Nguyễn Thị Thu
Tôi sang Mỹ đã lâu, từ 1986, nhưng phần vì bận chuyện gia đình, phần lo điều hành một cơ sở thương mại nhỏ, lại còn tham gia công tác thiện nguyện (dạy Việt ngữ) vào mỗi Chủ Nhật, nên hầu như không có thì giờ nghĩ đến chuyện nào khác.

Nguyễn Thị Thu, tác giả. (Hình: Tác giả cung cấp)
Cho đến một hôm, cách đây 5 năm, tôi có dịp tham gia và góp bàn tay nhỏ nhoi cùng một số cựu học sinh và thầy cô vào công việc tổ chức và thành lập Ban Ðại Diện Lâm Thời cho trường Văn Ðức tại Hoa Kỳ.
Trước đó, thỉnh thoảng tôi vẫn nghe hội ái hữu trường này trường nọ tổ chức họp mặt. Tôi cứ tự nghĩ, không biết có học sinh hay thầy cô nào của Văn Ðức ở đây (California) hay không, và ước ao có dịp gặp lại hay điện thoại liên lạc với những đồng nghiệp và học sinh cũ, để hỏi thăm cho biết tình hình trường xưa và sức khỏe của mọi người, cho thỏa tình mong nhớ.
Mộng ước của tôi không ngờ lại thành sự thật!
Một ngày, vào Tháng Bảy, 2007, tôi nhận được điện thoại của thầy Nguyễn Văn Thắng, từ Santa Ana. Thầy gọi và mời tôi đến nhà vào Chủ Nhật tuần sau để gặp một vài học sinh cũ của trường Văn Ðức lúc trước tôi đã dạy. Mừng làm sao khi nghe tiếng nói quen thuộc của thầy, và lại còn được biết sẽ gặp lại một số học trò cũ. Qua điện thoại, thầy nhắc đến những tên như Ngô Long Hải, Ðinh Trịnh Kiểm, Lê Thị Diễm Huyền… Mặc dù tôi không chắc chắn là sẽ nhớ mặt các em (đã hơn 30 năm rồi còn gì), những kỷ niệm về ngôi trường thân yêu, về các học sinh, về những vui buồn của cuộc đời dạy học ở Văn Ðức lại dồn dập trong lòng, khiến tôi nao nức và hồi tưởng lại quãng đời đã qua nay hiện lại như một cuốn phim quay chậm…
Kỷ niệm Văn Ðức 1976-1982
Không biết thời gian có chính xác hay không, nhưng tôi nhớ là tôi bắt đầu nộp đơn ở Sở Giáo Dục khoảng tháng 10, 1976 để xin đi dạy học. Lúc đó tôi không thể tiếp tục đến học tại Ðại Học Khoa Học nữa (sau 75, học trình thay đổi, sinh viên học thì ít mà học ca hát và chính trị thì nhiều, một số đồng môn đã bỏ trường ra đi…). Khoảng 3 hay 4 tháng sau, tôi được bổ nhiệm về trường Văn Ðức, dạy Lý Hóa. Từ trước đến nay tôi chưa phải đi làm cho ai, mặc dù trong thời gian còn học ở Lê Văn Duyệt hay sau này ở Ðại Học Khoa Học, ở nhà mỗi khi rảnh rỗi, tôi phụ bán thuốc Tây cho tiệm thuốc của chị tôi. Ngày đầu tiên đến trình diện với thầy Hiệu Trưởng Trần Ðức Hợp, tôi được thầy cho dạy lớp 7 và 8.
