Thư bà Bùi Thị Minh Hằng viết từ trại cải tạo

 


‘Thế lực đen tối phi pháp chà đạp sự thật’


 


Bùi Thị Minh Hằng


(Nguồn: Blog Nguyễn Xuân Diện)


 


 



Bà Bùi Minh Hằng trong “Trung tâm giáo dục Thanh Hà’ sáng 18 tháng 2, 2012. (Hình: Blog Nguyễn Xuân Diện)


Tết Nhâm Thìn 2012 – TTGD Thanh Hà


Thư gửi các con yêu thương!


Cái Tết đầu tiên mẹ phải xa các con, xa mái ấm của chúng ta, nơi 20 năm qua mỗi mùa Xuân về mẹ con mình sum họp đón Tết, rồi mẹ lì xì căn dặn các con trong thời khắc đầu năm… Với bé Nhân thì đây là lần đầu tiên con phải đón một giao thừa vắng mẹ, mẹ thương con nhiều lắm, xong mặc dù mẹ ở đâu, trong hoàn cảnh nào mẹ luôn hướng về với các con, với những gì thân thương của mẹ mà bao năm qua mẹ phải vật lộn hy sinh mới có được và hơn tất cả dù mẹ phải xa các con, phải chịu cảnh giam cầm bất công thì mẹ thấy chúng ta cũng nên tự hào, kiêu hãnh trong cuộc đời làm người, khi ta sống biết tự trọng và xứng đáng ngẩng cao đầu các con ạ.


Tết này vắng mẹ, không biết bé Nhân đã lo và đón Tết ra sao? Mẹ tin là con sẽ chu đáo bàn thờ gia tiên cho mẹ. Con đã làm những gì? Ði những đâu và ai đến với con? Có anh Thủy, con cũng không quá cô quạnh giây phút giao thừa. Còn mẹ ở đây trong bốn bức tường trại, mẹ: Một người mang thân phận của “người tù” không hề có bản án, không hề phạm tội theo một điều khoản quy định pháp luật nào. Mẹ đau xót nhớ đến các con, nhớ bạn bè bằng hữu với nỗi nhớ cháy lòng. Song giờ phút này mẹ phải kiêu hãnh, phải vui lên, phải có niềm tin vào những điều tốt đẹp mà chính bản thân mẹ và bao nhiêu người khác phải hy sinh mới có thể đem lại, đó là sự công bằng, đấy là chính nghĩa.


Sự thật đang bị bao kẻ xấu xa, bao thế lực đen tối phi pháp cố tình chà đạp, cố tình đổi trắng thay đen, bưng bít sự thật, bị đặt vu khống, hành xử bất chấp chính nghĩa nhằm tiêu diệt tinh thần dám đấu tranh phanh phui tố cáo sai phạm những kẻ xấu đó luôn đi ngược lại lợi ích của số đông nhân dân và những người chân chính biết tự trọng vì lẽ đó mà mẹ và bao người khác dù công khai hay âm thầm đều muốn vạch trần những xấu xa vi phạm hôm nay – ngăn chặn tội ác mai sau mong ước một xã hội công bằng văn minh tốt đẹp cho con cháu mình, khao khát một xã hội có tôn ti luật pháp, người tốt được bảo vệ và cái xấu, cái ác phải bị trừng trị, tiêu diệt. Chính vì những điều này mà mẹ thấy kiêu hãnh, tự hào.


Mẹ của các con cả quãng đời làm người chưa bao giờ làm gì đê tiện xấu xa, chưa bao giờ thỏa hiệp với cái ác cái xấu và giờ đây dù bị giam cầm oan khuất, nhưng không làm các con phải xấu hổ vì mẹ, không đi tù vì trộm cắp, cướp bóc, mẹ không đi tù vì bất cứ tội trạng hay hành vi phạm pháp luật đê tiện bỉ ổi như nhiều kẻ đúng ra phải đi tù và phải xấu hổ. Như vậy các con hãy yên lòng và ngẩng cao đầu vì mẹ đã một thân một mình nuôi dạy ba chị em con, gây dựng chăm lo một gia đình không có người cha làm trụ cột mà không để các con phải thiếu đói, thất học, dù mẹ của các con không là quan chức hay ông nọ bà kia. Song các con đã nhìn thấy mẹ đã làm những gì để có được sự trân trọng của xã hội của những người hàng xóm láng giềng nơi đất khách quê người trong hơn 20 năm qua, tất cả những gì mẹ làm đều để lại sự tôn kính yêu quý của nhiều người, đó là nhân dân.


