Kindergarten early registration begins next month in GGUSD

              GARDEN GROVE, Calif. ― Early kindergarten registration
begins March 7 for fall classes in the Garden Grove Unified School District.

            State legislation signed in 2010 pushes back the date by
which children must turn 5 to enter kindergarten from Dec. 1 to Sept. 1. The
changes will be phased in over a three-year period for classes starting in the
fall.

            For the upcoming 2012-13 school year, children must be 5
years old by Nov. 1, 2012, for kindergarten admission. (In 2013-14, children
must be 5 by Oct. 1, and the following year, Sept. 1). There are no exceptions
to this minimum-age requirement.

            For school registration, parents are requested to present
one of the following documents to the school office as proof of the child’s
birth date: certified copy of the birth record; statement of the local
registrar/county recorder certifying the date of birth; baptism certificate duly
attested; passport; immigration visa; or an affidavit from the parent, guardian
or custodian of the minor when no other document is obtainable.

            Before children can be legally enrolled in school,
California law also requires they receive the following immunizations: the MMR
series ― red measles (rubeola), mumps, German measles (rubella); the DTP series
― diphtheria, tetanus, whooping cough (pertussis); polio; Hepatitis B; and
chicken pox (varicella). The requirement for the chicken pox immunization may be
waived if a health-care provider documents immunity. Contact the local school
for specific immunization dosage requirements.

            Immunizations are available from private medical
providers, at clinics maintained by the Orange County Health Care Agency (714) 834-4722,
and the district’s Assessment and Registration Center (ARC) clinic next to Cook
Elementary School, 9802 Woodbury Rd., Garden Grove, (714) 663-6411.

            The parent or guardian must accompany the student for
immunizations at the ARC clinic, and they are required to provide written
documentation of any previous immunizations administered by a physician or
health care agency.

            Children are required by state law to receive a full
physical exam, which includes a tuberculosis skin test, within 18 months of entering
first grade. Parents should arrange for this checkup with their pediatrician,
at which time the child must obtain the TB test and update any required
immunizations. To satisfy first-grade admission requirements, the physical must
not be completed earlier than March 1 of this year. All required forms are
available from the school office.

            Along with the immunization requirements, all children
must receive an “oral health assessment” ― a dental check-up ― by May 31 in
either kindergarten or first-grade, whichever is his or her first year in
public school. Oral health assessments administered up to 12 months before a
child enters school also satisfy this requirement. The assessment must be
performed by a licensed dentist and/or other licensed or registered dental
health professional.

            An “Oral Health Assessment/Waiver Request” form,
available in the school office, must be completed by the parent or dental
professional and returned to the school. Please contact the school office for
additional information.

            Parents are encouraged to register their children for
kindergarten during the period of March 7 through June 20, the final day of
classes in the current school year. Enrollment will not resume until school
offices open for the fall.

            Information on school attendance areas is available from
the neighborhood elementary school, the district’s Child Welfare and Attendance
Office at (714) 663-6391, and online at
www.ggusd.k12.ca.us/locator/school_search.asp

Trung Quốc áp lực Myanmar ổn định tình hình biên giới


BEIJING (Reuters) –
Trung Quốc mới đây yêu cầu Myanmar phải ổn định tình hình biên giới chung sau khi hàng ngàn người dân thiểu số Myanmar trốn chạy giao tranh, vượt biên giới sang lánh nạn tại Trung Quốc.

Viên chức ngoại giao Trung Quốc Jia Qinglin (phải) bắt tay Chủ Tịch Hạ Viện Myanmar Thura Shwe Mann, trong cuộc họp của hai người tại Bắc Kinh. (Hình: AP Photo/Xinhua, Ding Lin)

Cuộc ngưng bắn có từ 17 năm nay với lực lượng nổi dậy gốc Kachin (Kachin Independence Army KIA), một trong những nhóm nổi dậy thế lực nhất Myanmar, đã bị phá vỡ hồi Tháng Sáu năm ngoái, khiến người Kachin lũ lượt bỏ chạy vào tỉnh Yunnan phía Trung Quốc.

“Gìn giữ hòa bình và ổn định dọc theo biên giới Trung Quốc-Myanmar là điều quan trọng cho cả hai nước,” Bộ Ngoại Giao Trung Quốc trích thuật lời phát biểu của giới chức cao cấp Jia Qinglin nói với Chủ Tịch Hạ Viện Myanmar Thura Shwe Mann, người đang viếng thăm Trung Quốc.

“Trung Quốc thành thật mong muốn Myanmar sẽ tìm ra đường lối hòa bình để giải quyết vấn đề hòa giải với người thiểu số và bảo vệ hòa bình và ổn định lâu dài ở biên giới hai nước,” theo lời Jia.

Trung Quốc không chính thức xác nhận có sự hiện diện của người tị nạn Kachin trên lãnh thổ họ vì không muốn làm mất mặt chính phủ Myanmar, đồng minh thân cận với Bắc Kinh.

Trung Quốc trong thời gian qua đã đầu tư rất nhiều vào Myanmar, xây dựng hạ tầng cơ sở và các đập thủy điện.

Tuy nhiên Trung Quốc nay có khả năng mất đi ảnh hưởng của mình khi thế giới Tây Phương nhanh chóng trở nên thân thiện với chính phủ mới ở Myanmar sau các biện pháp cải cách mới đây. (V.Giang)

Câu chuyện hội nhập của bà con tại thành phố Melbourne



Ðoàn Thanh Liêm


 


Trong suốt hai tuần lễ ở Melbourne là thành phố lớn thứ nhì của Úc Châu, tôi đã có dịp gặp gỡ và sinh hoạt thân tình với trên 30 gia đình là bà con trong họ nội và ngoại của tôi. Phần đông các gia đình này đã định cư tại đây từ 30 năm, nên có thể nói họ đã hội nhập bắt rễ khá thành công vào trong dòng chính của xã hội nước Úc – nhất là thế hệ trẻ sinh trưởng tại Úc hay đến đây lúc còn rất nhỏ tuổi và theo học tại các trường học bản xứ ngay từ cấp mẫu giáo sơ cấp.









Công viên Federation Square tại thành phố Melbourne, Úc, mùa Giáng Sinh 2011. (Hình: Robert Cianflone/Getty Images)


 Mà đặc biệt tính ra có đến cả ba thế hệ trong một gia đình vẫn còn sinh hoạt gắn bó với nhau, không khác gì với các gia đình ở Việt Nam hiện nay. Dưới đây, tôi xin lần lượt tường thuật về quá trình hội nhập mà vẫn giữ được bản sắc riêng biệt truyền thống dân tộc như thế – xuyên qua sinh hoạt trong các gia đình bà con thân tộc mà tôi đã có nhiều thời gian để tìm hiểu trong chuyến vãng gia mới nhất này.


Trường hợp của gia đình bà Hân với ba thế hệ.


Bà Nguyễn Thị Hân là người em cô cậu với mẹ tôi; bà cụ Bá Khản thân mẫu của bà là em gái út của ông ngọai tôi là cụ Chánh Cẩm. Vì thế, anh chị em tôi phải kêu bà Hân là bà Dì, dù bà chỉ lớn hơn tôi có một tuổi thôi.


 


1.Thế hệ thứ nhất


 


Ngoài gia đình của bà Hân, thì còn có gia đình của cậu Chúc là người anh và gia đình của chú Khảo là người em, tất cả ba gia đình anh chị em này đều sinh hoạt gắn bó với nhau rất chặt chẽ và tổng cộng có đến cả trăm người là con, là cháu và là chắt cùng định cư xung quanh thành phố Melbourne. Chú Hân chồng của bà đã mất 12 năm nay rồi và ngay hôm tôi đến nhà bà, thì lại đúng là ngày Lễ Giỗ tưởng nhớ đến ông – quy tụ rất đông con cháu về tham dự thánh lễ tại nhà do Linh Mục Nguyễn Xuân Trường thuộc Dòng Phanxicô là người con trai thứ đứng ra cử hành.


Nhà bà Hân ở tại thị trấn Reservoir cách trung tâm Melbourne chừng 10 km về hướng Bắc, mà có rất nhiều xe chuyên chở công cộng như xe bus, xe tram và xe lửa phục vụ người dân di chuyển trong vùng phụ cận thành phố. Năm 2012, bà dì của tôi đã bước vào tuổi 80, nhưng vẫn còn khỏe mạnh tinh tường, mỗi buổi sáng bà lại đi bộ đến tham dự thánh lễ tại nhà thờ Công Giáo ở gần nhà nữa. Bà còn làm cả một số món ăn để phụ giúp với gia đình các con vì bận rộn phải đi làm, nên không có nhiều thời giờ để nấu nướng. Nhờ được thụ hưởng chế độ an sinh khá chu đáo dành cho người cao niên tại nước Úc, nên bà có cuộc sống tương đối ổn định, thanh thản.


Từ ngày ông mất, bà ở nhà một mình trong căn nhà 3 phòng tương đối gọn gàng tươm tất, với khu vườn phía trước và sau nhà. Tất cả các con của bà là em họ của tôi (second cousin) thì mỗi ngày thay phiên nhau đến thăm hỏi và chăm sóc cho bà, vì hầu hết đều ở quây quần gần với ngôi nhà của bà. Vào những ngày cuối tuần, thì con cháu lại quy tụ đông đủ với nhau tại nhà bà để dùng bữa cơm gia đình chung với nhau. Vì thế cảnh sinh hoạt của cả ba thế hệ trong đại gia đình này – như tôi được chứng kiến trong nhiều ngày cư ngụ tại nhà với bà – thì rõ ràng thật là gắn bó, thân mật và ấm cúng.


Theo lời bà dặn, tôi đã đem từ California tài liệu về gia phả của họ Tống bên ngọai của bà cũng như của tôi ở làng Cát Xuyên – Xuân Trường – Nam Ðịnh. Bà dì Hân và các em con bà đã rất vui mừng và tự hào khi đọc được trong tài liệu gia phả này ghi rằng: “Ông cụ tổ 5 đời trước xuất thân từ đất Thanh Hóa và vì là một vị tướng lãnh của quân đội Tây Sơn, nên dưới triều Gia Long nhà Nguyễn ông cụ đã phải đổi tên tuổi và đến lập nghiệp tại miền đất Cát Xuyên lúc đó còn hoang vu thưa thớt dân cư. Ðể tránh bị dòm ngó nghi kỵ, cụ tổ này đã không để lại bất kỳ tên tuổi hay giấy tờ gì, kể cả ngôi mộ cũng chỉ gọi là Mả Tổ – chứ không hề ghi danh tánh nào của cụ.” Khám phá này lại càng làm tăng thêm sự gắn bó trong đại gia đình chúng tôi – với niềm tự hào chung về nguồn gốc tổ tiên họ ngoại của mình.


Về phần ông Chúc và ông Khảo là người anh và em của bà Hân, thì cả hai ông đều là cựu sĩ quan Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa. Và sau khi bị đi tù cải tạo mất mấy năm trở về, các ông đã vượt biên sang Úc Châu rất sớm. Và kể từ ngày định cư ở Úc, thì các ông đều được hưởng quy chế đãi ngộ rất bảo đảm dành cho các cựu chiến binh đồng minh của nước Úc. Vì thế mà ông Khảo, nhờ có sức khỏe và năng động tháo vát hơn, nên đã tích cực tham gia vào việc bảo trợ và giúp đỡ cho nhiều bà con người Việt mới đến định cư những năm sau này.


Nói chung, thì các vị trong thế hệ thứ nhất như bà Hân, ông Chúc, ông Khảo khi qua định cư ở Úc Châu, thì đã ở vào cái tuổi trên 50 rồi, không còn phải bươn chải vật lộn gì lắm với chuyện cơm áo gạo tiền nữa. Nhưng các vị này lại ra sức duy trì được sự gắn bó bền vững trong mối sinh hoạt của toàn thể đại gia đình sinh sống trong khu vực xung quanh thành phố Melbourne là thủ phủ của tiểu bang Victoria. Nhờ đó mà các thế hệ thứ hai, thứ ba của lớp con cháu – tuy rất thành công trong sự hội nhập với dòng chính của xã hội Úc – thì vẫn còn giữ được bản sắc tốt đẹp của truyền thống đạo đức văn hóa ngàn xưa của dân tộc Việt Nam chúng ta – như sẽ được trình bày chi tiết cụ thể hơn trong các đoạn tiếp theo dưới đây.


 


2. Thế hệ thứ hai


 


Thế hệ thứ hai về bên họ ngoại của tôi là lớp con của bà Hân, ông Chúc, ông Khảo thì tất cả có đến trên 20 người, mà nếu tính cả con dâu, con rể nữa – thì có thể lên tới trên 40 người. Về phía họ bên nội của tôi, thì cũng có đến 10 người cháu là con của chú Tống Văn Lạc em họ của tôi, nên các cháu kêu tôi là bác. Các cháu đều trưởng thành và hầu hết đều có gia đình riêng biệt. Thành ra tổng số người thuộc thế hệ thứ hai định cư tại Úc mà thuộc cả họ nội và ngoại – thì đã có đến cỡ 60 rồi. Ngoại trừ một vài con dâu, con rể là người có nguồn gốc ngoại quốc, còn đại đa số đều sinh trưởng ở Việt Nam, nhưng khi tới định cư ở Úc Châu, thì phần đông mới ở vào lứa tuổi 15 – 20, nên đã có thể thích nghi khá thành công với xã hội địa phương.


Nói chung, thì các em cháu này đều có được công ăn việc làm ổn định, sắm được nhà ở riêng và lại có con thuộc thế hệ thứ ba cũng còn thành công hơn cả cha mẹ nữa. Ðể cho ngắn gọn, tôi chỉ xin ghi ra một số trường hợp điển hình tiêu biểu nhất cho thế hệ thứ hai này.


A. Chú Ðức là con của ông Chúc, và là cháu của bà Hân. Năm nay ở vào tuổi 54-55, chú là một chuyên viên quản lý kỳ cựu cho hãng Toyota của Nhật và được kể là người rất thành công về mặt chuyên môn cũng như tài chánh. Căn nhà do chú tổ chức xây cất lấy coi thật bề thế, ngăn nắp và tươm tất. Nhưng bà con đều quý mến chú Ðức ở cái nết hiếu thảo vì tận tình lo lắng cho người cha già yếu với chứng bệnh Parkinson đã nhiều năm nay. Chú cũng còn bận rộn chăm sóc chu đáo cả cho người con bị bệnh ngặt nghèo nữa. Trường hợp của gia đình chú Ðức, thì rõ ràng là ở trong tình trạng “ thuyền to sóng lớn” – tuy rất thành công về mặt công việc chuyên môn, mà lại thật vất vả chật vật với gánh nặng trong gia đình như vậy. Nhưng người anh cả trong dòng họ này vẫn bền bỉ kiên trì nêu tấm gương sáng cho các em trong đại gia đình ở thế hệ thứ hai định cư tại Melbourne cùng noi theo.


B. Gia đình của Oanh & Phước. Cô Oanh là trưởng nữ của bà Hân. Trước năm 1975, Oanh theo học tại trường Luật Saigon và sau này kết duyên với người bạn học là chú Phước quê quán tại Cần Giuộc. Khi qua định cư ở Úc, thì gia đình cô chú đã có 3 đứa con đều còn nhỏ tuổi, vì thế mà cả hai người đều phải đi làm ở Sở Bưu Ðiện. Nhưng là người có chí tiến thủ, nên Phước nhận làm ca đêm, để có thể đi học thêm vào ban ngày. Và sau ít năm Phước đã thi đậu thành luật sư và hiện đang điều hành một văn phòng chuyên về luật pháp tại một thị trấn cũng gần nhà. Con trai là cháu Trần Minh Tùng lúc qua Úc chưa đày 2 tuổi, mà nay cũng đã là một luật sư làm việc cho một văn phòng của giới luật sư bản xứ ở trung tâm Melbourne nữa. Căn nhà của Oanh & Phước khá rộng với khu vườn phía sau lớn cỡ cả ngàn mét vuông – với cây cối xanh um và nhiều loại bonsai với cả phong lan và đặc biệt có rất nhiều chim chóc bay đến kiếm mồi ăn và sáng sớm cất tiếng hót thật huyên náo sinh động. Hai cô chú cũng như các người em khác đều tham gia đóng góp cho Giải Nhân Quyền Việt Nam năm 2011, mà lại có cả một bà là thân chủ của văn phòng luật sư Phước cũng góp vào số tiền này thêm mấy chục Úc kim nữa. Phước và tôi rất tâm đắc với nhau về chuyện chính trị và pháp lý, vì giữa chúng tôi ngoài tình anh em họ hàng thân thiết lại còn là đồng nghiệp với nhau nữa.


C. Linh Mục Nguyễn Xuân Trường là con trai thứ của ông bà Hân, năm nay cỡ gần tuổi 50, thuộc dòng Phanxicô cùng với vị Giám mục Nguyễn Văn Long. Chú học mấy năm đại học ở Úc, rồi mới đi tu và đã thụ phong linh mục được trên 15 năm rồi. Cô Oanh là chị cả có thuật lại cho tôi nghe câu chuyện thật ngộ nghĩnh như sau: “Tội nghiệp cho em Trường, hồi mới làm linh mục mỗi lần về thăm nhà thì cứ bị bố em nghiêm khắc cảnh giác nhắc nhở cho là không được hách xì xằng với con chiên bổn đạo thế này, thế nọ. Vì sợ ông cụ, nên em cứ thin thít, không dám nói năng đối đáp gì với bố cả Thấy vậy em phải tìm cách can gián ông cụ rằng: Trường nó đâu đã làm điều gì sai trái để mà bố đe nạt em nó như thế? Ông cụ mới nói với em là: Bố phải nhắc nhở trước như vậy, vì mấy cha cố thường hay bị sa ngã vào cái bệnh kiêu ngạo lên mặt ta đây lắm…” Hiện Linh Mục Trường đang giữ chức giám tỉnh của nhà dòng tại thị trấn Springvale cách xa Melbourne chừng trên 100 cây số, nên thường về thăm mẹ mỗi tuần. Chú sinh hoạt hồn nhiên thân thiết với anh chị em và các cháu trong gia đình và tôi đặc biệt cảm kích vì tấm lòng hiếu thảo của chú đối với bà mẹ của mình, và chú cũng không hề tỏ ra xa cách với bất kỳ một ai trong dòng họ. Chắc chắn rằng lời cảnh giác của ông bố khi cụ còn sinh tiền vẫn còn âm hưởng mạnh mẽ trong tâm khảm của vị linh mục trẻ tuổi này vậy.


D. Cô chú Khảo đều là những người nhiệt thành trong các hoạt động xã hội và tôn giáo, nên mấy con của cô chú cũng noi theo và tham gia tích cực trong sinh hoạt cộng đồng ở địa phương, thêm vào với sự thành công về nghề nghiệp chuyên môn. Ðiển hình như em Phượng thì rất hăng say với công tác của phong trào học hội Công Giáo Cursillo tại Úc Châu.


Trong gia đình này, còn có em Hùng là một chuyên viên rất thành công trong ngành ngân hàng và từ mấy năm nay Hùng đã được cử về Việt Nam để điều hành một cơ sở tài chánh tại Hanoi.


 


3. Thế hệ thứ ba


 


Phần đông các cháu thuộc thế hệ thứ ba thì đều sinh trưởng tại Úc, số ít thì qua đây lúc còn rất nhỏ tuổi. Do đó mà các cháu được thụ hưởng một nền giáo dục về khoa học kỹ thuật rất tiến bộ, nhờ đó mà có thể sánh vai sát cánh nhịp nhàng với các bạn người bản xứ cùng lứa tuổi và hội nhập dễ dàng êm thấm với dòng chính của xã hội Úc Châu.


Ðiển hình như trường hợp của cháu Vân con gái của vợ chồng Oanh & Phước, thì hiện cháu đang điều khiển một trung tâm dậy kèm (tutoring) và luyện thi cho các học sinh cấp tiểu học và trung học ở thị trấn Saint Alban với trên 400 học sinh. Cháu Vân và chồng là Mike người Úc gốc Scotland đều có niềm say mê với nghề dậy học, nên trung tâm này rất thành công trong việc dậy bổ túc cho các học sinh yếu kém – vì thuộc các gia đình mới nhập cư mà cha mẹ không có khả năng và kinh nghiệm để hướng dẫn chu đáo về chuyện học tập cho con cái. Sau nhiều năm kiên trì tận tâm với giới học sinh kém may mắn như thế, đến nay trung tâm dậy kèm này đã gây được uy tín và sự tin tưởng vững chãi của giới phụ huynh trong vùng.


Em trai của Vân là Tùng, thì cũng là một luật sư trẻ tuổi với nhiều triển vọng tại Melbourne như đã ghi ở trên.


Còn lớp trẻ tuổi hơn, thì phần đông đều học rất giỏi, nên đã được nhận vào học tại các trường học danh tiếng ở Úc Châu. Có cháu lại còn được cấp học bổng hay được cho đi học mãi bên nước Mỹ hay Âu Châu, đặc biệt là bên Anh Quốc nữa.


Sự thành công của thế hệ thứ ba này thiết nghĩ cũng dễ hiểu, bởi lẽ cha mẹ và cả ông bà của các cháu đã hết lòng hy sinh chăm lo thật chu đáo cho lũ con cháu có điều kiện học hành đến nơi đến chốn – như đã được ghi chi tiết ở hai mục trên đây.


Bài viết đến đây đã khá dài rồi, tôi chỉ xin tóm lược lại là: Những thành công của thế hệ thứ hai và thứ ba – như tôi được chứng kiến nơi các gia đình bà con ở Melbourne – thì đều bắt nguồn nơi tinh thần đạo hạnh kiên trì và tính nhẫn nại cần mẫn của thế hệ thứ nhất gồm những con người lương hảo với quyết tâm xây dựng tương lai cho con, cho cháu tại vùng đất mới là lục địa nước Úc – với nhiều cơ hội thuận lợi tốt đẹp được mở rộng cho tất cả những người di dân từ khắp nơi trên thế giới đến quy tụ tại nơi đây vốn được coi như là một thứ “miền đất lành chim đậu” vậy.

Ðội học sinh giỏi Academic Decathlon: Thầy trò đi thi, thiếu sự hỗ trợ

 

Ngọc Lan, Linh Nguyễn/Người Việt

 

WESTMINSTER (NV) – “Bình thường thấy chỉ là mấy đứa mình với nhau, chơi giỡn với nhau thôi, chứ đâu có nghĩ mình là đội được xếp hạng 12 trong toàn tiểu bang California đâu. Thành ra khi nhìn thấy rõ ràng đó là tên của đội mình được xếp hạng trên giấy thì thấy lạ lắm!” Khuê Trần nói bằng nụ cười và ánh mắt vừa ngạc nhiên lẫn tự hào.

Các em trong đội Academic Decathlon thuộc trường Westminster High sẽ tham dự kỳ thi California Academic Decathlon tại Sacramento vào tháng 3, 2012. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Khuê Trần, đang học lớp 12, là một trong tám thành viên của đội tuyển Academic Decathlon thuộc trường trung học Westminster, ở thành phố Huntington Beach.

Năm nay, ba trường thắng giải để đại diện cho 75 trường trung học ở Orange County tham dự kỳ thi Academic Decathlon cấp tiểu bang California tại thủ đô Sacramento, là Valencia, La Quinta, và Westminster High.

Ðiều đặc biệt, nếu đội tuyển của trường Valencia, thuộc học khu Placentia-Yorba Linda, có duy nhất một học sinh gốc Việt, thì hơn 90% các em trong đội tuyển của trường trung học La Quinta thuộc học khu Garden Grove, và trung học Westminster, là học sinh Việt Nam.

Tuy nhiên, niềm tự hào và hãnh diện này dường như không được cộng đồng người Việt tại đây quan tâm và đầu tư đúng mức từ nhiều năm qua.

***

Hơn 3 giờ 30 chiều Thứ Ba, từ ngoài “nông trại” của trường trung học Westminster, nhóm học sinh trong đội tham dự kỳ thi Academic Decathlon lại ùa vào lớp học khi bạn bè đã ra về. Trong lúc học trò còn xôn xao tiếng cười nói, chọc ghẹo lẫn nhau, thầy giáo Eric Brothwell, huấn luyện viên của đội, mang vào một khay thức ăn trông như “chả giò Mexico” nóng hôi hổi.

Nghe tiếng “mời ăn” của thầy, cả nhóm học trò ùa lại bóc lấy, ăn một cách ngon lành, hồn nhiên. Rồi ngay sau đó, mỗi em một góc, giở xấp tài liệu ôn tập ra và bắt đầu học môn Science, với sự có mặt của thầy Brothwell, sẵn sàng trả lời các thắc mắc cho các em.

Ðó là hình ảnh một buổi ôn tập của đội tuyển học sinh Academic Decathlon trường trung học Wesmtinster, chuẩn bị tham dự kỳ thi cấp tiểu bang vào giữa tháng 3 tới đây. Ðội thắng giải lần này sẽ được tham dự kỳ thi cấp toàn quốc.

