Sinh viên phản đối học phí cao, bị xịt hơi cay


SANTA MONICA, California (AP) –
Cảnh sát nhà trường xịt hơi cay vào khoảng 30 người sau khi xảy ra cuộc biểu tình của các sinh viên trường đại học cộng đồng Santa Monica College ở Los Angeles, phản đối kế hoạch ưu tiên dành lớp cho những người sẵn lòng trả tiền học phí cao hơn, theo giới hữu trách.










Ông David Steinman, ứng cử viên dân biểu liên bang, Ðịa Hạt 33, bị xịt hơi cay khi tham dự cuộc phản đối tăng học phí tại đại học Santa Monica College. (Hình: AP Photo/Courtesy David Steinman)


Các hình ảnh video đưa lên Internet tối hôm Thứ Ba cho thấy sinh viên hò hét đòi vào phòng họp của Hội Ðồng Quản Trị đại học này và đòi không cắt giảm ngân sách, không tăng học phí.


Những người này giận dữ vì chỉ một số nhỏ sinh viên được cho vào tham dự cuộc họp, và khi yêu cầu của họ là Hội Ðồng Quản Trị dời cuộc họp sang một phòng khác lớn hơn bị bác bỏ, họ tìm cách tràn vào bên trong.


Hai cảnh sát viên nhà trường bị sinh viên áp sát vào tường và dùng hơi cay để đẩy họ lui lại.


Nữ sinh viên Marioly Gomez, 21 tuổi, cho hay cô đang đứng ở hành lang bên ngoài cùng với vài trăm sinh viên khác thì vô cớ bị xịt hơi cay.


Phát ngôn viên Bruce Smith của Ðại Học Santa Monica cho hay đây là lần đầu tiên hơi cay được sử dụng để đối phó với sinh viên trong khuôn viên đại học này. “Ðây là quyết định của cảnh sát cho rằng đám đông trở nên hỗn loạn và đe dọa an toàn của công chúng,” ông Smith nói.


Các sinh viên phản đối dự định của đại học Santa Monica College là cung cấp một số lớp cho sinh viên rất cần phải lấy, với giá khoảng $200 một tín chỉ – gấp bốn lần giá bình thường – vì không đủ chỗ cho mọi người trong khi nhà trường bị cắt giảm ngân sách. Trường cho rằng nhiều sinh viên sẵn lòng trả thêm tiền để có được lớp cần lấy, hầu có thể chuyển trường hay thăng tiến nghề nghiệp. (V.Giang)

Ðọc lại tài liệu về cuộc chiến Việt Hoa và Việt Miên năm 1979


Ghi nhận của Ðoàn Thanh Liêm


 


Vào Tháng Hai năm 2012, nhân kỷ niệm năm thứ 33 của cuộc chiến tranh biên giới Việt Hoa và Việt Miên (1979-2012), một số bài báo của nhiều tác giả đã trình bày thêm các chi tiết mới mẻ liên quan đến cuộc chiến tranh này.










Dân Hà Nội diễn lại vở kịch kỷ niệm 220 năm vua Quang Trung đánh thắng quân Thanh. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)


Ðể bạn đọc có thêm thông tin về cuộc chiến tranh tay ba giữa ba nước cộng sản là Việt Nam với Trung Hoa và Cambodia vào năm 1979 đó, tôi xin giới thiệu với quý bạn đọc về 2 cuốn sách sau đây:


1) Cuốn sách viết bằng tiếng Việt:


“Chiến tranh Ðông Dương III” Chiến tranh biên giới Hoa-Việt & Miên-Việt 1979


* Tác giả: Hoàng Dung


* Nhà xuất bản Văn Nghệ ấn hành tại Hoa Kỳ năm 2000


2) Tập sách viết bằng tiếng Anh:


“The Third Indochina War” Conflict between China, Vietnam and Cambodia, 1972-79.


* Edited by Odd Arne Westad and Sophie Quinn-Judge


* First published 2006 by Routledge.


Như ta đã biết, các học giả quốc tế thường đặt tên cho cuộc chiến tranh Việt-Pháp 1946-1954 là “Chiến tranh Ðông Dương I.” Và cuộc chiến tranh ở Việt Nam 1960-1975 là “Chiến tranh Ðông Dương II.” Và cuộc chiến tranh 1979 là “Chiến tranh Ðông Dương III” – mà ta đề cập đến trong bài viết này.


 


I. Sách “Chiến tranh Ðông Dương III” dày 250 trang


 


Tác giả Hoàng Dung là bút hiệu của Bác Sĩ Hoàng Xuân Trường hiện cư ngụ tại Virginia.Là một y sĩ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, nên sau 1975, ông phải “đi tù cải tạo” một thời gian. Và sau khi ra tù, ông đã vượt biên qua Mỹ. Tại đây, ông đã đi học lại và đã có bằng cấp để có thể tiếp tục hành nghề y khoa ở Mỹ. Ông Trường còn là bào đệ của nhà thơ Hoàng Song Liêm – một nhân vật hoạt động văn hóa quen thuộc trong cộng đồng người Việt tại vùng thủ đô Washington DC.


Vốn là người có niềm say mê tìm hiểu về những vấn đề khoa học cũng như xã hội, Bác Sĩ Trường đã dành toàn thời gian rảnh rỗi ngoài chuyện làm việc chuyên môn – để tham khảo tài liệu sách báo và biên soạn thành những cuốn sách có giá trị như cuốn “Chiến tranh Ðông Dương III” xuất bản năm 2000. Ngoài ra, tác giả Hoàng Dung còn cho xuất bản hai cuốn sách sưu khảo khác do Tủ sách Tiếng Quê Hương ấn hành có nhan đề là: “Sau bức màn đỏ” ra mắt năm 2007 và “Cõi Trời cõi Ta” ra mắt năm 2011. Cả hai cuốn sách đó thì cũng được nhiều bạn đọc chú ý.


* Cuốn sách này không có bản Mục Lục, mà lại cũng không chia thành từng chương, từng phần, nên đối với một số người đọc sơ qua ban đầu, thì việc theo dõi câu chuyện sẽ gặp một vài khó khăn.


Tuy vậy, về mặt nội dung nếu kiên nhẫn để mắt coi kỹ các tiểu đề mục, thì người đọc sẽ tìm ra được những mục được trình bày rất mạch lạc, hấp dẫn. Và ở trang cuối của mỗi mục, tác giả đều ghi ra một số tài liệu tham khảo, để chúng ta có thể tin cậy được xuất xứ của những thông tin do tác giả đưa ra.


Ðại cương, ta có thể tóm lược cách trình bày của tác giả như sau đây:


1. Riêng về cuộc chiến biên giới Tây Nam Việt-Miên, cuốn sách đã dành ra đến gần 120 trang với các tiết mục đáng chú ý như:


-Lịch sử tranh chấp Việt-Miên trước năm 1975.


-Sự thành lập Ðảng Cộng sản Cambodia.


-Chiến trường biên giới Tây Nam năm 1977.


-Biên giới Tây Nam năm 1978-79. Trận chiến quyết định.


2. Về cuộc chiến biên giới phía Bắc Việt-Hoa, cuốn sách dành ra gần 100 trang với các tiết mục đáng chú ý như sau:


-Sơ lược lịch sử Trung Hoa và Những quan hệ với Việt Nam


-Mục tiêu và sách lược chuẩn bị chiến tranh của Trung Hoa.


-Trận chiến biên giới Việt-Hoa năm 1979.


3. Về tình hình chính trị ngoại giao của Việt Nam, Trung Hoa, Cambodia, thì tác giả đề cập trong các mục sau đây:


-Tình hình nội bộ Việt Nam-Cambodia-Trung Hoa.


-Những cố gắng thiết lập ngoại giao với Mỹ của Việt Nam và Trung Hoa.


-Tình hình chính trị ngoại giao ba nước Việt-Miên-Hoa trong năm 1978.


4. Hai mục cuối cùng trong sách cũng thật đáng chú ý. Ðó là:


-Ghi chú các nhân vật: tất cả 166 nhân vật người Việt, Hoa, Miên, Lào và cả Nga, Mỹ, Pháp đều được ghi ra trong ít dòng tiểu sử về từng người đã có đề cập tới trong sách.


-Sơ lược về 37 đại đơn vị của Quân đội Cộng sản Việt Nam mà có tham dự các trận chiến với Trung Cộng và Miên Cộng.


Nói chung, thì cuốn sách cung cấp cho chúng ta một cái nhìn tương đối khách quan và chính xác về cả hai cuộc chiến tranh biên giới vào năm 1979. Tác giả đã bỏ ra nhiều thời gian để tìm kiếm tài liệu, so sánh đối chiếu và gạn lọc ra được những thông tin chính xác để giúp cho công chúng hiểu rõ hơn về bối cảnh chính trị quân sự của hai cuộc chiến tranh này. Các tài liệu tham khảo gồm nhiều chứng từ khả tín của nhiều nhân vật Việt nam cũng như ngoại quốc, mà chỉ người Việt ở nước ngoài mới có điều kiện thâu thập dễ dàng và tương đối đày đủ.


Tôi xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuốn sách Việt ngữ, vừa ngắn gọn vừa đáng tin cậy này. Ðồng thời cũng xin được gửi tới tác giả sự cảm phục và lời cảm ơn về sự cống hiến quý báu này.


 


II. Tập sách “The Third Indochina War” dầy 242 trang chữ nhỏ


 


Khác với cuốn sách viết bằng tiếng Việt của một tác giả duy nhất là Hoàng Dung đã giới thiệu ở trên, cuốn sách viết bằng tiếng Anh này là một công trình của nhiều chuyên gia có tên tuổi mà các bài được tuyển lựa để sắp xếp vào một trong những tác phẩm của tủ sách “Lịch sử Chiến Tranh Lạnh” (Cold War History) thuộc Ðại Học London School of Economics. Sách này do hai Giáo Sư Odd Arne Westad và Sophie Quinn-Judge hợp tác giữ nhiệm vụ biên tập.


1. Giới thiệu sơ lược về các tác giả


a) Các biên tập viên của cuốn sách: Odd Arne Westad và Sophie Quinn-Judge


* Giáo sư Odd Arne Westad chuyên giảng dạy và nghiên cứu về lịch sử cận đại thế giới tại London School of Economics. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách về Chiến Tranh Lạnh (2005), về cuộc nội chiến ở Trung Hoa 1946-1950 (2003). Trong tập sách được giới thiệu trong bài viết này, ông viết chương mở đầu với tiêu đề: “Introduction: From war to peace to war in Indochina.”


* Giáo Sư Sophie Quinn-Judge hiện giảng dạy về lịch sử Á Châu tại Ðại Học Temple ở Philadelphia. Bà là tác giả cuốn sách nổi tiếng: “Ho Chi Minh: The Missing Years” (2003). Bà còn là phó giám đốc Trung tâm Triết học, Văn hóa và Xã hội Việt Nam tại Ðại Học Temple. Trong tập sách này, bà viết chương cuối với tiêu đề: “Victory on the battlefield; isolation in Asia: Vietnam’s Cambodia decade, 1979-1989,” và hai bản phụ lục liệt kê các biến cố từ 1972 đến 1979 và về cuộc khủng hoảng người tỵ nạn Hoa kiều ở Việt Nam.


b) Bốn tác giả người Việt Nam: Lưu Doãn Huỳnh, Nguyễn Vũ Tùng (hiện ở trong nước) và Ngô Vĩnh Long, Nguyễn Thị Liên Hằng (hiện ở Mỹ).


* Ông Lưu Doãn Huỳnh là một viên chức ngoại giao kỳ cựu đã từng tham gia hội nghị tại Geneva về Lào năm 1961-62. Ông còn làm cố vấn tại Sứ Quán Việt Nam ở Bangkok và Canberra. Ông cùng hợp tác biên tập với Giáo Sư Jayne Werner trong cuốn sách “The Vietnam War, Vietnamese and American perspectives” (1993). Ông là tác giả của bài “The Paris Agreement of 1973 and Vietnam’s vision of the future” trong tập sách này.


