn bỏ ngỏ và một lực lượng hung bạo mới, đảng cộng sản, nắm được chính quyền với vài khẩu súng. Sau đó là ba mươi năm nội chiến giữa một tập đoàn cộng sản theo đuổi một triết lý chính trị tệ hại và các chính quyền quốc gia hoàn toàn không có một ý thức chính trị nào cả. Chiến tranh đã tàn phá sức sống còn lại của ta. Sau đó là một bạo quyền vận dụng mọi sáng kiến và thủ đoạn để đập tan mọi ý chí cá nhân và mọi giềng mối trong xã hội để có thể duy trì ách thống trị trên một dân tộc bất lực vì phân hóa. Không một dân tộc nào có thể chịu đựng những đập phá và chà đạp kéo dài như thế mà không bị thương tổn nặng.


Chúng ta không hèn nhát và cũng không có lý do để hổ thẹn, chúng ta đã chỉ là nạn nhân của những thảm kịch tích lũy trong gần bốn thế kỷ. Nếu chúng ta vẫn còn giữ được một chút ý chí đấu tranh và một chút ý thức dân tộc như hiện nay thì đó quả đã là một phép mầu. Một dân tộc bình thường chắc chắn đã tiêu vong lâu rồi.


Kỷ niệm ngày 30 tháng 4, 1975 cũng là dịp để giải tỏa một tâm sự nặng nề cho người thuộc miền Nam và phe quốc gia cũ. Họ đã thất bại chủ yếu vì đã sáng suốt hơn đối thủ. Họ đã nhận ra sự vô lý của cuộc chiến và đã dừng tay, chẳng thà chấp nhận thất bại còn hơn tiếp tục tàn sát lẫn nhau giữa anh em ruột thịt. Ðó là một thái độ yêu nước. Thay vì cố gắng phủ nhận thất bại, đề cao sự oai hùng của quân đội miền Nam, chúng ta nên nhìn ra sự cao cả của quyết định khước từ cuộc chiến của thanh niên miền Nam. Ðó là một sự cao cả có thực, mà chắc chắn các công trình nghiên cứu mai sau sẽ phải nhìn nhận. Có lẽ trong bốn thế kỷ qua đó là phản ứng thông minh nhất của dân tộc ta.


Thay vì hổ thẹn, chúng ta hãy suy nghĩ về nguyên nhân của thảm kịch mà chúng ta đã và đang chịu đựng. Ðó là vì trong những giai đoạn chuyển hóa lớn dân tộc nào cũng cần được những nhà tư tưởng hướng dẫn, để biết mình nên nghĩ gì, đi hướng nào và làm gì. Ðiều bất hạnh cho chúng ta là trong suốt bốn thế kỷ đó chúng ta đã không có một nhà tư tưởng nào, chúng ta đã chỉ có những văn quan, võ tướng, anh hùng, liệt sĩ. Do đó chúng ta đã không có đồng thuận, đã hoang mang, bối rối, cãi cọ, xung đột và rã hàng, để rồi bị các tập đoàn hung bạo kế tiếp nhau chà đạp, dẫn đi từ thảm kịch này đến thảm kịch khác. Chúng ta đã trả giá đắt cho sự thiếu vắng một tư tưởng chính trị. Ðó chính là bài học đáng ghi nhận nhất.


Chúng ta có thể tìm kiếm một đồng thuận chính trị bằng cách học hỏi, suy nghĩ. Nhưng cũng có thể chỉ giản dị bằng thái độ, nghĩa là lắng nghe mọi ý kiến, thảo luận thành thực và tương kính với nhau. Chúng ta sẽ tìm ra được một đồng thuận dân tộc mới, sẽ kết hợp được và sẽ làm lại được đất nước.


Suy tư thứ hai là, dù muốn hay không, chúng ta bắt buộc phải tìm một giải pháp chung, chứ không thể chỉ tìm giải pháp cá nhân cho mỗi người. Sở dĩ chúng ta đã thất bại và tủi nhục là vì mọi người Việt Nam đã chỉ cố gắng tìm một giải pháp cá nhân cho mình. Vượt biên là một giải pháp cá nhân. Hối lộ là một giải pháp cá nhân. Chịu đựng và nhẫn nhục là một giải pháp cá nhân. Căm thù và nguyền rủa là giải pháp cá nhân. Tìm hãnh diện trong sự khá giả của gia đình và thành công của con cái là giải pháp cá nhân. Viết văn, làm thơ, in sách có thể cũng chỉ là giải pháp cá nhân.