Ðội tuyển của trường trung học Westminster có 8 học sinh, trong khi đội của trường La Quinta có 9 học sinh. Ða số các em là học sinh lớp 12, tuy nhiên cũng có những em đang học lớp 10, lớp 11. Các em được chia ra làm ba nhóm: Nhóm “Honors” (ba học sinh), có điểm trung bình GPA từ 3.75 đến 4.00; nhóm “Scholastic” (ba học sinh), có điểm trung bình GPA từ 3.00 đến 3.74; và nhóm “Varsity” (hai hoặc ba học sinh), có điểm trung bình GPA từ dưới 3.00.

 

Học cực lắm!

 

Khác với những kỳ thi học sinh giỏi thường thấy ở Việt Nam là học sinh chỉ thi một môn, cuộc thi Academic Decathlon bắt buộc học sinh phải thi cả 10 môn, gồm có toán, kinh tế, vật lý, văn chương, lịch sử, nghệ thuật, speech, viết luận văn…

Chính từ điều này mà ngay hôm dự thi vòng SuperQuiz cấp địa hạt, em Stephanie Lê đã nói với phóng viên Người Việt rằng, “Em sợ lắm, vì có tới 10 môn lận nên sợ không có thắng.”

Ðể có thể luyện 10 môn học, không giới hạn đâu là đâu, các em được tuyển chọn đi thi phải học một cách cật lực ngay từ tháng 6 năm 2011.

“Thứ Bảy cũng học, Chủ Nhật cũng học, Winter break cũng học,” như em Aileen Phạm, thành viên nhỏ nhất trong nhóm, đang học lớp 10, “bẽn lẽn” tiết lộ.

Kimberky Phan, học sinh duy nhất của đội Westminster có kinh nghiệm tham dự kỳ thi từ năm ngoái, nói bằng giọng khào khào, nhỏ nhẹ, “Cứ sau giờ học mỗi ngày, trong khi các bạn khác về thì tụi em ở lại học đến khoảng 5 giờ rưỡi. Riêng Thứ Hai, Thứ Tư, Thứ Sáu thì sau khi ở đây về, tụi em lại đến nhà một bạn trong nhóm để học tiếp đến tối.”

Stephanie Lê, đang học 12, thuộc nhóm “Scholastic”, cho biết, “Học khó lắm cô ơi vì vừa phải làm bài ở lớp, vừa học cái này nên khó lắm. Nhưng vì em thấy học cái này có ích cho em nên em học, em thích.”

Mỗi ngày Stephanie đi ngủ lúc 1, 2 giờ sáng, và chỉ có khoảng 5 đến 6 tiếng để ngủ mỗi ngày.

Thầy Eric Brothwell, hướng dẫn các em môn Science, cho biết:

“Các em học mỗi ngày sau giờ học chính thức, thường đến khoảng 5 giờ chiều. Cả ngày Thứ Bảy các em cũng học, bắt đầu từ Mùa Hè và chuyện này chỉ chấm dứt khi chúng tôi thi xong.”

Ðưa mắt nhìn đám học trò ngồi trước máy vi tính, chăm chú bên xấp tài liệu hướng dẫn, thầy Brothwell nói tiếp, “Không bao giờ các em nghỉ ngơi, các em học một cách không tưởng tượng được. Tôi cũng không biết làm sao các em có thời gian làm bài tập trong lớp được nữa.”

“À, mà chắc các em không biết ‘school work’ là cái gì đâu. Ðứa nào trong lớp cũng bị ‘fail’ hết đó!” Nghe thầy trêu như vậy, cả đám học trò cười ran.

“Dồn sức học cho mười môn thi này thì những bài homework trong trường thế nào?” Tôi nêu thắc mắc với Kimberly.

Cô bé cười lắc đầu, “Bỏ qua hết cô ơi. Nhưng mà cuối cùng cũng xong thôi.”

Ðể dành hết thời gian cho chuyện học, những môn giải trí khác như chơi football, tập thổi kèn saxophone, học võ… của các em đều được “cất” hết sang một bên, chờ thi xong rồi mới tính.

Với các em trong đội tuyển của trường La Quinta cũng thế.

Thầy Robert Ha, người huấn luyện của đội La Quinta, cho biết ngay từ Mùa Hè các em được nhận các câu hỏi để ôn luyện và “Bắt đầu từ cuối năm 2011, mỗi tuần các em gặp nhau 2 lần để thực tập cho cuộc thi.”

 

Thi học sinh giỏi theo kiểu “con nhà nghèo”

Hiệu Trưởng Denise L. Halstead (bìa trái, hàng cuối), thầy Robert Ha (bìa phải), thầy giáo huấn luyện, cùng các học sinh trong đội Academic Decathlon thuộc trường La Quinta sẽ tham dự kỳ thi California Academic Decathlon tại Sacramento vào tháng 3, 2012. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

 

Chỉ vào tên những trường từng đoạt giải vô địch Academic Decathlon cấp tiểu bang hay toàn quốc, thầy Huy Phạm, dạy môn Sinh-Hóa của trường trung học Westminster, nhận xét, “Toàn là trường nhà giàu không à chị!”

“Tại sao trường nhà giàu mới đoạt giải?”

“Vì giàu nên trường và phụ huynh mới có nhiều tiền mua nhiều tài liệu hướng dẫn ôn tập cho các em.” Thầy Huy trả lời.

Với 10 môn thi không giới hạn như vậy, nhiều công ty chuyên về giáo dục đã soạn ra những “cẩm nang ôn tập,” như một hình thức đề thi mẫu để học sinh luyện tập. Dĩ nhiên, những tài liệu này được bán với giá “rất là đắt” như lời thầy Eric Brothwell thừa nhận.

Thầy Huy kể, từ nhiều năm qua, một cô giáo người Mỹ, từng là người huấn luyện đội Academic Decathlon của trường trung học Westminster, nay đã về hưu, “mỗi năm bỏ ra hai, ba ngàn đô la để mua tài liệu này cho các em ôn tập”.

Tuy nhiên, một bộ tài liệu thì không thể đủ cho các em thực tập. Vì thế, dựa vào “đề mẫu” đó, các thầy cô giáo tự soạn thêm bài cho học trò mình.

Trước mặt mỗi em là một xấp tài liệu dày khoảng 60 trang hướng dẫn ôn tập môn Science với đầy những nét “high light” mà mỗi em tự đọc và tự đánh dấu xem cái nào là quan trọng với mình.

Từ tài liệu này, theo yêu cầu của thầy Brothwell, trong buổi ôn tập ngày hôm đó, mỗi em sẽ đọc và soạn ra 8 câu hỏi, mỗi câu có 5 lựa chọn đúng-sai. Sau đó thầy gom lại, làm thành một “đề thi mới” để các em rèn luyện tiếp.

Ðiều lạ lùng nhất là khi quan sát, tìm hiểu viết bài, phóng viên Người Việt mới biết rằng, thời gian thầy cô bỏ ra để huấn luyện các em sau mỗi giờ học là hoàn toàn thiện nguyện, “không có lương”.

Em Khuê Trần nói bằng sự thán phục và biết ơn, “Thầy cô giúp tụi em nhiều lắm đó. Như môn tiếng Anh, cô giáo bỏ giờ ăn trưa ra để giúp mình trong suốt cả tuần lễ trước khi đi thi.”

Khuê kể, “hồi trước em sợ nhất là thi môn ‘speech’ vì ngồi nói trước bao nhiêu người nên em run quá là run. Nhờ có cô giúp mình mấy tháng qua nên em đỡ lắm. Giờ đây đó lại là môn em thích nhất.”

Từ Thứ Hai đến Thứ Sáu, cứ sau giờ học là các em lại ở lại trường để được thầy cô của những bộ môn khác nhau giúp các em ôn tập để đi thi. Ngày Thứ Bảy cũng vậy. Chỉ có ngày Chủ Nhật là các em tự học với nhau.

Không chỉ vậy, tiền bỏ ra mua thức ăn bồi bổ cho các em sau mỗi buổi học để các em có sức, tiền bỏ ra mua tài liệu đề thi cho các em tham khảo, và một phần tiền chi phí để các em có mặt tại thủ đô Sacramento tham dự cuộc thi cũng đều là tiền túi các thầy cô giáo bỏ ra.

“Không biết sao đối với các môn ‘academic’ như thế này thì khó tìm được sự giúp đỡ từ các mạnh thường quân, trong khi các học sinh đi thi thể thao thì lại rất dễ dàng.” Thầy Huy nói tiếp. “Năm ngoái có một mạnh thường quân tặng các em $3,000 để đi thi. Năm nay có vẻ khó khăn hơn.”

Không tìm được sự đóng góp từ cộng đồng, các thầy cô giáo lại tiếp tục làm người móc tiền ra cho các em. Tùy theo lòng hảo tâm của mỗi thầy cô, mà người bỏ ra một trăm, người nhiều trăm, hùn lại cho các em có thêm chi phí mua vé máy bay và thuê khách sạn ở trong suốt kỳ thi, từ ngày 15 đến 18 tháng 3.

“Một vài thầy cô lại cho các em thêm tiền để tiêu lặt vặt trong chuyến đi,” thầy Bảo Khang, một thầy giáo trẻ dạy môn Science của trường cho biết thêm.

 

Hạnh phúc được làm “học trò nghèo chiến thắng”

 

Học miệt mài, cật lực và trong hoàn cảnh thiếu thốn nhiều phương tiện như vậy, nên khi giành được tấm vé đại diện cho Orange County tham dự thi cấp tiểu bang, các em học sinh gốc Việt đã không thể nào giấu được niềm tự hào và vui sướng của mình.

Trong khi em Wendy Fung, học lớp 10, học sinh duy nhất không phải gốc Việt trong đội tuyển trường La Quinta “quá đỗi ngạc nhiên” về kết quả mà đội em đạt được, thì Kimberly Vũ, và Bảo Minh Hoàng, cùng học lớp 12, cứ cho rằng “đó như một giấc mơ, không thể tin được”.

Ðội Academic Decathlon của trường trung học La Quinta đứng đầu bảng thứ 2 trong kỳ thi Orange County Academic Decathlon (OCAD) vừa qua.

“Tụi em sẽ phải chăm chỉ hơn nữa để học mọi thứ,” em Bảo Minh nói.

Với trường trung học Westminster, do thành tích 5 lần đạt hạng cao nhất trong kỳ thi OCAD nên dường như áp lực lên các thành viên trong đội có vẻ nặng nề hơn. Tuy nhiên, dù đứng thứ hai trong bảng 1, sau trường Valencia, nhưng các em vẫn đang cố gắng hết sức để làm nên điều kỳ diệu nào đó trong lần thi sắp tới.

Dennis Ðặng, học lớp 11, thành viên đội tuyển của trường trung học Westminster, tâm sự, “Ngày nào cũng học, ngày nào tụi em cũng thấy nhau nên vui lắm cô, vì đội của mình như một gia đình thứ hai vậy đó.”

Là thành viên duy nhất không phải gốc Việt trong nhóm, Sarah Ibrahim, đang học lớp 12, thỏ thẻ, “Toàn đội là các bạn gốc Việt không à, nhưng em chẳng thấy có vấn đề gì liên quan đến chuyện đó, không có bị tác động gì bởi chuyện đó hết.”

Ðược cùng cả đội lên Sacramento tham dự kỳ thi cấp tiểu bang, Sarah cảm thấy rất vui vì “Chúng em được đi cùng với nhau.”

Theo Sarah, mỗi tuần em bỏ ra khoảng 40 tiếng cho việc học thi này, bao gồm cả tự học ở nhà, học nhóm với nhau và học sau giờ tan lớp.

“Những khi em cảm thấy không vui, mệt mỏi, em nói với các bạn trong đội, thế là các bạn giúp em để em thấy đỡ hơn, nên chưa bao giờ em muốn bỏ cuộc hết.” Sarah bày tỏ.

Khuê Trần, cô bé đã “tin chắc rằng đội mình sẽ lên tới Sacramento” ngay sau hôm thi vòng SuperQuiz OCAD, tâm sự, “Hồi trước thấy chuyện mình lên Sacramento thi còn là giấc mơ. Nhưng giờ thấy mỗi ngày mỗi gần đến ngày lên đường, thấy được chỗ mình đứng là ở đâu, thì lại thấy lạ lắm!”

Thầy Eric Brothwell, thầy giáo huấn luyện, và em Lily Phạm, một thành viên trong đội Westminster High, đang cùng xem xét một vấn đề của môn Science. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

“Bình thường thấy chỉ là mấy đứa mình với nhau, chơi giỡn với nhau thôi, chứ đâu có nghĩ mình là đội được xếp hạng 12 trong toàn tiểu bang California đâu. Thành ra khi nhìn thấy rõ ràng đó là tên của đội mình được xếp hạng trên giấy thì thấy lạ lắm!” Khuê cười một cách hạnh phúc, trước khi quay trở lại với bài học dở dang của mình.

***

Tôi rời cổng trường khi nắng chiều bắt đầu nhạt.

Bức hình các em học sinh da trắng ở Los Angeles thắng giải America Academic Decathlon năm trước rạng rỡ nụ cười khi được chụp hình chung với tổng thống cứ ám ảnh trong đầu.

Có lẽ các thầy cô giáo của trường trung học La Quinta hay trung học Westminster, đều cũng như tôi, ao ước, giá như đó là những gương mặt học trò mình, hầu hết là Việt Nam, thì sẽ tự hào và hãnh diện biết bao nhiêu!

Tôi nhớ đến khay bánh người thầy tự tay làm cho học trò mình. Tôi nhớ đến hình ảnh các em tự soạn đề ôn tập cho mình. Tôi nhớ đến chuyện thầy Bảo Khang đôn đáo chạy đi tìm người tài trợ cho các em.

Và chợt nghĩ, phải chăng chuyện giáo dục học hành của thế hệ Việt lớn lên tại đây là chuyện riêng của mỗi nhà, chứ không phải là chuyện cộng đồng cần quan tâm, hỗ trợ, từ mấy mươi năm qua.

 

CHỢ ASIAN FOOD MARKET

 


Mai Hoàng


 


 


 


Mặc dầu mới khai trương, nhưng chợ Asian Food Market có nhiều triển vọng thành công. Ông bà chủ trẻ tuổi, vui vẻ, hoạt bát cộng với thực phẩm được chọn lựa theo sự ưa chuộng của giới tiêu dùng là những yếu tố giúp tiệm dễ thành công.



Chợ được thiết kế khang trang, sạch sẽ với bãi đậu xe rộng rãi. Anh Quốc Thanh, chủ nhân chợ cho biết: “Món gì cũng có, món nào cũng ngon và hứa tiếp đãi ân cần.” Nhìn tổng quát, chợ có đầy đủ đồ tươi, thịt thà, đồ biển, đồ khô.



Chủ nhân cũng thông báo chương trình khuyến mãi đặc biệt cho tháng khai trương (18 tháng 2 đến 18 tháng 3, 2012). Nhiều mặt hàng có thể được giảm 50%.


Ðịa điểm: ASIAN FOOD MARKET


2105 Cliff Road., Eagan, MN 55122


651-251-9761

Về Việt Nam – Về Mỹ

 


Phan Thanh Tâm


 


Ði với Về cũng một nghĩa như nhau? (*) Không. Ði là di chuyển đến một nơi khác. Về là trở lại chốn cũ, nơi mình có nhiều quan hệ. Một người Mỹ gốc Việt có hai nơi để về. Về Việt Nam thăm mồ mả cha ông, gặp lại người thân, nhìn lại đường xưa lối cũ; con đò, bờ sông, nón lá, mấy nhịp cầu tre, con trâu, cái cò, núi đồi, đồng ruộng; được ăn những món đặc sản ngay tại địa phương; được hít thở không khí quê nhà và được nghe những âm thanh quen thuộc.



Tác giả tại Ghềnh Ráng, Qui Nhơn 12/12.


Nhưng rồi phải quay về Mỹ. There’s no place like home. Our home is where our heart is. Không đâu bằng mái ấm gia đình. Nơi này có công ăn việc làm, có tự do. Tôi có thể nói những gì tôi muốn nói; làm những gì tôi muốn làm.


Hồi cuối năm 2011 tôi đã về VN một tháng. Bay trên mây, nhìn trời xanh, tôi nghĩ đến mấy câu thơ trên mạng của Bùi Minh Quốc và Thanh Thảo mô tả VN ngày nay: Ngoảnh mặt vào đâu cũng phải ghìm cơn mửa, Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi và Cứ tự mình dán băng keo vào miệng/Yêu tổ quốc chỉ còn nghe ú ớ. Có thật vậy không? Kỳ này, mắt thấy tai nghe mong sẽ biết VN nhiều hơn là qua thế giới ảo. Nhờ bạn bè, bà con xa gần, tôi đã thực hiện một chuyến đi ta ba lô thích thú viếng Hà Nội, Huế, Ðà Nẵng, Hội An, Qui Nhơn, Vũng Tàu, Bến Tre.


Tôi cũng đã cùng với gia đình Ðỗ Lê Minh, hiện dạy toán ở Ðại Học UCLA (University of California, Los Angeles), theo tour viếng Ðế Thiên Ðế Thích, một kỳ quan thế giới ở Siem Reap thuộc Campuchia trong ba ngày.


Ðây là lần thứ hai về VN vì lý do gia đình. Lần thứ nhất cuối năm 2006. Sau 1975 tôi đành phải rời xa đất nước vì sống không nổi dưới chế độ độc tài toàn trị dù tôi đã yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời. Lúc bấy giờ hầu như dân miền Nam đều muốn bỏ xứ ra đi. Ðảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) là thực dân thứ thiệt; rất giỏi trong việc bóc lột, dối trá, bưng bít và còn ngụy biện bằng khẩu hiệu yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa. Tôi đã vượt biên trong một đêm không trăng sao tối đen như mực. Trên ghe 13 người kể cả một bé nhỏ sáu tháng. Sao lại có người gan liều bồng con trôi giạt một tháng như vậy? Theo nhà văn Phạm Phú Minh các bà mẹ Việt Nam đánh hơi thấy nếu không ra đi thì con mình sẽ bị suy tàn về thể chất, dốt nát về trí tuệ và thui chột về đạo đức.


Phần lớn thời gian về VN tôi ở Saigon. Trước 1975 đây là thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) giờ có tên mới viết là TP (thành phố hay tội phạm?). Hồ Chí Minh, thay đổi rất nhiều. Quận nào cũng có xây cất nhưng không được qui hoạch đàng hoàng. Mạnh ai nấy làm, kiểu cách, cao thấp, trồi sụt bất thường. Chỉ có khu bên kia sông là khá qui củ. Sau chầu cà phê với Thân Trọng Minh ở Chợ Lớn tôi theo Vũ Thị Ái đồng nghiệp trước 1975 đến Việt Tấn Xã, sở cũ cạnh Dinh Ðộc Lập. Chúng tôi đi bộ, ra vẻ thăm dân cho biết sự tình. Tôi như lạc vào chỗ lạ. Không hình dung ra nơi chốn vì mặt tiền mấy nơi đi qua khác hẳn, không còn nhận ra đường nào với đường nào. Buổi trưa trời nắng, nóng nực quá chừng. Saigon bị lây Hà nội rồi. Thành phố không có vỉa hè.


 


Hồn Việt Nam Cộng Hòa và Phạm Duy


 


Ngồi bệt ở một cái sạp bán nước bên vệ đường, tôi uống hai trái dừa xiêm, no cành hông, thiệt đã. Vô tình thấy tờ Saigon Giải Phóng, có bài Dành Vỉa Hè Cho Người Ði Bộ trong mục Sự Kiện Vấn Ðề của tác giả Phạm Phương Thảo. Ði bộ khó thật vì không phải vỉa hè nào cũng có chỗ đi, có khi phải đi xuống lòng đường và việc đi bộ còn gặp khó bởi không ít vỉa hè dùng vào việc buôn bán, đậu xe. Xe gắn máy cứ lách lên vỉa hè mà chạy. Việc đi bộ qua các ngã tư không dễ dàng cho dù có đèn xanh, đèn đỏ. Mặt khác bộ mặt của vỉa hè có nơi vẫn còn tình trạng tiểu tiện bừa bãi. Nhìn dòng xe chạy chen lấn, len lách tôi thấy dường như ai cũng nghĩ mạnh ai nấy đi. Qua đường là một thử thách. Hà Nội cũng y như vậy. Kinh khủng. Terrible. Chữ của một người ngoại quốc nói với tôi và cũng của một người bạn ở Hà Nội khi cùng đi qua đường.


Dấu vết Saigon xưa chỉ còn lại chợ Bến Thành, đường Nguyễn Huệ, Lê Lợi. Chính quyền mới muốn xóa mọi hình ảnh cũ. Sinh hoạt thời VNCH làm họ bực tức, khiến chữ giải phóng mất ý nghĩa, biến thành phỏng dái. Nhưng hồn VNCH vẫn còn trong lối sống, vương vọng qua mấy bản nhạc trên xe taxi, ở quán đầu hẻm, trong nhà từ nam chí bắc; và ngay cả thủ đô Hà Nội, cái nôi xã hội chủ nghĩa VN. Nhà hát Lớn Hà Nội đã bị làn sóng nhạc “sến” tấn công. Tuấn Vũ chiếm lĩnh hàng chục đêm, rồi các live show của Quang Lê, Mai Quốc Huy (được xem là “truyền nhân” của vua nhạc sến Chế Linh)… gần đây nhất là ca sĩ Thanh Tuyền. Nếu không có những rắc rối trong tổ chức, vua nhạc sến Chế Linh cũng đã cất cao giọng hát tại lâu đài âm nhạc giữa thủ đô. Một tờ báo ở VN đã viết như vậy.


Tại sao có hiện tượng đó? Nhạc cách mạng vừa dở vừa lỗi thời không ai muốn nghe nữa. Tác giả Phan văn Minh trong bài “Ðừng làm vấy bẩn ca từ tiếng Việt” trên Hồn Việt ngày 28 tháng 12, 2011 viết, lời ca một số bản nhạc mới là một sự kém cỏi về văn hóa, trí tuệ; một sự phỉ báng đối với ngôn ngữ mẹ đẻ. Về chuyện Chế Linh bị hủy không cho trình diễn tiếp, theo nhạc sĩ Phạm Duy, họ làm ầm ĩ quá. Khiêm tốn thì được. Phạm Duy có vẻ không được khỏe lắm, cho biết, những buổi trình diễn của ông rất thành công. Ghé thăm ông tại nhà ở Phú Thọ, nhạc sĩ có cả ngàn bài ca nói, trở về VN là đúng với luật tự nhiên: lá rụng về cội. Ông muốn khi mất sẽ mất ở Saigon. Sau đó, các con sẽ dời mộ bà Thái Hằng về luôn. Giờ không còn sức ngồi máy bay gần 20 tiếng trở qua Mỹ.


Cuộc sống hiện nay thế nào? Nhạc sĩ Phạm Duy cười trả lời, rất thoải mái. Lẽ dĩ nhiên phải có tiền và mũ nỉ che tai. Câu nói của nhạc sĩ 90 tuổi cũng là triết lý sống của nhiều người trong nước. Có đủ tiền chi tiêu; không nghe, không thấy, không bàn về bất kỳ điều gì coi là nhạy cảm có hại đến chế độ. Nhưng Giáo Sư Nguyễn Huệ Chi, một trong những người chủ trương trang mạng Bauxite VN, nói với đài BBC hồi cuối năm rằng nhà cầm quyền đã đối xử với 85 triệu dân như những con bò. Có lẽ vì vậy, khi một số khoa bảng VN được nhà nước đãi ngộ hơn kẻ khác, được trao hoa, cho quà, ban chức, phong tước, họ mừng rơn về hùa với chế độ; thay vì phẫn nộ, đòi hỏi công bằng, công lý, cho những người bị phân biệt đối xử, bị nhiều thiệt thòi.


Ngoài ra, để định hướng dư luận, đảng CSVN quyết nắm chặt các phương tiện truyền thông. Tất cả báo chí đều một giọng, một điệu. Coi văn nghệ sĩ như tôi tớ, gọi dạ, bảo vâng. Lâu lâu xoa đầu khen thưởng hay rầy la. Ký giả Ðoan Trang trong bài Giọt Nước Mắt Của Lề Phải viết trên mạng, dưới chế độ cộng sản nhà báo không khác gì con chó; bảo sủa thì sủa; bảo im thì im. Nhìn chung, có vẻ đảng CSVN thành công trong việc thuần hóa đám đông. Công an có mặt khắp nơi. Con đường tiến thân là nhớ lời Bác. Qua báo chí thấy một xã hội ổn định. Muốn vào Internet, cửa sổ nhìn ra thế giới bên ngoài phải vượt tường lửa. Chỉ người nào muốn hiểu biết, có phương tiện mới tiếp cận được với nhiều nguồn tin khác nhau.


 


Ngô Công Ðức tự bạch: hối hận


 


Trước khi cái thiện thắng cái ác của thời bao cấp, tức trước khi đổi mới trở về cái cũ hồi cuối thập niên 80, con đường tương lai là đi ra biển.


Thời này khác, thay vì vượt biên, cha mẹ cho con du học hay theo học trường ngoại trong nước. Nền giáo dục VN hỏng lâu rồi. Nhưng thay đổi thế nào? Bỏ bác, bỏ đảng, bỏ Mác, bỏ Lê? Hồi xưa ra ngõ gặp anh hùng bị gạt. Ngày nay, ra ngõ gặp tiến sĩ giấy, quán cà phê hay trẻ em lang thang bán vé số, đánh giày. Báo Tuổi Trẻ (3/12/11) cho biết, theo Nhóm Young Lives (Những cuộc đời trẻ thơ), một chương trình nghiên cứu quốc tế thì có 1.2 triệu trẻ em không đến trường; còn Bộ Giáo Dục Ðào Tạo thì chỉ có 200,000 thôi; nhưng cả hai đều đồng ý nguyên nhân chính là vì chán học và kinh tế khó khăn.