* Ông Nguyễn Vũ Tùng có bằng tiến sĩ về chính trị học năm 2003 tại Ðại Học Colombia. Ông tham gia Viện Bang Giao Quốc tế từ năm 1990 và hiện là giảng viên của Phân khoa Chính trị Quốc tế và Ngoại giao việt Nam. Ông là tác giả của bài “The Paris Agreement and Vietnam-ASEAN relations in the 1970s” trong tập sách này.


* Ông Ngô Vĩnh Long là giáo sư về môn Á Châu học tại Ðại Học Maine. Ông chuyên nghiên cứu về vấn đề phát triển kinh tế và xã hội tại Á Châu và quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và các quốc gia Á Châu. Trong tập sách này, ông viết về đề tài: “The Socialisation of South Vietnam.”










Một người đàn ông thăm mộ binh sĩ Trung Quốc tử trận trong trận chiến biên giới với Việt Nam hồi năm 1979. (Hình: Mark Ralston/AFP/Getty Images)


* Bà Nguyễn Thị Liên Hằng có bằng tiến sĩ từ Ðại Học Yale với luận án nhan đề “Between the Storms: An International History of the Vietnam War, 1968-1973.” Bà Liên Hằng hiện là nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ (postdoctoral fellow) tại Ðại Học Harvard. Trong tập sách này, bà Liên Hằng viết về đề tài “The Sino-Vietnamese split and the Indochina War, 1968-1975.”


c) Bốn tác giả khác: Chen Jian, Cécile Menétrey-Monchau, Christopher E. Goscha và Ben Kiernan.


* Ông Chen Jian là giáo sư về môn Lịch sử Bang giao Mỹ-Hoa tại Ðại Học Cornell. ông là tác giả của nhiều cuốn sách về Trung Hoa. Trong tập sách này, ông viết về đề tài: “China, the Vietnam War, and the Sino-American rapprochement, 1968-1973.”


* Bà Cécile Menétrey-Monchau có bằng tiến sĩ về nghiên cứu sử học từ Ðại Học Cambridge năm 2003. Bà hiện làm tham vấn cho Liên Hiệp Quốc. Trong tập sách này, bà viết về đề tài: “The changing post-war US strategy in Indochina.”


* Ông Christopher E. Goscha là phó giáo sư tại Ðại Học Québec ở Montréal. Ông viết nhiều sách báo về chế độ thực dân và công cuộc giải thực ở Ðông Dương. Trong tập sách này, ông viết về đề tài: “Vietnam, the Third Indochina War and the meltdown of Asian Internationalism” (Sự tan rã của chủ nghĩa quốc tế ở Á Châu).


* Ông Ben Kiernan là giáo sư về sử học tại Ðại Học Yale. Ông là sáng lập viên của Chương trình Diệt chủng ở Cambodia và là tác giả của 2 cuốn sách “How Pol Pot came to Power” và “The Pol Pot Regime.” Trong tập sách này, ông viết về đề tài:” External and indigeneous sources of Khmer Rouge ideology.”


2. Nhận xét chung về tập sách “The Third Indochina War”


Nói chung các bài viết của những chuyên gia nghiên cứu có tên tuổi này, thì đều đạt tiêu chuẩn hàn lâm với những luận cứ, phân tích số liệu và dữ kiện vững chắc đáng tin cậy. Các tác giả đều trưng dẫn khá đày đủ tài liệu tham khảo có giá trị thuyết phục và khả tín để cho người đọc dễ dàng kiểm chứng hoặc tìm hiểu sâu xa hơn nữa.


Nhờ khai thác được nguồn tài liệu đã được giải mật từ nhiều văn khố trên thế giới, mà các tác giả đã có thể trình bày cho chúng ta cái thực trạng phức tạp của cuộc chiến tranh “xâu xé nội bộ giữa các nước cộng sản với nhau,” đặc biệt là giữa hai đàn anh lớn là Trung Cộng và Liên Xô. Và hơn nữa, cuộc chiến tranh năm 1979 này còn làm tan nát cái huyền thoại “Việt Nam anh hùng” đối với các quốc gia ở khắp ba lục địa Á Châu, Phi Châu và Mỹ La tinh. Việc Việt Nam chiếm đóng Cambodia còn gây ra tình trạng Việt Nam bị cô lập đối với nhiều nước tại Ðông Nam Á nữa.


Nhân tiện, người viết cũng xin ghi lại phát biểu của Tiến Sĩ Henry Kissinger trong cuốn sách vừa mới xuất bản năm 2011 nhan đề “Kissinger on China,” trong đoạn “The Third Vietnam War” từ trang 367-376. Kissinger thuật lại rằng: “Ông Hoa Quốc Phong lúc đó là chủ tịch Trung Hoa có nói trong một cuộc gặp gỡ vào mùa Hè năm 1979; “Chúng tôi vẫn có thể sờ đít con cọp (Liên Xô) rồi đấy” (We could still touch the buttocks of the tiger). Mặc dầu quân đội của họ bị thiệt hại nặng nề, nhưng rõ ràng là Trung quốc đã đạt được mục tiêu chiến lược lâu dài là ngăn cản được sự bành trướng của Liên Xô tại Ðông Nam Á. Và trong vụ này, Trung quốc đã có được sự hậu thuẫn rõ rệt về nhiều mặt của Hoa Kỳ nữa. Và đa số các tác giả trong tập sách này cũng đều có nhận định tương tự như thế của Kissinger vậy.


Nhân tiện, người viết cũng xin ghi nơi đây lời cảm ơn chân tình đến với tác giả Sophie Quinn-Judge vì đã gửi cho tập sách The Third Indochina War thật quý giá này nữa.

Someone to love them

From WIRE REPORTS


 


          Hospital 09 in Ha Noi is filled with patients but lacks the large crowds of family caretakers and visitors that usually fill the halls of Vietnamese hospitals.


          The reason is it treats and befriends people with HIV/AIDS, many of whom have been shunned by friends and families.


          It was first opened for AIDS patients from prisons, but then expanded to accept all those afflicted. It quickly garnered a bad reputation as many of its patients were ex-cons, prostitutes, drug addicts and various members of the underworld.


          A Lao Dong report last month said the hospital is sometimes referred to as the “garbage dump” of society, where the patients are wished dead by their own families.


          Doctors said only 20 percent of the patients have family members who visit regularly, and even then it’s usually just for a few minutes at a time.


          They often call patient’s families to inform them of their relative’s condition, only to be asked, “Did [he/she] die yet?”


          Dr. Vu Duc Phe told Lao Dong he was shocked when one time he saw a family member of a patient sneak in an intensive care room to remove the respirator tube.


          Many patients feel so alone that they refuse to take their medicine. Other forms of suicide, from wrist slashing to jumping from high floors, also have been seen at the hospital, according to Phe.


          He said that doctors at the hospital thus had no other choice than being friends to the patients.


          Dr. Hoang Hai Ha said last-stage AIDS patients sometimes act like they don’t care, but that is only because their families have abandoned them and they feel worthless.


          Ha said most patients actually have the will to change their life and they often do so when doctors are supportive and encouraging enough.


          Phuong Anh and Thang, a couple once treated by Ha, are now starting their own business in the face of brutal discrimination.


          The couple first ran a small shop selling breakfast.


          But when they registered for temporary residency with local ward authorities, their HIV records became common knowledge and customers abandoned the shop.


          They have since moved to a new area and have opened a souvenir shop.


          “Life is so harsh,” Thang once told Ha after his discharge, cited by Lao Dong. “We are shunned from time to time. It’s so difficult to be good people.”


          Ha understands such harshness more than other doctors at the hospital as he was once exposed to the virus and suffered a long period of isolation at the hands of his colleagues.


          One night in 2001, Ha was taking blood samples for HIV tests from eight drug addicts arrested by police.


          One of them injected him with a syringe containing HIV-infected blood. Ha was then 30 and married with a child less1.


          The doctor said he immediately took medication to fight the virus but was also ready to begin living the days as his last.


          He said the saddest part was the discrimination from other doctors, who even avoided touching things on his desk.


          Ha returned to normal life after continuously testing negative for the virus during a year of treatment and medication.


          Since then, Ha has built a better connection with his patients. He said Hospital 9 is not in it for the money. The doctors have no private clinics and the patients only receive inexpensive or free treatments.


          Thus, Ha said it takes a real love of the career to work at number 9, and the support of one’s family, which both Phe and Ha said they are thankful they have.


          Most other doctors there have to hide the fact that they work at Hospital 9 from their families, as those close to them argue that the low income is not worth being attached or close to AIDS in any way.


          Three doctors left the institution in 2010. The hospital advertised many vacancies last year but only one was filled.


          Ha said not everything is gloomy. He said the hospital has succeeded in its main mission, which is to bring patients not only hope for survival, but hope for a better life.


 

The tongue-tied misfit and the language of violence

By ANDREW LAM, New America Media


 


Editor’s Note: NAM editor Andrew Lam wrote another version of this piece in 2009 after Jiverly Wong shot and killed 13 people in a community center in Binghamton, N.Y., where immigrants had gathered to learn English, before killing himself. We felt the piece bears repeating in light of Monday’s shootings in Oakland, Calif., that left seven dead.


 


 


            One L. Goh, 43, an immigrant from Korea who allegedly shot and killed seven people at a school in Oakland, could be the latest in a string of inarticulate men who became mass murderers in America.


            Consider Cho Seung-Hui, the Virginia Tech shooter, and Jiverly Linh Phat Wong, the Binghamton killer. Wong in April of 2009 locked the back exit of a civic community center in Binghamton, N.Y., where immigrants had gathered to learn English and shot 13 people before killing himself. Cho, a 23-year-old English major, shot and killed 33 people at Virginia Tech in 2007 before killing himself. Cho since then entered modern history as one of the worst mass murderers in the United States.


            What ticked them off? They have no tongue.


            The opposite of a cosmopolitan is a kind of aphonic drifter, someone who fails at articulation. While the former can easily move from one culture to the next, the latter feels disconnected and marginalized by both. The successful border crosser is blessed with the power of metamorphosis and the gift of eloquence. His counterpart, alas, finds himself tongue-tied and trapped in a defective chrysalis, unable to, but deeply desiring, change.


            What keeps him from that coveted transformation is language, the loose tongue, that shamelessness and a cunning ability to slide between worlds. Cho spoke with a speech impediment that made him a pariah at school. He was an English major who was lousy at expressing himself.


            Though he’d passed the U.S. citizenship test, Wong was nevertheless defeated by the English language. He was reportedly frustrated by his inability to speak English despite two decades in America. He was, as his former co-workers described him, “quiet.”


            And now there’s Goh. News reports mentioned that Goh felt ridiculed because of his lack of English-speaking skills. Goh was upset at being disrespected. Administrators and several students, according to Oakland Police Chief Howard Jordan, “laughed at him. They made fun of his lack of English speaking skills. It made him feel isolated compared to the other students.” And ashamed, which further binds the tongue.


            And an inarticulate tongue often leads to rage. And rage has its own language. In America, that language often finds expression through using the gun.


            Cho’s video before his killing spree in Virginia was a jumble of words, but what screamed out were the guns he displayed. They were his language. And they spoke volumes.


            Wong went to the firing range every Saturday, newspapers reported. It is there where he was most articulate. There are pictures of him posing with his Beretta guns.


      The successful border crosser uses language to overcome shame by refusing silence, finding ways to articulate his shame until he rearranges it and redefines himself. His counterpart, however, remains defeated, finding no articulate way to transform himself in the new world. They remain cultural misfits, unable to move forward.


            So many famous Asian immigrants have entered America’s public space through their power of language ― be it men or women of letters, like Ha Jin or Salman Rushdie, or musicians like Yo-Yo Ma and Lang Lang.


            But there is another way to enter America’s consciousness to become infamous ― through acts of violence.