Không phải giải pháp cá nhân nào cũng đáng trách, trái lại có nhiều giải pháp cá nhân rất chính đáng, cần thiết và đáng khuyến khích nhưng không thể chỉ có giải pháp cá nhân. Quay lưng lại với đất nước là một sai lầm tai hại ngay cả cho chính mình. Người trong nước không thể có giải pháp tự cứu nào ngoài một giải pháp chung cho đất nước, nhưng người ngoài nước cũng cần một nước Việt Nam dân chủ và giàu mạnh để có một chỗ dựa, để được kính trọng và để thành công. Ý thức được rằng phải có một giải pháp chung cho dân tộc là chúng ta đã đi được quá nửa đoạn đường ra khỏi bế tắc và tủi nhục. Năm trăm người trên một con thuyền vượt biên đã bị hai mươi tên hải tặc uy hiếp vì họ chỉ là năm trăm cá nhân. Tám mươi triệu người để cho một đảng cộng sản phân hóa và chao đảo khống chế cũng vì chỉ là tám mươi triệu người cô đơn.


Ngày 30 tháng 4, 1975 đã có thể là một ngày vui lớn của dân tộc, một ngày khởi hành vào một kỷ nguyên của tình anh em tìm lại, của cố gắng chung và của thành công chung. Thực tế nó đã chỉ là một thương tích nặng, và rất nặng, trên một cơ thể vốn đã bầm tím những vết đòn chí tử. Từ đó bệnh nhân không những không được săn sóc và chữa trị mà còn tiếp tục bị đày đọa và đả thương thêm. Không ai đo lường hết được mức độ trầm trọng của vết thương 30-4 và những tàn phá trên thể xác và tâm hồn Việt Nam.


Nhưng dầu sao cũng đã đến lúc phải đứng dậy.


Một thế kỷ và một thiên niên kỷ sắp qua. Thế kỷ 20 bắt đầu trong nô lệ và chấm dứt dưới ách độc tài, nó đã là thế kỷ của nhục nhằn, đổ vỡ, máu và nước mắt. Thế kỷ 21 phải khác, nếu không Việt Nam sẽ không còn. Mà Việt Nam vẫn phải còn, bởi vì không thể chỉ có những giải pháp cá nhân cho một khối tám mươi triệu người cùng một ngôn ngữ, cùng một quá khứ và cùng một thảm kịch.


Mở đầu thiên niên kỷ thứ hai, các vua nhà Lý đã chấm dứt một chính quyền hung bạo, mở ra kỷ nguyên tự chủ lâu dài. Bước vào thiên niên kỷ thứ ba, chúng ta cũng phải chấm dứt vĩnh viễn chế độ độc tài và mở ra kỷ nguyên của một nước Việt Nam dân chủ đa nguyên. Ðó là điều kiện để Việt Nam có thể tồn tại.


Tin và tìm một giải thoát chung trong tâm lý rã hàng hiện nay là điều rất khó, nhưng không phải là không thể làm được. Hai ngàn năm lịch sử sống chung, giữ nước và dựng nước chung vẫn còn để lại một vốn liếng đáng kể. Tôi tin rằng ở thời điểm này, khoảng một ngàn người có ý thức, đồng thuận, quyết tâm và chấp nhận kết hợp trong một tổ chức đủ để tạo ra một chuyển biến tâm lý, làm nòng cốt cho một phong trào dân chủ rộng lớn, đem lại lòng tin và biến những tức tối và tủi hờn tích lũy thành sức mạnh đổi đời.


(Thông Luận số 126, tháng 5, 1999)

Thêm 427 phiếu trong bầu cử cộng đồng





Một thiện nguyện viên gấp thùng phiếu đã đếm xong. (Hình: Đỗ Dzũng/Người Việt)



WESTMINSTER (NV) –Sau khi công bố con số tổng cộng 10,578 phiếu vào tối Chủ Nhật, tới sáng thứ Hai, ban tổ chức bầu cử cho “Ban Đại Diện Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California” cho biết có 427 phiếu đã đếm nhưng quên chưa cộng.