Ngày đầu tiên vào lớp 7, có khoảng 50-60 học sinh nam và nữ học chung, tôi rất hồi hộp vì chưa đi dạy và đứng trước đám đông bao giờ. Tôi di chuyển trong lớp, lúc nào cũng biết chắc là có 50 cặp mắt đang theo dõi mình. Vì hồi hộp, trong những giờ học vài ngày đầu, tôi thường đứng cả buổi, không dám ngồi xuống. Giờ chơi, vì chưa quen với những thầy cô khác, tôi hay ngồi trong lớp học để tránh mặt đồng nghiệp của mình. Tôi còn giữ lại một vài kỷ niệm về sự tinh nghịch của học trò mà tôi tin chắc có vài đồng nghiệp (mới nhập môn như tôi) có thể cũng đã trải qua. Có lần tôi cho điểm thấp một em học sinh về bài làm Lý-Hóa trong lớp, ngày hôm sau tôi bị một học sinh (hay một nhóm?) nào đó, bôi kẹo cao su (chewing gum) vào ghế và khi vào lớp tôi vô ý ngồi xuống, làm hư cả chiếc áo dài của mình.
Kỷ niệm thứ hai là bánh xe gắn máy của tôi bì xì hơi vì cho học sinh điểm thấp… Không biết câu ngạn ngữ “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò” có đúng không, tôi nghi việc bôi gum chắc phải là tác phẩm của vài học sinh lớp Lý-Hóa do tôi phụ trách.
Ngoài ra tôi còn nhớ, có lần tôi đã phải ngồi khóc trong lớp vì học trò không chịu nghe giảng mặc dù tôi đã khuyên bảo. Dầu sao đi nữa, theo ý kiến của riêng tôi, những kỷ niệm đó cũng nhẹ nhàng và còn mang tính chất “tinh nghịch” của tuổi học trò chứ không như bây giờ, khi đạo đức xã hội Việt Nam ngày càng suy đồi.
Dạy đến năm 82 thì tôi tìm cách vượt biên. Sau ba lần thất bại, tôi đến Mỹ năm 1986, lập gia đình, có con cái, mở một cơ sở thương mại nho nhỏ và cuộc sống ổn định từ đó.
Kỷ niệm Văn Ðức 2007 đến nay
Trở lại chuyện họp mặt lần đầu với ba học sinh Hải, Huyền và Kiểm. Sáng Chủ Nhật hôm đó, ngày 14 Tháng Mười 2007, tôi đến nhà thầy Thắng thì được thầy giới thiệu hai học sinh cũ, đã có mặt chờ tôi ở đó, và một học sinh đến sau.
Tôi nhận ra ngay hai em Hải và Huyền mặc dầu hai em không còn ở tuổi thanh niên như xưa. Hơn 30 năm đã trôi qua, trông các em chững chạc và nét mặt cũng đã có nhiều thay đổi. Tôi nhớ Huyền nhiều hơn vì khi xưa em học giỏi (bây giờ cũng vẫn còn học giỏi) và lại là trưởng lớp. Còn Hải là một học sinh ngoan và chăm, được thầy cô quý mến.
Khoảng nửa tiếng sau thì Kiểm đến, mang theo thức ăn cho buổi họp mặt. Kiểm cũng không khác xưa bao nhiêu, vẫn nhanh nhẹn, hoạt bát. Em cũng là một học sinh giỏi và từng giữ vai trò trưởng lớp như Huyền. Bữa tiệc được điểm xuyết với những món ăn ngon do các học sinh mang lại và có nhiều món do hiền thê của thầy Thắng khoản đãi. (Tôi thích nhất món gà rút xương thật ngon do chị Thắng làm.) Trong bữa tiệc, thầy trò bàn đến chuyện họp mặt lần sau vì còn nhiều học sinh và thầy cô Văn Ðức muốn hội ngộ.
Kỳ họp mặt lần 2 (26 Tháng Bảy, 2009) ở nhà tôi (North Hollywood) có những học sinh cũ (trừ Kiểm) nêu trên, và thêm hai học sinh mới là em Hoàng Anh Tuấn và Chu Bá Ðịnh (và con trai của Ðịnh).
Ðịnh ít nói, còn Tuấn thì vẫn liếng thoắng, lại còn thành thạo rất nhiều chuyện, và có biệt tài nói tiếu lâm khiến mọi người cười nghiêng ngả. Trong lần họp mặt này, Tuấn cho biết đã liên lạc được với nhiều học sinh, không những ở khắp nơi trên nước Mỹ, mà còn ở Việt Nam nữa. Các học sinh này cùng Tuấn và Hải muốn thành lập một tổ chức để liên lạc và tương trợ lẫn nhau. Ngoài ra Tuấn và Hải cũng đã thành lập một website làm nhịp cầu liên lạc với các đồng môn và thầy cô khắp nơi trên thế giới.