Ngô Công Ðức (1936-2007), dân biểu đối lập thời VNCH, một nhà báo tên tuổi, sáng lập tờ Tin Sáng trước và sau 1975, rồi bị CSVN dẹp luôn năm 1981, trong cuốn Tự Bạch, phổ biến hạn chế viết, Tôi là người ủng hộ cách mạng, cảm thấy đau lòng và hối hận trước cảnh khốn khổ của người dân. Quan liêu, tham nhũng, hà hiếp dân có hệ thống mà người ta đổ lỗi cho cơ chế, đã gây tủi hổ cho những người cộng sản chân chính, và tôi cũng hổ thẹn lây vì từng đứng bên cạnh họ. Hai chữ anh hùng đã bị bôi bẩn.Thống nhất là một may mắn lớn. Rồi miền Nam phải rước lấy một chế độ đã từng được áp đặt bao nhiêu thập niên ở miền Bắc, gây nhiều chết chóc đau thương oan uổng, gây nghi kỵ gian dối, gây nghèo đói giữa một dân tộc thông minh và cần cù.


Tập Tự Bạch 16 trang viết xong ngày 21 tháng 11, 2006 thố lộ thêm, Nếu không thống nhất đất nước ai quả quyết được miền Bắc không giống như CHDCND Triều Tiên. Người cộng sản được sống ở miền Nam đã làm thay đổi suy nghĩ của Ðảng Cộng Sản. Công cuộc đổi mới đất nước chính là cuộc giải phóng miền Bắc khỏi một chế độ đã thất bại từ trước và đưa miền Nam về dần với tính năng động đã có trước đây ở miền Nam. Kết quả hôm nay có được sự đổi mới này, chính là nhờ sực đấu tranh của nhân dân cả hai miền. Ðức độ của Hồ Chủ Tịch sao không dạy được cấp dưới noi theo? Hôm nay được nghe lời kêu gọi đoàn kết-hòa hợp. Nhưng đoàn kết hòa hợp thật hay chỉ là sự tiếp nối của lời kêu gọi thiếu lòng thành trong 30 năm qua. Ðể rồi phải tiếp tục kêu gọi đoàn kết? Ngoài tập này, tác giả còn có cuốn hồi ký, chưa ấn hành.


Ðến Hà Nội mà không ngồi ở Hồ Hoàn Kiếm và Hồ Tây là một thiếu sót. Nhìn mặt hồ gợn sóng lăn tăn, in bóng hàng liễu rũ cho ta cái thú của một kẻ nhàn du, tha hồ mơ xa rồi lại nghĩ gần. Thủ đô có hai cái đẹp: mấy viên ngọc bích thủy thiên nhiên, in bóng trời xanh mây trắng và buồng phổi của 36 phố phường, mấy hàng cây cổ đại cành lá xum xuê, phủ mát lòng đường. Hồi niên thiếu, tôi thấy Hà Nội lãng mạn trong Tự Lực Văn Ðoàn, trong các lời ca của các nhạc sĩ năm 54; rồi thấy Hà Nội nghèo khổ, thiếu thốn thời bao cấp qua lời kể của người được ra Bắc sau 75 trong đó có nhà tôi; và Hà Nội ngày nay, ầm ầm, ào ào, lúc nào cũng chộn rộn. Hai bản nhạc hay về Thăng Long là Giấc Mơ Hồi Hương của Vũ Thành và Mùa Thu Hà Nội của Trịnh Công Sơn.



Một cái thú khác khi viếng thủ đô, có hơn 1,000 năm lịch sử, khai sinh từ vua Lý Thái Tổ (1009-1028), là bước vào những tiệm ăn uống xưa cũ, bình dân để biết thêm về văn hóa ẩm thực vùng này. Một người quen, anh B. dân Hà Nội đưa tôi vào quán cà phê Lâm, ở phố cổ. Thời bao cấp khách hàng quen thuộc của quán là văn nghệ sĩ Hà Thành. Cà phê đen đặc quánh nổi tiếng từ thập niên 50. Ngồi trên ghế gỗ thấp, tôi hình dung sinh hoạt tiệm; nơi treo nhiều tranh cũ từ nửa thế kỷ trước mà tác giả là những họa sĩ đã để lại vì ghiền mùi cà phê của ông.Tôi cũng đã được ăn phở ở phố cổ vừa rẻ, vừa ăn được, hơn hẳn phở trong khách sạn năm sao ngay tại Hà Nội; giá $10 US một tô. Khu này lúc nào cũng tấp nập từ sáng tinh mơ cho đến quá nửa đêm.


 


Võ khí mềm: hộ khẩu và cái loa


 


Sau ngày 30 tháng 4, 1975, Hà Nội là trung tâm quyền lực của cả nước. Phía thắng ai cũng nôn nao muốn vào Nam để nhận hàng khi thấy từng đoàn xe đầy ắp chiến lợi phẩm chở về Bắc. Trong khi đó, dân miền bại trận muốn được yên thân tìm người để nhận họ hay âm thầm nhào ra biển. Nhằm củng cố việc cai trị, CSVN đem vào hai võ khí mềm: giấy hộ khẩu và loa phóng thanh, gắn khắp phường khóm. Giấy hộ khẩu chủ yếu nắm bao tử. Loa phóng thanh định hướng dư luận. Nó còn dùng để phá đạo. Nhớ lại, khi viếng chùa Thiên Mụ ngắm cảnh, tìm sự yên tịnh hay tiếng chuông ngân, tôi bị sốc khi nghe từ trong xóm cái giọng Huế nặng nói về công ơn của bác đảng. Lải nhải cả ngày kiểu này, Chúa Phật chắc cũng bỏ chùa, bỏ nhà thờ mà chạy huống chi người phàm.


Rời Hà Nội, tôi về miền trung đến Huế qua ngõ sân bay Phú Bài. Phi trường này chẳng được sửa sang gì hơn với thời VNCH. Trong ba ngày ở cố đô, tôi đã có dịp thả bộ qua lại nhiều lần hai cầu An Cựu, nơi mà dòng sông nắng thì đục, mưa thì trong và cầu Trường Tiền, sáu vài 12 nhịp. Bao nhiêu nước chảy qua cầu từ dạo ấy mà Huế vẫn vậy, ít thay đổi. Cảnh cũ, đường xưa không khác bao nhiêu. Chỉ có các món ăn là dở đi nhiều; còn đâu bánh khoái, bánh bèo, bánh nậm? Người Huế bỏ xứ đã mang theo hết cả nghệ thuật ẩm thực rồi sao? Sau khi thăm mồ mả bà con trong đó có mộ hai ông cố Phan Tôn, Phan Liêm mà chị Phan Thanh Gia Lai đã thêm chữ quốc ngữ trên hai bia xây từ cuối thế kỷ 18 toàn chữ nho, tôi đã vào thăm trường Quốc Học.


Trường xưa nhưng bạn cũ đâu hết rồi? Ðường đời vạn nẻo, ai còn ai mất? Nhìn dãy lớp thuở nào, tôi vừa thấy xa lạ vừa thấy thân thương; bồi hồi nhớ lại một thời đã qua. Ngồi lặng cả giờ ở một ghế đá trong sân trường, được thành lập ngày 23 tháng 10, 1896 theo chỉ dụ của vua Thành Thái, giao cho ông Ngô Ðình Khải làm trưởng giáo với tôn chỉ phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài; tôi ở trong trạng thái nhớ nhớ, buồn buồn khi nghĩ tơi một số bạn cùng lứa, cùng lớp và cùng bàn đã ngã xuống trong cuộc nội chiến: Huỳnh Sửa, Huỳnh Sảnh, Nguyễn Khánh, Nguyễn Ðức, Hồ Ðắc Cung, Hồng Dũ Thiều… và gia đình Trần Như Thông, mất tích khi vượt biên. Tôi đã chán chường khi thấy tượng Nguyễn Tất Thành tức Hồ Chí Minh cắp sách đi học, ngay chỗ cột cờ.


Tiến sĩ Sử học Hoàng Ngọc Thành, cựu học sinh Quốc Học, trong cuốn Công và Tội Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh và Ðảng Cộng Sản Việt Nam 1945-2006 Lịch Sử Hiện Ðại Việt Nam, in năm 2009 cho rằng, ông Hồ Chí Minh, đã đặt cái không tưởng Xã Hội Chủ Nghĩa trên quyền lợi quốc gia hay lợi ích dân tộc. Ông Hồ Chí Minh có công rất lớn với Liên Xô và Trung Cộng nhưng đối với dân tộc VN, ông và đảng cộng sản phạm tội phản bội tức phản quốc. Cũng vẫn theo giáo sư sử nhiều trường đại học ở Saigon trước 75, thường các vụ thống nhất đất nước là có công, nhưng vụ thống nhất VN sau 18 năm chiến tranh 1957-1975 là có tội vì mục tiêu chính là phục vụ Liên Xô, Trung Cộng và vì ý thức hệ Cộng Sản. Ông Hồ từng khoác lác, tôi dẫn năm châu tới đại đồng.


Một bạn cũng học ở Quốc Học hiện ở Saigon nói quá nhục nhã khi tôi nhắc tới cái tượng và tấm bia ngay ở cổng vào ghi tên các công thần gộc của chế độ. Chế Lan Viên viết: Mậu Thân 2000 người xuống đồng bằng, chỉ một đêm còn sống có 30, ai chịu trách nhiệm về cái chết 2000 người đó.Tôi! vì những câu thơ tôi làm người ấy xung phong. Năm 1999 Thứ Trưởng Bộ Thương Binh Xã hội Nguyễn Văn Quảng cho Ðài Truyền Hình Nhật NHK biết có 800,000 đồng chí hy sinh Tết đó. Ðến nay, nhiều gia đình vẫn còn tìm kiếm hài cốt người thân. Hỏi ai? Hãy níu áo Võ Nguyên Giáp; ông tướng cầm quân như tay đánh bạc không bao giờ sợ hết tiền. Còn Phạm Văn Ðồng ký công hàm 14 tháng 9, 1958 về Hoàng Sa, Trường Sa khó thoát tội Việt gian rành rành.


 


Dẫn xe tăng CSBV ủi Dinh Ðộc Lập


 


Một kỷ niệm đáng nhớ là đã cùng đồng nghiệp thời VNCH, Nguyễn Vạn Hồng (NVH) đạp xe dọc bờ biển trên đường Hoàng Sa & Trường Sa, từ núi Sơn Trà đến Ngũ Hành Sơn, còn gọi là núi Non Nước. Tôi đạp lạng quạng không hiểu vì ngây ngất trước cảnh trời biển bao la với từng đợt sóng từ xa ùa vào bờ hay vì mùi muối mằn mặn trong không khí và cái lành lạnh ban mai? Làm sao có chuyện một phóng viên Việt Tấn Xã dẫn xe tăng CSBV ủi cổng dinh Ðộc Lập ngày 30 tháng 4, 1975? Theo NVH, trên đường về làng báo chí đón vợ con, khi đến cầu Thị Nghè thì gặp xe tăng tiến qua; nép vô lề. Vài anh bộ đội trên xe hỏi đường trong đó có sĩ quan Bùi Quang Thận, cầm súng lục bắt dẫn tới dinh Ðộc Lập. Tôi quay xe chạy trước. Họ theo sau đến cổng rồi ủi vào cửa sắt.


Sau 75, NVH nổi tiếng với bút hiệu Cung Văn, làm cho tờ Saigon Giải Phóng; hiện còn giữ cờ lệnh xe tăng của sĩ quan Thận. Người quen nói với tôi, vì thấy toàn là dối trá nên NVH bỏ về Ðà nẵng, sống nhờ vợ. Thành phố này rất phát triển. Chúng tôi viếng Ðại Học Phan Châu Trinh, có 1200 sinh viên, lập năm 2007 ở Hội An, một thành phố cổ thu hút du khách nhờ Chùa Cầu, do người Nhật xây từ thế kỷ 17. Tôi gặp nhà văn Nguyên Ngọc, một giới chức của trường, đã có một buổi ăn trưa đáng nhớ bên dòng sông Thu Bồn: món đặc sản cá đối kho dưa gan. Theo nhà văn, cũng là cựu học sinh Quốc Học, cuộc chiến Nam Bắc Mỹ kết thúc đẹp. Có lẽ nhờ vậy, Hoa Kỳ mới là cường quốc; mới là nơi tụ hội của nhiều nhân tài từ khắp năm châu.


Trước khi đưa ra ga xe lửa rời xứ Ngũ Phụng Tề Thi về Qui Nhơn, vợ chồng NVH đã đãi tôi một bữa ăn mì quảng lươn ngon lành. Dù rằng nhà thờ bên ngoại tộc Lê ở Hà nội và bên nội chánh quán ở Bến Tre, và chẳng có kỷ niệm gì về thành phố này, tôi vẫn về đây vì gia đình tôi và mồ mả cha mẹ chị em trước 1945 ở Bình Ðịnh. Dịp này, tôi đã không quên đến Ghềnh Ráng viếng Ðồi Thi Nhân, nơi an nghỉ rất đẹp của Hàn Mặc Tử. Tuy mất lúc còn trẻ 28 tuổi năm 1940 vì bệnh cùi, ông hãy còn được giới văn nghệ nhắc đến: Ðây Thôn Vỹ Dạ, Gái Quê… Có hai con đường trong hai thành phố Qui Nhơn, nơi trưởng thành, và Ðồng Hới-Quảng Bình, nơi sinh ra, mang tên thi sĩ của trăng. Phạm Duy và Trần Thiện Thanh đều có phổ nhạc thơ Hàn Mặc Tử.


Trong một tháng tôi đã đi từ Nam ra Bắc, rồi vào Trung, đã cùng chị Phan Thanh Gia Lai, thuộc nhánh Phan Liêm đi Bến Tre thăm mộ Phan Thanh Giản, được gặp nhiều bà con bạn bè, được đón tiếp nồng hậu với tình cảm thắm thiết, được thăm viếng nhiều nơi, được ăn nhiều món đặc sản quí hiếm; không hề bị phiền nhiễu gì về giấy tờ, tiền bạc; nhưng tôi vẫn thấy không thể sống hẳn ở VN. Về đây ở mình sẽ như chui vào một cái trại; mà đã lọt vô rọ rồi thì phải ngậm mà nghe. Vả lại, thời gian rồi tôi như cỡi ngựa xem hoa. Rất rất nhiều người nói với tôi rằng, để sống dễ dàng phải tập làm quen với những điều chướng tai gai mắt, phải mũ nỉ che tai. Tôi muốn nói với các ông bà nào, còn vọng bác thì hãy về đây đi anh. Ðừng có chân trong, chân ngoài.


 


Chư hầu rồi?


 


Chuyến về VN có ba thời khắc chắc tôi nhớ hoài. Ðó là một giấc ngủ trưa tuyệt vời, sau bữa cơm chay, nằm trên ghế đá, trong vườn chùa im vắng, dưới bóng mát cây sa la, lơ mơ nhìn trời xanh mây trắng, nghe gió hiu hiu thôi, thỉnh thoảng vọng về tiếng gà gáy nơi xa. Chùa Tuần Chính Thiền Viện nằm giữa một cánh rừng tràm, do Ni Sư Thích Nữ Huệ Niệm trụ trì, xây năm 1986 tại một vùng kinh tế mới thuộc huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai. Lần thứ hai, ngồi lặng trên ghế đá ở sân trường Quốc Học, vào một buổi chiều âm u buồn, nhớ về một thời đã qua. Lần thứ ba, ngồi ở một quán bên bờ sông Saigon, lúc xế trưa, nghe tiếng còi hụ, nhìn đám lục bình bồng bềnh theo dòng nước đục mà không hiểu rồi nó sẽ tấp vào bến bờ nào?


Tôi có một anh bạn, hàng năm đôi ba lần về VN bằng tiền nhà, giúp hoàn thành một số dự án hay dạy học và bảo trợ cho nhiều sinh viên sang Mỹ lấy tiến sĩ. Anh du học thời VNCH, hiện là giáo sư của một trường lớn ở Mỹ, có nhiều bằng sáng chế, một hôm tâm sự, nước mình đánh nhau hàng chục năm để rồi chẳng có điểm nào coi được. Tệ như vậy nhưng CSVN vẫn thống trị thì tại sao? Theo tôi, về kinh tế, một phần nhờ chín tỷ đô la, hải ngoại gửi cho gia đình ở trong nước. Phần khác, VN ổn định được vì dựa vào hậu phương lớn phía Bắc như bài hát Việt Nam Trung Hoa có từ thời 1960: núi liền núi, sông liền sông, chung một biển đông, chung một ý, chung một lòng, chúng ta sống chung, nghe tiếng gà gáy cùng; muôn năm Hồ Chí Minh, Mao Trạch Ðông.


Thời gian tôi ở VN là thời gian báo chí nói tới sửa đổi Hiến Pháp 1992. Sau hơn 20 năm làm Hà Nội xác xơ, rồi sau khi thống nhất đất nước, CSVN để hơn 30 năm cho cán bộ gộc ăn no nê thành tư bản đỏ, giờ mới lập một ủy ban để Tìm Thông Ðiệp Chung Về Quyền Con Người và Tổ Chức Quyền Lực. Họ bàn tới quyền công dân, vai trò lãnh đạo của đảng, đổi mới chế độ bầu cử. Một người am tường việc này cho tôi biết, chưa chắc Bộ Chính Trị đồng ý với bản dự thảo. Ông tâm sự, ông bị thương khi vào Nam “giải phóng.” Tôi cho ông hay là tôi bị Việt Cộng bắn rớt máy bay. Ông cười: anh em mình bắn nhau. Ông tặng tôi tập san Nhà Nước và Pháp Luật. Tôi hỏi, nếu đảng chịu sửa Hiến Pháp nhưng Trung Quốc không đồng ý thì sao? Ông không trả lời. Như vậy là chư hầu rồi? Ông nhìn tôi, rồi tự nhiên nói: Ngày mai trời lại sáng.



Ðương nhiên, có ngày mai nào cứ tối mãi? Nhưng chừng nào 14 ông vua tập thể của Xã Hội Chủ Nghĩa VN mới sáng mắt sáng lòng không còn đồng hóa chế độ và đất nước; vứt bỏ cái cơ chế lỗi thời lai căng Nga Tàu, do Hồ Chí Minh mang về. Thật khó, khi Bộ Chính trị vì quyền lợi, đồng sàng đồng mộng với Trung Quốc, quyết duy trì ngôi vương. Tuy nhiên, nếu họ tiếp tục hèn với giặc phương Bắc rồi sẽ có ngày người dân ở Hồ Gươm nổi dậy như sóng, ở sông Hương xuống đường như lũ và ở Saigon bừng dậy như hỏa diệm sơn; cho dù CSVN có nêu lên 16 chữ vàng: láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai; và bốn tốt: láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt, để nhờ Trung Quốc cứu cũng không ngăn dẹp nổi.


Ðền bù đất đai không thực tế; luật pháp không minh bạch; xảy ra nhiều bản án oan sai, Luật sư gặp nhiều khó khăn cùng nạn chạy án của thầy cãi. Ðó là tình trạng tư pháp ở VN mà tôi được nghe qua trong cuộc trò chuyện tại Saigon với Luật Sư Nguyễn Bính Châu, tác gỉả mấy bài báo trên mạng BBC. Ngoài ra, theo tờ Nhà Nước và Pháp Luật, bằng hành vi pháp lý, người ta tạo ra sư hỗn độn của pháp luật. Các khẩu dụ thành quy tắc xử sự có hiệu lực cả bên ngoài cơ quan nhà nước. Ông Châu cho rằng để Pháp Luật không là cây đèn thần khủng bố, VN cần có Dân chủ.


Nhưng tôi chắc CSVN không dám thực hiện điều này vì lúc đó họ sẽ hết còn vừa đá banh vừa thổi còi và sợ ông Hồ có trăm tên ngàn mặt sẽ bị soi rọi, tênh hênh ra đó thì còn gì nữa đâu?


 


Dân Ca Khmer và Ngậm Ngùi của Huy Cận


 


Nhân dịp về VN tôi đã đi Siem Reap viếng Ðế Thiên Ðế Thích, không xa Saigon. Trên phi cơ rời Tân Sơn Nhất, ngồi cạnh chị Phạm Bích Thủy, có cuốn Về Sân Khấu Truyền Thống Khmer Nam Bộ của Sở Văn Hóa tỉnh Sóc Trăng; tôi mượn đọc thấy có mấy câu dân ca Khmer: Lời ru thành ngọn gió đưa; Quạt anh ve vuốt giấc mơ vợ hiền; Chìa tay anh, em gối lên; Xõa ngực anh, mái tóc mềm của em, khiến tôi nhớ đến bài Ngậm Ngùi của Huy Cận: Sợi buồn con nhện giăng mau; Em ơi! Hãy ngủ. anh hầu quạt đây; Lòng anh mở với quạt này; Trăm con chim mộng về bay đầu giường. Ngủ đi em, mộng bình thường; Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ. Thơ Huy Cận in trong Lửa Thiêng năm 1940. Còn mấy câu dân ca của Khmer có từ lúc nào?


Ðế Thiên Ðế Thích hay Angkor Wat và Angkor Thom có một quá trình kỳ lạ. Hiện nay nó là một cảnh quan thế giới, thu hút rất nhiều du khách.Trước đó nơi này là chốn trú ẩn của Khmer đỏ, đám quân đã giết hơn hai triệu đồng bào mình. Không ai biết tại sao nó bị bị bỏ hoang 4, 5 trăm năm để cho rừng cây che lấp. Cuối thế kỷ 19 người Pháp mới khám phá ra phế tích và tìm cách bảo tồn. Theo các nhà khảo cổ những điện chính được xây từ thế kỷ thứ VI và tiếp tục cho đến đời vua Suryavarman II (1113-1150). Công trình kéo dài làm tốn biết bao nhân lực, vật lực nhưng cũng thể hiện nghệ thuật tuyệt đỉnh về chạm, đục, khắc và vẽ hình trên đá của nền kiến trúc Khmer. Tất cả chỉ để làm nơi thờ thần hay tổ tiên của vua chúa; rồi sau trở thành linh đền thờ Phật.


Viếng thăm Ðế Thiên Ðế Thích ngoài việc biết dân tộc Khmer đã có một thời hưng thịnh, có một nền văn minh sáng chói; còn cho thấy đời sống tâm linh của dân tộc nước láng giềng thật kỳ bí bởi các hình tượng thần voi, sư tử, bò, rắn, chạm khắc trong các đền đài đầy huyền ảo; tuy hiện phần lớn họ theo đạo Phật, phái tiểu thừa. Hình ảnh in sâu đậm khác trong trí nhớ du khách là rừng cây hùng vĩ ở nơi này đã có thể nuốt trọn cả đền đài. Có những thân cây cổ đại 3, 4 trăm năm to bự ba bốn người ôm cũng không xuể, cao vời vợi, ngự trên đỉnh tháp với hàng chục rễ trắng nhợt, láng cứng như xi măng, dài hàng chục thước thòng xuống đất, ôm xoắn lấy chân tháp như con bạch tuộc đang giữ lấy mồi.


Phan Thanh Tâm


2/12 Saint Paul, MN.


 


(*) “Ði với Về cũng một nghĩa như nhau” là nhan đề một tập thơ của Du Tử Lê.

Tin sinh hoạt cộng đồng


Vận Ðộng Tự Do cho Việt Khang


Cộng đồng Việt Nam tại Minneota mời đồng hương tham gia buổi Vận Ðộng Tự Do cho Việt Khang vào lúc 2 giờ chiều Chủ Nhật, ngày 26 tháng 2 năm 2012, tại hội trường Burnsville Performing Arts Center, 12600 Nicollet Ave., Burnsville, MN. Ðây là một sinh hoạt cấp bách, mong quý vị hưởng ứng.


Xin liên lạc với Ðức Hùng: 612-986-4914.


 


Giỗ Tổ Hùng Vương


Hội Hùng Vương Minnesota kính mời đồng hương tham dự Ngày Giỗ Ðức Quốc Tổ Hùng Vương và Lễ Tưởng Niệm Hai Bà Trưng theo chi tiết sau:


Ngày: Thứ Bảy, 31 tháng 3, năm 2012


Thời gian: 2 giờ đến 4 giờ chiều


Ðịa điểm: Oak Grove Middle School, 1350 W. 106th Street, Bloomington, MN 55431


Liên lạc:


-Phùng Ð. Hưng: 952-681-6413


-Trương Hứa: 651-285-1317


-Lê Mác: 763-227-2795


 


Lễ Tốt Nghiệp Báo Chí


Viện Báo Chí Á Châu (Asian Community Media Institute) trân trọng mời đồng hương tham gia buổi lễ tốt nghiệp của 20 học viên Khóa Huấn luyện Báo chí. Chương trình sẽ được tổ chức theo các chi tiết sau:


Ngày: Thứ Bảy, 31 tháng 3 năm 2012


Thời gian: 5PM-8 PM


Ðịa điểm: Mai Village, 384 University Avenue, St. Paul, MN 55103.