Theo lời ông Phan Tấn Ngưu, trưởng ban giám sát cuộc bầu cử, có vài bịch phiếu đã đếm vào tối hôm trước, nhưng khi cộng lại thì thiếu.



Ông Ngưu cho biết có 427 phiếu trong những bịch này.



Vì vậy, số phiếu tổng cộng, theo ông Ngưu, là 10,578, cộng thêm 427, là 11,005 phiếu.

Tìm thấy hóa chất độc hại trong nước sơn móng tay

 


SAN FRANCISCO (AP) Một số nước sơn móng tay thường thấy tại các tiệm móng tay ở California, được quảng cáo không có hóa chất độc hại, thật ra có chứa nhiều tác nhân có thể đưa đến quái thai, theo giới chức kiểm soát hóa chất của tiểu bang.







Giới chức điều hành hóa chất California chọn may rủi trong hàng chục mẫu sản phẩm ngành móng tay, nhận thấy có sự hiện diện của bộ ba hóa chất độc hại (toxin trio) nhưng trên nhãn không thấy ghi rõ. (Hình: AP/Marcio Jose Sanchez)


Báo cáo của cơ quan Department of Toxic Substances Control (DTSC) công bố hôm Thứ Ba nói rằng, các sản phẩm ngành móng tay được ghi nhãn sai này có thể gây nguy hại cho hằng ngàn phụ nữ làm việc tại hơn 48,000 tiệm móng tay ở California, kể cả khách hàng của họ.


Việc sử dụng ba loại hóa chất (toxin trio) trong các sản phẩm ngành móng tay không có gì bất hợp pháp nếu các chai lọ đó được ghi nhãn đúng cách. Nhưng việc khai gian thành phần hóa chất trên nhãn là vi phạm luật lệ tiểu bang, vốn đòi hỏi nhà sản xuất phải tiết lộ mọi hóa chất độc hại trong sản phẩm dành cho người tiêu dùng. Liệu các công ty chế tạo sản phẩm đó có bị đối diện với vấn đề pháp lý, như phạt vạ và có lệnh dán thêm nhãn cảnh báo nơi sản phẩm hay không, sẽ được văn phòng Bộ Tư Pháp tiểu bang quyết định.


Các nhà điều tra chọn may rủi 25 nhãn hiệu, gồm một số tự nhận là hoàn toàn không có bộ ba hóa chất độc hại (toxin trio) như toluene, dibutyl phthalate (DBP) và formaldehyde. Các giới chức này cho hay nếu tiếp xúc với số lượng lớn các hóa chất này có thể dẫn đến bệnh suyễn hoặc các bệnh khác.


Họ nhận thấy 10 trong 12 sản phẩm cho là không có chứa chất toluene, thực ra lại có, với bốn trong số đó có nồng độ cao.


Năm trong bảy sản phẩm tự nhận không có bộ ba hóa chất độc hại nhưng hóa ra lại có ít nhất là một loại, với liều lượng quan trọng.


Cơ quan tiểu bang nói, chưa có đủ dữ kiện chính xác ước lượng có bao nhiêu người đã tiếp xúc với các hóa chất này qua việc sử dụng các sản phẩm đó.


Karl Palmer, quản trị viên cơ quan DTSC về ngăn ngừa ô nhiễm và cũng là người giám sát bản báo cáo, cho biết: “Chúng tôi biết ở các tiệm móng tay có sự tiếp xúc của người thợ lẫn khách hàng với hóa chất, và chúng tôi rất quan ngại cho sức khỏe của mọi người.”


Trong số các sản phẩm móng tay được thử nghiệm mà tiểu bang cho là khi ghi nhãn đúng, gồm sơn lót Sation 99 basecoat, nước sơn móng màu đỏ hồng hiệu Sation 53, các nước sơn Dare to Wear lacqueur, Chelsea 650 Baby’s Breath Nail Lacquer, New York Summer Nail Color, Paris Spicy 298, Sunshine, Cacie Light Free Gel basecoat, Cacie Sun Protection Topcoat, Golden Girl Topcoat, Nail Art Top-N-Seal và High Gloss Topcoat.