            If the Asian shame-based culture is still prominent, keeping its citizens in line and well behaved, it is the gun culture in America that is most conspicuous. It is there on TV and video games and the Internet and the silver screen, and it is the most accessible language for the tongue-tied. For them, the gun ― be it in video games or at the shooting range ― speaks volumes.


            For those who feel powerlessness to transform themselves, the gun can be seductive. It provides power. It speaks in a language everybody understands. It speaks across color lines. It opens doors for the invisible into the public space. Unfortunately, it is the language of annihilation and not creation. It speaks up once or twice, but often the user succumbs to his curse: that of silence.


            New America Media editor Andrew Lam is the author of “East Eats West: Writing in Two Hemispheres,” and “Perfume Dreams: Reflections on the Vietnamese Diaspora.” His next book, “Birds of Paradise,” is due out in 2013.


 

Kansas? Nebraska?


Photo courtesy of www.census.gov


 


 


NGUOI VIET 2


 


          The Vietnamese population outnumbers all other Asian groups in five states, according to a detailed report recently released by the U.S. Census Bureau.


          Kansas, Louisiana, Mississippi, Nebraska and Oklahoma were named in “The Asian Population: 2010” as the states with the highest number of Vietnamese among the Asian population.


          Also, according to the report, the Asian population was the fastest-growing of all races between 2000 and 2010, growing by 43 percent. Nevada had the highest rate of growth at 116 percent, followed by Arizona (95 percent), North Carolina and North Dakota (85 percent), and Georgia (83 percent.)


          And it should come as no surprise that the places with the highest population of Asians, including those who list themselves as Asians combined with another race, were New York City (1.1 million) and Los Angeles (484,000). Six of the 10 locations with the largest Asian populations were located in the west: Los Angeles, San Jose, San Francisco, San Diego, Honolulu, and Fremont, Calif.


          The report contains several charts and maps detailing the population shifts and numbers. It is available at http://www.census.gov/prod/cen2010/briefs/c2010br-11.pdf

Những ‘vắng mặt’ trong bức phù điêu Hà Nội, 72 của Phan Vũ

 


Du Tử Lê


 


(Tiếp theo kỳ trước)


 


Khi nhấn mạnh tính từ “còn” như một từ-chìa-khóa mở vào mọi đền đài trong toàn cảnh không gian Hà Nội, 72 của Phan Vũ, tôi muốn nói tới phần bên kia, mặt tiêu trầm, khuất lấp. Mặt làm thành linh hồn bài thơ.



Phan Vũ tự họa.


Dọc lộ trình trường khúc “Hà-Nội-Phố,” 443 câu của họ Phan, người ta thấy ắp đầy hình ảnh. Âm thanh. Như tiếng giầy, bước chân. Tiếng chuông nhà thờ. Tiếng họp chợ sớm, khuya. Tiếng mõ giấu mình đâu đó trong trong ngõ. Tiếng đàn guitar. Tiếng hát Trương Chi. Hình ảnh những chuyến tầu đêm vào ga. Tiếng rao hàng. Tiếng cười, khóc. Tiếng tầu điện lanh canh chở buồn, vui Hà Nội qua 36 phố, tới 5 cửa ô… Hình ảnh cô hàng hoa. Tiếng đọc truyện Kiều của bà bán quán. Tiếng lá rơi. Tiếng thang gỗ cũ vặn mình. Tiếng cánh cửa sắt cọt kẹt mở vào ngôi nhà không người ở. Hình ảnh những người yêu nhau, tìm nhau, hò hẹn/chia tay. Những thầm thì thương yêu, như những hạt mầm tốt tươi ươm cho Hà Nội đời kế. Tiếng khóc của trẻ sơ sinh, như một phần của toàn cảnh Thăng Long ngày, tháng cũ…


Nhưng tất cả chỉ là hồi tưởng. Chúng là những ngọn nến cầu siêu, gọi hồn Hà Nội. Những ngọn nến làm sáng thêm, lung linh hơn, tan tác.


“Hà-Nội-Phố” của Phan Vũ biến tâm hồn tôi thành chiếc nêm tội nghiệp – Chêm giữa mất/còn. Hay tôi là con tin của hồ nghi, nhiều câu hỏi? Lúc tiếng hát Thanh Lam (?) qua ca khúc của Phú Quang, vọng về:


Ta còn em một màu xanh thời gian


Một chiều phai tóc em bay


Chợt nhòa, chợt hiện


Người nghệ sĩ lang thang hoài trên phố


Bỗng thấy mình chẳng nhớ nổi một con đường…


Tôi không biết người không nhớ phố hay, phố đã quên người?


Tôi cũng không biết hình ảnh, âm thanh nhớ người hay, người tương tư âm thanh, hình ảnh? Ðó là xâu chuỗi hình ảnh, tiếng động mà, sự vắng mặt tương tác nhau. Như chiếc lá rơi tạo thanh âm trên mặt phố. Từ đó, phố, người đón nhận những âm vang quá khứ. Hoặc ta vốn có sẵn hình ảnh, tâm tưởng về chiếc lá; nên ký ức mở cửa đón chào?…


Trường hợp nào, với tôi, toàn cảnh Hà Nội, 72 của Phan Vũ vẫn là những khoảng lặng mênh mông, nối những khoảng lặng tê điếng. Toàn cảnh Hà Nội, 72, là sự vắng mặt của chính Hà Nội. Tựa những thước phim, không tiếng.


Vắng mặt đầu tiên, trong trường khúc Hà Nội, 72, của họ Phan, trong ghi nhận của tôi, là sự sống, sắc mầu. Chúng đã bị/được người Hà Nội mang theo khi sơ tán…


Một thành phố không còn thị dân, là thành phố hoang. Thành phố chết. Người Hà Nội, 72, bỏ Hà Nội mà đi, không chỉ đem theo sự vắng mặt của mình. Họ còn để lại sau lưng, còn khêu thức nhiều vắng mặt khác!


Tôi muốn nói tới những vắng mặt của chim muông. Những tiêu sơ thiên nhiên, cảnh, vật mà, con người trong đó, thấy như thất lạc chính mình:


Em ơi! Hà-Nội-Phố!


Ta còn em ráng đỏ chiều hôm


Ðôi chim khuyên gọi nhau trong bụi cỏ.


Ðôi guốc bỏ quên bên ghế đá… (7)


Hoặc:


… Chiếc lá rụng.


Khởi đầu ngọn gió.


Lao xao sóng biếc Tây Hồ.


Hoàng hôn xa đến tự bao giờ?…


(……)


Em ơi! Hà-Nội-Phố!


Ta còn em con đê lộng gió.


Dòng sông chảy mang hình phố.


Cô gái dựa lưng bên gốc me già.


Ngọn đèn đường lặng thinh


Soi bờ đá… (8)


Vắng mặt kia, là những tấm bảng chỉ đường. Tất cả đều chỉ về một phía. Phía của tiêu trầm nhân sinh. Phía của hoang vu cảnh, vật. Côi cút lên rêu:


Em ơi! Hà-Nội-Phố!


Ta còn em lô xô màu ngói cũ


Hiu quạnh


Một ngôi nhà.


(……)


Ta còn em con đường đá


Lát bao kỷ niệm?


Cây si kia trồng tự năm nào?


(……)


Ta còn em đống than tro,


Một ngày gió nổi,


Mớ giấy tiền,


Phù du của nả.


Hai cõi âm dương,


Mịt mù bụi phố! (9)


Nhưng, vẫn theo tôi, có một vắng mặt hiện ra, tự thân lại mang trong nó một vắng mặt khác. Tôi muốn gọi đó là vắng mặt mang tính vấn nạn. Câu hỏi lớn.


Vắng mặt ấy xuất hiện nhiều lần, qua nhiều câu thơ, dọc lộ trường khúc:


Ðó là vắng-mặt-câu-hỏi về người con gái và, “tiếng dương cầm trong căn nhà đổ”? Về hình ảnh “cô gái áo đỏ venice/xa Hà Nội.” Và:


Ta còn em những tràng pháo tay vang dậy


Ðêm lộng lẫy!


Cô gái dương cầm đứng giữa rừng hoa,


Nước mắt lã chã trên áo đỏ… (10)


Trả lời câu hỏi về vắng mặt như một bệt màu chói gắt trong nền tranh rêu xám này, tác giả cho biết:


– Ðó là dương cầm thủ Trịnh Thị Nhàn, rất nổi tiếng tại Âu Châu từ nhiều chục năm qua. Một người bạn hàng xóm, thân với ông từ thuở nhỏ. Trịnh Thị Nhàn ở phố Quán Thánh. Cùng với Ðặng Thái Sơn, cô là học trò cưng của bà Thái Thị Liên.


Năm 1945, Hà Nội tiêu thổ kháng chiến. Ở vùng kháng chiến, không có piano, có thời gian bạn ông đã phải học bằng cách vẽ lại hình dạng, các phím dương cầm trên tấm phản gỗ… Thời gian trước sơ tán, ở Hà Nội, buổi tối, nhất là những đêm mưa, ông thường qua thăm, thả tâm hồn mình trôi trong tiếng dương cầm của bạn…


Ông kể:


“Cô bạn tôi sau đó, được sang Nga học piano. Rồi định cư tại Pháp. Cô được mời trình diễn khắp Âu Châu. Nhắc tới tên cô, những người hâm mộ dương cầm ở Âu Châu, hầu như chẳng mấy ai không biết. Tuy nhiên, đời sống tình cảm của cô ấy thì lại quá bi đát. Cô bạn tôi không may mắn, sớm bị thất vọng, đổ vỡ ngay từ cuộc hôn nhân ngắn ngủi thứ nhất…”


Họ Phan cũng cho biết thêm, đoạn thơ:


… Căn gác trọ đường vào bằng cửa sổ


Lão Mozard hàng xóm


Bảy nốt cù cưa.


Từng đêm quên giấc ngủ..( 11)


Cũng đi ra từ tiếng dương cầm lộng lẫy của Trịnh Thị Nhàn. Kỷ niệm thời niên thiếu, hai người.


Là một trong những vắng-mặt-câu-hỏi của bức phù điêu, Hà Nội, 72, của Phan Vũ vậy.


Du Tử Lê


(Tuần tới, kỳ chót: “Phan Vũ, từ điện ảnh tới thi ca.”)


 


Chú thích:


– (7), (8), (9), (10), (11): Theo bản chung quyết, do chính tác giả cung cấp.

Sử gia Nguyễn Khắc Ngữ trong quên lãng


Viên Linh


 


Trong những cuốn sách viết về sự sụp đổ của miền Nam, cuốn đầu tiên đáng kể nhất đối với người viết bài này là “Những Ngày Cuối Cùng của Việt Nam Cộng Hòa” của sử gia Nguyễn Khắc Ngữ.


 










Ảnh bìa hai cuốn sách giá trị của sử gia Nguyễn Khắc Ngữ (1935-1992).


 Cuốn sách ấy xuất hiện sớm sủa nhất, cuối năm 1979, viết với tấm lòng nung nấu của một thanh niên ngay từ lúc vào đời đã nghĩ đến sử, và anh viết lịch sử hiện đại với phương pháp khoa học, chỉ trong bốn năm sau ngày mất nước đã hoàn tất 430 trang giấy đánh máy chữ nhỏ. Ngày 27 tháng 5, 1978 anh đã từ Montreal gửi thư cho tôi, lúc ấy đang ở vùng tam biên Hoa Thịnh Ðốn, sau nhiều lá thư trao đổi. Chúng tôi đã trao đổi nhiều tại Sài Gòn từ những ngày cùng làm bán nguyệt san Sống đầu thập niên ’60 của Hội Nạn Nhân cộng sản.