Diễn giả: Ðại diện cơ quan truyền thông và chính quyền, GS Nguyễn Ngọc Bích (VA)-Chủ tịch Nghị hội Toàn quốc Người Việt tại Hoa Kỳ.


Giá vé ủng hộ: $20/mỗi người


Liên lạc:


-Thế Vinh: 651-224-0242


-Trần An: 651-224-6570


-Huỳnh Sĩ Nghị: 651-755-6864, [email protected]


 


Ðại Nhạc Hội “Tình Anh Lính Chiến”


Nhóm văn nghệ Red Envelope mời đồng hương tham dự 2 xuất nhạc “Tình Anh Lính Chiến” với MC Nam Lộc và các ca sĩ nổi tiếng CA và MN.


Ngày: Chủ Nhật, 26 tháng 2 năm 2012


Giờ: Xuất 3:00 PM và xuất 7:00 PM


Ðịa điểm: Bunsville Performing Atrs Center, 12600 Nicollet Avenue, Burnsville, MN 55337


Liên lạc:


-Ðạt: 612-229-9511


-Loan: 612-868-7660

Giới thiệu sách: QUÊ NHÀ QUÊ NGŨỜI



Tạp Ghi Huy Phương


 


Nghĩ quê người thương một phần


Nghĩ quê nhà cả trăm lần xót xa


(Huy Phương)


 


Là dòng thơ viết ngay trang đầu Tạp ghi Quê Nhà Quê Người của tác giả Huy Phương.


“Quê Nhà,” ông Huy Phương nói về những nhục nhằn mà đồng bào tại Việt Nam phải cúi mặt gánh chịu: về nhân cách bất khuất của những người dám đấu tranh cho khát vọng dân chủ, tự do của dân tộc; về phận đời lây lất của những cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa.


“Quê Người” không cường điệu, không uất giận, nhà văn từng mặc áo lính này từ tốn nói lên những điều có thể gây phật lòng một số người, nhưng rõ ràng là những sự thật diễn ra hằng ngày trong cộng đồng Việt Nam, nhưng ông cũng không quên nhắc đến những đóng góp tích cực của người Mỹ gốc Việt nơi quê hương thứ hai này. “Quê Nhà-Quê Người” của Huy Phương, như cách nói của nhà văn Hoàng Tiến hiện ở Việt Nam, “là những giọt máu nhỏ trên giấy.” Máu của một người lúc nào cũng trăn trở, buồn vui với vận mệnh chung của con người và đất nước Việt Nam. (Trích ý kiến văn hữu Ðinh Quang Anh Thái – Westminster, California).


Trăng Vàng xin giới thiệu đến quý độc giả quyển sách Tạp ghi thứ 6 của Huy Phương với nhan đề Quê Nhà-Quê Người Tạp Ghi Huy Phương.


Sách dầy 320 trang, gồm 60 bài tùy bút viết về Quê Nhà-Quê Người bằng những cảm nghĩ, cảm xúc chân thực của chính tác giả. Ấn phí 20 Mỹ kim.


Muốn mua sách hoặc biết thêm chi tiết, liên lạc vói tác giả qua số: 949-241-0488


Email: [email protected]

Hội Chợ Nghề Báo

 


Mai Hoàng


 


Một hội chợ nhằm giới thiệu công việc cho nguời muốn tham gia vào nghề báo đã được trường The Institute of Production and Recording (IPR) phối họp cùng Tuần báo Anh ngữ ASIAN AMERICAN PRESS đã được tổ chức vào ngày Thứ Tư, 16 tháng 2 năm 2012 tại hội trường chính của IPR thuộc thành phố Minneapolis, MN.









Hơn phân nửa học viên của khóa Huấn luyện Báo chí Việt Nam đã tham gia gần 4 giờ đồng hồ để tìm hiểu thêm về thị trường công việc cho ngành bào chí.


Các tham dự viên “Hội Chợ” đã lần lược tiếp xúc với đại diện các cơ sở báo chí gồm báo in, báo mạng, truyền thanh và truyền hình. Ngoài các cơ sở báo chí cũng còn có những công ty cần người làm cho những công việc có liên hệ ít nhiều với nghề báo như nhiếp ảnh, quay phim, vẽ kiểu, viết bài và giao tế. Sau phần nói chuyện với các công ty, nhóm học viên của khóa Huấn luyện Báo chí Việt Nam đã được Ban điều hành trường IPR hướng dẫn tham quan cơ sở và quan sát thiết bị kỹ thuật tối tân.


 


Sau cùng là một bữa tiệc thân mật giữa Ban Tổ Chức Hội Chợ và phái đoàn của Khóa Huấn luyện Báo chí cho người Việt Nam do Trung tâm Báo chí Á Châu đảm trách.

Tản Mạn Thơ Văn

 


Lê Hoàng Long


 


Chúng tôi xin đa tạ sự đóng góp của quý vị độc giả khắp nơi. Vườn hoa văn nghệ sẽ khởi sắc với muôn mầu, muôn vẻ nhờ những áng thơ của quý vị với tiết tấu truyền cảm và những văn thể đanh thép, cương cường, ngọt ngào, lãng mạn, trữ tình, châm biếm, dí dỏm, khôi hài, v.v.


Ðể đóng góp, xin quý vị gởi về emails dưới đây:


[email protected]hay [email protected]


Khi đóng góp, xin đề “Mục Tản Mạn Thơ Văn”


***


Dưới đây là một số bài thơ quý vị độc giả đóng góp:


Chẳng ai có thể quên thảm cảnh cố đô vào dịp Tết Mậu Thân, 1968. Nỗi đau buồn không chỉ lưu lại trong lòng người dân Huế mả cả trong lòng dân tộc. Ðó là hành động man dại chế độ Cộng Sản gây ra vào giờ phút linh thiên cổ truyền của dân tộc Việt Nam.


Thủ phạm cuộc thảm sát chính là những kẻ trí thức nằm vùng. Hậu quả là dân tộc đau khổ triền miên cho tới bây giờ!


Ðiều quan trọng là thảm cảnh phải được nhắc nhở hàng năm để thể hệ kế tiếp nơi tha phương không sao lãng.


 


Huế Tang Thương


 


Mậu Thân, biến cố cảnh tang thương.


Nhớ lại lòng vương nỗi đoạn trường.


Thảm sát dân lành trên xứ Huế.


Mồ chôn tập thể ngập đầy xương!


Vô lương lũ Cộng say tàn sát.


Máu đỏ da vàng chẳng tiếc thương!


Oán hận ngàn đời ghi sử sách.


Hàng năm tưởng niệm chốn tha phương.


Huế Mậu Thân: Nén Hương Lòng Tưởng Niệm


Hồng Lĩnh


 


Kính thưa quý vị,


Kính thưa quý thân hữu, quý chiến hữu cùng quý niên trưởng


Tuy đã 40 năm rồi, mặc dầu thời gian là thần dược cho lãng quên nhưng cứ mỗi độ Xuân về hình ảnh tang thương của Huế Mậu Thân 68 cứ khơi dòng lệ. Mùa Xuân năm ấy Cộng Sản Việt Nam đã vi phạm thỏa ước hưu chiến do chúng đề nghị để tàn sát dân cố đô trong các ngày trọng đại và thiêng liêng nhất của dân tộc.


Thế kẹt quân sự của Cộng Sản Việt Nam. Trong khoảng thời gian 1966-1967, Cộng Sản Việt Nam tuy đã thí rất nhiều thanh niên miền Bắc với khẩu hiệu “sinh Bắc tử Nam” nhưng tất cả đã tan tành trên các mặt trận do liên quân Mỹ-Việt nện cho. Vì lý do ấy, Võ Nguyên Giáp đành tạm thời ngưng lưu động chiến và trận địa chiến, rút quân qua Cambodia hay vào rừng sâu núi thẳm của dãy Trường Sơn.


Trước thế bí và sa lầy của ván bài quân sự xâm lăng từ Bắc vào Nam, vào đầu Xuân Mậu Thân 68 Võ Nguyên Giáp đã thí một cách vô tội vạ 70,000 Bắc quân (1) đem chiến tranh về thành phố. Giáp liều mạng đem quân đánh sâu vào các đô thị miền Nam. Không biết Giáp đã nhắm mục tiêu gì cho cuộc thí quân mang một hợp từ rùng rợn “Tổng công kích-Tổng khởi nghiã”?


Mục tiêu chính trị thay cho giải pháp quân sự (2). Trước sức mạnh quân sự của liên quân Mỹ-Việt và tinh thần chống cộng của nhân miền Nam, Giáp rơi vào thế sa lầy và tìm lối thoát bằng cách đặt đối thủ vào thế yếu chính trị. Giáp khai triển phong trào phản chiến tại Mỹ bằng cách tạo cú sốc tâm lý làm nản lòng dân Mỹ trong việc ủng hộ quân dân VNCH chiến đấu bảo vệ tự do.


Giáp triển khai hai chiến lược (3). Chiến lược số một đánh vào dư luận quần chúng Việt Nam bằng cách tung một lúc các đoàn quân cảm tử chiếm 35 thành phố trong một thời gian cần thiết, tạo ra một cuộc sát hại đẫm máu tất cả những ai chống lại Cộng Sản Việt Nam. Từ các chiến khu xa xôi trong rừng thẳm, quân cảm tử của Giáp phải chia ra từng nhóm nhỏ để tránh khỏi bị lộ trên đường di chuyển về các thành phố. Do đó số quân vào tới các thành phố không nhiều lắm với mơ hồ muốn đảo ngược tình thế quân sự lúc ấy. Một cán binh chết còn để lại trong túi bài thơ “Ngóng chờ đại quân như trông giòng sữa mẹ.” Chúng cố gắng tung nhiều lực lượng vào hai điểm chính: Sài Gòn và Huế. Mặc dầu bị bất ngờ nhưng Quân lực VNCH đã phản công nhanh chóng trên toàn quốc nên chỉ có Huế bị chúng chiếm tới 26 ngày. Cái mà Cộng Sản Việt Nam muốn tạo ra đã không xảy ra nơi dân chúng miền Nam: một cuộc nổi dậy như chúng mơ ước. Chiến lược số hai nhằm làm xúc động và nản lòng quần chúng Mỹ bằng cách tấn công vào Tòa Ðại Sứ Mỹ tại Sài Gòn. Giáp muốn chứng tỏ cho dân chúng Mỹ biết là Cộng Sản Việt Nam có khả năng tiến chiếm bất cứ một thành phố nào tuy vào thời điểm 1968 Mỹ có 536,000 quân tham chiến, và VNCH (4) có 820,000 quân. Ba nhân chứng trong cuộc của phe Cộng Sản Việt Nam đánh giá hai chiến lược này của Giáp như sau:


Trung Tướng Trần Ðộ (5) chỉ huy chiến dịch Tổng công kích-Tổng khởi nghiã có phát biểu: “Với tất cả sự thật, chúng tôi không đạt được mục tiêu chính là tạo ra cuộc nổi dậy tại miền Nam. Tuy thế, chúng tôi đã gây nhiều mất mát nặng nề cho Mỹ và ‘bù nhìn’ và là một thành công to lớn. Về phần tạo một chấn động tại Mỹ, không phải chủ tâm của chúng tôi, nhưng là một thành công vĩ đại.”


Bác Sĩ Dương Quỳnh Hoa (6) đã tuyên bố tại Sài Gòn vào năm 1981: “Chúng tôi đã mất hầu hết những phần tử ưu tú nhất của chúng tôi, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam.”


Thượng Tướng Trần Văn Trà (7) trong báo Quân sử phát hành năm 1982 tại Hà Nội viết: “…Chúng tôi không đánh giá đúng mức tương quan lực lượng của chúng tôi và của địch. Chúng tôi biết địch còn nhiều khả năng kinh khủng và khả năng của chúng tôi rất giới hạn.”


Giáp đã khai triển hai chiến thuật bội ước và nghi binh để tạo bất ngờ cho liên quân Việt-Mỹ (8). Bội ước thỏa ước hưu chiến. Cộng Sản Việt Nam tấn công vào thời điểm hưu chiến do chính chúng đề nghị vào những ngày thiêng liêng nhất của dân tộc. Ðối với chúng, cứu cánh biện minh cho phương tiện. Nghi binh. Vào ngày 21 Tháng giêng (9), Cộng sản Việt Nam đánh nghi binh vào căn cứ Thủy Quân Lục Chiến Mỹ tại Khe Sanh với chủ ý để liên quân Việt-Mỹ rút quân về bố trí gần Khe Sanh và bỏ trống các thành phố, nhất là Huế và Sài Gòn. Thật thế, để tăng cường cho Khe Sanh, Tướng Westmoreland đã điều động hai lữ đoàn của Sư Ðoàn Kỵ Binh Không Vận từ Cao Nguyên và Sư Ðoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến từ Huế tới gần Khe Sanh (10). Sự chuyển quân ấy làm yếu phòng thủ cố đô Huế. Hơn nữa, vào những giờ đầu phản công, VNCH tham chiến chỉ có 1/2 tổng số quân, nửa kia đang nghỉ phép ăn tết tại gia đình, còn phía quân Mỹ tuy đang có mặt tại chỗ nhưng chỉ tham chiến vài giờ sau đó. Cho nên ta không ngạc nhiên khi thấy chỉ có Huế bị cộng quân chiếm giữ lâu như thế.


Bất ngờ đến đâu? Liên quân Việt-Mỹ thực ra không hoàn toàn bị bất ngờ. Do tin tức cung cấp của số tù binh CS bắt được trước đó và do tình báo riêng, ta đã biết địch sẽ đánh lớn nhưng không ngờ chúng sẽ đánh vào dịp Tết và không rõ sẽ đánh những điểm nào. Cần ghi nhận ba sự kiện:


Một là cảnh giác cao độ của tình báo Mỹ tại Sài Gòn. Tình hình Khe Sanh và Huế không đáng ngại nên phía VNCH cho các quân nhân về phép ăn Tết rất đông. Nhưng trước đó ít lâu, viên tướng tư lệnh Mỹ đảm trách bảo vệ Sài Gòn, sau khi phân tích tình hình chung, đã phát giác có một sự kiện bất thường có vẻ giống tình hình của mùa Ðông năm 44 trước khi Hitler phản công vào dịp Giáng Sinh tại Ardennes. Các hoạt động bên ngoài của cộng quân xem ra không ăn khớp với nhau. Từ đó ông linh cảm là cộng quân sắp làm một chuyện gì lớn. Tướng Westmoreland chấp nhận phán đoán của tướng trách nhiệm bảo vệ Sài Gòn và điều động ngay 15 tiểu đoàn chiến đấu từ biên giới Miên-Việt về chung quanh Sài Gòn vào giờ phút chót. Ông cũng điện về Washington (11) cho hay có nhiều dấu hiệu cho thấy cộng quân sẽ mở nhiều cuộc tấn công cấp trung đoàn vào dịp Tết tại khu vực Huế. Nhưng không hiểu vì lý do gì Huế đã không được báo động đúng mức.


Trong khi đó tại Huế, Chuẩn Tướng Ngô Quang Trưởng, tư lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh đã ra lệnh cho Trung Ðoàn 3 ra khỏi thành nội Huế tảo thanh, do đó Thành nội bị bỏ trống, chỉ còn lại đại đội Hắc Báo. Tại Ðàn Nam Giao có thêm Ðại Ðội I Trinh Sát của Sư Ðoàn 1 Bộ Binh.


Cộng Sản Việt Nam tổ chức đánh Huế: Cộng Sản Việt Nam đã quyết định đánh Huế từ tháng 7 năm 1967. Ðể đánh Huế, Cộng sản Việt Nam đã đặt riêng một bộ tư lệnh chỉ huy chiến dịch, dùng tới hai trung đoàn bộ binh và các đặc công thành đội làm chủ công và hai trung đoàn bộ binh khác làm chi viện. Hai trung đoàn chủ công là Ðoàn 5 do Nguyễn Vạn làm thủ trưởng, và Ðoàn 6 do Trung Tá Nguyễn Trọng Dần làm thủ trưởng. Hai trung đoàn chi viện là Ðoàn 9, hay Trung Ðoàn Cù Chính Lan cũ, do Trung Tá Di chỉ huy. Còn Ðoàn 8, hậu thân của Trung Ðoàn Sông Lô, mãi vào phút chót mới tham dự tấn công. Chúng tới Huế vào khoảng 30 tháng 1, 1968 qua các ngã Mộc Năng và Ðình Môn, La Chữ, Cối Kê (chi viện). Tổng cộng có tới 7,500 tên địch lọt vào thành phố Huế cộng với đặc công thành đội (12).


Cố đô trong biến cố: Sau khi 7,500 quân Cộng Sản Việt Nam đã lọt vào thành phố Huế, Cộng Sản Việt Nam tự do đi lại và hành động trong các khu phố suốt từ mồng hai (31 tháng 1, 1968) đến mồng bốn Tết (2 tháng 2, 1968) mà không gặp một phản ứng nào từ phía quân lực VNCH.


Trong các ngày tự do hành động, chúng lập Mặt Trận Liên Minh Dân Chủ và Hòa Bình do Giáo Sư Lê Văn Hảo làm chủ tịch. Ông này đã trở về sau khi trốn khỏi thành phố Huế ngày 28 tháng 1, 1968. Một số sinh viên và dân chúng từng thuộc thành phần Phật giáo đấu tranh và Hội Ðồng Cứu Quốc mấy năm trước tham gia vào tổ chức này. Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Ðắc Xuân cũng tham gia phong trào của Giáo sư Hảo. Ðịch làm chủ thành phố ngay từ đêm mồng một tết (30 tháng 1, 1968). Chúng dùng thời gian nầy để kiểm tra dân trong thành phố.


Ðầu tiên chúng vào từng nhà gọi tất cả ra tập hợp và phân loại. Công chức, quân nhân, cảnh sát bên Tả ngạn bị chúng bắt đi mất tích, còn bên Hữu ngạn bị nhốt tại toà Ðại biểu chính phủ một đêm sau cho về. Tất cả dân chúng thành phố bị đoàn thể hóa và tất cả máy thu thanh bị tịch thâu.


Kế đến chúng kêu gọi tất cả công chức, quân nhân, cảnh sát còn đâu đó phải ra trình diện nạp vũ khí. Ai ra trình diện được chúng phát cho một thẻ và cho về. Nếu không ra bắt được sẽ bị hành quyết ngay.


Sau đấy chúng bắt đầu giết và khủng bố. Sau hai ngày của giai đoạn hai, chúng đi từng nhà gọi cán bộ quốc gia và đồng bào đi học tập. Tất cả thành phần công chức, cảnh sát, quân nhân và dân chúng có tinh thần quốc gia bị chúng thủ tiêu trong lúc “học tập.” Ngoài ra còn một số dân không thấy trở về nữa. Chính họ phải tự đào lấy hố chôn mình. Ðêm đến người bị giết hay bị trói, rồi bị xô xuống hố (13). Rải rác tại các nơi như trường trung học Gia Hội, chùa Tăng Quang Tự, Bãi Dâu (30 hầm), Lăng Tự Ðức (20 hầm). Sau ngày quân lực VNCH và Mỹ giải phóng Huế, những xác đào lên cho thấy những đồng bào bạc phước ấy bị giết một cách vô cùng dã man như bị chặt đầu, chặt tay trước khi chôn, hoặc bị chôn sống trói từng cụm từ 10 tới 15 người rồi bị xô xuống lấp đất. Trong thời gian này, có ba người Ðức là hai Giáo sư Bác sĩ Raimund Discher và Alois Alterkoster cùng với bà Hort Gunther Krainich bị bắt sáng 31 tháng 1, 1968 và sau đấy cũng bị chôn sống (14). Họ đến Việt Nam giảng dạy y khoa trong chương trình thân hữu. Mãi tới tháng 4, 1968 mới tìm ra hầm chôn các bác sĩ và bà Krainich. Sự thảm sát nầy đã làm cho cả thế giới công phẫn và chấn động. Ông Trần Ðình Phương, phó thị trưởng Huế, bị hạ sát ngay trước nhà. Thiếu Tá Trần Hữu Bào, phó nội an, Thiếu Tá Bửu Thạnh, ủy viên toà án, bị giết không tìm ra xác. Ông Nguyễn Khoa Hoàng, chánh án tòa thượng thẩm Huế, cùng con trai lớn cũng bị bắt và giết. Trước khi được đội cảm tử Hắc Báo giải cứu, đã có nhiều bác sĩ, y tá và các thương bệnh binh bị sát hại trong bệnh xá sư đoàn ở Mang Cá. Xác của họ nằm ngổn ngang chất đống trên giường, dưới đất, tràn lan khắp nơi từ các phòng ra tới sân. Xác chết tan hoang đầy nhát chém và lỗ đạn. Máu me chảy từng dòng. Từ người tàn tật không vũ khí tới kẻ làm việc nhân đạo với các dụng cụ y khoa đang nắm chặt trong tay, tất cả đều bị sát hại một cách tàn nhẫn không gớm tay.


Số nạn nhân bị giết, theo ông Douglas Pike, trong cuốn: The Viet Cong Strategy of Terror, có tới trên 7500 người (15). Sau cơn sát hại, giải khăn sô bao trùm xứ Huế. Báo chí các nước lên tiếng về cuộc thảm sát qua ký giả Stewart Harris của báo Times tại Luân Ðôn cực lực phản đối ở trang đầu với hàng chữ lớn nhan đề “Chính sách hành quyết tập thể tại Huế.” Ký giả Yves Gautron của báo Minute viết: “Không thể tha thứ đuợc hành vi man rợ của Cộng sản Việt Nam đã sát hại những dân vô tội tại Huế.” Thanh niên Pháp đã tổ chức một cuộc biểu tình tại công trường Ternes lên án các hành động dã man của Cộng sản Việt Nam ở Huế.


Những lời tuyên bố của một vài nhân vật chủ chốt từ phía Cộng sản Việt Nam. Hoàng Phủ Ngọc Tường (16) khi trả lời phỏng vấn trong bộ phim tài liệu dài 13 cuốn “Vietnam” của đài Television History đã khẳng định như sau: “Quân đội cách mạng phải làm như vậy để những phần tử có nợ máu với nhân dân không còn thực hiện được tội ác nữa.” Trung Tướng Trần Ðộ (17) chối bỏ những hình ảnh thảm khốc tại Huế và quan niệm rằng ai đó đã “chế” các hình ảnh và phim các xác chết.


Ðã 40 năm rồi, cho dù không còn VNCH nữa nhưng mảnh khăn sô cho xứ Huế vẫn còn. Cái tang ấy luôn mãi mãi trong tâm trí người Việt về một đầu Xuân đẫm máu. Người Việt sát hại người Việt vì một ý thức hệ ngoại lai. Ý thức hệ ấy đã tạo ra một lớp người man rợ, hết tình người và trở thành lang sói. Cộng Sản Việt Nam đã ngang nhiên gây đổ máu và tan hoang cho đồng bào trong những giây phút thiêng liêng nhất của dân tộc. Các nạn nhân xứ Huế của Xuân 68 đã phải vội ra đi khi chưa dứt tiếng cười trong ba ngày Tết. Chỉ những kẻ vong bản mới dám công khai làm thế! Một bài học đừng bao giờ quên về con người Cộng Sản Việt Nam.


(Tưởng niệm linh hồn anh cả HÐT bị Cộng Sản Việt Nam thảm sát tại Huế 1968)

Ðại gia hạ cánh an toàn, trung lưu phá sản, dân đen tuyệt vọng – Nguyễn Xuân Nghĩa

 


Nguyễn Xuân Nghĩa


 


(Thuyết trình trước cuộc hội thảo ngày Thứ Bảy, 15 tháng 10 của Hội Khoa Học & Kỹ Thuật Việt Nam (VAST) tại California)


Tóm tắt: Sau 1975 là 10 năm hoang tưởng vì “tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa.” Còn tiến đến tận Kampuchia. Vì chiếm đóng xứ láng giềng này, Tổng sản lượng GDP vốn dĩ đã suy sụp còn mất toi 5% mỗi năm. Vì vậy Việt Nam mới tiến lên cao điểm là khủng hoảng năm 1986 và bước ngoặt là Ðại Hội VI.










Mừng Xuân mừng Ðảng, với cái mẹt.


Sau đại hội đó là năm năm lúng túng thả nổi, từ 1986 đến 1991, vì nhà cầm quyền biết thế nào là sai mà chưa rõ thế nào là đúng. Ðó là “đổi mới tự phát,” buông tay ra cho dân làm ăn tự do hơn trước. Quả nhiên là có khá hơn xưa, và dân hết đói.


Lý do: Nôm na thì Việt Nam gặp bài toán cổ điển là “cải cách kinh tế mà không cải cách chính trị” nên làm nẩy sinh một xã hội lý tài ruỗng nát, mà không ai dám nói tới một giải pháp khác.


***


Ðầu năm nay, một giới chức cao cấp của Hà Nội là ông (cựu) Thống đốc Ngân hàng Trung ương có phát biểu rằng dân ta sẽ ăn một cái Tết vui vẻ huy hoàng nhất. Quả nhiên, người ta đã cố thổi lên không khí lạc quan phấn khởi vì Ðại hội Ðảng khóa XI vừa kết thúc trước Tết hai tuần.


Nhưng đấy là sự lạc quan của kẻ uống thuốc bổ.