Cơ quan DTSC cho biết cả ba hóa chất trên đều gây tình trạng sức khỏe kinh niên mỗi khi hít phải, và rằng trong số 121,000 thợ móng tay được cấp phép hành nghề tại các tiệm, phần nhiều là phụ nữ trẻ gốc Á và hầu hết đang trong tình trạng nhiều rủi ro.


Chất DBP hiện bị cấm sử dụng ở toàn Liên Âu, kể cả hai chất còn lại là toluene và formaldehyde cũng bị giới hạn số lượng tiêu dùng.


Bộ Tư Pháp California cho hay họ sẽ xem xét lại khám phá của DTSC trước khi có quyết định về hành động pháp lý.


Proposition 65 là một luật của tiểu bang, theo đó mọi hóa chất độc hại trong một sản phẩm phải được nhà sản xuất ghi rõ trên nhãn. (TP)

Vàng Ðen (Kỳ 68)


“Vàng Ðen” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Dũng Tiến, được xây dựng trên những tư liệu cùng huyền thoại liên quan tới vùng “Tam Giác Vàng,” một trong những nguồn sản xuất và cung cấp thuốc phiện (“vàng đen”) lớn nhất thế giới. Ngoài việc viết văn, tác giả Nguyễn Dũng Tiến cũng là một trong những người Việt Nam đầu tiên có công gầy dựng vườn cây ăn trái cho người Việt ở xứ người. Ông hiện là chủ nhân vườn cây LA Mimosa Nursery, 6270 East Allston Street, Los Angeles, CA 90022-4546. Tel: (323) 722-4543. Ðược sự cho phép của tác giả, Người Việt hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết “Vàng Ðen” trên mục truyện dài của Nhật Báo Người Việt cũng như Người Việt Online.


 


Kỳ 68


 


Không hiểu tiếng Anh, nhưng già Trí thấy cuộc tra hỏi có vẻ gay gắt, lưỡi dao lại bất chợt vung lên, hớt gọn ba ngón tay của tên Mỹ trắng. Khốn nạn cho ba ngón tay, chủ nó chỉ đưa hai tay lên như để phân trần, chứ đâu bảo già Trí hạ thủ như vậy. tên Mỹ trắng rú lên, ngồi thụp xuống ôm chặt bàn tay mất ngón bằng bàn tay còn lại. Ba ngón tay dưới đất, có ngón vẫn còn từ từ co lại.


Lưỡi dao lại hoa hoa trước mặt một tên Jamaica. Tên này có vẻ khiếp đảm rõ ràng, chưa cần đánh đã khai.


-Chúng tôi từ Mỹ sang, từ New York. Chúng tôi chỉ được trả tiền để làm những gì người ta nói, chúng tôi thật sự không biết gì hết. Tên Ron này là xếp của chúng tôi.


-Tụi mày làm gì ở bên Mỹ?


-Trước kia, buôn bán ma túy, súng đạn. Sau này vào băng của người Jamaica, quần quần ở miền Ðông Hoa Kỳ, quanh vụ ma túy.


-Sao mày qua đây?


-Bị bắt, chung thân khổ sai. Có người vào trong tù tuyển mộ, nên tôi tình nguyện đi liền.


-Tụi mày theo tao từ Vạn Tượng lên đến đây?


-Tôi thì không, chắc có đứa khác.


-Thằng con bò kia, có phải mày làm con nhỏ ở Vạn Tượng không?


Tên Mỹ trắng đau đớn lắc đầu.


-Tôi nằm chờ với mấy thằng này ở Chiang Mai.


-Nhiệm vụ mày làm gì?


-Tôi lo bảo vệ, chuyển vũ khí vào đất liền.


-Từ đâu đến?


-Tôi không biết, chỉ biết nhận từ ngoài khơi rồi đem về Chiang Mai.


-Số vũ khí ấy đâu?


-Bàn giao cho người khác liền.


Nhìn tròng đen trong mắt hắn, đúng hơn tròng xanh lơ, đôi khi đảo nhanh, Phong biết hắn không nói thật. Nhưng sợ già Trí phang bậy hắn, nên Phong phải lờ đi.