Hồi ấy sửa soạn xuất bản tạp chí Thời Tập (ra số 1 nhân tháng 4, 1979), tôi đã phỏng vấn anh: “Theo quan điểm của một sử gia, anh nghĩ gì về vụ Vẹm đốt sách?” Từ những năm đầu của thập niên ’50, chúng tôi hay dùng chữ Vẹm để gọi Việt cộng, chữ này hình như là cách ghép hai chữ VM (Việt Minh) và đọc chệch đi. Những năm giữa thập niên ’70, người cầm bút Việt Nam lưu vong nào không đau đớn vì chuyện cộng sản phát động sự bạo hành của máu nóng, của căm thù, của ngu dốt lên cao để thanh thiếu niên học sinh cảm thấy hứng khởi trong sự đốt sách của miền Nam? Mấy người đã gửi bài trả lời, có Mặc Ðỗ, Võ Phiến, Cao Thế Dung, Nguyễn Khắc Ngữ.


Sử gia Nguyễn Khắc Ngữ viết: “…Vụ đốt sách là chuyện dĩ nhiên của chế độ cộng sản. Ở Liên Xô khi Staline bị hạ bệ người ta đã đem cắt một số trang của cuốn ‘Bách khoa Từ điển Liên Xô’ có viết về Staline để đem đốt đi cho tuyệt tích luôn và thay vào đó bằng một bài mới tất nhiên viết không hay gì cho nhân vật này. Tuy nhiên dù cấm đoán đến thế nào, sách vở hay vẫn tồn tại. Trước kia Tần Thủy Hoàng đốt sách, chôn học trò nhưng Nho giáo sau này vẫn phát triển mạnh. Mao Trạch Ðông đã phải để mấy chục năm để chống nhau với bóng ma Khổng Tử mà cuối cùng cuộc ‘Cách Mạng Văn Hóa’ lại chỉ là bản án muôn đời cho vợ con ông.”


Trong 37 năm nay có thêm nhiều cuốn sách viết về “những ngày cuối cùng” của Việt Nam Cộng Hòa, song không cuốn nào có tầm rộng lớn như cuốn sách của anh. Cuốn sách đáp ứng được các mặt của một cuốn sử hiện đại, phần giữa sách quan trọng nhất, từ “Sự thi hành Hiệp Ðịnh Paris” đến các trận đánh khác, cuộc triệt thoái tự sát ở cao nguyên, v.v… chỉ bắt đầu từ chương bảy, trang 148, còn từ đó trở ngược lên trên tác giả viết tổng quát về sự “Hình thành của chế độ Việt Nam Cộng Hòa,” qua từng chương, nhắm mỗi chương vào một lãnh vực (Tương quan Lực lượng Nam Bắc, Chính sách Cầm quyền, Kinh tế Tài chính, Văn hóa Xã hội,…). Mỗi chương anh viết một vài sự kiện quan trọng, có tính quyết định, trình bày rõ hơn trên nền một tổng quan để người đọc hiểu bao quát toàn cảnh của miền Nam, trước khi và trong khi sụp đổ. Hẳn rằng quan niệm một sử gia cũng là một phán quan, Nguyễn Khắc Ngữ kết tội và kể tội đích danh chính phủ và 5 nhân vật làm mất nước, với sự lạm dụng quyền hành và sự tham ô của họ. Anh trình bày những kế hoạch ngũ niên (kỹ nghệ, nông nghiệp, và các sự kiện). Văn hóa Xã hội được dành khoảng 40 trang, anh điểm danh các văn nghệ sĩ và các báo, một cách khái quát song khá sắc nét. Anh kể ra một số báo, những đụng chạm với chính quyền, một số nhà văn, nhà báo, và đây chính là nhờ sự xông xáo của anh trong thời gian cầm bút. Tôi nhớ Nguyễn Khắc Ngữ tất tả bước đi trên đường Hồng Thập Tự, ra vào tòa soạn bán nguyệt san Sống của ông Ngô Trọng Hiếu, trước thời ông được Tổng Thống Ngô Ðình Diệm chọn làm bộ trưởng Công Dân Vụ. Chúng tôi hay gặp nhau ở đây, vì thường lui tới với Duy Sinh ngồi thường trực tại báo quán; và ở vài chỗ khác như tại Ðàm Trường Viễn Kiến của nhà văn Nguyễn Ðức Quỳnh, gần chùa Giác Minh của Hòa Thượng Ðức Nhuận. Tóc anh hớt ngắn, miệng cười rộng, hàm răng trắng làm sáng khuôn mặt không có vẻ gì là thư sinh, học giả: qua toàn thể anh là một con người hoạt động, được việc cái đã. Nguyễn Khắc Ngữ trong Nhóm Nghiên Cứu Sử Địa Việt Nam, vừa là học giả, vừa là người hoạt động: để viết cuốn sử đầu tiên tại hải ngoại, anh đã bỏ ra bốn năm, qua 22 tiểu bang ở Hoa kỳ, các tỉnh ở Gia Nã Ðại và nhiều nước ở Âu Châu “để tìm tài liệu và phỏng vấn những người liên hệ.”


Nguyễn Khắc Ngữ sinh năm 1935 tại Duyên Hà, Thái Bình, gọi nhà văn hóa Nguyễn Ðức Quỳnh bằng cậu, học trung học Lê Quí Ðôn tại tỉnh nhà, tị nạn cộng sản lần thứ nhất năm 1954, nhập ngũ khóa 21 SVSQ Trừ Bị Thủ Ðức, ra trường phục vụ trong binh chủng Không Quân. Ngày 30 tháng 4, 1975 rời Việt Nam, định cư tại Montreal, Canada và lập gia đình tại đây, có một con trai. Anh mất vì ung thư dạ dày năm 1992.


Từ cuối thập niên ’50, chàng trai Thái Bình (Thái lọ) viết truyện ngắn (Dưới bóng Hoàng Lan), viết kịch (Hỏa ngục), và cũng viết những bài nghiên cứu về ngôn ngữ Chàm, về Văn hóa Óc Eo, Phù Nam. Tới thập niên ’70 chàng chú trọng hơn về Mỹ thuật Văn hóa Dân tộc, đã xuất bản “Kỹ thuật và Mỹ thuật Tranh mộc bản Việt Nam,” nghiêng qua cả chính trị và các đảng phái quốc gia, khi tình hình đất nước càng ngày càng nóng bỏng, khiến cho những kẻ có lòng không thể ngồi yên. Nguyễn Khắc Ngữ thường ký tên thật, tuy đôi khi viết bằng bút hiệu Vũ Lang, viết trên những tờ báo có tính chiến đấu (Thanh Niên, Ðất Nước, Trình bày (b không viết hoa), hay báo Khảo cổ học, Sử Ðịa. Anh tốt nghiệp Cao học Sử, giáo sư Sử học tại Ðại Học Sư Phạm Sài Gòn, có thời gian làm phụ tá khoa trưởng Ðại Học Kinh Tế Thương Mại Minh Ðức. Sự đóng góp của anh cho học thuật Việt Nam không phải nhỏ, với khoảng gần 20 đầu sách đủ loại, đa số là sách Sử, Ðịa, Khảo cổ học và cả Nhân chủng học. Tiếc thay anh mất sớm, ở tuổi 57. Sự ra đi của anh không những là một mất mát riêng cho gia đình, bạn hữu, mà còn làm cho Nhóm Nghiên Cứu Sử Ðịa Việt Nam mất đi một động lực chính yếu, và một thiệt hại đáng kể cho sinh hoạt văn hóa Việt Nam ở hải ngoại. May thay Nguyễn Khắc Ngữ đã để lại một tác phẩm quan trọng và giá trị: Những Ngày Cuối Cùng Của Việt Nam Cộng Hòa, cuốn sách nóng hổi về tháng 4, 1975.
(Viết để nhớ Ngữ – 4.2012)

Tìm trung úy pháo binh Nguyễn Quang Minh


Trước 1975 ở Pháo Ðội C, Tiểu Ðoàn 31PB, SÐ 3BB. Khi qua Mỹ định cư ở Houston, TX.


Nhận được tin nhắn hay ai biết tin xin liên lạc Nghiêm Hùng Lân, cell phone 949-293-9240 hay email: [email protected]. Rất mong tin.

Vàng Ðen (Kỳ 57)


“Vàng Ðen” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Dũng Tiến, được xây dựng trên những tư liệu cùng huyền thoại liên quan tới vùng “Tam Giác Vàng,” một trong những nguồn sản xuất và cung cấp thuốc phiện (“vàng đen”) lớn nhất thế giới. Ngoài việc viết văn, tác giả Nguyễn Dũng Tiến cũng là một trong những người Việt Nam đầu tiên có công gầy dựng vườn cây ăn trái cho người Việt ở xứ người. Ông hiện là chủ nhân vườn cây LA Mimosa Nursery, 6270 East Allston Street, Los Angeles, CA 90022-4546. Tel: (323) 722-4543. Ðược sự cho phép của tác giả, Người Việt hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết “Vàng Ðen” trên mục truyện dài của Nhật Báo Người Việt cũng như Người Việt Online.


 


Kỳ 57


 


-Trong đầu em lúc nào cũng tưởng anh có liên hệ với cô Na. Nửa tiếng trước em còn giẫy nẩy lên, cho rằng anh đi tìm cô Na. Chứ đâu có ai thù oán với cô ta để giết cô ta như vậy.


-Em muốn đi xem cô ấy chết.


Phong cay đắng:


-Xem để làm gì, em cũng đã biết trước rồi mà.


-Hu, hu, em phải làm sao cho anh tin. Hu, hu…


Cô nàng đã xỉu tức thì khi thấy xác của Na. Người cô nàng xanh xám làm Phong bỗng thấy ái ngại. Phải mười phút sau mầu xám xanh ấy mới biến dần. Mối ngờ vực của Phong cũng theo mầu xám bay đi.


Cái chết của Na đã đốt của Phong mất hai ngày. Phong đâm ngờ vực quanh quẩn, vì chỉ có người trong nhà mới có thể hạ thủ Na êm thắm như vậy, không một ai hay. Cuối cùng Phong ngờ là cô Lụa.


-Nếu em không làm chuyện đó, chẳng lẽ cô Lụa?


-Em cấm anh không được nói đến cô Lụa, cô em không bao giờ làm chuyện đó, lại nữa cô em không bao giờ muốn nhìn thấy máu trong nhà. Anh không được quyền nói đụng đến cô em.


Không ngờ phản ứng bảo vệ cô Lụa của Phong Sương lại mạnh như vậy, Phong đành dịu giọng:


-Vậy em lên cho cô Lụa hay, để xem phản ứng của cô ấy ra sao?


Khi nghe Phong Sương báo chuyện Na bị giết chết ở vườn sau nhà ghê gớm như thế nào, phản ứng của cô Lụa làm Phong nghẹn rõ.


-Vậy hả, vậy thì gọi tụi bên ngoài lo giải quyết ngay cái xác nó đi. Nói tụi nó làm cho khéo, đừng để lính hỏi vớ va, vớ vẩn. À này, cho chú làm vườn rửa sạch chỗ máu ấy đi, nhớ nói chú nhốt chó lại để cho tụi bên ngoài vào đem xác nó đi.


-Cô không nghĩ là ai à?


-Biết nó có gây thù, gây oán với ai ở đâu không mà nghĩ với ngợi.


-Người ở trong nhà này giết.


Phong Sương khẳng định.


-Ơ kìa, cô có ở đấy đâu mà cô biết ai giết, thôi đừng có nỡm, đi ngủ tiếp đi.


Tuy cô nói vậy, nhưng chính cô cũng không ngủ thêm nữa, đám bộ hạ của cô Lụa đã trình diện ngay sau đó và chúng giải quyết cái xác nhanh cũng như khi chúng đến. Một ngày mới lại tiếp tục.


Phong chận cái ngày mới đến ấy bằng một giấc ngủ cho đến hơn mười giờ sáng. Nỗi buồn bực làm Phong ù lì cả ngày hôm đó. Cứu thoát được một người đàn bà Việt Nam bị bắt cóc từ Mã Hồng Sơn về được đến Viên Chắn, lại để bị giết.