Ý tưởng thành lập Ban Ðại Diện khởi đầu từ đó. Dĩ nhiên tôi và thầy Thắng chia sẻ sự hiểu biết, kinh nghiệm về tổ chức với các em, đồng thời chúng tôi ủng hộ ý kiến đó và khuyến khích các em tiến hành việc thành lập.
Hội Ngộ Văn Ðức Kỳ 1 (5 & 6 Tháng Chín, 2009)
Nếu các thầy cô hay các em học sinh muốn biết đầy đủ thông tin về cuộc hội ngộ Văn Ðức kỳ I, xin xem bài viết của thầy Nguyễn Văn Mỹ, tựa đề “Văn Ðức Ðó Ðây,” đăng trên trang Web của trường. Riêng tôi, chỉ xin ghi thêm một vài kỷ niệm cá nhân trong dịp gặp mặt ngày hôm đó.
Ngày Thứ Bảy, 5 Tháng Chín, 2009 là ngày đánh dấu sự thay đổi lớn và quan trọng đối với các cựu thầy cô và học sinh Văn Ðức. Tôi không nhớ hết các em học sinh đã có mặt ngày hôm đó nhưng lại có duyên được gặp ba thầy cô. Tôi đã gặp thầy Thắng trước đó, và hôm nay gặp lại thầy Hà Như Minh (tên thầy bị một số học sinh rắn mắt đọc ngược lại là… Hình Như Ma) cũng vẫn như xưa, chỉ trừ đôi mắt kém rất nhiều và cô Trần Thị Thanh Hiền. Học sinh thì tôi may mắn được gặp các em Nga, Tuấn, Hải, Huyền, Pháp, Tín, Hảo, Mạnh.
Thanh Nga cũng vẫn xinh đẹp như thuở nào. Kim Hảo, Diễm Huyền, vẫn hiền hậu và dễ thương. Duy chỉ một học sinh khiến tôi phải bối rối khi gặp lại, vì không biết phải xưng hô như thế nào cho đúng với quy tắc.
Trước đó, tôi được nghe các học sinh khác cho biết, trò Trần Ðức Mạnh, học sinh lớp tôi ở Văn Ðức, bây giờ đã được ơn Chúa và trở thành linh mục. Cho nên khi gặp lại em, tôi bối rối không biết phải xưng hô ra sao. May mắn, em đã gỡ rối cho tôi, gọi tôi bằng “cô” trước, và xưng “em”. Chúng tôi giữ cách gọi đó cho đến bây giờ. Tôi còn nhớ, ngày trước Mạnh rất ngoan và hiền; bây giờ em đã trở thành một tu sĩ, nhưng điều mà tôi không ngờ là em cũng là một… ca sĩ có tài, và hát rất hay.
Ngoài ra, có một số học sinh mà tôi không được gặp trong lần gặp mặt này vì đến trễ. Ðó là các em Dương Anh Hùng, Nguyễn Hoàng, Bùi Thị Kim Hoàng, Trần Thị Mộng Hiền, Ðinh Thái Lân, Trần Ngọc Khang, Cao Chu Ðịnh, Ðinh Trịnh Kiểm…
Một trong những kỷ niệm khó quên là chúng tôi được gặp mặt “viễn liên” một số đông thầy cô, như thầy Nguyễn Văn Lung, cô Trần Thị Kim Tiêu, cô Trần Thị Tửng, và học sinh Văn Ðức còn ở Việt Nam. Ðây cũng là nhờ công lao kết nối webcam của Tuấn. Sau buổi gặp mặt đó, tôi có viết thư cho Hải và Tuấn để cám ơn hai em cùng hiền thê của Tuấn về những khó nhọc này.