-Băng bó cho nó, rồi cho nó ăn uống. Dẫn tụi nó đi. Tiện thể, mời trung úy Sơn đến đây cho tôi.


Phong Sương rón rén đến gần Phong hỏi:


-Anh có đau lắm không anh?


-Ðời em chắc chưa bao giờ gặp một ngày ghê gớm như ngày hôm nay nhỉ?


-Em không sao, anh có đau không?


-Anh thấy tội cho em, anh không thấy đau.


-Em chuẩn bị xong cơm nước rồi, mời anh xơi cơm.


Ngạc nhiên nhìn Phong Sương, không hiểu tại sao cô nàng lại đổi tánh thùy mị như vậy.


-Còn chú em?


Phong Sương quay qua già Trí nhấm nhẳn hỏi:


-Chú có muốn ăn không?


-Ha, ha, đã bảo mà, nó phải hơi thằng củ lẳng của cậu em nên nó đội cả cậu em lên đầu.


-Anh ấy là thần tượng của cháu, chú không được nói bậy.


-Này, chồng mày làm gì mà mày gọi là thần tượng?


-Chú không thấy anh ấy hiên ngang đánh trận giỏi, giỏi là.


-Hố, hố, thế còn chú của mày?


-Chú là ông già, giống như bố của cháu. Thôi không nói nữa. Già thối thây.


Mê thấy rõ. Cô nàng không những mê Phong, còn mệt Phong nữa. Sơn vừa đến, cũng xề vào chung bữa ăn.


-Mình đụng tụi buôn súng từ Mỹ sang y như già Trí đã nói. Tôi nghĩ, từ đây cho đến Hồ Mông mình sẽ không còn bị trở ngại. Lừa, ngựa chết hơn hai chục con. Tôi định số ngựa khỏe mạnh sẽ cho thồ bớt hàng và đi nội đêm nay để đến điểm hẹn trước. Bỏ hàng xuống, quay về làm ngay chuyến nữa. Số còn lại, sẽ thêm mỗi con một chút, tôi chắc tụi nó thồ được, quý vị nghĩ sao?


-Các cậu nói sao tớ làm vậy, thằng già này tâm phục, khẩu phục rồi, chẳng cần bàn. À này, lúc nẫy tôi nghe cậu nói trong máy truyền tin, “xong băng đầu,” xong băng đầu có nghĩa gì vậy?


-Ông thấy tụi nó xài toàn AK không? Ông lại nói với tôi, có thể tụi buôn súng đến từ Mỹ, nên tôi quyết định tấn công liền.


-Ăn nhập gì đến chữ xong băng đầu.


-Vì nó là Mỹ nên nó bị ảnh hưởng nhiều ở phim ảnh, nó đánh nhau theo kiểu Mỹ, rải gạo, đi tiền ào ào. Tụi nó xài AK, giỏi lắm nạp được ba chục viên đạn trong băng cong, tụi nó khai hỏa dồn dập một lượt như vậy, nó cũng sẽ phải thay băng đạn hầu như cùng lúc. Lúc đó không đánh thì uổng.


-Khá lắm, khá lắm, hơn thằng già này. Nó kích tớ như thế, tớ đái trong quần. Gan lắm.


Ðái trong quần của già Trí làm Sơn phì cười. Ðưa tay bụm miệng, nói:


-Trình trung úy, tôi sợ tụi nó còn người, không chừng phục kích thêm lần nữa.


-Anh Sơn nói có lý, như vậy tại sao chuyến này anh không cùng già Trí đem nửa quân số với hàng đến điểm hẹn trước, xuống xong hàng anh để lại hai tiểu đội cho già Trí, rồi anh đem ngựa về ngược lại đây ngay.


-Tôi chỉ lo cho trung úy một mình…


Phong Sương nghe đến đây vội vã hớt lời:


-Anh Sơn đừng lo, còn có tôi đây.


-Không chị à, tôi muốn nói lỡ đụng chuyện, trung úy đang bị thương.