Vì chín tháng sau Ðại Hội XI, cách đây năm ngày, hội nghị kỳ ba của Ban Chấp Hành Trung Ương khóa XI vừa “thống nhất” quyết định là phải cải tổ nền kinh tế trong ba lãnh vực là đầu tư, thị trường tài chánh và doanh nghiệp nhà nước. Lý do “tái cơ cấu” này được chính người đầu đảng nêu ra:


“Kinh tế vĩ mô chưa thật ổn định; lạm phát vẫn ở mức cao, tiềm ẩn nguy cơ bùng phát; nợ công, đặc biệt là nợ nước ngoài tăng nhanh; dự trữ ngoại hối mỏng, áp lực đối với tỉ giá còn lớn; thị trường tài chính, thị trường bất động sản giảm sút, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp đang phải đối mặt với tình trạng giá cả đầu vào, lãi suất cao, hàng tồn kho lớn… Tình hình nêu trên có nguyên nhân khách quan là do tác động của khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu; nguyên nhân chủ quan là do những yếu kém của nội tại nền kinh tế với mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế lạc hậu, kém hiệu quả, tích tụ kéo dài từ lâu, chậm được khắc phục và do những hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý, điều hành của các cấp các ngành, đặc biệt là trong điều hành chính sách tiền tệ, tài khóa; quản lý quy hoạch, đầu tư, đất đai, tài nguyên, thị trường bất động sản…”


Bỏ qua ngôn từ chính thức đó mà nói theo dân gian thì Việt Nam đang mấp mé khủng hoảng. Người ở trong nước gọi là “chết lâm sàng.” Ðảng Cộng Sản VN phải tiến hành một đợt cải cách nữa, cũng quyết liệt như cách đây đúng 20 năm.


Mà vì sao 20 năm?


Và tình hình nguy ngập như thế nào?


 


Bối cảnh thời gian


 


Chúng ta có thể tạm nhớ lại vài mốc thời gian để mường tượng ra các bài toán và giải pháp của những người đã độc quyền cai trị đất nước từ năm 1975 đến nay:


Sau 1975 là 10 năm hoang tưởng vì “tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa.” Còn tiến đến tận Kampuchia. Vì chiếm đóng xứ láng giềng này, Tổng sản lượng GDP vốn dĩ đã suy sụp còn mất toi 5% mỗi năm. Vì vậy Việt Nam mới tiến lên cao điểm là khủng hoảng năm 1986 và bước ngoặt là Ðại Hội VI.


Sau đại hội đó là 5 năm lúng túng thả nổi, từ 1986 đến 1991, vì nhà cầm quyền biết thế nào là sai mà chưa rõ thế nào là đúng. Ðó là “đổi mới tự phát,” buông tay ra cho dân làm ăn tự do hơn trước. Quả nhiên là có khá hơn xưa, và dân hết đói.


 


Nhưng còn đảng thì sao?


 


Khi Trung Quốc và Liên Xô bị khủng hoảng năm 1989 rồi Liên Xô tan rã năm 1991, nhà cầm quyền hốt hoảng nên đành đổi mới thật. Mà nhìn quanh thì chỉ còn thấy mô hình Trung Quốc, vừa có vẻ khả quan về kinh tế lại an toàn về chính trị. Từ đấy, Việt Nam trôi vào bóng rợp của Trung Quốc vì lý do ta gọi là ý thức hệ. Thực tế là để đảng tìm chỗ tựa về chính trị.


Thời điểm mấu chốt là năm 91 đó, cách đây 20 năm, khi chế độ bị chao đảo và nghiêng về Bắc Kinh trong cách cải tổ.


Nhưng trong 5 năm đầu của thời đổi mới từ trên xuống thay vì từ dưới lên như trước, nhà cầm quyền vẫn mò chân xuống nước mà đi. Từ 1991 đến 1996 thì chỉ giải tỏa những gì không gây ra rủi ro chính trị, chứ chưa dám bung hẳn ra ngoài theo kinh tế thị trường, dù rằng đã được quốc tế viện trợ để cải cách.


Ðấy là lúc Hoa Kỳ nhập cuộc, kể từ 1993-95 trở đi.


Năm năm sau, từ 1996 đến 2001, Mỹ lần lượt bãi bỏ lệnh cấm vận và bình thường hóa quan hệ kinh tế rồi ngoại giao, với dấu mốc là Hiệp định Thương mại Song phương BTA ký năm 2001. Bước nhảy vọt khởi sự từ đó, dù Hà Nội vẫn hoài nghi e ngại việc hội nhập vào kinh tế thế giới. Và vẫn sợ ý đồ của Mỹ!


Hà Nội mất 10 năm thương thảo việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO cho đến khi vượt qua cửa Hoa Kỳ với quy chế thương mại bình thường NTR, xưa kia được gọi là Tối Huệ Quốc, được Mỹ chấp thuận đúng năm năm trước đây, vào cuối năm 2006.


Thế rồi từ khi gia nhập Tổ chức WTO thì nhà cầm quyền Hà Nội rơi vào trạng thái tâm lý ngược, là hồ hởi sảng, như con cá nước lợ đã tung tăng ra biến lớn. Nó bị say sóng! Ðó là tình hình từ 2007 đến nay.


Do sự lạc quan thiếu cơ sở, Hà Nội tưởng rằng sẽ tập trung cả đặc quyền lẫn đặc lợi vào khu vực kinh tế xã hội chủ nghĩa với việc thành lập các tập đoàn kinh tế nhà nước, trong khi vẫn khai thác được lợi thế của kinh tế thị trường.


Kết cuộc là nguy cơ khủng hoảng như ta đã thấy.


Nhìn lại trong trường kỳ thì cũng không khác vụ khủng hoảng kinh tế của năm nước Ðông Á vào thời 1997-1998. Nhưng có khác vì Việt Nam chưa có kinh tế thị trường và cũng không có chính trị dân chủ, nên khó xoay trở hơn các nước kia.


Ðấy là bối cảnh của những khó khăn hiện nay.


 


Thách đố trước mặt


 


Chúng ta phải nhìn lại toàn cảnh từ khi giao lưu với Mỹ và được mở cánh cửa vào WTO:


Vốn dĩ đa nghi mà chẳng nghi ngờ sự kém hiểu biết của mình, lãnh đạo Hà Nội khám phá là ta khôn hơn nên có lợi lớn sau khi bang giao với Hoa Kỳ! So với tình hình năm 1995, ta mua của Mỹ gấp 10 mà bán cho Mỹ gấp 128 lần. Quả là Mỹ khờ! Như năm ngoái Việt Nam đạt xuất siêu là hơn 11 tỷ đô la, và mới có 5 tháng của năm nay thì đã lời thêm gần 5 tỷ.


Nhưng trong 10 năm cầy cục lập hồ sơ xin vào WTO, Hà Nội cũng không hề nghi ngờ sự thiếu hiểu biết nên chẳng chuẩn bị giai đoạn tiến ra biển lớn. Cơ chế kinh tế, luật lệ và thông tin của Việt Nam không có khả năng đối đầu với những thách đố dồn dập của thời “hậu WTO.” Mà vẫn cứ lạc quan hồ hởi với cái tệ sùng bái chỉ tiêu tăng trưởng vì thấy sản xuất tăng vọt. Và quả nhiên là gây lạm phát từ cuối năm 2007.


Khi ấy, một yêu cầu lưỡng nan – vừa tống ga để tăng trưởng mạnh, vừa đạp thắng để hãm đà vật giá – đã thách đố khả năng ứng phó của chính quyền.


Mà ngoài biển lớn cũng có sóng dữ: thế giới lại bị tổng suy trầm 2008-2009 nên Việt Nam bị ảnh hưởng. Theo đúng bài bản Trung Quốc, Việt Nam lại tăng chi và ào ạt bơm tín dụng để kích thích kinh tế với hậu quả tương tự: gây bội chi ngân sách, lạm phát và thổi lên bong bóng đầu cơ địa ốc.


Nhìn lại thì trong các nước Á Châu, Việt Nam đứng đầu – còn hơn Trung Quốc – về kích thích kinh tế với lượng tín dụng bơm ra từ 2008 đến 2010 là 100 tỷ đô la, bằng Tổng Sản Lượng GDP! Cũng vì vậy mà kinh tế gặp họa còn tệ hơn Trung Quốc.


Sau đây là vài con số khô khan mà người ta phải nói đến.


Ðó là chỉ tiêu 7% đã tuột khỏi tầm tay, năm nay mà đạt 6% là mừng. Mà lạm phát lại gần 20%, cao nhất từ bốn năm nay. Bội chi ngân sách bằng 6% GDP. Nhập siêu mỗi tháng chừng một tỷ, mà được với Mỹ bao nhiêu thì nạp cho Tầu bấy nhiêu. Cán cân chi phó hay vãng lai hụt cỡ 5-6% GDP. Dự trữ ngoại tệ chỉ còn đủ cho gần hai tháng nhập cảng và đồng bạc mất giá nên càng gây lạm phát trong vòng luẩn quẩn. Ngoại trái chiếm 50% GDP và nếu kể cả số nợ của doanh nghiệp nhà nước mà chính quyền phải đảm bảo và trả nợ đậy, thì số công trái đã vượt tổng sản lượng. Tức là lên đến mức báo động. Cũng nguy ngập như hệ thống ngân hàng với núi nợ khó đòi và sẽ mất. Còn thị trường địa ốc thì xì như trái bóng hết hơi vì hết được bơm thuốc bổ.


Trong cơn sóng gió vừa qua, Việt Nam tụt hậu so với các xứ khác: nội một năm, sức cạnh tranh sụt sáu bậc. Còn giá trị trái phiếu bị giáng cấp tới điểm B- là hạng thấp của giấy lộn “junk bond.” Giới đầu tư quốc tế đang nghĩ lại về ảo vọng của họ tại Việt Nam.


Nguồn hy vọng cuối chính là tiền bạc do thân nhân gửi về, được Ngân Hàng Thế Giới ước lượng vào tháng 5 vừa qua là từ 7.2 tỷ đến tám tỷ đô la cho năm 2010! Ngẫu nhiên sao lại bằng mức gia tăng sản xuất của gần 90 triệu dân trong cả năm. Nhưng đấy chỉ là một cách nhìn máy móc của con số.


Chứ thực tế thì tình hình còn đen tối hơn.


Hệ thống sản xuất của Việt Nam có ba giai tầng cao thấp khác nhau. Trên cùng là các tập đoàn nhà nước với giới điều hành là các đảng viên cao cấp có toàn quyền về kinh tế, kinh doanh, vay mượn hoặc sử dụng đất để trục lợi, mà thực tế đóng góp rất ít cho kinh tế nếu so với tài nguyên được phép tận dụng một cách vô trách nhiệm vì theo diện chính sách. Ở giữa là các doanh nghiệp cổ phần tiếng là của tư nhân mà đa số là tay chân của thân tộc hoặc những ai có quan hệ với đảng viên cán bộ, để chia chác đặc quyền từ trên ban xuống.


Dưới cùng là các tiểu doanh thương loại nhỏ và trung bình, họ phải luồn lách qua hệ thống luật lệ và chính sách mờ ảo để trục lợi – hoặc vặt mũi bỏ mồm. Thành phần này có rủi ro phá sản cao nhất dù tuyển dụng nhiều nhân công nhất. Thực tế thì năm nay đã có năm vạn cơ sở chính thức đóng cửa và thải người vì làm sao kinh doanh có lời khi phải vay lãi đến hơn 20 phân trong khi cả thế giới đang bị suy trầm?


Dưới đáy của hệ thống kinh tế đó là nông dân, bị cướp đất và phá rừng, bị ở trên trưng thu trục lợi khi gạo lên giá và lãnh họa lúc hệ thống đê bao bị bể, là chuyện đang xảy ra.


Phản ảnh cái hạ tầng kinh tế đó là hệ thống xã hội bất công đã được định chế hóa ở trên.


Các đại gia và thân tộc của đảng ở trên cùng là những kẻ giàu nhất nước, tiêu xài như Mỹ, đi Mỹ như đi chợ, để “đầu tư,” rửa tiền và tẩu tán tài sản thụ đắc bất chính, dưới sự đo đếm mẫn cán của công lực Mỹ. Ở giữa là thành phần gọi là trung lưu khá giả thì cũng là những ai có quan hệ với nhân sự của đảng. Trong tầng lớp này, không thiếu những kẻ giàu nổi hãnh tiễn và khoe khoang sự thành tựu của mình.


Ở nấc dưới của xã hội lý tài và bất công đó là một đa số còn nghèo khổ.


Thảm kịch lớn là họ chịu đựng sự nghèo khổ ấy và một số tìm nấc thang leo lên bậc trên, cũng lại qua quan hệ với đảng viên cán bộ của nhà nước, hoặc khai thác những kẽ hở của luật lệ chính sách. Dưới cùng là những kẻ tuyệt vọng và bất mãn. Một số không ít sẵn sàng can vào tội ác để tìm ra ánh mặt trời của họ trong xã hội đen, mà đa số nạn nhân là người dân.


Người ta nhìn ra sự suy sụp kinh tế trong sự băng hoại xã hội. Thế thì vì sao mà năm năm sau khi gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới, Việt Nam lại tụt hậu về cả kinh tế và xã hội như vậy?


 


Nguyên nhân gần xa


 


Chúng ta có một cách giải thích nhẹ nhàng và nhân nhượng, dựa trên lý luận kinh tế theo kiểu chuyên gia ngoại quốc.


Thứ nhất, trong mấy chục năm qua, hiển nhiên là Việt Nam có những đổi thay về lượng. Nhưng nhìn trong không gian thì vẫn chưa theo kịp và thực tế bị thua sút các nước đã từng có tốc độ tăng trưởng rồng cọp là 7-8% một năm trong mấy chục năm liền với mức công bằng cao hơn.


Nên nhắc đến một trường hợp mà nhiều người nghĩ đến lại buồn là Nam Hàn, nửa thế kỷ trước thì cũng cùng trình độ phát triển với miền Nam, trên phân nửa lãnh thổ. Hai chục năm trước Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008 của Trung Quốc, Nam Hàn đã tổ chức Thế Vận Seoul vào năm 1988, như một biểu hiện của sự trưởng thành trong phát triển. Nhưng đấy cũng là bước ngoặt đáng kể của tiến trình dân chủ hóa ra khỏi chế độ quân phiệt của thời chiến. Ngày nay, Nam Hàn đã vượt qua Việt Nam quá xa.


Lý do là lượng của Việt Nam không biến thành phẩm.


Tăng trưởng không là phát triển. Tăng trưởng của Việt Nam thiếu phẩm chất, không bền vững, đào sâu bất công và gây ô nhiễm cho môi trường sinh sống. Ðó là tăng trưởng sóng vai cùng tham nhũng và hủy hoại môi sinh. Tại sao như vậy?


Vì hạ tầng cơ sở vật chất như cầu đường cho giao thông và vận tải nội địa, hệ thống tiện ích công cộng, như điện nước hay hủy thải phế vật, vẫn còn lạc hậu bên cạnh các công trình gọi là “hoành tráng” của sự phô trương.


Nghiêm trọng hơn vậy, hạ tầng cơ sở luật pháp thì thiếu công minh và thừa kẽ hở cho mọi lối vi phạm. Luật lệ bất minh của một bộ máy cai trị rất rộng – vì cái gì cũng xía vào – mà lại nông vì chẳng điều động được gì hết, đã phá vỡ mọi chánh sách quản lý kinh tế quốc dân, nếu như Việt Nam thực sự có một chánh sách kinh tế ra hồn, là điều chưa có.


Ta cũng có một cách giải thích khác thiên về xã hội và chính trị, chứ không máy móc theo kinh tế học.


Nôm na thì Việt Nam gặp bài toán cổ điển là “cải cách kinh tế mà không cải cách chính trị” nên làm nẩy sinh một xã hội lý tài ruỗng nát, mà không ai dám nói tới một giải pháp khác.


Chỉ vì hệ thống chính trị Việt Nam khiến đảng có toàn quyền quyết định ở mọi cấp mà đảng viên khỏi chịu trách nhiệm trước quốc dân. Tiến trình quyết định mờ ám đó dẫn đến sự xuất hiện của một “đảng đa nguyên,” gồm nhiều phe nhóm trên thượng tầng, trong Bộ Chính Trị. Mỗi nhóm có những cơ sở kinh doanh riêng như các tập đoàn nhà nước và tay chân, như một lực lượng Bình Xuyên có cả chục khu vực Bình Khang được bảo kê!


Khi xưa thì Bình Xuyên có sự bảo trợ của thực dân Pháp. Ngày nay, phải chăng là có sự bảo vệ của Trung Quốc?


Các phe nhóm này đối lập với nhau về thị phần nhưng tương nhượng nhau để tồn tại và gây ấn tượng với dư luận nông cạn bên ngoài là có phe bảo thủ có phe canh tân.


Kết cuộc thì các phe nhóm thế lực làm lệch lạc việc quản lý để trục lợi và cản trở mọi nỗ lực cải cách để duy trì đặc quyền và đặc lợi của họ. Hàng năm, Việt Nam được cả chục khuyến cáo của quốc tế và các nước cấp viện về từng phương hướng cải cách, nhưng Hà Nội chỉ tiến hành những việc không xâm phạm vào vùng đặc lợi của các đại gia ở trên. Ở dưới, người dân chỉ còn cách ăn gian, hoặc chịu đói, trước sự phe phẩy ngạo mạn của những kẻ ở trên.


Trong một xứ tự xưng “xã hội chủ nghĩa” thì đấy là nghịch lý khó hiểu mà vẫn được đa số cam chịu! Và đa số cũng ý thức được rằng mình có thể gian lận bằng mọi ngả để trục lợi, kiếm sống, miễn là đừng nói đến chính trị, đừng đụng đến chính trị. Và cũng đừng đả kích Trung Quốc.


Chửi Mỹ thì được, chứ đừng phản đối Trung Quốc, từ chuyện kinh tế đến an ninh!


***


Sau khi trình bày khái quát tình trạng kinh tế của Việt Nam với hai cách giải thích tất nhiên là giản lược, chúng tôi xin kết luận với vài nhận xét u ám và mấy câu hỏi.


Thứ nhất, từ 200 năm nay, Việt Nam đã có mấy chục năm liên tục và hiếm hoi mà không bị chiến tranh, ngoại xâm hay nội loạn, và người Việt có quyền quyết định về vận mệnh quốc gia. Cớ sao lại tụt hậu và có thể mất chủ quyền thực tế vào tay ngoại bang?


Thứ hai, xã hội Việt Nam hiện có thể được tóm gọn là “Ðại gia hạ cánh an toàn và đã có bãi đáp bên Mỹ; giới trung lưu thì hốt hoảng vì chưa kịp lên tới bậc đại gia đã có thể tuột dốc; còn dân đen thì tuyệt vọng!” Họ tuyệt vọng vì không hiểu là Trung Quốc sẽ làm gì và Hoa Kỳ có muốn làm gì chăng? Còn bên trong thì họ không tin là lãnh đạo muốn thay đổi, có khả năng hoặc sẽ đổi mới thật.


Chuyện ấy dẫn ta đến Trung Quốc và vài câu hỏi cho tương lai.


Việt Nam có thể ra khỏi trật tự Trung Hoa được chăng? Muốn vậy, người dân phải làm gì? Họ còn đất lùi không?


Thứ nữa, trong quan hệ tay ba Mỹ-Tầu-Ta, người Việt ta có thể làm được gì? Mà người Việt đó là ai, ở đâu? Những câu hỏi ấy không dễ có giải đáp.


Và có thể là một đề tài hội thảo khác của Hội Khoa Học & Kỹ Thuật Việt Nam.

Kỳ bí vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng

 

Pao Lâm (sưu tầm)

 

Ðược UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới năm 2003, Phong Nha-Kẻ Bàng vẫn là một vùng đất ẩn chứa nhiều bí ẩn và đang từng ngày chờ được khám phá với một hệ thống hang động độc nhất vô nhị, cảnh quan hoang sơ đẹp hữu tình và con người hiền lành, chân chất.

Một góc vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, nhìn từ trên không. (Hình: Ciao Travel cung cấp)

Phong Nha-Kẻ Bàng nằm trong địa phận huyện Bố Trạch và huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, cách thị xã Ðồng Hới khoảng 50km về phía Tây Bắc và cách Hà Nội khoảng 460km. Tên gọi thân quen Phong Nha-Kẻ Bàng là sự kết hợp giữa hai loại hình tiêu biểu của vùng đất miền Trung: Hệ thống hang động mà nổi tiếng nhất là động Phong Nha và khu rừng núi đá vôi với thảm thực vật phong phú mang tên Kẻ Bàng.

 

Hệ thống hang động

 

Cửa vào động Phong Nha. (Hình: Ciao Travel cung cấp)

Sự giao hòa của dòng sông Son và núi đá vôi Kẻ Bàng tạo nên một hệ thống hang động kỳ ảo. Ðến thời điểm này vẫn không có con số thống kê về số lượng hang động ở vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng bởi vì công việc khai phá vẫn đang từng ngày được thực hiện. Tuy nhiên, chỉ với một số hang động đã được khai thác cũng đủ lý giải vì sao Phong Nha-Kẻ Bàng lại là kỳ quan thiên nhiên của thế giới

 

Hang động Phong Nha

Thạch nhũ trong động Phong Nha. (Hình: Ciao Travel cung cấp)

 

Cho đến nay, các nhà khoa học đã khảo sát 44.5 km hang động thuộc hệ thống động Phong Nha nhưng mới có 1.5km hang động được đưa vào khai thác và dành cho khách du lịch thăm quan. Ðộng Phong Nha có rất nhiều nhánh tạo thành 16 hang động khác nhau được nối liền bởi một hành lang nước. Trước cửa động, cảnh núi non sông nước quyến rũ, hòa quyện với thiên nhiên hùng vĩ tạo ra vô vàn hình ảnh kỳ thú, làm thỏa mãn cả những du khách có trí tưởng tượng phong phú nhất. Thuyền cập cửa hang, cũng là lúc quý vị bắt đầu khám phá hang nước dài nhất thế giới, một hành trình khám phá thiên cung mê hồn giữa chốn trần gian với các nhũ đá tráng lệ, mặt nước trong veo, phẳng lặng. Hiệp Hội Nghiên Cứu Hang Ðộng Hoàng Gia Anh đã công nhận động Phong Nha là một trong ba hang nước tiêu biểu trên thế giới với nhiều đặc điểm nổi bật như: Hang nước dài nhất; Bãi cát và đá rộng đẹp nhất; Hồ ngầm đẹp nhất; Thạch nhũ kỳ ảo nhất; Dòng sông ngầm dài nhất Việt Nam (13., 69 m); Hang khô rộng và đẹp nhất.

 

Hang Thiên Ðường

 

Bên trong động Phong Nha. (Hình: Ciao Travel cung cấp)

Ðây là hang động khô, được phát hiện năm 2005 và bắt đầu đón khách thăm quan từ năm 2010. Cách khoảng 4km, tại Km16, động Thiên Ðường nằm trên một đỉnh núi đá vôi thuộc rừng quốc gia Kẻ Bàng, bao quanh là khu rừng nguyên sinh um tùm cây cối. Ðể lên tới động, quý vị phải leo cao hơn 500 bậc thang đá. Hai bên đường đi, cây rừng dày đặc, nhiều cây cổ thụ cao vút tạo nên một không gian u mặc, quyến rũ những du khách ưa khám phá. Qua cửa hang nhỏ chừng 4m2 nhưng ẩn chứa bên trong một vẻ đẹp kỳ bí của những cột nhũ, những tác phẩm miệt mài và đầy ngẫu hứng của tạo hóa qua hàng triệu năm vận động địa chất. Hệ thống nhũ già, nhũ trẻ của hang Thiên Ðường tạo ra những hình ảnh giống biểu tượng văn hóa các vùng miền. Vào sâu trong hang, nhiều thớ đá xoài mình ra thành bậc thang rất uyển chuyển, dài hun hút như ruộng bậc thang, nhà rông, tháp Chămpa,… Mỗi khối thạch nhũ đẹp mỗi vẻ, không khối nào giống khối nào, tạo nên một thiên đường đầy huyền hoặc.

 

Ðộng Tiên Sơn

Hang Thiên Ðường. (Hình: Ciao Travel cung cấp)

 

Ðộng này còn được gọi là động Khô là một động đẹp nổi tiếng ở khu vực Phong Nha-Kẻ Bàng. Cửa vào động Tiên Sơn nằm cách cửa động Phong Nha khoảng 1,000 m. Ðộng Tiên Sơn có chiều dài là 980 m. Ðộng Tiên Sơn được phát hiện năm 1935, ban đầu, cư dân địa phương gọi động này là động Tiên, do vẻ đẹp kỳ bí thần tiên. Sau này động Tiên Sơn được gọi là động Khô, để phân biệt với động nước Phong Nha. Ðộng Tiên Sơn là nơi có cảnh thạch nhũ và măng đá kỳ vĩ huyền ảo không thua kém động Phong Nha nhưng lại có nét riêng là các âm thanh phát ra từ các phiến đá và cột đá khi được gõ vào vang vọng như tiếng cồng chiêng và tiếng trống.