Ngày mới thứ hai, sau ngày Na bị giết, lại bắt đầu. Sau tách cà phê do Phong Sương mang đến, Phong gọi ngay Rật đến để cho chỉ thị phải làm. Phong Sương có vẻ e dè và tránh né Phong rõ ràng khi thấy cục đá đen ở trong trạng thái lầm lì, im lặng. Cô nàng không dám bám cứng Phong như vài ngày trước, để yên Phong cùng Rật thảo luận. Sau bữa cơm trưa tẻ nhạt, Phong gọi riêng cô nàng vào phòng.


-Chiều nay em có thể giúp anh một chuyện?


-Em làm liền, bất cứ chuyện gì anh muốn.


Cô nàng hăng hái nhận lời ngay dù chưa biết chuyện ấy sẽ là chuyện gì.


-Tối nay, anh và thằng Rật sẽ đi gặp một vài người anh em, anh muốn nhờ em chở anh và Rật đến đó.


-Thì anh chỉ việc nói em, em chở anh đi ngay, đâu cần phải giúp với đỡ.


-Em sẽ không chở anh đến tận chỗ anh muốn, vì tình thế này không thuận tiện cho anh.


-Có gì đâu mà không thuận tiện?


-Em không biết, cô Na bị giết như vậy cùng hai thằng nhỏ Lào của anh biệt tích, chắc chắn đó là một lời cảnh cáo cho anh, nhưng anh không biết bọn nào. Lát nữa, nếu anh có ló ra ngoài, thể nào cũng bị bám đuôi.


-Sao anh biết?


-Tụi nó nằm đầy vòng ngoài của biệt thự.


-Thủ hạ của em mà.


-Anh không chắc như vậy, thủ hạ của em không thể nào theo dõi trong biệt thự chằng chằng cả ngày như vậy.


-Hay là sau vụ cô Na bị giết, cô em đặt thêm thủ hạ cho bảo đảm.


-Tụi này đã nằm ngoài từ trước khi cô Na bị giết.


-Lạ nhỉ, để em hỏi cô em xem.


-Ðừng. Em lại quậy tùm lum lên hết.


-Vậy anh muốn em phải làm gì? Hay là em cho thủ hạ của em lùa hết tụi kia đi. Ðây là Viên Chắn của em mà, tụi nào dám làm loạn.


-Em không làm gì hết, chỉ cần tối nay, em lái xe ra khỏi biệt thự, đi một vòng rồi trở về. Dĩ nhiên, em sẽ bỏ tụi anh ở một khúc quanh thuận tiện nào đó trước khi về.


-Em cho thủ hạ theo xe mình cho chắc ăn.


-Không cần, em cũng chẳng cần phải chở anh đến tận địa điểm anh muốn. Anh muốn em đứng ngoài vụ này.


-Chứ em là gì của anh? Không phải vợ anh à?


Nhìn Phong Sương đăm đăm, Phong nói:


-Em à, mình đã nói trước với nhau, cả hai đều không có tương lai…


-Em biết, nhưng hiện giờ em là vợ của anh, em không để ai đụng vào anh hết.


-Trong mọi trường hợp, em có chịu giúp anh tối nay không?


-Em nhận lời rồi, nhưng…


-Em sẽ phải làm theo những gì anh nói. Em không được làm bất cứ những chuyện gì khác, đừng làm hỏng kế hoạch của anh.

Advanced Healthcare Pharmacy

 

Ông Ðoàn Văn Vươn vẫn bị vu tội ‘giết người’


HẢI PHÒNG (NV) –
Nhà cầm quyền thành phố Hải Phòng vẫn một giọng y hệt như nhà cầm quyền huyện Tiên Lãng đổ lên đầu ông Ðoàn Văn Vươn nhiều thứ tội, đồng thời loan báo “hoàn chỉnh hồ sơ” để truy tố anh em ông Vươn về tội “giết người.”










Ðoàn cưỡng chế gồm nhiều thành phần khác nhau chuẩn bị tấn công vào nhà anh em ông Ðoàn Văn Vươn. (Hình: Dân Trí)


Trong một bản thông cáo báo chí phổ biến trên báo điện tử Hải Phòng ngày 3 tháng 4, 2012, nhà cầm quyền thành phố loan báo những việc đã làm theo chỉ thị của ông thủ tướng.


Theo đó, nhà cầm quyền huyện Tiên Lãng thu hồi các quyết định “không đúng pháp luật” từ các quyết định “thu hồi diện tích đất giao nuôi trồng thủy sản đã hết thời hạn sử dụng” ban hành các năm 2008 và 2009, đến thu hồi quyết định cưỡng chế ngày 24 tháng 11, 2011.


Nhà cầm quyền huyện Tiên Lãng đòi cướp không đất, cướp không tài sản núp dưới những văn bản không có hiệu lực pháp lý để cưỡng chế, dẫn đến vụ nổ súng chống lại, làm 4 công an và 2 huyện đội bị thương nhẹ ngày 5 tháng 1, 2012.


Ông Ðoàn Văn Vươn (49 tuổi), người em Ðoàn Văn Quý (46 tuổi), người anh Ðoàn Văn Sịnh (55 tuổi), và người cháu Ðoàn Văn Vệ (38 tuổi) bị bắt giam ngay ngày hôm sau. Tất cả đều bị truy tố về tội “giết người” và “chống người thi hành công vụ” dù không có ai chết. Ðiều đáng nói là ông Vươn vào ngày đó còn đang cầm đơn đi khiếu nại không có mặt ở chỗ cưỡng chế, tương tự như bà vợ ông và vợ ông Quý.


Dù vậy, bà Nguyễn Thị Thương (vợ ông Vươn) và bà Phạm Thị Hiền (vợ ông Quý) vẫn bị truy tố về tội “chống người thi hành công vụ.”


Bản thông cáo báo chí của Hải Phòng lập lại những lời cáo buộc của huyện Tiên Lãng, đổ cho gia đình ông Vươn “lấn chiếm đất,” “phá rừng phòng hộ,” “cho thuê lại đất trái quy định,” không nộp thuế.


Những điều cáo buộc này, bà Thương đã gửi cho ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng lá đơn khiếu nại ngày 23 tháng 3, 2012, trình bày các chứng cứ cho thấy gia đình bà không làm gì trái luật. Bà cho hay nhà cầm quyền huyện Tiên Lãng vẫn cố tình làm ngược lại quyết định của thủ tướng. Bây giờ, thành phố Hải Phòng cũng làm như vậy.


Bản thông cáo báo chí của Hải Phòng nói rằng: “Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Hải Phòng đã khởi tố vụ án, khởi tố 8 bị can là: Ðoàn Văn Vươn; Ðoàn Văn Quý; Ðoàn Văn Sịnh; Ðoàn Văn Vệ; Ðoàn Văn Thoại; Phạm Thái về tội giết người. Phạm Thị Báu (vợ Ðoàn Văn Quý); Nguyễn Thị Thương (vợ Ðoàn Văn Vươn) về tội chống người thi hành công vụ. Áp dụng biện pháp tạm giam đối với 4 bị can (Vươn, Quý, Sịnh, Vệ); áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với 2 bị can (Báu, Thương); ra quyết định truy nã và tập trung các biện pháp truy bắt đối với 2 bị can (Thái, Thoại). Hiện các cơ quan chức năng đang hoàn chỉnh hồ sơ vụ án để truy tố các đối tượng trước pháp luật.”


Nếu không có những cái “quyết định” trái luật của nhà cầm quyền Tiên Lãng, đẩy người dân vào đường cùng thì đã không có sự chống đối. Rất nhiều bài phân tích, nhận định phổ biến trên Internet. Kể cả cựu chủ tịch nước, tướng lãnh cũng phải lên tiếng đòi hỏi công lý cho anh em ông Vươn. Dù vậy, họ vẫn bị truy tố, thay vì công nhận họ là những người có quyền tự vệ chính đáng.


Ngày 1 tháng 4, 2012, ông Vũ Ðức Ðam, chủ nhiệm Văn Phòng Chính Phủ, họp báo nói rằng việc xem xét giảm tội đối với ông Ðoàn Văn Vươn, thủ tướng đã kiến nghị với các cơ quan bảo vệ pháp luật.” Những gì đọc được trong bản thông cáo của Hải Phòng không có dấu hiệu gì thay đổi đối với tội danh cho nhóm người đang bị giam giữ.


Còn vụ án truy tố những kẻ đã đốt và phá 2 căn nhà của anh em ông Vươn, bản thông cáo nói công an thành phố đã “làm rõ được toàn bộ vụ án và hành vi của các đối tượng tham gia” nhưng tới giờ, ba tháng sau, vẫn chưa thấy “khởi tố bị can” và không thấy có ai bị bắt hay bị quy trách nhiệm.


Chỉ mấy ngày sau khu vụ cưỡng chế và san bằng hai căn nhà, vét sạch thủy sản dưới đầm, chủ chiếc xe ủi và tài xế đã gặp mặt một số ký giả kể cho biết họ đã được thuê bao nhiêu tiền, ai đứng ra thuê, lúc phá nhà, có mặt những ông quan nào của huyện Tiên Lãng và xã Vinh Quang.


Sự lề mề tránh né trong vụ việc này cho thấy những dấu hiệu cù cưa theo kiểu muốn lèo lái theo chiều hướng nào đó của nhà cầm quyền huyện và thành phố, tránh nhìn nhận tội lỗi của mình bằng cách đổ tội cho gia đình Ðoàn Văn Vươn.


Hệ thống báo chí “lề phải” rất hăng hái đưa tin từ khi bùng nổ vụ việc ngày 5 tháng 1, 2012. Nhờ đó, cùng với một số blogs đặc biệt là blog của nhà văn Nguyễn Quang Vinh, người ta mới biết được bản chất sự việc.


Nhưng ngày 30 tháng 3, 2012 vừa qua, tại “Hội nghị báo chí toàn quốc” tổ chức ở Quảng Ninh, Ðỗ Quý Doãn, thứ trưởng Thông Tin và Truyền Thông đã cáo buộc các báo nhà nước là “có bài báo, tờ báo thông tin sai sự thật, thiếu kiểm chứng, không khách quan, mang tính một chiều” khi đưa tin về vụ cưỡng chế ở xã Vinh Quang huyện Tiên Lãng “mặc dù đã được Ban Tuyên Giáo Trung Ương và Bộ Thông Tin và truyền thông 4 lần nhắc nhở, định hướng.”


Dù vậy “vẫn còn một số tờ báo thông tin quá liều lượng thiết…” Họ bị ông Doãn buộc tội là “nhấn mạnh sai phạm của chính quyền Tiên Lãng, Hải Phòng” mà “nương nhẹ những sai phạm, vi phạm của ông Ðoàn Văn Vươn…”


Nhiều phần vì vậy mà bây giờ, người ta chỉ thấy có một số tờ báo lập lại nội dung cái bản thông cáo báo chí của nhà cầm quyền Hải Phòng. (TN)

Mitt Romney toàn thắng ngày Thứ Ba


WASHINGTON (AP) –
Mặc dầu chưa kiểm phiếu đầy đủ và có kết quả chính thức, các quan sát viên đều đồng ý rằng ứng cử viên Mitt Romney sẽ thắng tất cả ba cuộc bầu cử sơ bộ trong ngày Thứ Ba ở Maryland, Wisconsin và thủ đô Washington, DC.










Ông Mitt Romney vẫy chào người ủng hộ tại The Grain Exchange ở Milwaukee, Wisconsin, sau khi thắng trong cả ba cuộc bầu cử sơ bộ ngày Thứ Ba. (Hình: Justin Sullivan/Getty Images)


Cho tới 8 giờ tối, giờ California, tại Maryland, với 68% phiếu đã kiểm, kết quả: Mitt Romney 47.3%, Rick Santorum 30%, Newt Gingrich 11.1%, Ron Paul 9.6%.