Vàng Ðen (Kỳ 69)


“Vàng Ðen” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Dũng Tiến, được xây dựng trên những tư liệu cùng huyền thoại liên quan tới vùng “Tam Giác Vàng,” một trong những nguồn sản xuất và cung cấp thuốc phiện (“vàng đen”) lớn nhất thế giới. Ngoài việc viết văn, tác giả Nguyễn Dũng Tiến cũng là một trong những người Việt Nam đầu tiên có công gầy dựng vườn cây ăn trái cho người Việt ở xứ người. Ông hiện là chủ nhân vườn cây LA Mimosa Nursery, 6270 East Allston Street, Los Angeles, CA 90022-4546. Tel: (323) 722-4543. Ðược sự cho phép của tác giả, Người Việt hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết “Vàng Ðen” trên mục truyện dài của Nhật Báo Người Việt cũng như Người Việt Online.


 


Kỳ 69


 


Phong Sương bẽn lẽn ngồi im.


-Cứ như vậy đi, ăn xong hai vị cho lính nghỉ ngơi đến khoảng gần nửa đêm sẽ khởi hành. Tôi sẽ lo phần ngựa và chia bớt hàng.


-Còn xác bốn thằng nhỏ của mình?


-Tôi sẽ cho hỏa táng vào sáng mai. Hai đứa nhỏ bị thương nặng, tôi sẽ cho làm cáng để lừa kéo…


-Ba đứa, trung úy. Một thằng bị ngựa đạp bể ống quyển nữa.


-Rồi thì ba. Ðù mẹ, chưa có trận đánh nào tục tĩu như trận này. Lính lại bị thương lủ khủ vì bị lừa, ngựa đạp phải.


-Trung úy tính sao về xác lừa, ngựa, cùng xác tụi nó?


-Tính mẹ gì, các cậu vớ vẩn. Ðịt mẹ, sống chừng ấy tuổi đầu mà vẫn chưa ngộ. Có cái mẹ gì mà tồn tại mãi đâu. Ðến từ cát bụi, thì lại trở về với cát bụi. Phú quý sinh lễ nghĩa. Cứ để mặc mẹ nó đấy, vài ngày rồi nó cũng tan biến.


-Nghĩa tử, nghĩa tận chú à.


-Vậy mày ra chôn hơn bốn chục cái xác người, hơn hai chục xác lừa, ngựa ấy cho tao xem. Ðéo mẹ, nói sùi bọt mép mà cũng đéo ngộ được chút nào.


-Ơ kìa, cháu chỉ nói vậy thôi, sao chú lại văng lung tung với cháu thế?


-Tao có văng với mày đâu, tao văng lên trời mà, tao văng cho đứa nào đầu còn đầy những… những… cám.


Chừng như định nói chữ cứt, song già Trí cũng cảm thấy có vẻ bất nhã, quá đáng nên bẻ trẹo qua chữ cám, rồi đánh trống lảng.


-Tối nay mày nấu ăn tệ quá, gái à. Nuốt không vào.


-Cháu có nấu đâu. Thằng cận vệ đấy. Cháu cho nó xuống chức làm bếp.


-Thảo nào, anh không nuốt nổi.


-Xin lỗi cưng, em nấu lại cơm cho cưng.


-Em lại nhặt được ở đâu cái chữ cưng vậy?


-Trong tiểu thuyết của miền Nam.


-Chân em đã đỡ chưa? À, lúc chiều anh nói em ở lại trên hốc đá, làm sao em có thể chạy theo anh như vậy?


-Chân em còn đau. Thằng còn lại, em cũng xuống chức luôn, em bắt nó cõng em.


Ba người đàn ông phì cười. Cái cười để trệu trạo nuốt cho no bụng cơm với những hạt sống, hạt nát. Bữa cơm cũng xong, người nào lo phận sự người nấy. Sơn vẫn lo ngại hỏi:


-Trung úy có thật sự chịu nổi không, thằng y tá nói tôi là trung úy mất máu nhiều lắm.


-Yên chí, ba cái lẻ tẻ ngoài da ấy ăn thua gì.