Theo các nhà khoa học thuộc Hội Nghiên Cứu Hang Ðộng Hoàng Gia Anh, động Tiên Sơn được hình thành cách đây hàng chục triệu năm, khi một dòng nước chảy qua quả núi đã đục rỗng, bào mòn núi đá vôi Kẻ Bàng. Do kiến tạo địa chất, khối núi này hoặc đã được nâng lên, hoặc đã bị hạ xuống khiến các khối đá đổ sụp ngăn chặn dòng chảy làm nên động Tiên Sơn ở phía trên. Còn phần có sông ngầm chảy qua tạo ra hang động Phong Nha. Dù mới được đưa vào khai thác phục vụ khách du lịch mấy năm gần đây, động Tiên Sơn là một điểm dừng chân không thể thiếu trong hành trình khám phá hang động di sản thế giới.

Hoa vàng anh. (Hình: Ciao Travel cung cấp)

Ba năm trước đây, những người yêu hang động trên thế giới đã sững sờ trước hang Sơn Ðoòng, mới được khám phá mà theo nhận xét ngắn gọn của National Geographic, “có cả rừng trong hang, đủ lớn để chứa được một tòa nhà chọc trời New York. Còn điểm kết của hang là bất tận.” Ðiều này nói nên được phần nào sự kỳ vĩ đến nghẹt thở của Sơn Ðoòng. Hệ thống hang động ở vùng đất Phong Nha-Kẻ Bàng dường như là bất tận và thật khó để nói là đủ với hệ thống hang động nơi đây.

 

Các điểm du lịch tiêu biểu

 

Hệ thống hang động ở Phong Nha-Kẻ Bàng là quà tặng của tạo hóa được kết tinh từ nước, núi đá vôi và thảm thực vậy trù phú của rừng nguyên sinh. Không phải vô cớ mà Phong Nha-Kẻ Bàng được tôn vinh là phong cảnh hữu tình, đẹp đến mê hoặc. Cả thế giới đã ngưỡng mộ hệ thống hang động nơi đây và sẽ là không đủ nếu thiếu đi những điểm xuyến duyên dáng của núi rừng, thác nước, những thung lũng rợp cây xanh như những nét son thánh thót, mềm mại tô điểm cho những hang động đá vôi kỳ vĩ.

Thác Gió cao khoảng 30 mét, được hình thành từ một nhánh suối chảy từ rào Thương len lỏi qua những khu rừng nguyên sinh, xuyên qua những phiến đá, tung bọt trắng xóa trên những viên đá phẳng lỳ. Thác Gió sẽ mang đến cho quý vị sự trong lành đến tinh khiết của thiên nhiên, sự mát mẻ thấm sâu vào da thịt. Tiếng thác như bản hòa ca của núi rừng, không ồn ào, gầm thét, chỉ dìu dặt, âm thầm, êm ả để đưa lòng người thả hồn vào thiên nhiên, ngả mình trên những phiến đá khổng lồ, ngắm nhìn khoảng không gian biếc xanh qua những tán lá, để có những phút giây thư thái, bồng bềnh trong hành trình đầy thử thách.

Thạch nhũ đẹp như tóc tiên. (Hình: Ciao Travel cung cấp)

Từ nhánh Tây của đường Hồ Chí Minh, đi bộ hơn 5 km đường rừng, thung lũng Sinh Tồn hiện ra làm nức lòng những du khách tận tâm. Toàn thung lũng rộng khoảng 2,000 ha, mọc đầy cỏ tranh và tre nứa, bao quanh bằng một hệ thống núi đá vôi cao lớn và hiểm trở. Dù diện tích không lớn, nơi đây lại hội tụ nhiều địa hình đa dạng, từ núi đá vôi, đất bằng, hang động đến suối ngầm, rừng nguyên sinh. Với đặc điểm địa hình và hệ sinh thái đặc biệt, thung lũng Sinh Tồn là nơi có một không hai dành tặng những vị khách yêu thích khám phá hệ động thực vật rừng nhiệt đới với một chút mạo hiểm để thử sự dẻo dai của mình.

Xuôi dòng sông Chày, ngắm bản làng Chày Lập trù phú bên bờ sông để đến với Suối Moọc. Từ chân núi Tây Trường Sơn tuôn ra dòng suối xanh trong vắt, hàng chục con suối chảy quanh co, kết nối vào nhau như mạng lưới, khi thì thầm chảy dưới tán cây chằng chịt, lúc lại lồng lên dữ dội, tạo thành hàng trăm thác nước huyền ảo. Những cột nước thấp mọc lên từ lòng đất tuôn chảy thành các dòng suối mà dân địa phương gọi là Suối Moọc. Dừng chân bên dòng suối Moọc, thưởng thức các món ăn dân dã như gà rừng nướng, thịt quay, cơm canh rau rừng hay thử sức với chèo xuồng kayak, đạp xe leo núi, câu cá, sẽ mang lại những trải nghiệm êm đềm của một chuyến đi kỳ thú. Suối Moọc đẹp như một bài thơ vào mùa hoa vàng anh nở, nước suối trong xanh, mát ngọt điểm tô với sắc đỏ hoa vàng anh khiến lữ khách ngẩn ngơ quên lối về.

Món gà rừng nướng. (Hình: Ciao Travel cung cấp)

Vẫn còn nhiều bí ẩn chưa được khám phá ở rừng quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, nơi mà sự kiến tạo vẫn đang từng ngày tiếp diễn, hứa hẹn sẽ còn mang đến nhiều điều kỳ thú cho những du khách đam mê khám phá và tận hưởng cái đẹp. Phong Nha-Kẻ Bàng, vùng đất của những con người hiền lành, chân chất, của miền trung nắng gió, chân thật và nồng ấm, chợt thấy xao xuyến câu hát nặng tình “đã bao lâu rồi không về miền Trung thăm người em…”

 


CIAO TRAVEL

Add: 1st Floor, 3 Phan Huy Ich Street, Hanoi, Vietnam

Tel: 84 4 39290270; Fax: 84 4 39290271

E-mail: [email protected]

Website: www.ciaotravels.com

 

Một thoáng Ai Cập (tiếp theo)

 

Trần Nguyên Thắng/ATNT Tours & Travel

 

Một chuyến du ngoạn Ai Cập sẽ hoàn hảo hơn nếu du khách chọn một tour có những điểm đặc biệt đậm nét về văn hóa Ai Cập. Nếu những ai đã có dịp xem qua bộ phim “Lawrene in the Arabian” thì hình ảnh sa mạc và lạc đà là những hình ảnh nhiều ấn tượng nhất trong suốt bộ phim.

 

Du ngoạn bằng lạc đà và ngắm kim tự tháp trên sa mạc. (Hình: ATNT Tours & Travel)

 

Tôi đã có dịp hỏi chuyện những người đã từng đến Ai Cập, điều gì làm mọi người nhớ đến trong chuyến du ngoạn Ai Cập nhất của ATNT Tours, hầu như mọi người ai cũng cho biết nhớ nhất là chuyện cỡi lạc đà đi trong sa mạc để ngắm nhìn kim tự tháp.

Du khách ai cũng quấn trên đầu một khăn Ai Cập kiểu du mục sa mạc, trông ra thì cũng giống dân Ai Cập đấy! Còn lạc đà trông thế mà khá cao, có ngồi trên lưng lạc đà mới biết nó cao như thế nào! Lần đầu tiên leo lên lưng lạc đà ai cũng có cảm giác sờ sợ vì nó vừa cao, vừa tròng trành. Người ngồi chúi người về phía trước hay chúi về phía sau theo mỗi bước đi đứng của nó. Nhưng rồi tròng trành mãi thì cũng quen đi, nhất là khi lạc đà đến gần chân kim tự tháp thì du khách mới có ấn tượng đầy đủ về xứ Ai Cập huyền bí này.

Cảm giác lững thững dạo quanh sa mạc, xa xa là ba ngôi kim tự tháp lừng lững phía trước mặt tạo cho mình một cảm giác thích thú khó quên tại xứ sa mạc xa xôi này. Du khách lo chụp hình quay video mà quên đi cả ngắm nhìn không gian chung quanh. Về nhà xem lại hình ảnh, xem lại video thì mới biết không gian cỡi lạc đà đó thật là tuyệt.

Nhưng đã đến du ngoạn kim tự tháp ở Giza thì cũng không nên quên thưởng ngoạn “Sound & Light Show,” màn trình diễn giới thiệu về lịch sử và văn hóa của Ai Cập cổ, hình ảnh được trình chiếu thẳng vào ba ngôi kim tự tháp bằng kỹ thuật “âm thanh và ánh sáng.” Kỹ thuật âm thanh và các đèn chiếu cực mạnh được dùng để dẫn dắt chương trình, hình ảnh tư liệu về lịch sử, kiến trúc kim tự tháp và văn hóa Ai Cập cổ đại được chiếu thẳng vào các kim tự tháp và âm thanh nổi cực mạnh làm rung chuyển cả sa mạc về đêm.

Memnon, tiếng hát bình minh. (Hình: ATNT Tours & Travel)

Chương trình được giới thiệu đến du khách bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau nên thời gian trình chiếu cũng được chia ra làm nhiều xuất khác nhau. Chương trình chỉ được trình chiếu ban đêm, người xem ngồi ngoài trời nên về đêm khí hậu sa mạc khá lạnh (trừ những tháng mùa Hè).

Ngoài kỳ quan kim tự tháp ở Cairo, Ai Cập còn có nhiều kiến trúc thẩm mỹ về đền thờ Ả Rập. Cairo do người Ả Rập xây dựng nên các vương triều Ả Rập đã lưu lại đây những di sản kiến trúc như những đền thờ Hồi Giáo mái vòm, những ngọn tháp tuyên lễ cao vút tuyệt đẹp. Các đền thờ Hồi Giáo tùy theo từng thời điểm mà có các phong thái kiến trúc khác hẳn nhau. Nếu Âu Châu có những phong thái kiến trúc thay đổi từ Gothic đến Barocco, Roccoco, v.v… thì các đền thờ Hồi Giáo cũng thay đổi kiến trúc theo từng thế kỷ.

Mohammet Ali Mosque là đền thờ Hồi Giáo đẹp và lớn nhất của Ai Cập được xây cách đây hơn 160 năm nằm trên đồi Al Moqattam Hill. Ðây cũng chính là cổ thành “Citadel of Saladin” đã được xây cách nay hơn 800 năm. Trước khi bước vào trong điện thờ, theo đúng nghi lễ Hồi Giáo người ta phải có một thân thể sạch sẽ. Một nghi lễ dùng nước để lau rửa sạch đôi mắt, tai, tóc, miệng, tay và chân. Sau đó mọi người phải để giầy dép ở ngoài điện thờ hoặc là phải cầm trên tay, nếu ai muốn bỏ đôi giày mình xuống sàn điện thờ thì phải để hai chiếc giày nằm ngang, mặt giầy không được để lên mặt sàn.

Nhưng bây giờ để tiện lợi cho du khách, những người trông nom đền thờ nảy ra sáng kiến bán bao nylon bọc giầy dép lại (khoảng $1), mọi người thoải mái đi lại trong điện thờ, không phải mất công cầm đôi giầy trên tay nữa. Vào trong điện thờ, người ta mới có dịp tìm hiểu về cách kiến trúc của đền thờ Hồi Giáo. Hồi Giáo không cho phép thể hiện hình tượng, mặt người và bất kỳ các sinh vật sống nào, vì thế khả năng sáng tạo của các nghệ nhân Hồi Giáo nói chung đều được tập trung và phát triển mạnh vào nghệ thuật kiến trúc và trang trí, các mái vòm của đền thờ Mohammet Ali hay Blue Mosque bên Thổ Nhĩ Kỳ. Quả là một kiến trúc đặc sắc, vĩ đại và nghệ thuật.

Vòm đền thờ được trang trí bằng ngôn ngữ Ả Rập. Ðiện thờ chính luôn luôn được xây hướng về thánh địa Mecca, những ngọn đèn vàng nho nhỏ, ánh sáng vừa đủ để tạo ra nét trang nghiêm trong điện. Sát ngay cạnh điện thờ thường có bục cao dành riêng cho các vị giáo phụ đứng ở đây nói chuyện với tín đồ. Các tín đồ phái nam lúc nào cũng ở phía trước các tín đồ phái nữ. Sự cuồng tín tôn giáo có lẽ ở đâu cũng có, sự nhẹ nhàng uyển chuyển ôn hòa của tôn giáo thì có lẽ nhiều hơn là số tín đồ cuồng tín.

Bước ra ngoài đền thờ Mohammet Ali, du khách được ngắm cả thành phố Cairo dưới chân mình, những tháp tuyên lễ cao vút chung quanh bốn phía. Chẳng vì thế mà người ta còn tặng cho Cairo một tên mỹ miều khác “thành phố của ngàn tháp.”

Tuy vậy, cái đẹp và mỹ thuật của các “mosque,” của các nhà thờ “coptic,” các thắng cảnh cũng không che giấu được sự luộm thuộm nghèo nàn và không mỹ thuật của các khu phố nghèo chen chúc, nhà cửa lúc nào cũng đang trong tình trạng xây cất và không biết bao giờ mới được hoàn thành.

Cổng vào Karnak Temple. (Hình: ATNT Tours & Travel)

Một trong những khu mà có lẽ du khách thích thú và hay lang thang tìm mua những món hàng kỷ niệm Ai Cập là khu “Khan El-Khalili Bazaars.” Ðây là một khu sầm uất rất nhiều cửa hàng cũng như các tiệm cà phê, quán ăn mà du khách hay tụ về đây mua quà lưu niệm. Khu vực được cảnh sát bảo vệ và kiểm soát nhằm giữ an toàn cho du khách lẫn phố chợ. Dân bán hàng nói thách khá nhiều và du khách liệu chừng mà trả giá. Còn về các món hàng lưu niệm thì đủ cả, từ cây viết đến các khăn lụa “Made in China” nên du khách lạc vào mê hồn trận, nhưng cũng có những mặt hàng mà “Made in China” chưa thèm làm đến. Nhưng có mua hay không cần phải mua quà kỷ niệm thì “Khan El-Khalili Bazaars” là nơi nên ghé đến để nhìn thấy sinh hoạt của một khu phố chợ lớn nổi tiếng của Cairo.

Thành phố biển Alexandria. (Hình ATNT Tours & Travel)

Một thoáng Ai Cập là còn phải ghé qua thăm các ngôi đền lịch sử như Luxor, Karnak, thung lũng đế vương, bán đảo Sinai và thành phố biển Alexandria một thời nổi tiếng với Alexandre Ðại Ðế và Pharo Cleopatra. Ai Cập vẫn còn là địa danh huyền bí dành cho các nhà khảo cổ và du khách.

 


ATNT Tours & Travel tổ chức và hướng dẫn:

PROMOTION: Discount $60 cho quí khách ghi danh trước 4 tháng các tour Ðông Âu, Tây Âu, Liên Bang Nga (Russia) và Bắc Âu (Scandinavia).

-Tour Ðông Âu: Ba Lan-Hungary-Tiệp-Slovakia-Áo-Slovenia-Croatia-Ðức.

Thăm: Warsaw-Krakow-Banska Bystric-Budapest-Karlovy Vary-Prague-Zagreb-Ljubljana-Vienna-Nuremberg-Munich.

Khởi hành: Tour 1: Jul. 29-Aug. 12, 2012; Tour 2: Sep. 20-Oct. 4, 2012

-Tour Liên Bang Nga & Bắc Âu; Tour xem Ðêm trắng vùng Bắc Âu!!!

Thăm Liên Bang Nga: Moscow-St. Petersburg.

Thăm Finland (Phần lan)-Sweden (Thụy Ðiển)-Norway (Na Uy)-Denmark (Ðan Mạch)

Khởi hành: Từ Jun. 14-26, 2012 và July 5-17 (13 ngày)

-Tour Washington DC, Hoa Anh Ðào: DC-Philadelphia-Atlantic City-New York.

Khởi hành : April 5 -10, 2012 (6 ngày 4 đêm)

ATNT Tours & Travel bán vé máy bay và tổ chức hướng dẫn nhiều tour du lịch khắp thế giới.

Xin quí khách liên lạc ATNT Tours để biết thêm chi tiết.

9126 Edinger Ave., Fountain Valley, CA 92708.

Tel: (714) 841-2868/(888) 811-8988

www.atnttravel

Một cánh buồm Việt Nam…

 

Nhìn thẳng vào nền giáo dục Việt Nam: đôi điều sự thật

 

 

 

Phạm Toàn

 

LTS – Bài viết dưới đây của nhà giáo, nhà văn Phạm Toàn, hiện đang sống tại Hà Nội, gởi đến Người Việt. Bài trình bày quan điểm của tác giả đối với thực trạng giáo dục Việt Nam hiện nay, đồng thời kể lại sự ra đời của nhóm Cánh Buồm, do một số nhà giáo tại Việt Nam khởi xướng. Công việc của “Cánh Buồm” là thực hiện sách giáo khoa cho trẻ em, trong khi Luật Giáo Dục ấn định chỉ có một chương trình và một bộ sách giáo khoa cho trẻ em cả nước. Người Việt xin đăng nguyên văn bài viết sau đây.

 

***

 

Một cánh buồm trong bão tố

 

Xa xa một cánh buồm… Bài thơ này của Lermontov… cánh buồm ấy… bỗng hiện trở về tâm trí tôi khi được yêu cầu đặt tên cho nhóm các nhà sư phạm trẻ tuổi tự giao cho mình một nhiệm vụ nặng nề làm lại sách giáo khoa nhằm cải cách triệt để công cuộc giáo dục bậc tiểu học của đất nước.

 Với riêng tôi, hình ảnh đó ám ảnh tôi từ lâu rồi, một cánh buồm cô đơn trên biển lớn sóng to gió dữ. Chuyện trở về với những năm 1970 khi tôi tuyên bố với chút ngạo mạn trước các đồng nghiệp rằng tôi sẽ một mình tự học tiếng Nga – “Tôi sẽ bắt kịp các cậu, tất cả các cậu, thậm chí có thể vượt các cậu trong một thời gian ngắn, rồi coi!” Thế rồi tôi bắt đầu cày tiếng Nga như điên bằng cuốn sách Le Russe của Nina Potapova và chính trong cuốn sách này tôi gặp cánh buồm cô đơn của nhà thơ Nga Lermontov Tìm chi nơi xa vắng… Bão tố chốn nghỉ ngơi.

Một chút tự phụ và một chút lãng mạn bẩm sinh như thế đã thúc tôi đưa ra lời thách thức. Ở Việt Nam vào thời đó các nhà trí thức nói tiếng Nga hoặc tiếng Tàu. Các nhà trí thức nói tiếng Pháp đã câm tiếng, và đang tìm cách sông lay lắt bằng công việc dịch thuật. Những người nói tiếng Anh còn ít hơn. Một nhúm người nói nhiều thứ tiếng (Anh, Pháp, Tây Ban Nha) làm việc cho Thông Tấn Xã Việt Nam, cho nhà xuất bản Ngoại Văn, đẻ ra những “tác phẩm” bạc nhạc cho công tác gọi bằng tuyên truyền đối ngoại.

Trải nhiều chục năm chiến tranh liên miên, một đội ngũ trí thức chịu ảnh hưởng chính trị của Liên Xô hoặc Trung Hoa đã hình thành. Và chỉ sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975 những vị này mới có cơ hội đọc Sartre và Camus, Soljenitsyne và Sakharov, Kawabata và Kazanzakis, cùng nhiều bậc thầy khác của nền văn chương thế giới – đọc qua các bản dịch sang tiếng Việt hoặc đọc bằng nguyên bản… và đọc tại Sài Gòn. Những nhà văn từ Rừng đi ra khoe với nhau đã kiếm được cho mình cả ngàn cuốn “sách cũ mới toanh” – mới như Cầu Mới là cây cầu cũ nhất Paris. Và như vậy cái chế độ bị thua trận xem ra lại vô cùng hoành tráng trong con mắt những nhà trí thức Bắc Việt Nam tội nghiệp. Cả một bầu đoàn nhà văn khát sách đã hùng dũng tiến vào một thành phố Sài Gòn “đồi trụy về văn hóa” và ngập tràn sách “văn chương phản động chỉ đáng đem đốt hết.” Có không biết cơ man nào những nhà văn ấy đã khoe rằng họ đã cứu được cả ngàn thân phận sách sắp bị chết thảm thương đó để… đem về xếp chật tủ sách riêng.

Ðó là cung cách một nền văn hóa thấp kém hơn của những kẻ thắng trận đã chiếm lấy những sản phẩm văn hóa chất lượng cao hơn của phe thất trận, người ta nói với nhau trong nỗi đắng cay sâu xa. Xin bạn hãy hình dung, trong một cuốn sách xuất bản năm 1980 và còn in đi in lại nhiều lần, sách có tên “Nhập môn Tâm lý học,” ta đọc được những dòng này: ở Hoa Kỳ, có những nhà tâm lý học đã nghiên cứu tâm lý học động vật để sau đó đem áp dụng vào cho con người, cách hành xử như vậy có nguyên nhân là những điều kiện sống đau khổ trong xã hội ấy (trang 60). Xin bạn đoán thử coi ông nào dám liều viết ra những điều như thế? Tác giả là một viện sĩ, bộ trưởng Giáo Dục từ Tháng Hai năm 1987 đến Tháng Ba năm 1990. Và rất gần đây thôi, bà phó chủ tịch nước đã viết trên báo Nhân Dân, cơ quan của Trung Ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam, rằng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa của chúng ta cao gấp vạn lần nền dân chủ “của họ”! (May mà bà này còn khiêm tốn gấp trăm lần ông Lénine vì ông này tuyến bố nền dân chủ xã hội chủ nghĩa của chúng ta cao gấp triệu lần nền dân chủ của bọn tư bản!).

Ấy vậy mà chính những sản phẩm của một nền giáo dục què quặt như thế lại đứng ra làm những nhà cải cách cho một nền giáo dục được họ tuyên bố một cách tự mãn là “tiến bộ”!

Tuy nhiên, tự mãn đâu có khỏa lấp được sự thiếu năng lực, như lời của nhà báo Jacques Ducornoy đã nói trên tờ Le Monde diplomatique từ năm 1973. Hết năm này qua năm khác và các dự án cải cách giáo dục của họ chẳng đẻ ra cái gì tử tế ngoài cảnh đại khủng hoảng của nền giáo dục trên phạm vi toàn quốc. Năm 2010, nhiều nghìn thanh niên ăn điểm zéro môn Lịch Sử và đã bị trượt kỳ thi vào đại học. Trẻ em suốt ngày học ở trường và tới khuya muộn vẫn còn học ở những lớp học thêm. “Họ đánh cắp thời giờ của con em chúng tôi! Con em chúng tôi không được chơi nữa!” phụ huynh học sinh than phiền. Xin cho tôi nói thật (về nền giáo dục của chúng ta), đó là tiếng gào của Giáo Sư Hoàng Tụy, cựu viện trưởng Viện Toán Học Việt Nam, người vừa mới nhận giải thưởng Constantin Caratheodory vì các công trình đã được thời gian thử thách của ông. Cũng vị giáo sư này đã công bố nhiều bài viết nhấn mạnh đặc biệt tới sự cần thiết phải có một nền giáo dục thế tục hóa (cách diễn đạt của ông) sao cho nền giáo dục khốn khổ được đi đúng đường.

Nhằm sửa chữa tình trạng, từ năm 2003, ít ra đã có năm dự án được gửi lên các cơ quan cấp cao. Một dự án của nhóm Hoàng Tụy. Một dự án khác đến từ các Việt kiều. Một dự án thứ ba từ các nhà trí thức trong Viện IDS, một tổ chức nghiên cứu và tư vấn không thuộc nhà nước song khốn thay lại chỉ tồn tại được khoảng hai năm. Hai dự án nữa nằm trong các gợi ý từ các cuốn sách “Hai trăm năm Humbold – Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam” kèm theo những cuộc hội thảo giáo dục tổ chức khi thì ở Nha Trang, Ðà Nẵng của Việt Nam, khi thì ở Singapore…

Ðiều kỳ lạ, ấy là người ta làm ngơ không chút giấu giếm mọi gợi ý đó, mọi khuyến nghị đó, mọi kiến nghị đó. Một quyền lực thực sự toàn trị đã nhắm mắt và bưng tai, không thèm nói cả một chữ cám ơn với những nguyện vọng của những con người hiển nhiên là đầy thiện chí.

Từ đó mà một dự án hoàn toàn khác đã ra đời, dự án của chúng tôi, dự án mang tên Cánh Buồm nhà ở phố Internet, số nhà hiendai.edu.vn, viết tắt của dự án vì một nền giáo dục hiện đại hóa.

 

Làm gì?

 

Làm gì? từ lâu rồi cứ tồn tại dai dẳng cái câu hỏi đau lòng, hỏi về mọi mặt của cuộc sống, câu hỏi của mọi con người trung thực, nhất là những nhà trí thức của đất nước. Với chúng tôi, câu hỏi đó được trả lời bằng việc tìm một con đường khác, không gợi ý nữa, cũng chẳng khuyến nghị nữa, cũng không kiến nghị gì sất. Cánh Buồm đã chọn con đường bất tuân dân sự (désobéissance civile – civil disobedience)!

Ðể nói rõ hơn điều này, có lẽ đến đây chúng ta nên dừng lại đôi chút ở vài ba chi tiết quan trọng đặng lý giải cuộc nổi loạn (kiểu Albert Camus) của nhóm Cánh Buồm.