Kết quả của buổi họp mặt đó là sự ra đời của Ban Ðại Diện Lâm Thời Văn Ðức, với Hải là chủ tịch, Diễm Huyền thủ quỹ, Tuấn giữ vai phó chủ tịch ngoại vụ, Pháp là phó chủ tịch nội vụ.
Các thầy cô và học sinh có mặt, mỗi người một ít tiền, cùng nhau đóng góp lập quỹ hoạt động/tương trợ (rất khiêm tốn) cho Văn Ðức. Dư âm và thành quả của Ðại Hội Văn Ðức kỳ I gây tiếng vang khắp nơi ở hải ngoại và Việt Nam. Số cựu học sinh và thầy cô tham gia ngày một nhiều hơn. Và qua quỹ tương trợ, Ban Ðại Diện Lâm Thời cũng đã gởi về quê nhà chút ít tiền giúp đỡ một vài học sinh và nhân viên trường Văn Ðức cũ. Nhịp cầu liên lạc giữa học sinh và thầy cô cũng tăng thêm. Tôi không có dữ kiện về số tăng trưởng đó, nhưng chính tôi đã đón nhận được kết quả của nó.
Hội Ngộ Văn Ðức Kỳ II (3 Tháng Bảy, 2010)
Từ giờ trở đi, tôi xin phép được dùng từ “Hội Ngộ Văn Ðức Kỳ…” do Ban Ðiều Hành đề ra để nói đến những cuộc họp mặt của tất cả thầy cô và học sinh, tổ chức mỗi năm một lần vào Tháng Bảy. Còn tất cả những cuộc họp mặt khác (của các khóa) vào những ngày tháng khác, tôi xin dùng danh từ “họp mặt” để cho người đọc khỏi bối rối.
Giữa kỳ Hội Ngộ Văn Ðức I (Tháng Bảy, 2009) và II (Tháng Bảy, 2010), còn có những cuộc họp mặt vào 28 Tháng Mười Một 2009 tại nhà anh chị Tâm và Sâm, tại nhà của Vũ Thị Dung, để thông qua Bản Ðiều Lệ Văn Ðức và đổi danh xưng của Ban Ðại Diện thành chánh thức, chứ không còn lâm thời nữa. Ngoài ra còn có những cuộc họp mặt của các niên khóa 59-63, 62-66, 66-70, 72-75, 75-79… Như đã nói, chi tiết về Hội Ngộ Văn Ðức Kỳ II, thầy Mỹ đã cung cấp đầy đủ trong “Văn Ðức Ðó Ðây,” riêng tôi xin trình bày một vài chi tiết khác cũng liên quan đến kỳ này.

|
Từ trái, hàng đứng: Hiền thê thầy Thắng, Nga, Hải, Huyền, Pháp, Hảo, Tuấn, Tín. Hàng ngồi (từ trái): Thầy Thắng, thầy Minh, cô Thu. (Hình: Tác giả cung cấp) |
Trong cuộc họp này, tôi lại có cơ duyên được gặp lại một số thầy cô và học sinh, như thầy Trần Kim Hòa, thầy Nguyễn Ðức Ninh, thầy Nguyễn Văn Mỹ, thầy Phạm Thanh Tùng, cô Lê Minh Phú, một số học sinh lớp tôi, có em Phạm Thị Hưng (rất tháo vát, và chịu khó bay từ Texas sang), Ðinh Thái Lân, Quan Văn Thống, Trương Thị Thu Thủy. Tôi cũng có dịp gặp lại một học sinh Văn Ðức cũ, em Nguyễn Vi Túy (dù không học lớp tôi) nhưng đa số đều biết em vì đã từng phụ trách tờ bích báo cho trường. Túy và hiền thê cất công từ Melbourn, Úc Châu sang đây để dự hội ngộ. Theo nhận xét thô thiển của tôi, đa số cựu học sinh Văn Ðức đều thành công (có một vài người giữ những chức vụ lớn trong ngành truyền thông Hoa Kỳ hay những chức vụ chuyên môn, lương cao) và ổn định nơi quê hương thứ hai này, nhưng trong số những học sinh thành công thì em Túy, không những chịu khó, còn có chí theo đuổi và thành công được trong nghề báo mà em đam mê từ thời còn đi học.