Tại thủ đô Washington, DC, với 78% phiếu đã kiểm: Romney 70.5%, Paul 12.1%, Gingrich 10.7%. Santorum không có tên trên lá phiếu ở đây vì chưa hoàn tất đầy đủ thủ tục quy định.


Tại Wisconsin, với 59% phiếu đã kiểm: Romney 42.3%, Santorum 37.8%, Paul 11.8%, Gingrich 6.1%.


Với kết quả ở ba nơi này, ông Romney sẽ có thêm được ít nhất 74 đại biểu và 21 đại biểu khác chưa được xác định chắc chắn.


Tổng cộng cho đến nay, số đại biểu ông Romney có được là 646, hơn phân nửa túc số cần thiết 1,144 để được đại hội đảng Cộng Hòa họp ở Tampa, Florida, vào Tháng Tám, đề cử làm ứng cử viên tổng thống chính thức. Ông Santorum mới có 272 đại biểu, ông Gingrich 135 và ông Paul 51.


Như vậy, coi như chắc chắn ông Mitt Romney sẽ là ứng cử viên tổng thống Cộng Hòa đối đầu với Tổng Thống Obama của Dân Chủ trong kỳ tổng tuyển cử Tháng Mười Một. Cả ba đối thủ của ông Romney trong đảng Cộng Hòa không thể nào lật ngược tình thế được nữa.


Ông Santorum chỉ có hy vọng cuối cùng là nếu chiến thắng tại Wisconsin, sẽ còn có khả năng tiếp tục cuộc tranh cử, ít nhất là về mặt tâm lý. Với thất bại hôm Thứ Ba, có lẽ sự rút lui của ông khỏi cuộc tranh cử chỉ còn là vấn đề thời gian. Trong khi đó, mặc dầu ông Gingrich và ông Paul nói sẽ tiếp tục tranh cử, nhưng thực tế hành động này chỉ còn tính cách tượng trưng. (HC)

Cư dân Westminster có thể trả tiền nước qua Internet


WESTMINSTER (NV) –
Kể từ nay, cư dân có thể thanh toán các hóa đơn tiền nước qua Internet của thành phố tại www.westminster-ca.gov. Ðể trả tiền nước, khi vào trang mạng trên, cư dân có thể nhấn vào chỗ ghi “Trả hóa đơn tiền nước trực tuyến” (Pay Your Water Bill Online).



Khách hàng cũng có thể gọi số 1-855-288-5234 để trả tiền qua điện thoại tự động.


Thành phố sẽ gởi tờ hướng dẫn hai cách trả tiền trên, kèm theo hóa đơn tiền nước, đến tận nhà của khách hàng bắt đầu từ tuần này. Trên trang mạng của thành phố cũng có hướng dẫn tương tự.


Mọi chi tiết, xin gọi điện thoại cho Phòng Tài Chánh của Ban Thủy Cục số 714-898-3311 ext. 4800. (L.N.)

Phong Trào Yểm Trợ Tự Do Tôn Giáo và Nhân Quyền báo cáo hoạt động


WESTMINSTER (NV) –
Ðại diện Hội Ðồng Ðiều Hành Trung Ương (HÐÐHTƯ), dưới sự chủ tọa của Hòa Thượng Thích Nguyên Trí, chủ tịch Ban Thường Vụ Hội Ðồng Chủ Tịch Trung Ương Phong Trào, vừa mở một cuộc họp báo lúc 11 giờ 30 sáng Thứ Hai, 2 Tháng Tư, tại Câu Lạc Bộ Văn Hóa và Báo Chí (nhà hàng Zen).



Mục đích buổi họp là để công bố Quyết Nghị của Hội Nghị Ðại Biểu HÐÐHTƯ; tường trình các hoạt động của phong trào, trong đó có việc trao Giải Dân Quyền cho năm nhà tranh đấu dân chủ quốc nội hôm Chủ Nhật tại Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương; và gặp gỡ đại diện các cơ quan truyền thông tại Little Saigon. Trong hình, từ trái, Hòa Thượng Thích Nguyên Trí, Linh Mục Nguyên Thanh và Giáo Sư Nguyễn Chính Kết tại cuộc họp báo. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

Gạo giả, làm bằng nhựa, xuất hiện ở Hà Nội


HÀ NỘI (NV) –
Sau khi người dân ở Sài Gòn phát giác ra loại gạo giả làm từ nilon và cao su bán trên thị trường thì người dân ở Hà Nội cũng mua phải loại gạo này.










Gạo nghi là giả được một người dân ở Hà Nội mua về. (Hình: Báo Dân Trí)


Theo báo Dân Trí, “nhiều người Hà Nội lên tiếng ‘tố’ rằng gạo giả bắt đầu xuất hiện tại một số quận nằm sát ngoại thành như Hoàng Mai, Thanh Trì…”


Báo này dẫn lời anh Duy Mạnh, hiện là sinh viên đang tạm trú tại ngõ 88 phố Giáp Nhị (phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai) kể rằng: Anh Mạnh đi mua 5 kg gạo được bày bán trên phố Giáp Nhị với mức giá 14,000 đ/kg. Loại gạo anh Mạnh mua ngày 16 tháng 3 có hình dạng dài và to hơn các loại gạo bình thường, gạo có màu trắng đục và bề ngoài bóng bắt mắt. Ngoài ra, gạo này không có mùi thơm đặc trưng của cám gạo, mà có mùi “lạ”, gần giống như mùi nhựa.


Theo lời anh Mạnh, khi nấu thành cơm, anh và một số người bạn cùng ở trọ phát hiện ra cơm không nở như các loại gạo bình thường, các hạt gạo rời rạc bất thường. Thay vì mùi thơm của cơm, cả nồi nồng nặc mùi nilon, xen kẽ mùi nhựa tổng hợp khó ngửi và không thể ăn.


Trước đó, cũng theo anh Mạnh, vào tháng 2, 2012 một số người bạn từng mua phải loại gạo có hình thức gần giống trên phố Giáp Nhị và cũng phải đổ đi vì mùi nilon nồng nặc, đặc biệt lúc vừa nấu xong.


Hiện anh Mạnh vẫn giữ lại gần 5 kg gạo bất thường và sẵn sàng cung cấp cho cơ quan chức năng làm mẫu kiểm tra.


Vẫn theo báo Dân Trí, “Trước khi nhận được những phản ánh của người tiêu dùng tại Hà Nội, vào tháng 2, 2011, một số người dân ở Sài Gòn cũng đã gửi đến nhiều cơ quan báo chí sản phẩm và hình ảnh về những loại gạo lạ.”


Tin tức mới nhất về loại gạo giả này, theo báo Tiền Phong hôm 3 tháng 4, dẫn lời ông Trương Quang Hoài Nam, cục trưởng Cục Quản Lý Thị Trường, Bộ Công Thương cho biết: “Ðến 16h ngày 3 tháng 4, lực lượng quản lý thị trường đã tiếp cận địa chỉ nghi bán gạo giả (gạo nilon, cao su) ở Hà Nội.”


Còn ông Nguyễn Trí Ngọc, cục trưởng Trồng Trọt, thuộc Bộ Nông Nghiệp cho biết, năm ngoái ở Sài Gòn cũng phát hiện loại gạo này là sản phẩm hỗn hợp của các chất nhựa dẻo, bột sắn, sản xuất theo phương pháp công nghiệp, cả trăm hạt như nhau, và hầu hết có nguồn gốc từ Trung Quốc. (KN)

Niềm ‘lạc quan’ của người đạp xe thồ

 


 


Phi Khanh/Người Việt


 


QUẢNG NAM – Câu chuyện bắt đầu từ lời than của một ông đạp xe thồ khi xăng lên giá, mọi thứ đều làm ông chóng mặt, và chóng mặt nhất là cái buổi trưa ông ráng sức đạp xe chở mẹ tôi từ chợ về đến ngõ thì xâm xoàng, ngã lăn ra.










Một người đạp xe thồ nghỉ trưa đợi khách. (Hình: Phi Khanh/Người Việt)


Hô hấp cho ông tỉnh dậy, câu đầu tiên ông nói là cho ông xin một ly nước đường và ổ bánh mì, đã hai ngày nay ông ăn nhịn, sáng nay ông nhịn nữa nên tụt huyết áp…


Và câu chuyện cũng bắt đầu từ sự tưởng tượng của vợ tôi về cuộc đối thoại của ông xe thồ với một ông khách: một buổi sớm như mọi buổi sớm, ông khách vi hành vào xóm lao động nghèo, không phải bằng phương tiện xe bus mà bằng xe thồ, sau một hồi tâm sự tỉ tê giữa khách và người đạp thồ, ông xe thồ mới than thở: “Không biết họ hàng ông bộ trưởng giao thông có ai từng đạp xe thồ không nhỉ, mà cái sách lược của ổng chẳng có lợi nào cho người xe thồ như chúng tôi, xăng lên giá, mọi thứ đều lên giá theo, lại thu phí xe hơi, xe gắn máy… mà xe đạp thồ thì cứ đói meo.”


Ông khách ngồi sau lưng cười khì khì bảo: “Nếu ông muốn có quyền lợi như những người kia thì mỗi năm đóng 300 ngàn, dễ ợt mà.” Ông xe thồ ngạc nhiên: “Nghĩa là sao?” Ông khách lại cười hì hì: “Thì xe máy đóng 500, xe đạp thồ đóng 300 là vừa! Có như vậy mới có cớ để tăng giá được chứ!” Ông xe thồ lắc đầu thở dài nói với ông khách: “Ông nói với cái luận điệu này rồi cũng giống ông bộ trưởng giao thông thôi.” Ông xe thồ nói đủ thứ, không hay biết “vị khách” ngồi sau lưng mình là người ông đang nhắc tới…


Cả hai câu chuyện trên đều phát biểu lên một hiện tượng duy nhất mà những người lao động nghèo ở Việt Nam đang phải nếm trải, cay đắng nhận lấy nó: giá xăng tăng, phí xe gắn máy đang đe dọa, người nghèo mất điểm tựa xã hội, mất sự cân bằng tâm lý để làm ăn sinh sống.


Trở lại vấn đề giá xăng tăng 2,100 đồng/lít kể từ ngày 7 tháng 3 năm 2012 kéo theo hàng loạt mắc xích xáo trộn trong kinh tế từ trực tiếp cho đến gián tiếp, từ người giàu cho đến người nghèo, từ anh taxi suốt ngày ôm vô-lăng mà kiếm lãi cho đến ông thầy chùa suốt ngày tụng kinh gõ mõ, chẳng bao giờ làm gì để kiếm lãi từ xăng.


Ðơn cử một ví dụ: Trước đây mỗi khi mời thầy đến nhà cúng, tụng kinh cầu siêu, cầu an… Ông chú của tôi chỉ cần cúng dường 500 ngàn đồng là đã thấy thanh thản và hợp lý rồi nhưng trong đợt giỗ ông nội tôi vừa rồi, chỉ sau ngày xăng tăng giá đúng một tuần, ông chú tôi phải cúng dường 1 triệu đồng và giải thích với thím tôi rằng do giá xăng tăng, phương tiện đi lại khó khăn, quý thầy thuê xe taxi tới nhà phải trả mức chi phí cao hơn, vả lại giá xăng tăng thì kéo theo hàng loạt vật giá khác cũng tăng, mua một miếng đậu hũ cũng tăng 1.3 giá, mua giấy viết sớ cũng bị tăng giá, mua một chai nước uống để mượt giọng mà tụng kinh cũng phải tăng giá…


Về chuyện những ông xe thồ, nghiệt nỗi, dù là đạp xe không tốn xăng nhưng ông xe thồ nào cũng phải ăn, phải uống, phải nạp năng lượng (cũng giống như chiếc xe máy nạp xăng vậy) vào bụng thì mới có cái để mà tiếp tục cong lưng đạp, gồng mình chịu nắng chịu gió kiếm vài đồng mua gạo. Chính cái chỗ kiếm vài đồng mua gạo ấy mà mối tương tác xã hội của ông xe thồ lại phụ thuộc hoàn toàn vào việc xăng lên giá, mua một bó cải, con cá, một cái trứng, một xị rượu gạo, một ký gạo, một bó củi hoặc một bình gas… Tất cả mọi thứ ấy đều lên giá. Và một khi mọi thứ đều lên giá thì cơ hội tồn tại ổn định của người đạp xe thồ lại rơi vào điểm cực thấp.