Năm 1978, nhằm cải cách nền giáo dục nước nhà, một ngôi trường thực nghiệm đã được thành lập để du nhập một hướng đi tâm lý học phát triển ứng dụng vào thực tiễn tổ chức đời sống học đường dựa trên hoạt động của bản thân người học. Chính tại ngôi trường này ngay từ năm học đầu tiên (1978-1979), cậu bé Ngô Bảo Châu đã theo học, rồi vào năm 2010 đã thành nhà toán học Châu Á đầu tiên nhận huy chương Fields. Nhắc tới trường hợp Ngô Bảo Châu ở đây không có nghĩa là chúng tôi muốn chia sẻ vinh quang của anh, vì có mặc ghé cái áo thầy tu của anh vào thì đâu có vì thế mà mình thành kẻ tu hành. Ðó chỉ là cái vị ngon lành có thể được nếm sớm mà thôi. Trường thực nghiệm nơi Ngô Bảo Châu theo học những năm đầu đời đã được lan tỏa khắp cả nước và cho tới khi hệ thống này bị xóa sổ sau một nghị định ký năm 2004 thì cành nhánh của nó đã lan ra 43 tỉnh và thành phố, trong đó có cả thành phố Hồ Chí Minh.

Thay thế cho thiết chế thực nghiệm cải cách giáo dục bị giải thể là một cuộc cải cách mới mang mã hiệu CT-2000 (nghĩa là: “Chương trình Giáo dục năm 2000”). Giới truyền thông không được cho biết những ai là tác giả của chương trình cải cách này. Do cảm nhận sớm những thất bại nhất thiết sớm muộn sẽ xảy ra, một vài nhân vật vội vã tuyên bố sẵn: “Ðây chưa phải là cải cách giáo dục, đây mới chỉ là thay chương trình và thay sách.” Có những người thạo tin (?!)cho rằng các tác giả chủ chốt chính là Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) và vốn kinh doanh của Nhà xuất bản Giáo dục thuộc Bộ Giáo Dục, kẻ độc quyền kinh doanh tất cả các loại tư liệu dùng cho việc học của con em.

Khác với sự phỏng đoán, có một việc lại rất dễ thấy: việc “cải cách” đã tiến hành, và Quốc Hội vội vã thông qua đạo Luật bắt “cả nước chỉ có chung một bộ sách giáo khoa.” Ấy thế nhưng Giời có mắt, dân gian vẫn tin như vậy. Năm 2008, mấy năm sau khi “lên ngôi,” chương trình CT-2000 tạo ra một sự sa sút nghiêm trọng chất lượng giáo dục. Các cơ quan truyền thông ào ào vào cuộc. Thế là hết chỉ thị nọ tới chỉ thị kia được tung ra kêu gọi giảm tải bằng mọi phép cốt cứu sao cho cái CT-2000 không bị chìm!

Vô phương! Không một ai đủ sức hà hơi cứu nguy cho “vị anh hùng” thân bại danh liệt CT2000. Nó bị cuộc sống dứt khoát tuyên án xếp xó vĩnh viễn.

Chính là trong bối cảnh đó mà nhóm Cánh Buồm chúng tôi ra đời, tự mình xông vào những công việc tự mình đặt ra cho chính mình thực hiện…

 

Thủy thủ đoàn và sứ mệnh

 

Xa xa một cánh buồm … Cái cánh buồm đang trong bão tố chốn nghỉ ngơi, thủy thủ đoan gồm những ai và sứ mệnh của nó là gì?

Tay cầm lái là một nhà giáo già, chính cái người trong nhiều thập kỷ đã làm chân trợ lý cho vị sáng lập và là giám đốc cái Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Thực nghiệm nơi nhà toán học tương lai Ngô Bảo Châu đã theo học. Hoàn toàn tình cờ, ông già này lại được mời giúp ông giám đốc kia trong việc huấn luyện một nhóm nhà sư phạm trẻ mới rời trường Ðại Học Sư Phạm Hà Nội để chuẩn bị đưa họ vào một công việc mới mẻ nào đó. Chẳng may, kế hoạch tuyển dụng họ đã vỡ. Thế là ông già cầm lái đã mời họ cùng nhau lập thành một đoàn thủy thủ chung một Cánh Buồm và nhằm thẳng hướng bão tố mà giong.

Rõ thật hay! Người đầu tiên gia nhập đoàn thủy thủ là Nguyễn Thị Thanh Hải, một cô giáo trẻ hồi đó đã xin được một chân công việc tại Nhà Xuất Bản Giáo Dục thuộc Bộ Giáo Dục – một vị trí như thế cho dù còn bấp bênh song cũng là niềm ao ước của vô khối bạn cùng lớp. Ấy thế mà Hải đã bỏ việc đó để đi làm công không lương trong nhóm Cánh Buồm.

Tiếp đến là các bạn trẻ khác, trẻ nhưng không kém lý tưởng: Ðinh Phương Thảo, Ðào Thúy Hạnh, Vũ Thị Như Quỳnh … cùng những tác giả khác có tên trên bìa 2 của một trong năm cuốn giáo khoa trình làng trong cuộc hội thảo năm 2010.

Trong thủy thủ đoàn, cần kể thêm tên hai họa sĩ minh họa các sách của chúng tôi. Cũng lại là những con người lý tưởng nữa! Những hình vẽ của họ (có cả nghìn hình) – làm cách gì trả tiền công cho họ một cách xứng đáng cho từng sản phẩm mà mặc dù làm gần như không công đấy song vẫn phải đạt yêu cầu vẽ đẹp cho xứng với những em bé sống thời hiện đại? Vấn đề đặt ra như thế đấy, và cuối cùng công việc đã hoàn thành hơn cả mức trông đợi.

Và đoàn thủy thủ cùng nhau ra khơi.

Mở đầu là cuộc hội thảo thứ nhất tổ chức năm 2009 tại Trung Tâm Văn Hóa Pháp tại Hà Nội l’Espace mang chủ đề “Hiểu trẻ em – Dạy trẻ em” theo nội dung cuốn sách của người cầm lái già hợp lưu các dòng tâm lý học giáo dục lý giải mục đích và phương pháp nhóm này tham gia công cuộc cải cách giáo dục.

Liền sau đó, cả nhóm bắt tay vào làm các cuốn sách giáo khoa, một con đường đầy khó khăn trở ngại, Họ phải bắt đầu trong vai những thợ học việc, bắt đầu tập làm từ sách lớp Một, và thử thách đó chẳng hề dễ dàng chút nào.

Thử thách đầu tiên trên bình diện triết học: họ cần phải tự thoát ra khỏi hệ thống giáo dục chuyên giảng giải và nhại lại lời giảng mà họ từng là nạn nhân, để được cải đạo sang một kiểu nhà trường mới dựa trên sự chia sẻ trách nhiệm, người dạy học có trách nhiệm làm “viên đốc công” và học sinh có trách nhiệm làm những “người thợ xây” – thầy và thợ cùng chung sức với nhau đi săn tìm những thức ăn tinh thần, những chân lý các loại, chân lý khoa học, chân lý nghệ thuật và chân lý đạo đức.

Thử thách thứ hai trên bình diện tâm lý học: vốn được đào tạo để ra trường thì đi dạy ở bậc trung học, bây giờ họ phải tự thích nghi, phải tập làm quen với trẻ em sáu hoặc bảy tuổi. May sao, họ vốn là những con người lý tưởng chủ nghĩa, cùng với nhiệt tình và sức trẻ, việc họ dấn thân cũng chẳng mấy khó khăn.

Tiếp nữa là… Cái chuyện tài chính tiền nong, làm cách gì cho đủ sống một khi họ lao vào công việc gần như hoàn toàn không công này? Làm cách gì giải thích cho người thân, nhất là cho cha mẹ là những người hẳn là không muốn con mình dấn thân, không tìm những vị trí vững vàng trong bộ máy, thay vào đó lại đi chọn những chỗ đứng không chắc chắn? Cách gì trả lời cả đống câu hỏi “tại sao” câu nào cũng gai góc cả?

Thế mà cả nhóm Cánh Buồm mọi người đã đứng vững. Tháng Chín năm 2010, năm cuốn sách giáo khoa đầu tiên đã được trình ra tại hội thảo “Chào lớp Một” tổ chức tại Trung Tâm Văn Hóa Pháp tại Hà Nội l’Espace.

Tháng Mười 2011, cũng đoàn thủy thủ này đã đem mười lăm cuốn sách giáo khoa mới đến cuộc hội thảo “Tự học – Tự giáo dục” cũng lại tổ chức tại Trung Tâm Văn Hóa Pháp tại Hà Nội l’Espace.

Một hành trình ba năm! Dĩ nhiên, nhóm Cánh Buồm không chịu dừng lại ở đó!

 

Những nhà hảo tâm

 

Nhóm Cánh Buồm đã đường đột xông vào ngôi nhà giáo dục cho tới nay vẫn kín cổng cao tường.

Luật Giáo Dục đã ấn định chỉ có một chương trình và một bộ sách giáo khoa cho trẻ em cả nước. Thế nhưng Cánh Buồm đã mang lại cho con người và đời sống dân sự một chương trình học hoàn toàn khác và một bộ sách giáo khoa hoàn toàn không giống với thậm chí cao hơn hẳn sách của CT-2000.

Những giáo viên vốn tính thụ động gần như sống trong cam chịu mọi điều, đã góp phần làm tràn lan những tài liệu giáo khoa rẻ tiền không thể chấp nhận được – những giáo viên này sẽ thấy hoàn toàn ngỡ ngàng trước một cách tiếp cận sư phạm hoàn toàn mới mẻ bắt họ phải ly khai với những thói quen dạy học cũ và tham gia vào những hoạt động do trẻ em thực hiện để “tự học và tự giáo dục.”

Cả một truyền thống các chuyên gia cao ngạo nhờ độc quyền bây giờ thấy mình bị bóc mẻ – sách giáo khoa Cánh Buồm giúp mọi người có được điểm quy chiếu so sánh – đây chính là một bước dân chủ hóa đời sống xã hội.

Trong những điều kiện đó, liệu ta có thể trông chờ các giới chức (chính trị và chuyên môn) dang rộng hai tay đón những công trình của Cánh Buồm? Làm cách gì để có được một nền tảng xã hội để cho công trình mới được cất cánh?

Ðây là lựa chọn của chúng tôi: Cánh Buồm hướng mũi tới hai nhà hảo tâm chính yếu: Trung tâm văn hóa Pháp tại Hà Nội l’Espace, và Nhà Xuất Bản Tri Thức thuộc Quỹ Văn Hóa Phan Châu Trinh.

Phan Châu Trinh vốn là một trong những nhà cách mạng Việt Nam những năm hai mươi thế kỷ 20, người đã đưa ra ba nguyên lý “Chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh.” Sau nhiều thập kỷ phát triển xã hội chủ nghĩa, các nhà trí thức của chúng ta đã tổ chức ra nhà xuất bản Tri thức thuộc Quỹ Văn Hóa Phan Châu Trinh, mà chỉ một cái tên tuổi ấy cũng đủ gợi lên biết bao liên tưởng đến một xã hội dân sự trong tương lai.

Cánh Buồm đã tìm nơi nương tựa tại nhà xuất bản này, nếu không, sự độc quyền xuất bản sách giáo khoa sẽ khiến cho các sản phẩm giáo dục của mình không bao giờ được chào đời.

Ðể đem trình các sản phẩm giáo dục của mình cho công chúng đông đảo, cả ba lần hội thảo sau khi xuất bản đều được đỡ đầu bởi Trung tâm văn hóa Pháp tại Hà Nội l’Espace.

Ðó là hai nhà hảo tâm đầu tiên của Cánh Buồm. Lần theo con đường mòn mới vạch ra đó, dần dần chúng tôi đến được với đông đảo công chúng. Sự chào đón của công chúng đối với những sách giáo khoa kiểu mới này, việc số đông ngày càng tăng những nhà giáo và phụ huynh đem dùng các cuốn sách này, viễn cảnh được thấy trẻ em cả nước được nhận một nền giáo dục tốt đẹp hơn, đó là điều chúng tôi hướng tới mà hết lòng hy sinh vì nó.

Chính thế, Cánh Buồm dong khơi chính là vì trẻ em của đất nước này, chứ không dong khơi vì những bằng khen và huy chương của Bộ Giáo Dục. Về mặt này, Cánh Buồm đi đúng hướng.

Oscar, một giải thưởng 84 tuổi – Quỳnh Giao

HÌNH

VHNT-Oscar.jpg:

Công nhân chuẩn bị cho lễ trao giải Oscar 2012. (Hình: Frederic J. Brown/AFP/Getty Images)

 

 

Tạp Ghi Quỳnh Giao

 

 

 

Từ Tháng Hai năm đó, có 15 người đã biết trước rằng mình được đưa lên đài vinh quang.

Có người đến trước mấy tuần cho giây phút huy hoàng này, như diễn viên Emil Jannings của Ðức được một ngôi sao sáng đón chào long trọng tại Hollywood, là đại tài tử Douglas Fairbanks. Trong buổi hạnh ngộ, có một chú khuyển lại hơi buồn vì cũng được vinh danh mà chẳng ai mời lên, đó là con Rin Tin Tin.

Hôm đó là ngày 16 Tháng Năm của năm 1929. Sinh hoạt do Douglas Fairbanks góp phần tổ chức và khai mạc trước 270 quan khách là lễ trao giải Oscar, khi mà giải thưởng này còn chưa có tên gọi như vậy. Chúng ta cùng xem lại khúc phim đó vì ngày 26 Tháng Hai này sẽ là lễ trao giải thứ 84.

Ðấy là khúc phim câm vì giải thưởng điện ảnh cao quý nhất của Hoa Kỳ và có lẽ của cả thế giới thành hình trong thời phim câm của nước Mỹ. Lễ trao giải là bữa điểm tâm khá trễ, người Mỹ gọi là “brunch,” tại khách sạn Roosevelt của Hollywood và kết thúc với dạ tiệc tại khách sạn Mayfair. Năm đó, khách được mời tham dự phải trả một lệ phí 5 đô la và cả buổi lễ hoàn tất khá gọn khi Douglas Fairbanks lần lượt trao 15 giải thưởng cho mọi người, kể cả giải nam diễn viên chính mà ông bị hụt vì lọt vào tay diễn viên Emil Jannings.

Chi tiết lý thú hơn: năm đó chú khuyển Rin Tin Tin nổi tiếng còn đoạt nhiều phiếu hơn đại tài tử. Nhưng làm sao nó có thể nhẩy lên hai chân để nhận lấy pho tượng mạ vàng cao hơn ba chục phân và nặng gần bốn ký?

Giải thưởng có tên chính thức là giải của Hàn Lâm Viện Ðiện Ảnh hay Acamedy Awards, và mở đầu như khuôn mẫu cho ba giải thưởng danh tiếng khác của Hoa Kỳ, là giải Grammy về âm nhạc, giải Emmy về truyền hình và giải Tony về kịch nghệ. Sau khi được tổ chức lần đầu vào năm 1929, giải điện ảnh có cải tiến và thay đổi theo thời thế, nhưng vẫn là chuẩn mực của tính chất đa dạng phong phú của xã hội Hoa Kỳ.

Người ta trao giải cho 15 bộ môn khác nhau của điện ảnh và ở vòng sơ tuyển thì mỗi bộ môn có 5 đề cử, hay “nominees.” Trong Viện Hàn Lâm, người thuộc bộ môn nào sẽ đề cử trao giải cho bộ môn đó, thí dụ như đạo diễn đề cử trao giải cho bộ môn đạo diễn. Công ty kiểm toán Mỹ là Price Waterhouse nhận lãnh việc tính điểm khá rắc rối mà rất công minh để chọn ra 5 đối tượng được nhiều người đề cử nhất.

Ngoại lệ là giải Tác Phẩm Xuất Sắc Nhất Năm vì được mọi người cùng đề cử. Và về sau cũng giải Best Picture này còn có ngoại lệ là được đề cử 9 tác phẩm thay vì chỉ có 5 như các bộ môn kia.

Nhưng chúng ta cũng tò mò muốn biết rằng ai là người được phép đề cử và tuyển chọn?

Ban đầu, thành phần ban giám khảo chỉ có 37 người. Sau đó, Viện Hàn Lâm Khoa Học và Nghệ Thuật Ðiện Ảnh Hoa Kỳ mới gửi giấy mời người khác, ngày một đông hơn. Muốn được vào hậu cung điện ảnh đó thì phải có hai người bên trong giới thiệu nhờ thành quả đóng góp cho nghệ thuật gọi là thứ bảy. Hoặc phải là người đã được đề cử cho một giải thưởng năm trước.

Rồi nếu đã đứng ngồi trong ban giám khảo này thì giữ vai trò đó đến suốt đời.

Vì thế, một nhân viên về ánh sáng rất mờ nhạt cũng có vị trí ngang tầm đại đạo diễn, hoặc một nữ tu như Mẹ Dolores Hart của dòng Benedictine năm nay đã 73 tuổi. Bà cụ được đề cử trong phim “Loving You” vào năm 1957, đối diện Elvis Presley, và nay vẫn giữ một phiếu!

Do thể thức tuyển người chấm, ban giám khảo của giải thưởng hiện có 5,783 phiếu. Mà cách tuyển chọn rắc rối cũng khiến chính ban giám khảo không hiểu và thường gặp bất ngờ khi kết quả được công bố lúc chót chứ không được báo trước như trong mấy năm đầu.

Chuyện bất ngờ ai cũng nói là nhiều nghệ sĩ siêu hạng hoặc nhiều phim xuất sắc lại hụt giải. Thí dụ như hai đạo diễn Orson Welles và Alfred Hitchcock, hai minh tinh Greta Garbo và Richard Burton và hai tuyệt tác là phim “Citizen Kane” hụt giải năm 1942 và “Taxi Driver” hụt giải năm 1977.

Hoa Kỳ là nơi mà cái gì cũng được nghiên cứu và sau hơn 80 năm trao giải, người ta nghiệm ra chân dung của vị giám khảo tiêu biểu. Ðó là một ông da trắng, tuổi trung bình 57, tức là hơi già và bảo thủ, lại đang nuôi hy vọng trúng giải vì cũng có con gà của mình trong chuồng vàng!

Hai thành phần then chốt về nghệ thuật và diễn viên và đạo diễn là thiểu số vì chỉ có khoảng 1,500 trong gần sáu ngàn phiếu. Còn lại là các chuyên viên kỹ thuật và chuyên viên nghệ thuật kiếm tiền, là nhà sản xuất và giới quảng cáo. Ăn cây này thì rào cây ấy, thành phần rất đông đảo này có đa số áp đảo và thường dồn phiếu cho các con gà đẻ trứng vàng cho mình.

Có lẽ vì vậy mà họ hụt mất nhiều tác phẩm hoặc nghệ sĩ có tài!

Nói của đáng tội, người viết xin ghi cho công bằng, rằng ban giám khảo đầy nam tính dù không thích cười thì cũng rất nịnh đầm. Họ tránh phim hài hước và thiên về nữ diễn viên. Các đại học Mỹ phát giác là các diễn viên trong phim bi thương dễ trúng giải hơn trong phim khôi hài đến 9 lần và vì vai nữ không đông bằng vai nam nên các nữ tài tử có hy vọng trúng giải nhiều hơn nam giới!

Mà mấy chuyện vặt ấy vẫn không làm lu mờ hào quang hàng năm của Oscar, được Hollywood trải thảm đỏ đón mừng và hơn trăm nước trực tiếp truyền hình cho cả tỷ người xem ở khắp nơi.

Thế còn cái tên “Oscar” như đã nghe nói đến từ lâu?

Nhiều huyền thoại đã được lưu truyền về tên gọi. Có thể là từ Bette Davis khi bà thấy pho tượng hơi giống ông chồng đầu tiên. Có thể là do một thư ký của Hàn Lâm Viện buột miệng nói ra vì giống ông chú của bà. Có khi là từ tên một ông vua Na Uy, v.v…

Mấy giai thoại đó cho thấy sự mờ ảo khả ái của nghệ thuật khi đặt tên cho một pho tượng, do giám đốc nghệ thuật Cedric Gibbons phác họa và nhà điêu khắc George Stanley thực hiện. Người mẫu có vai nở ngực rộng là đạo diễn kiêm diễn viên Mễ Tây Cơ tên là Emilio Fenandez. Pho tượng đúc bằng thiếc pha đồng rồi được mạ vàng, hàng năm phải sản xuất chừng năm chục cái.

Quỳnh Giao thì thích một nét cảm động là trong Ðại Chiến Thứ Hai, kỹ nghệ điện ảnh Mỹ đã yểm trợ tiền tuyến với các pho tượng bằng thạch cao cho rẻ. Sau khi chiến tranh chấm dứt, người trúng giải mới đổi lại để có pho tượng mạ vàng. Một chi tiết rất thực dụng và đáng yêu!

Bây giờ thì xin được gác bút và tắt máy theo dõi giải Oscar năm nay.

Ðào cải lương Diệu Hiền từ giã ả phù dung

 

Ngành Mai

 

Nếu như đề cập đến những đôi vợ chồng trên sân khấu lẫn ngoài đời, người ta phải kể tên Diệu Hiền-Út Hậu, đôi nam nữ nghệ sĩ này vào nghiệp cầm ca với hai trường hợp riêng rẽ, để rồi nghệ thuật đưa đẩy, họ nên duyên chồng vợ với nhau cùng trên một sân khấu.

Ðào cải lương Diệu Hiền. (Hình: Bộ sưu tập của Ngành Mai)

Nữ nghệ sĩ Diệu Hiền quê quán ở Bạc Liêu, cha mất sớm, cô theo mẹ lên Sài Gòn sinh sống. Vì mê cải lương nên thường lân la đến đoàn Hoa Lan-Xuân Liễu thành lập tại một ngôi đình ở Ða Kao. Năm 14 tuổi trốn nhà đi theo gánh hát học múa, và đến năm 16 tuổi về đoàn Hoa Sen làm tỳ nữ.

Do nước da ngăm đen, mắt to, lông mi dài nên được người trong đoàn gọi là “Chà Cái.” Tuy rằng mang biệt hiệu như vậy, nhưng được tổ nghiệp cải lương chiếu cố, nên từ tỳ nữ một bước nhảy lên đào chánh.

Số là đào chánh Nguyệt Yến đóng vai nữ hoàng trong tuồng “Cánh Chim Bằng.” Lúc đoàn Hoa Sen lưu diễn ở Phan Rí thì đào chánh Nguyệt Yến bất ngờ rời khỏi đoàn, và trong lúc chưa tìm được đào thay thế thì có người đề nghị đưa đào tỳ nữ Diệu Hiền thay thế, bởi vì trong thời gian làm tỳ nữ cho nữ hoàng, Diệu Hiền đã thuộc hết vai tuồng của nữ hoàng rồi.

Biết như thế, bầu Bảy Cao rất mừng và quyết định cho Diệu Hiền thế vai chánh, nhưng rồi lại bị phản ứng của kép chánh Việt Kiều. Cũng may là tất cả anh chị em diễn viên trong đoàn thuyết phục được Việt Kiều chịu hát. Quả nhiên, khi Diệu Hiền ca khán giả nhiệt liệt vỗ tay khiến cho họ quên đi diễn xuất còn non của cô, và đêm hát giữ được khán giả, kể như là cô thành công.

Ðó là bước vinh quang bất ngờ nhứt của cuộc đời đi hát của Diệu Hiền. Năm sau 17 tuổi thêm một bước tiến nữa trong nghề nghiệp, Diệu Hiền đi đoàn lớn Thống Nhứt làm đào chánh đóng cặp với Út Trà Ôn, và thời gian sau Diệu Hiền kết duyên với nghệ sĩ Út Hậu.

Ðoàn Thống Nhứt rã gánh, Diệu Hiền về đoàn Tân Thủ Ðô Tấn Tài, ông bầu Tấn Tài là đệ tử nàng tiên nâu và Diệu Hiền sa vào nghiệp chướng này.

Thú chơi tai hại của loại “ma dược,” loại thuốc độc đã làm hằng vạn người sống mà như kẻ chết chưa chôn, vì sa ngã vô nó, cuộc đời bị thu ngắn tuổi thọ, và ngày đêm chỉ biết đào tiền để giải quyết cho cơn nghiện, tủi nhục cũng cam tâm, gia đình ruồng bỏ, nhân phẩm không còn, mà muốn dứt nó không phải dễ. Diệu Hiền nói như thế với một nhà báo, lúc cô nàng đã cai nghiện.

Nhà báo hỏi:

– Hiền đã dứt được bao lâu rồi, và động lực nào thúc đẩy Hiền “cai,” và có khó lắm không?

– Hiền thiệt thọ dứt hẳn khoảng 6 tháng nay. Còn hỏi động lực nào thúc đẩy thì có rất nhiều nguyên nhân. Hiền hứa với người thân rằng mình sẽ cai, nhưng tiếc rằng chưa có dịp thuận tiện cho Hiền thực hiện lời hứa. Thú thật lúc mà Hiền còn đa mang nó, Hiền không còn ham muốn gì hơn ngoài việc cứ mong đến giờ châm nó vào. Riết rồi Hiền không dám nhìn ai hết, gia đình cũng không dám về. Nhiều lúc khổ đến nỗi phải mua thuốc ngủ uống đỡ cho nó qua cữ. Và cứ mỗi lần như vậy Hiền bị nó hành hạ chịu không nổi.