Công việc tiến triển trôi chảy như dự định. Gần nửa đêm đoàn người, ngựa lại ngậm tăm lên đường. Phong chỉ có thể tiễn đưa qua máy truyền tin. Cơn sốt đốn Phong ngã. Vết thương lẻ tẻ ngoài da đang ăn thua đủ với Phong. Nó hành Phong, cộng với cả một ngày mệt nhọc, Phong ngủ li bì. Phong Sương lo lắng đắp những khăn nhúng nước lạnh lên trán Phong. Bên ngoài chòi lá dựng sơ sài, Rật cũng lo lắng đảo qua những chốt đóng vòng ngoài để kiểm soát. Ði cùng, có một thiếu úy trẻ do Sơn để lại.


Sáng ngày hôm sau, tất cả đều vô sự. Rật ngủ vùi trên chiếc võng căng ngang gốc cây. Phong Sương úp mặt ngủ quên trên ngực Phong.


Ðánh thức đến hai lần bởi người y tá của đơn vị, Phong Sương mới choàng tỉnh. Vén vội mái tóc, cô nàng lay Phong dậy.


-Trình trung úy, tôi phải rửa vết thương.


-Ờ, ờ, rửa đi.


-Trung úy ráng chịu đau một chút.


-Không sao.


Chuyến này vết thương ngoài da không ăn thua đủ với Phong nữa, nó hành hình Phong. Chiếc kềm sắt dài, được dùng cho những việc mổ xẻ, cặp chặt một miếng băng dài xuyên thẳng vào vết thương, từ vai trước trổ ra lỗ vết thương ở vai sau. Miếng băng dài đã được người y tá nhúng vào một nón sắt đầy nước sôi.


Trước khi xuyên miếng băng qua vết thương, hắn dùng kéo phá vỡ miệng vết thương của vai trước lẫn vai sau. Cắn răng, xanh mặt, Phong vẫn nhìn thấy nét mặt của hắn đanh ác lạ thường. Môi hắn mím lại, đôi lông mày chau tít, mắt hắn lộ hàn quang. Ðôi tay của hắn thoăn thoắt cầm hai đầu miếng băng ở hai bên vết thương, cứ thế cù cưa. Hắn lại còn nói đểu:


-Trung úy ráng chịu đau một chút, đừng có la, mấy thằng lính bị thương ở dưới kia nó cười.


Phong không thể nào la được nữa, hai hàm răng cắn vào nhau như muốn bể từng cái răng. Mồ hôi chẩy từ từng lỗ chân tóc hòa với mồ hôi của những lỗ chân lông ròng ròng chẩy xuống mặt. Phong Sương đứng bên cạnh luôn tay thấm mồ hôi. Không thể la được, nhưng đôi khi Phong vẫn phải buột miệng hít hà:


-Ái cha, đù má, xíi.i.t, đau quá.


Thằng y tá tàn ác lại còn chọc quê:


-Ấy, ông không bị cái kia mà còn một tiếng kêu cha, ba tiếng kêu chó hén.


Hắn lại còn làm trò đùa khi Phong Sương vô tình không biết hỏi hắn:


-Anh nói gì chó, tôi chẳng hiểu gì cả.


-Chị Hai à, ở bên Việt Nam, mấy ông nội đi chơi bời bị lậu, y tá thông nòng, mấy cha nội đau quá kêu như dzầy nè:


-Ý cha, chặc, chặc, chặc đau quá. Phải hông? Một tiếng kêu cha, ba tiếng kêu chó đó chứ gì nữa.

‘9 chiếc hỏa tiễn’

 


 


Về: ‘Đốt Tiền’


 


Kính gửi ông Dụng,


 


Để tránh được việc đốt tiền của chế độ khốn kiếp CS hiện nay, điều trước nhất người Việt hải ngoại cần phải làm là không nên gửi tiền về VN, như tôi được biết là 9 tỷ Mỹ kim hồi năm ngoái nghĩa là 9 chiếc hỏa tiễn. Tôi kêu gọi mọi người Việt hải ngoại hãy ngưng ngay việc gửi tiền nhất là những Việt kiều yêu nước (tiếp  tay cho chế độ khốn kiếp) phải ngưng ngay lập tức (tên tuồi của họ đã được ghi vào danh sách đen).


Tôi rất mong ý kiến này được phổ biến trên quý báo. Ngoài bài bình luận rất ý nghĩa của ông. Hành động cũng rất cần thiết. Chân thành cảm ơn ông


 


Lâm Nguyên

Tin mới cập nhật