Khi xăng tăng giá, những hãng taxi, xe bus, xe đường dài, tàu hỏa, máy bay… thậm chí xe ôm cũng đều tăng giá vé/cước từ 3% đến 5%, có chỗ còn tăng đến 10%, 20%. Riêng xe thồ, cyclo thì hoàn toàn không tăng giá. Không phải vì họ không muốn tăng giá, không phải vì nhu cầu của họ không bị trượt giá theo thị trường, mà vì cơ hội tăng giá của họ rất mong manh, có nguy cơ ảnh hưởng đến nghề nghiệp, ảnh hưởng đến cái cơ hội cuối cùng là bán mồ hôi kiếm cơm qua ngày. Bởi lẽ, dù gì đi nữa, đi xe thồ cũng chỉ là thói quen của người nghèo, người có thừa thời gian nhưng lại có ít tiền. Nếu tăng giá, hoặc là họ không đi nữa, hoặc là những bạn hàng quen thuộc vốn một xe thồ, hai xe thồ lại bị bóp nhỏ một phần chi tiêu của họ để dành cho việc đi xe.


Xét trên góc độ nào, những người bán sức lao động, bán mồ hôi kiếm ba bữa cơm vẫn bị thiệt thòi nhiều nhất sau khi xăng tăng giá, thị trường biến động, đồng tiền trượt giá. Ðâu là giải pháp cho những người nghèo bớt khổ? E rằng câu hỏi này là một “nan đề hãy đợi đấy…”!


Và câu chuyện ông xe thồ bị ngất xỉu do nhịn ăn dài ngày để dành dụm tiền cho con ăn học, mới nghe thấy lạ, nhưng với đà mọi thứ đều tăng giá theo xăng, với đà xã hội vẫn có nhiều người sẵn sàng bỏ ra vài ba trăm triệu để đóng phí giao thông cho vài ba con xe “đắp mền,” và xã hội vẫn có nhiều người dùng xe gắn máy làm phương tiện sinh nhai, vẫn còn nhiều người không mua nổi xe gắn máy, phải đạp xe thồ… Thì những ông xe thồ vẫn có quyền lạc quan, vì rồi đây, người ta sẽ trở lại thời kỳ của xe thồ đạp, cyclo đạp.


Nhưng sự lạc quan ấy có thành hiện thực hay không và bao giờ? Bởi lẽ hiện tại thì các ông xe thồ vẫn phải chật vật kiếm cái ăn mà đợi ngày “vàng son” ấy!

Cháy ở Moscow, chết 17 người ngoại quốc


MOSCOW (AP) –
Một vụ hỏa hoạn xảy ra tại ngôi chợ Kachalovsky ở khu phía Ðông Nam Moscow lúc 5 giờ sáng Thứ Ba làm thiệt mạng 17 công nhân từ Trung Á.










Trực thăng cứu hỏa thả nước chữa cháy tối Thứ Hai ở tòa nhà dự trù sẽ là cao nhất Âu Châu (1,150 feet) ở Moscow, cách điện Kremlin 1.2 dặm về phía Tây. (Hình: Lev Maslov/AFP/Getty Images)


Lửa bắt cháy qua một kho nơi công nhân nằm ngủ trên giường hai tầng và mái nhà sụp đổ làm kẹt đường thoát ra ngoài. Ông Sergei Gorbunov, chỉ huy Sở Cứu Hỏa Moscow, nói rằng chỉ có một cửa duy nhất từ khu các công nhân tạm trú đi ra một nhà kho kế cận. Hơn hai giờ sau, ngọn lửa mới được dập tắt, 17 công nhân thiệt mạng.


Người ta chưa rõ nguyên nhân, nhưng các nhân viên điều tra nghi là có thể do chạm điện ở máy sưởi vì đêm trước trời có tuyết rơi.


Hàng triệu công nhân từ các nước cộng hòa Trung Á như Tajikistan, Uzbekistan, Kyrgyzstan đến Moscow tìm việc làm trong công tác xây dựng hoặc buôn bán ở các khu chợ.


Nga từng bị nhiều tai tiếng về an toàn hỏa hoạn. Năm ngoái, Nga có khoảng 12,000 người chết vì các vụ cháy trên toàn quốc.


Trước đó một hôm, một trận hỏa hoạn dữ dội xảy ra ở tầng trên của Federation Tower, tòa nhà cao nhất nước Nga với 93 tầng đang được xây cất ngay trung tâm thành phố Moscow, dự trù hoàn thành năm 2013.


Ðài truyền hình Rossiya 24 nói lửa lan rộng tới 300 mét vuông vì cháy tới những chất xốp để giữ độ ấm dễ cháy. Một trực thăng cứu hỏa Ka-32 được điều động tới và mấy giờ sau ngọn lửa được dập tắt, và không có trường hợp thương vong nào. (HC)

Thêm một nữ điệp viên Nga bị FBI bắt


WASHINGTON (ABCNews) –
Một nữ điệp viên Nga đã tiến tới mức “quan hệ đủ gần gũi” với một thành viên nội các Hoa Kỳ khiến cho FBI nhận thấy cần phải nhào tới bắt giữ, các giới chức công lực liên bang cho biết như vậy hôm Thứ Ba.










Anna Chapman, nữ điệp viên Nga nổi danh bị Hoa Kỳ trục xuất để trao đổi với một người khác năm 2010, hiện nay làm người mẫu ở Moscow. (Hình: AP/Misha Japaridze)


Ông Frank Figliuzzi, giám đốc phản tình báo FBI, trong cuộc phỏng vấn của truyền hình BBC, nói: “Chúng tôi cảm thấy không để cho tình trạng như thế tiếp tục được nữa.” Tuy nhiên, ông không nêu danh điệp viên này mặc dầu BBC chiếu lên hình ảnh của Anna Chapman, và FBI cho biết sẽ không bao giờ nói tới chuyện ấy.


Nhưng các giới chức Bộ Tư Pháp Mỹ cho ABC News biết người mà ông Figliuzzi đề cập là Cynthia Murphy.


Theo hồ sơ pháp lý về vụ bắt giữ các điệp viên, cô Murphy có tiếp cận với ông Alan Patricof, một viên chức gây quỹ “bạn thân” của Ngoại Trưởng Hillary Clinton. Trong lời giải thích năm 2010, ông Patricof nói đã dùng dịch vụ tài chính của văn phòng Murphy từ hơn hai năm trước, nghĩa là trước khi bà Clinton làm ngoại trưởng, và có gặp Murphy ít lần cũng như thường nói chuyện với cô qua điện thoại. Ông khẳng định là “không bao giờ” nói đến chính trị, chính phủ hay các vấn đề thế giới.


Một phát ngôn viên của bà Clinton nói với ABC News năm 2010 là vào lúc đó “không có lý do gì để nghĩ rằng ngoại trưởng là một mục tiêu của mạng lưới gián điệp ấy.”


Hồ sơ pháp lý cũng cho biết trước khi FBI quyết định tiến hành vụ bắt giữ Murphy, một điệp viên FBI hoạt động ngầm đã tiếp cận với nữ điệp viên Chapman và thấy đáng báo động. Tuy nhiên, phát ngôn viên Paul Bresson của FBI cho rằng “không có luận điệu hay gợi ý nào trong vụ này là Chapman hay người nào khác có liên hệ với vụ điều tra việc mưu toan quyến rũ viên chức chính phủ.”


Sau khi bị bắt, các “ma nữ” được trả về Moscow đổi với việc phóng thích một người Mỹ đang bị Nga giam giữ. Từ khi về nước, Anna Chapman nổi danh khi trở thành điều hợp viên truyền hình cũng như gần đây làm người mẫu. (HC)

Tự do không sợ hãi

 


Ngô Nhân Dụng


 


Tại cố đô Pagan xứ Miến Ðiện (Myanmar), giữa hàng chục ngàn bảo tháp, ngôi tháp Manuha có một sự tích đặc biệt. Vua Anawrahta trị vì vương quốc Pagan hùng mạnh nhất trong thời đó đã quy y đạo Phật theo truyền thống Bắc Tông.


Ông yêu cầu Manuha, một vị vua người Môn ở phía Nam phải thần phục và cống tiến tam tạng kinh điển Nam Tông; nhưng không toại nguyện. Anawrahta tấn công, bắt Manuha cầm tù, vẫn đối đãi như hàng vương giả. Mấy năm sau Manuha đã xin phép Anawrahta cho mình xây một bảo tháp mới làm nơi thiền định và được chấp thuận. Ngày nay du khách vào thăm di tích Bảo Tháp Manuha tại Pagan được chiêm ngưỡng một tượng Phật nằm rất đẹp. Nhưng ai cũng phải ngạc nhiên là gian phòng bên trong ngôi tháp quá nhỏ, pho tượng Phật như bị bó chặt giữa mấy bức tường kín bưng.


Năm 1059 Vua Anawrahta được mời tới khánh thành ngôi bảo tháp, ông bước vào, chắc cũng phát sinh cảm giác đó. Và ông hiểu ngụ ý của Manuha: Phật cũng như người ta, không thể sống trong tù ngục, không được tự do.


Tổng Thống Thein Sein chắc còn nhớ và muốn bắt chước bài học của vua Anawrahta, cho nên ông cũng bắt đầu thả các tù nhân của ông, 60 triệu dân Myanmar, cho họ được sống tự do hơn. Cuối tuần qua, dân Miến Ðiện đã bỏ phiếu bầu bổ túc 45 ghế đại biểu Quốc Hội. Họ thật sự được tự do chọn lá phiếu, cho nên đảng đối lập Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ (National League for Democracy, NLD) thắng hầu hết các đơn vị; trong đó có bà Aung Sang Suu Kyi. Ðảng NLD thắng cả 4 ghế đại biểu ở thủ đô mới lập Naypyitaw, là nơi hầu hết dân cư là công chức lãnh lương chính phủ, và gia đình họ. Nếu chính quyền Thein Sein giả dối vì còn nuôi tham vọng kéo dài chế độ độc tài quân phiệt thì khó có kết quả như vậy.


Dân Myanmar như đã sống lại. Người ta reo hò mừng rỡ. Tại trụ sở đảng NLD, vào buổi tối Chủ Nhật nóng bức, các thanh niên nhẩy múa ngoài đường, đầu tóc họ cũng nhuộm mầu mè như giới trẻ khắp nơi. Các nhà sư đứng ngắm mỉm cười, tay phe phẩy cái quạt. Nhiều gia đình mang theo cả con nhỏ đến ăn mừng: Dân Chủ đã thắng Ðộc Tài!


Ðây là lần thứ ba dân dân Myanmar đi bầu trong nửa thế kỷ. Năm 1962 các tướng lãnh đã cướp chính quyền, dẫn cả nước đi theo một thứ Chủ Nghĩa Xã Hội bế tắc, như các nước xã hội chủ nghĩa khác. Năm 1990 họ cho dân bỏ phiếu lần đầu, và đảng NLD đã thắng lớn, chiếm 59% số phiếu bầu và 392 trong số 485 ghế đại biểu; mặc dù bà Suu Kyi đã bị bắt giam từ năm trước. Bà từng sống ở ngoại quốc nhiều năm, chỉ về nước năm 1988 để trông nom mẹ già đang bệnh nặng. Ðứng trước cảnh nghèo đói và áp bức do chế độ độc tài gây ra cho dân, bà quyết định ở lại cùng đồng bào đứng lên đòi tự do dân chủ. Bà bị giam cầm hơn 15 năm; chính quyền mặc cả sẽ trả tự do nhưng bà phải đi ngoại quốc, bà từ chối. Cứ như thế, chính quyền quân phiệt tiếp tục cai trị Myanmar với một guồng máy tham nhũng và những chính sách ngu dốt, bất lực thêm 20 năm nữa, trong khi đảng NLD bị cấm hoạt động, các người lãnh đạo bị bắt giam. Dưới chế độ độc tài dân Myanmar không có tự do báo chí, không được tự do hội họp; bị cả thế giới văn minh tẩy chay, nhóm người cầm quyền chỉ trông cậy Trung Quốc ủng hộ. Năm 2010, Tướng Thein Sein cởi bỏ áo lính, trở thành vị tổng thống “dân sự” đầu tiên. Chính quyền tổ chức bầu cử lần thứ nhì, nhưng đảng NLD tẩy chay không dự vì bà Suu Kyi vẫn bị cấm tranh cử.