– Rồi làm thế nào Hiền bỏ được?

– Nhờ má Sáu (bầu Sáu Hoa) kêu Hiền về đoàn Hoa Anh Ðào (Kim Chưởng) và hứa lo cho Hiền bỏ. Hiền nghĩ đây là cơ hội tốt nếu mình không nắm lấy thì sẽ không bao giờ có dịp nữa. Vì vậy mà Hiền nhận lời và đi theo má Sáu về trại.

– Thời gian bỏ có khó lắm không?

– Dĩ nhiên là nó vật vã hành hạ ghê lắm, nhưng mình cương quyết cắn răng chịu đựng qua tuần lễ đầu, đến ngày thứ tám trở đi thì nó nhẹ dần.

– Nó hành hạ Hiền như thế nào?

– Nó hành đủ thứ, không lúc nào nó để mình ngồi yên, trong người nó rũ rượi, tay chân rã rời. Còn đau bụng, nhức đầu nóng lạnh một ngày không biết mấy lần, sự nhức mỏi trong xương trong cốt. Con ma ghiền nó thường hay phá về đêm, nghĩa là suốt đêm nó không để mình ngủ yên phút nào.

– Chừng bao lâu nó hết phá?

– Cái ngày nó dứt hẳn không còn phá nữa phải trên 20 ngày. Có điểm đặc biệt trong lúc con ma ghiền đang phá, Hiền đi tắm thấy nó nhẹ đi, vì vậy nên Hiền thường ngâm mình dưới sông cho đỡ.

– Dư luận đồn rằng vì về hát cho Tấn Tài nên Diệu Hiền mới bị lôi cuốn “nghiện” theo anh ấy phải không?

– Nếu đổ trút trách nhiệm hết cho anh Tài thì không đúng mà trong đó phải nói là tại mình nữa, mình cương quyết thì ai ép mình được. Nhưng nguyên nhân bắt nguồn tại những lúc buồn, Hiền thường tâm sự với anh ấy; ban đầu còn giữ gìn, lần hồi không còn tự chủ được nữa và khi sa vào rồi biết được hậu quả tai hại của nó thì đã muộn. Tóm lại Diệu Hiền đã gian nan lắm mới “cai” được.

Cũng như nhiều cặp vợ chồng cải lương khác, Diệu Hiền-Út Hậu chia tay nhau, dù rằng đã có với nhau bốn mặt con. Không biết họ ly hôn lúc nào, trước hay là trong lúc Diệu Hiền nghiện ngập ma túy. Sau 1975, Diệu Hiền nối duyên với họa sĩ Cao Hữu Giáo. Mấy năm trước có bầu sô nào đó lo cho Diệu Hiền ra hải ngoại, và khán giả ở Mỹ có gặp lại Diệu Hiền trên sân khấu của một nhà hàng ở Santa Ana.

Người ta kể Diệu Hiền tâm sự như sau:

– Nhiều đêm ngẫm nghĩ lại nhớ đến lần gặp cuối cùng ở bệnh viện lúc Út Hậu sắp sửa từ giã mẹ con tôi. Ðôi mắt anh ấy như quyến luyến điều gì đó muốn nói với tôi. Vậy là đã hết một đời người. Ngày anh ấy giã từ cõi đời, tôi đã tới viếng anh lần cuối. Tôi uống ly rượu như Tần Quỳnh khóc bạn một lần vĩnh biệt không gặp nữa.

Út Hậu thì đã về với tổ nghiệp cải lương, còn Diệu Hiền thì không biết hoàn cảnh ra sao, ở đâu? Chớ vấn đề đi hát thì chắc là không rồi, bởi vì hầu hết đào kép cải lương đều nghỉ dài hạn, tìm nghề khác sinh sống.

SEVERANCE DENTISTRY: Giải quyết mọi vấn đề về răng



 


Bài và hình: Whitney Nguyễn


 


Văn phòng nha khoa gồm 3 chi nhánh: Los Angeles, Rowland Heights, và Garden Grove


*3545 Wilshire Blvd. #310, Los Angeles, CA 90010, điện thoại: 213-382-0600


*1722 Desire Ave. #201, Rowland Heights, CA 91748, điện thoại: 626-964-1884


*8471 Garden Grove Blvd., Garden Grove, CA 92844, điện thoại: 714-636-0200. Có nhân viên nói tiếng Việt.


Giờ mở cửa: Thứ Hai, Ba, Năm và Sáu: 9:30am đến 6:00pm (nghỉ trưa từ 12:30pm đến 1:30pm), Thứ Bảy: 9:30am đến 1:00pm. Ðóng cửa ngày Thứ Tư và Chủ Nhật.










Mặt tiền của phòng răng Severance Dentistry.


Ðúng như ông bà ta hay nói: “Cái răng, cái tóc là gốc con người,” nên những vấn đề liên quan đến một trong hai điều trên đều làm chúng ta lo nghĩ.


Khi nói đến đau răng, mọi người chúng ta đều ít nhiều trải qua kinh nghiệm. Ðau răng do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chắc hẳn một điều: Ðau răng ảnh hưởng đến mọi sinh hoạt trong đời sống. Ðể giúp bạn tránh bị phiền toái bởi cảnh răng đau, hãy ghé đến văn phòng nha khoa Severance Dentistry với phòng ốc rộng rãi, sạch sẽ, trang bị tối tân và vệ sinh theo đúng tiêu chuẩn tiểu bang, là nơi quý vị sẽ được các nha sĩ lâu năm trong ngành tận tình chăm sóc.



Các mẫu thử lấy dấu hàm răng.


Severance Dentistry là văn phòng nha khoa với ba chi nhánh tại Los Angeles, Rowland Heights và Garden Grove. Bà Samantha Gong, quản lý chi nhánh tại Garden Grove với diện tích trên 2000 sq. ft., cho biết: “Văn phòng nha khoa của chúng tôi có các nha sĩ giàu kinh nghiệm và tận tâm. Trong số đó, phải kể đến ba nha sĩ đầu tiên thành lập nên Severance Dentistry. Nha sĩ Ilseon Kenneth Kim bắt đầu hành nghề từ năm 1985 cho đến nay và là giám đốc của cả ba chi nhánh Severance Dentistry. Ông chuyên về nha khoa tổng quát và nha khoa thẩm mỹ như niềng răng. Nha sĩ Dong J. Yoo bắt đầu hành nghề từ năm 1989 và chuyên về trồng răng và nha khoa tổng quát. Nha sĩ Byung Gyu Park có 20 năm kinh nghiệm và chuyên về nha khoa tổng quát, nha khoa thẩm mỹ và bệnh nướu răng.”










Phòng ốc khang trang.


Hiện tại, Severance Dentistry đang có giá đặc biệt cho dịch vụ trồng răng từ A đến Z chỉ có $1,199 (Implant & Crown) kể cả chi phí thẩm định tình trạng răng ban đầu, chụp quang tuyến, tham vấn, và nếu có vấn đề thì sẽ kiểm tra răng định kỳ miễn phí. Trồng răng hiện là giải pháp làm răng giả đang rất được nhiều người ưa chuộng vì cho kết quả đẹp và bền. Mọi dịch vụ khác như nha khoa tổng quát, nha khoa gia đình, nha khoa thẩm mỹ và các bệnh liên quan đến răng và nướu đều có giá rất phải chăng tại Severance Dentistry. Văn phòng cũng nhận bảo hiểm PPO.



Ghế làm răng tối tân, sạch sẽ.


Với đội ngũ nha sĩ đầy kinh nghiệm, văn phòng sạch sẽ, dụng cụ khử trùng đúng tiêu chuẩn của Severance Dentistry, bạn sẽ không còn phải lo lắng khi gặp phải các trường hợp về đau răng hay muốn có một hàm răng đẹp.


 





SEVERANCE DENTISTRY


Ba địa điểm để phục vụ quý khách:


3545 Wilshire Blvd. #310, Los Angeles, CA 90010, điện thoại: 213-382-0600


1722 Desire Ave. #201, Rowland Heights, CA 91748, điện thoại: 626-964-1884


8471 Garden Grove Blvd., Garden Grove, CA 92844, điện thoại: 714-636-0200


Giờ mở cửa: Thứ Hai, Ba, Năm và Sáu: 9:30am đến 6:00pm (nghỉ trưa từ 12:30pm đến 1:30pm), Thứ Bảy: 9:30am đến 1:00pm. Ðóng cửa ngày Thứ Tư và Chủ Nhật.



 

Vàng Ðen (Kỳ 17)

“Vàng Ðen” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Dũng Tiến, được xây dựng trên những tư liệu cùng huyền thoại liên quan tới vùng “Tam Giác Vàng,” một trong những nguồn sản xuất và cung cấp thuốc phiện (“vàng đen”) lớn nhất thế giới. Ngoài việc viết văn, tác giả Nguyễn Dũng Tiến cũng là một trong những người Việt Nam đầu tiên có công gầy dựng vườn cây ăn trái cho người Việt ở xứ người. Ông hiện là chủ nhân vườn cây LA Mimosa Nursery, 6270 East Allston Street, Los Angeles, CA 90022-4546. Tel: (323) 722-4543. Ðược sự cho phép của tác giả, Người Việt hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết “Vàng Ðen” trên mục truyện dài của Nhật Báo Người Việt cũng như Người Việt Online.

 

Kỳ 17

 

Hai tuần lễ trước, đơn vị nhận một khế ước với cơ quan tình báo C.I.A. để đột kích vào một nông trại tại quận Riverside, chỉ cách nơi đơn vị ông đóng khoảng hai chục dặm Anh.

 Nhiệm vụ, bắt cóc vài người Á Ðông và phá hủy tất cả những cây cần sa do họ trồng ngụy trang giữa đám cây ăn trái. Chính thức, chính quyền Mỹ không thể nhúng tay vào được vì nông trại được thuê lại từ những người da đỏ thiểu số, lãnh thổ với quyền bất khả xâm phạm.

Tuy không phải việc của ông, nhưng lâu ngày không có gì làm, lại buồn tình, ông gạt người trung đội trưởng của ông qua một bên để nhẩy vào quậy chút chơi. Với không ảnh, bản đồ cùng một số dữ kiện do C.I.A. cung cấp, ông vẫn gởi một toán thám báo đi dò la địa hình trước bằng ngả đồi núi, để không phải băng qua thành phố nơi bộ lạc da đỏ đang sinh sống. Báo cáo đưa về đều phù hợp với tất cả những gì do tình báo Mỹ cung cấp. Vài tên Việt trồng cần sa với sự phụ giúp của năm tên Mễ, chúng ăn ở ngay tại chỗ, một căn nhà khá khang trang cho những tên Việt, một chiếc mobil home (nhà tiền chế với bánh xe để có thể kéo đi) khoảng 25 thước Anh cho những tên Mễ ở. Chúng ở gom cả trên một đỉnh đồi thấp, thoai thoải xuống dưới, một thung lũng nhỏ với một dòng suối chảy ngang, được nối liền và bao quanh bởi những triền đồi cao trồng đầy cây ổi cùng cần sa. Ông Vi nghĩ, dễ như ăn cháo, chỉ cần trực thăng vận xuống một thung lũng nào đó, thật thấp, cản tầm nhìn của chúng từ ngôi nhà, nhẩn nha ăn bữa cơm chiều, cho tụi nhỏ ăn tục, nói phét cho đến sập tối, khởi sự vào cũng không muộn.

Tiếng côn trùng bắt đầu rả rích bốn bề, trời đêm điểm vài ánh sao thật lẻ loi, không đủ sáng để soi bước cho đoàn người khởi sự ăn bữa cháo. Bữa cháo thật nghiêm chỉnh, trung đội được chia làm ba cánh, lẳng lặng băng qua hai trái đồi thấp, xuyên qua rừng ổi, tiến thẳng đến căn nhà và chiếc mobil home. Im lặng truyền tin được sử dụng tối đa, chỉ được dùng thủ hiệu. Hai người lính đi đầu rút trong một bao nhựa hai miếng thịt bò tươi thật lớn, cầm miếng thịt rà về phía trước, tay còn lại lưỡi lê đã trong tư thế sẵn sàng.

Ông Vi đã ra lệnh đem theo thịt như vậy để đề phòng chó, dù trong báo cáo không thấy ghi chó. Trung đội bao vây căn nhà cùng chiếc mobil home thật dễ dàng, cảnh vật chung quanh thật yên lặng, không một tiếng động, ngoại trừ tiếng côn trùng.

-Cho hai thằng nằm ngoài, hai thằng còn lại chia nhau để vào cả hai bên, nhưng phải cùng một lượt, coi chừng tụi Mễ trong chiếc mobil home, dân trồng cần sa cũng không phải dễ nhai. Hai thằng nằm ngoài không được để thoát một đứa nào hết.

Ðại úy Vi thì thầm ra lệnh cho người trung đội phó. Lệnh được thi hành ngay lập tức, nhưng trái với những gì ông Vi chờ đợi, hai tiểu đội dội ngược ngay ra khỏi căn nhà cùng chiếc mobil home, tán loạn tìm chỗ ẩn núp. Ánh đèn sáng choang từ hai nơi thổi ra ngoài những làn ánh sáng làm chói mắt. Trong mười giây, ông Vi cùng người lính truyền tin đã nằm sát ngay hông căn nhà.

-Gì vậy?

-Mìn Claymore, đại úy. Tụi nó gài sẵn Claymore rồi đại úy. Ðèn tự động bật, tôi thấy tụi nó đặt trái mìn chình ình ngay giữa nhà.

-Ðù mẹ, gặp dân chơi. Mình dính cựa mẹ nó rồi. Bây trải mỏng ra ngoài chờ lệnh.

Ðang định di chuyển từ căn nhà sang chiếc mobil home để trải mỏng những đứa con ra khỏi phạm vi hai trái mìn ở hai nơi, bỗng từ những cây cổ thụ quanh nhà, những luồng ánh sáng cực mạnh chụp xuống nguyên một diện tích rộng lớn, biến đơn vị đột kích thành những cái bóng trơ trẽn, đồng thời đóng đinh những chiếc bóng trơ trẽn đó bằng một tiếng nói phát ra từ một chiếc máy phóng thanh ở đâu đó trên những tàng cây. Ngôn ngữ được dùng qua máy lại chính là tiếng Việt.

-Anh em đang nằm giữa bãi Claymore, hàng sống, chống chết.

Một phản ứng khá tự động của lính đánh thuê đã đẩy từng bóng người vào những gốc cây, mô đá để ẩn nấp, dù ánh sáng vẫn soi rõ từng bóng người. Tiếng loa lại vang vang:

-Anh em đừng vọng động, chỉ cần một cái nhấn tay, nguyên trung đội của anh em sẽ bị hốt gọn. Người anh em nào chỉ huy có thể phát biểu lý do đến thăm. Anh em có thể sử dụng điện thoại đặt sẵn ngay cửa ra vào.

Không còn sự chọn lựa, đại úy Vi tiến thẳng đến cửa chính, một tấm bảng ghi rõ câu “Hàng sống, chống chết” được treo lủng lẳng trên chiếc máy điện thoại.

-Alô, tôi nghe.

-Anh em thuộc đơn vị nào? Mục đích viếng thăm?

Nghĩ thầm trong đầu, tên này không háo sát, phải câu độ, câu giờ với hắn để tìm kế thoát. Không trả lời thẳng câu hỏi, ông Vi hỏi ngược lại:

-Huynh thuộc lực lượng nào?

-C.I.A.

-Chúng tôi cũng làm việc cho C.I.A.

-Ðồ lưu manh.

Không ngờ phản ứng của đối phương lại như vậy, ông Vi đổi chiến thuật.

-Chúng tôi được lệnh phá hủy những cây cần sa.

-Lệnh từ đâu tới?

-C.I.A. trả tiền để chúng tôi làm chuyện đó.

-Ðồ hèn mạt, bán đứng anh em.

Xăng dầu lên giá


Hồ sơ

 

 

 

Hà Tường Cát/Người Việt

 

Mặc dầu nền kinh tế Âu Châu và Trung Quốc hãy còn những chỉ dấu yếu kém, tình hình căng thẳng ở Iran và mối lo ngại về nguồn cung cấp đã đẩy giá dầu thô lên mức cao nhất từ 9 tháng gần đây.

Những thùng dầu thô tại một kho dự trữ của Exxon. Giá dầu gia tăng với nguồn cung bị giới hạn từ Iran và mức cầu gia tăng ở Trung Quốc, Ấn Ðộ, và khắp thế giới. (Hình: AP)

Hôm Thứ Tư, một thùng dầu thô loại “brent crude” giao vào tháng 4 giá $123 tại thị trường London và giá trao đổi trong ngày ở thị trường Hoa Kỳ có lúc tới $123.07, vượt qua mức $125.02 ngày 3 tháng 5 năm ngoái. Giá một thùng dầu loại “sweet crude oil” trên thị trường thương mại New York cũng đã tới $106.32 nghĩa là cao nhất kể từ năm ngoái lúc cuộc nội chiến ở Libya đi tới giai đoạn trầm trọng làm ngưng sản lượng dầu xuất cảng.

Nếu Libya là nước đứng hàng thứ 7 về xuất cảng dầu lửa trong khối OPEC thì Iran là nước đứng hàng thứ hai, chỉ kém Saudi Arabia. Vì vậy bộ trưởng dầu lửa Iran đã có thể đe dọa là nếu Tây phương tiếp tục gia tăng biện pháp trừng phạt đối với chương trình phát triển nguyên tử của họ, thì giá dầu sẽ lên đến $150.

Bình thường hàng năm tại Hoa Kỳ, đến mùa Hè xăng đều lên giá do nhu cầu tiêu thụ tăng hơn. Hiện nay trung bình một gallon xăng đã ở mức giá trên $3.5 và nếu tình trạng này còn kéo dài, có thể dự đoán sẽ lên tới $4.5 hay $5 trong mấy tháng sắp tới.

Dân Biểu Cộng Hòa Kevin McCarthy tiểu bang California nói rằng: “Giá xăng sẽ là vấn đề số 1 vào mùa Hè sắp tới.” Năm nay là năm bầu cử tại Hoa Kỳ và đảng Cộng Hòa chắc chắn khai thác đề tài này để tấn công chính quyền Dân Chủ. Hôm Thứ Ba, trong buổi lễ ký ban hành đạo luật kéo dài giảm thuế sổ lương tới cuối năm, Tổng Thống Obama đã đề cập đến chuyện này khi ông nói rằng một gia đình người Mỹ trung bình sẽ được thêm $40 mỗi kỳ lương và như vậy giúp một phần cho mối lo lắng về nhu cầu trả tiền nhà, mua thực phẩm và giá xăng dầu đang lên.

Ban tham mưu của tổng thống cũng đã chuẩn bị hóa giải sự tố cáo không chính xác về ống dẫn dầu từ Canada đến Texas. Chính quyền Obama chưa chấp thuận cho phép làm ống dẫn dầu vì những lo ngại về ảnh hưởng tới môi trường ở một số tiểu bang chứ không phải là bác bỏ dự án cung cấp dầu thô từ các mỏ dầu lẫn trong trong cát ở Alberta, Canada, cho những nhà máy lọc dầu Texas.

Mặt khác, bí thư báo chí tòa Bạch Ốc, Jay Carney, trong buổi thuyết trình hàng ngày, đưa ra những tài liệu thống kê giải thích sự gia tăng khai thác dầu nội địa và những kế hoạch năng lượng khác mà chính quyền đã nỗ lực tiến hành trong mấy năm qua. Tuy nhiên ông nhìn nhận là không thể có giải pháp thần kỳ cho dân chúng Hoa Kỳ một sớm một chiều hết bận tâm về giá cả xăng dầu.

Xăng dầu và khí đốt chiếm một vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày của người dân Mỹ vì cung cấp 65% năng lượng mà Hoa Kỳ cần dùng. Nước Mỹ tiêu thụ 25% năng lượng toàn thế giới, tính ra tiền khoảng 1 triệu dollars mỗi phút, và giá xăng tại Hoa Kỳ dù đã tăng lên vẫn còn rẻ hơn rất nhiều nước khác. Dân chúng các nước Âu Châu phải trả trên $7.5 cho mỗi gallon xăng. Mùa Hè năm 2008 là lúc giá một thùng dầu thô lần đầu tiên lên tới $111 và tại Hoa Kỳ giá trung bình một gallon vượt trên mức $3.20.

Trên toàn thế giới, nhu cầu năng lượng nói chung và dầu thô nói riêng ngày một gia tăng trong khi khả năng cung ứng tương đối không theo kịp mặc dầu các công ty dầu khí đã tích cực tìm kiếm những nguồn dầu khí mới và thường là khó khai thác hơn nhiều như tại các vùng biển sâu hay dầu lẫn trong cát. Việc khai thác do đó rất tốn kém, đồng thời thêm những đòi hỏi về việc bảo vệ môi trường.

Trung Ðông là vùng sản xuất dầu lửa đứng đầu thế giới, tiếp theo là Nga và Hoa Kỳ. Nhu cầu về sản phẩm dầu lửa của Hoa Kỳ vượt quá khả năng sản xuất nội địa nên Hoa Kỳ phải nhập cảng khoảng 60% dầu thô. Các nhà máy lọc dầu tại Hoa Kỳ sản xuất xăng và những sản phẩm khác với một số lượng kỷ lục hơn tất cả mọi nước khác nhưng cũng chỉ là vừa đủ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ. Do đó nếu vì một lý do nào đó làm cho chỉ một nhà máy lọc phải ngưng hoạt động, chẳng hạn như bão Katrina và Rita năm 2005, cũng làm cho sự cung cấp bị đảo lộn.

Giá xăng phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó tình hình cung cầu trên thị trường là chính. Sự cạnh tranh giữa các công ty và giữa các trạm xăng cũng ảnh hưởng đến giá cả. Mặc dầu mỗi trạm xăng bán sản phẩm của một công ty xăng dầu lớn nhưng hầu hết là những cơ sở thương mại độc lập cho nên giá cả định đoạt là tùy tiện, có thể cao thấp khác nhau chút ít chứ không phải cùng một hãng thì cùng một giá hàng ngày.

Nhưng vì xăng được chế từ dầu thô cho nên giá dầu thô có vai trò quyết định cho giá xăng. Trung bình giá dầu thô chiếm khoảng hơn phân nửa giá xăng bán ra. Theo số liệu của các công ty dầu lửa, nếu giá dầu thô là $75 một thùng 42 gallons (159 litres), thì để sản xuất được một gallon xăng tốn hết $1.78. Con số này chưa tính đến các phí tổn chuyên chở dầu thô đến nhà máy lọc, lọc dầu thành xăng, chở xăng đến kho chứa, phân phối tới các cây xăng và tốn kém về dịch vụ cũng như tiền lời cho các trạm xăng. Thời tiết nóng lạnh cũng có ảnh hưởng đến hoạt động của các nhà máy lọc dầu và là một phần lý do giá xăng cao hơn trong mùa Hè.

Còn rất nhiều yếu tố khác tác động đến giá xăng như ảnh hưởng hỗ tương giữa các khu vực tiêu thụ. Nếu vì một nguyên nhân nhất thời nào đó, nhu cầu tiêu thụ xăng tăng lên hay giảm đi ở một khu vực, lượng cung cấp bình thường sẽ được chuyển đến hay đi nơi khác và giá cả sẽ có biến chuyển chung. Nhưng do vì mỗi tiểu bang có đòi hỏi khác nhau về phẩm chất xăng, chẳng hạn hiện nay trên toàn quốc có tới 18 quy định khác nhau cho những vùng khác nhau nên các công ty dầu lửa thường không thể chuyển xăng sử dụng cho vùng này đến cung cấp cho vùng khác.

Mỗi gallon xăng cũng phải chịu nhiều sắc thuế, khác nhau theo từng tiểu bang, trước khi đến người tiêu thụ. Trung bình 1 gallon xăng ở Hoa Kỳ chịu 47 cents tiền thuế; tại California, tổng cộng những khoản thuế và lệ phí, mỗi gallon xăng phải trả khoảng hơn 65 cents.

Xăng lên giá sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến người dân Mỹ vốn lệ thuộc vào xe hơi trong sự di chuyển hàng ngày. Chỉ cần mỗi gallon xăng tăng giá thêm 1 cent, dân chúng Mỹ sẽ phải tốn hơn 1.5 tỷ dollars mỗi năm. Từ sản xuất nông nghiệp đến công nghệ, kinh doanh, giao thông vận tải, đều cần đến xăng dầu. Vì vậy xăng đắt ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế. Nhưng giá dầu thô lên cao cũng là thể hiện cho sự hồi phục của nền kinh tế thế giới có nhu cầu tiêu thụ năng lượng nhiều hơn. Ảnh hưởng tương tác giữa hai mặt này không hoàn toàn đi đôi với lập luận của các chính trị gia trong năm bầu cử cũng như sự lo lắng về chiến tranh có thể xảy ra ở Trung Ðông. Bởi vì thị trường dầu lửa là toàn cầu và giá cả không thể quyết định bằng những biện pháp cục bộ hay do tình hình khu vực. (HC)

Cụ Ông Phan Huy Dường

Tin mới cập nhật