Theo lời kể của một người bạn có dịp sang Úc xem giải quần vợt thế giới Úc Mở Rộng 2010 và nhân thể ghé thăm Vi Túy, thì hiện Túy là chủ nhiệm/chủ bút của tờ Văn Nghệ Tuần Báo tại khu Cabramatta (nơi có đông người Việt định cư nhất ở Úc, cách Melbourne khoảng 30 phút xe điện). Tờ Văn Nghệ Tuần Báo hiện rất thành công, được phát hành rộng và có rất nhiều độc giả trên nhiều tiểu bang (tỉnh) của Úc Châu.
Hội Ngộ Văn Ðức Kỳ III (18 Tháng Bảy, 2011)
Ðược tổ chức tại nhà dòng Brother St. Patrick, Westminter, với khoảng 70 người, vừa cựu học sinh, vừa cựu thầy cô, tham dự. Số người tham dự có thể đông hơn, nhưng ngày hôm đó có khoảng vài mươi cựu học sinh phải đến chung vui đám cưới của con gái một cựu học sinh khác.
Ngoài những mục linh tinh, phần chính của Hội Ngộ kỳ III là bầu lại Ban Ðại Diện, vì nhiệm kỳ của Ban Ðại Diện cũ đã hết (theo nội quy của Hội Cựu Học Sinh Văn Ðức). Ngoài bốn người cũ trong Ban Ðiều Hành, là Ngô Long Hải, Vũ Quốc Hưng, Quan Thị Sâm và Bùi Thanh Tâm được lưu nhiệm, Ban Ðiều Hành nhiệm kỳ 2011-2013 có thêm hai thành viên mới, là Hoàng Thị Kim Anh và Vũ Thị Dung.
Buổi họp kết thúc với bữa ăn thật ngon, no bụng và no… mắt nữa. Tôi phải dùng chữ no mắt ở đây để diễn tả tài khéo léo của hiền thê của thầy Mỹ, người đã cất công sáng tạo ra những giỏ hoa thật đẹp để chúng tôi thưởng lãm.
Ðã năm năm nay, kể từ ngày 14 Tháng Mười 2007 cho đến ngày hội ngộ lần đầu, 5 Tháng Chín, 2009, tôi may mắn được gặp gỡ một số thầy cô và học sinh Văn Ðức. Dù bận rộn với công việc mưu sinh, tôi, cùng nhiều người khác, cũng đã cố gắng tham dự những buổi họp mặt, hội ngộ, và góp phần nhỏ mọn với mọi người trong việc bàn thảo và xây dựng nền tảng vững chắc cho ngôi nhà, hay nói cách khác, Ban Ðại Diện cựu Học Sinh Văn Ðức, được hữu hiệu và kiên cố thêm. Tôi chỉ tiếc là vì ở xa và vì việc thương mại, nên không thể trực tiếp có mặt tại chỗ để tiếp tay với các học sinh và thầy cô để tổ chức, sửa soạn và dọn dẹp cho những bữa tiệc được hoàn hảo hơn. Tôi xin cám ơn các em cựu học sinh và thầy cô đã giúp cho tôi việc đó. Cũng xin ghi ơn các học sinh trong Ban Ðại Diện đã hy sinh thời gian, đáng lẽ dành cho gia đình, để lo việc điều hành, tổ chức cho những buổi họp mặt và công việc cho Hội Cựu Học Sinh Văn Ðức. Riêng Hải, tôi xin khen ngợi em đã hy sinh rất nhiều, không những thời gian mà còn công sức, để hội được tiến triển. Tôi cũng không quên công khó của thầy Mỹ, đã không những hướng dẫn, mà còn chính mình trực tiếp điều hành và thi hành mọi công việc của Ban Ðại Diện/cựu Học Sinh Văn Ðức, từ lớn đến nhỏ, được xuôi chèo mát mái.