Thein Sein đã bày tỏ thiện chí dân chủ hóa bằng nhiều bước, để thuyết phục phe đối lập và thế giới là tiến trình dân chủ hóa là một sự thực, chứ không phải chỉ có bề ngoài để được các nước Tây phương bãi bỏ phong tỏa kinh tế. Ông đã trả tự do cho bà Suu Kyi và các lãnh tụ đối lập. Cho báo chí được tự do, ngưng kiểm soát cả Internet. Làm luật cho dân được phép biểu tình; công nhân được phép đình công, và được tự do thành lập công đoàn. Mỗi bước của chính quyền Thein Sein được bà Suu Kyi và các nước Tây phương đáp lại bằng hành động hợp tác tương ứng.


Từ năm ngoái, Myanmar bắt đầu sống trong một không khí chính trị mới, trong tinh thần tin cậy và hợp tác. Bà Suu Kyi xứng đáng là người lãnh đạo khi thẳng thắn và thành tâm cộng tác với những kẻ đã giam cầm mình. Bà nói với các đồng chí đã bị tù đầy: “Chúng ta không thể quên quá khứ. Nhưng không nên chỉ nhớ về quá khứ để nuôi hận thù.” Bà công nhận trong chính quyền quân phiệt cũng “có những người muốn làm điều có ích lợi cho quốc gia.” Không phải ai trong bọn họ cũng muốn dân chủ hóa, “Nhưng trong phong trào dân chủ có phải ai cũng muốn cộng tác với họ đâu? Ðó là điều bình thường trong chính trị.”


Thái độ ngay thẳng, chân thành và đức độ của bà Suu Kyi là nền tảng giúp cho dân tộc Myanmar bắt đầu xây dựng dân chủ. Ðiều gì đã khiến bà sẵn lòng cộng tác với một chế độ đã bỏ tù mình và đàn áp dân như vậy? Vì bà không sợ hãi. Năm 1990, Suu Kyi đã viết một bài chính luận: Tự do không sợ hãi.


Suu Kyi nhìn lại các đồng bào của mình, bà nói: Người dân Miến Ðiện nào cũng biết có bốn con đường lầm lạc, a-gati. Thứ nhất là Chanda-gati, sai lầm do lòng Tham. Dosa-gati do Sân hận. Moga-gati do Ngu si. Nhưng tai hại nhất là sai lầm vì Sợ: Bhaya-gati. (Bốn đường tà này cũng tương tự “Bốn mũi tên độc” trong truyền thống Bắc Tông: Tham, Sân, Si và Mạn). Suu Kyi ca ngợi Thánh Gandhi: Cống hiến lớn lao nhất của Gandhi cho dân tộc ông là khơi dậy tấm lòng không sợ hãi. Gandhi đã tìm học lại truyền thống Ấn Ðộ, và nhận ra, “Thiên khiếu lớn nhất của một cá nhân hay một dân tộc là abhaya, tấm lòng không sợ hãi.”


Áp dụng vào hoàn cảnh dân tộc Miến Ðiện đang chịu cách áp bức, bất công, bà nói: “Chúng ta có thể đều có những hạt giống không sợ hãi, nhưng đáng quý hơn nữa là có được tấm lòng can đảm nhờ rèn tập, không để cho lòng sợ hãi chi phối các hành vi của mình… Trong một chế độ từ chối không công nhận các quyền căn bản của con người, sợ hãi dễ trở thành một thói quen bình thường. Tai hại nhất là người ta che đậy lòng sợ hãi của mình, biến thành một thái độ thường tình, có khi lại coi là khôn ngoan. Người ta sẽ chê bai những người dũng cảm là khờ dại, là liều lĩnh, khi họ biểu lộ những hành động can đảm, dù nhỏ nhặt, để bảo vệ phẩm giá con người và lòng tự trọng.”


Suu Kyi ca ngợi các sinh viên biểu tình trong những năm 1988, 89, vì họ muốn xã hội phải có luật pháp công bằng. “Pháp luật công bình không phải chỉ ngăn không cho người dân bị đối xử oan ức. Chúng còn giúp nuôi dưỡng một xã hội trong đó mọi người có thể được hưởng những điều kiện căn bản tối thiểu để bảo vệ phẩm giá con người…” Cuộc cách mạng quan trọng nhất, Suu Kyi nói, là một cuộc cách mạng tinh thần; do “Một cuộc cách mạng nếu chỉ nhắm thay đổi các chính sách và định chế chính trị để cải thiện đời sống vật chất thì khó thành công đích thực.”


Cuộc cách mạng mà Suu Kyi theo đuổi đang bắt đầu. Ðảng cầm quyền của các vị tướng và tướng về hưu vẫn chiếm đa số trong Quốc Hội gồm 664 ghế; trong đó Hiến Pháp dành một phần tư số đại biểu cho các ông tướng chọn. Ðảng NLD sẽ đóng vai đối lập với một số ghế rất nhỏ. Nhưng đây vẫn là một thắng lợi. Không riêng gì cho bà Suu Kyi mà cho toàn thể 60 triệu dân. Bước đầu tiên trên tiến trình dân chủ hóa đã thành công. Ba năm nữa, Quốc Hội sẽ được bầu lại, và lúc đó hy vọng sẽ dân chủ hóa thực sự.


Một điểm đáng khen ngợi phe các tướng lãnh là họ đã ý thức được là không thể nào kéo dài chế độ độc tài mãi mãi. Khi ngay ở thế giới Á Rập cách mạng cũng bùng lên thì phong trào dân chủ sẽ còn lan rộng mãi. Họ nhận ra quyền lợi của chính họ và gia đình họ chỉ được bảo đảm lâu dài nếu mọi người Miến Ðiện được sống trong một xã hội với luật pháp công bằng. Mà muốn được như vậy, chỉ có một cách là mở con đường xây dựng một thể chế dân chủ tự do.


Giới quân phiệt cũng chỉ thay đổi thái độ dưới áp lực của dân chúng biểu tình chống Trung Quốc. Trung Quốc đã lôi kéo được chính quyền quân phiệt rơi vào quỹ đạo của họ. Các công ty Trung Quốc tha hồ khai thác mỏ, rừng, đá quý của Myanmar. Họ mở các hải cảng và quân cảng trong vùng vịnh trông qua Ấn Ðộ. Họ khai thác dầu, khí của Myanmar, lại đặt ống dẫn dầu kéo qua xứ này để chuyên chở dầu nhập cảng từ Trung Ðông và Phi Châu về thẳng Vân Nam, khỏi qua eo biển Malacca. Dân Myanmar bất mãn đã đặt bom phá đập thủy điện Myitsone vào tháng 10 năm 2010. Năm sau, chính quyền quân phiệt phải đình chỉ dự án trị giá 3.6 tỷ đô la này, để chứng tỏ họ biết chiều theo ý dân. Ðó cũng là một tín hiệu đưa ra để được bà Suu Kyi tin tưởng rằng họ cũng là những người yêu nước. Chế độ quân nhân ở Myanmar tuy cũng đàn áp dân nhưng họ không phá hủy nền văn hóa cổ truyền. Các lãnh tụ quân phiệt vẫn đi lễ chùa, cùng dường chư tăng, chứ họ không tôn thờ một chủ nghĩa duy vật ngoại lai nào. Vì vậy, người ta còn sẵn lòng tin nhau.


Nhưng điều đáng lo ngại là hiện nay cả diễn trình dân chủ hóa tùy thuộc vào hai cá nhân. Bà Suu Kyi đã 66 tuổi, mới bị xỉu ba lần trong thời gian đi vận động tranh cử. Ông Thein Sein cũng 67 tuổi, đang bị bệnh tim. Vì hai người này tin ở thiện chí và tình yêu nước của người kia, cho nên mọi việc tiến hành tốt đẹp. Nếu một trong hai người qua đời trong năm, ba năm sắp tới thì không biết con đường dân chủ hóa sẽ ra sao? Trong hàng ngũ tướng lãnh vẫn có những người bảo thủ, ngoan cố. Như Suu Kyi nói năm 1990: “Không phải quyền hành làm người ta thối nát, mà là lòng sợ hãi. Những người đang nắm quyền sợ mất quyền. Những người đang run sợ trước cường quyền cũng bị nỗi sợ làm đồi trụy.” Cho nên, bà công nhận: “Con đường trước mặt còn đầy khó khăn. Con đường dân chủ hóa sẽ rất dài.”


Xây dựng một đất nước là con đường rất dài. Vào thế kỷ thứ 11, Vua Anawrahta đã hòa giải với Vua Manuha. Sau đó sắc dân dựng lên vương quốc Pagan, gốc Tầy Thái từ Vân Nam tới, đã chung sống hòa hợp với dân Môn, một sắc tộc Nam Á vốn chung gốc rễ với người Khmer, người Mã Lai (và một phần cả người Việt Nam thời cổ). Họ đã xây dựng một nền văn minh mới, tổng hợp các thành tựu của nhiều giống dân, tất cả cùng theo Phật Giáo Nam Tông, tạo thành dân tộc Miến Ðiện sau này. Tương lai dân tộc Miến Ðiện trong thế kỷ 21 sẽ là con đường dân chủ hóa. Ðường còn xa, nhưng chắc họ không sợ, vì đã có một nền tảng tinh thần vững chắc.

Bão lốc lớn tràn qua Dallas


DALLASS/FORT WORTH (AP) –
Nhiều cơn bão lốc quét qua vùng thành phố Dallas hôm Thứ Ba làm tốc mái nhà, lật đổ nhiều xe tải trên bãi đậu và dọc theo xa lộ.










Xe hơi và xe trailer bị tàn phá tại bãi đậu xe ở Lancaster hôm Thứ Ba, sau khi cơn bão lốc quét ngang. (Hình: AP/Tony Gutierrez)


Cơ quan Thời Tiết Quốc Gia nói rằng ít nhất hai trận bão lốc rất lớn và cực kỳ nguy hiểm đã đi ngang phía Nam Dallas và Fort Worth gây nhiều tổn thất. Cũng có nhiều cơn bão lốc nhỏ khác trong khu vực và cho đến nay người ta chưa thấy có báo cáo về tổn thất nhân mạng.


Phóng sự truyền hình cho thấy một cột mây lớn đi thấp ngang qua một giao lộ của hai xa lộ liên bang 20 (Dallas-Fort Worth) và 35 (Houston-Dallas) chiều Thứ Ba. Nhiều nhà cửa bị san bằng, những vật liệu vỡ nát bay rải rác khắp nơi, cây cối đổ ngã và nhiều xe hơi lật bên đường hay bị cuốn ra xa tới các hàng rào.


Nữ phát ngôn viên Dallas County nói với phóng viên AP rằng tổn thất vật chất rất lớn, nhưng chưa thể nào kiểm kê đầy đủ.


Học Khu Arlington, tọa lạc giữa Dallas và Fort Worth, cho biết tất cả học sinh ở đây đã được di tản kịp thời vào nơi ẩn trú và nhiều trường bị cúp điện cho học sinh về nhà sau đó. (HC)

Tin mới cập nhật