Mẹ thấy mãn nguyện về điều này và đấy cũng là tài sản vô giá mà mẹ muốn để dành cho các con như một chút phúc đức ở đời, theo qui luật nhân quả đấy cũng là tình yêu nguyện ước các con của mẹ thật sự phải làm người, phải có được tình yêu thương con người, đồng loại.


Mẹ sinh được ba chị em các con, đứa nào cũng là máu thịt của mẹ, cho dù nhiều khi mẹ rất đau buồn khi có đứa không nghe lời mẹ, hay có đứa không biết phân biệt đúng sai. Song giờ đây, các con đều đã lớn, đã đủ tuổi chịu trách nhiệm trước cuộc đời nên mẹ sẽ tôn trọng những lựa chọn, suy nghĩ của các con.


Càng tiếp xúc với nhiều hoàn cảnh, nhiều số phận cuộc đời mẹ càng thấy mẹ đã làm đúng, làm đủ bổn phận của một người mẹ. Con đường và tương lai tiếp theo các con tự định đoạt và chịu trách nhiệm với chính mình. Mẹ chỉ hướng phần nào khi các con còn nhỏ dại trong vòng tay mẹ. Chúng ta cảnh mẹ góa con côi bao năm nay nên mẹ khao khát các con của mẹ sớm trưởng thành và phải biết đứng lên.


Riêng với bé Nhân, con trai út bé bỏng và đáng thương của mẹ, mẹ sinh ra con trong đau khổ mất mát. Cả cuộc đời mẹ luôn muốn bù đắp cho con, mẹ muốn con suy nghĩ thật kỹ những gì xảy ra với chúng ta kể từ khi con ra đời, con hãy suy nghĩ những gì mẹ từng dạy con, từng khao khát mong muốn con hãy nhìn nhận, phân tích mọi việc mẹ làm cho gia đình, cho các con, cho những người thân, cho cộng đồng xã hội mà con đã nhìn thấy và mẹ luôn tin tưởng vào con. Mẹ có một niềm tin kiêu hãnh khi mẹ sinh con ra vào cái ngày 26/4 đau thương của cuộc đời mẹ và đặt cho con cái tên Trung Nhân. Con trai mẹ sẽ là một con người trung hiếu, một chàng trai trung chính con nhé. Mẹ tin và tự hào về con trai út của mẹ, con đừng làm mẹ thất vọng.


Cho mẹ gửi muôn lời yêu thương và nỗi nhớ tới những người thân yêu mà mẹ quý trọng, tôn kính. Mẹ luôn cầu chúc những điều tốt đẹp tin yêu tới tất cả. Mẹ đã và sẽ sống xứng đáng với tình cảm của mọi người và không bao giờ để những đứa con mẹ sinh ra nuôi dưỡng đến trưởng thành qua bao khốn khó phải hổ thẹn. Danh dự của cuộc đời này mẹ để cho các con dù mẹ là “người tù” không bản án. Các con và bạn bè sẽ không xấu hổ khi mẹ không ở tù vì: lừa đảo-trộm cướp-giết người-tham ô-hủ hóa. Mẹ nhớ và yêu thương các con thật nhiều.


Mẹ Hằng


 


Kẻ thù muốn đốt ta thành tro bụi


Ta nguyện làm sen thơm ngát giữa đầm

Ði ăn đám cưới, 5 xe gắn máy cùng bốc cháy

 


LONG AN (NV) – Chiếu tối ngày 17 tháng 2, năm chiếc xe máy của khách dự một đám cưới ở ấp 1, xã Bình Hòa Ðông, huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An, bỗng dưng bốc cháy.



Chiếc xe chở khách cháy rụi. (Hình: VNN)


Báo Người Lao Ðộng cho biết, vì đường vào tiệc cưới khó đi nên những người khách dựng toàn bộ xe ngoài bờ ruộng, cách nơi tổ chức đám cưới gần 100m.


“Trong lúc mọi người đang chung vui với cô dâu, chú rể thì phát hiện ngọn lửa bốc cháy dữ dội trong bãi xe không có người coi giữ.”


Ngọn lửa thiêu rụi hoàn toàn 3 chiếc và làm hư hỏng nặng 2 chiếc xe khác cùng nhiều tài sản. Có người còn bỏ tiền trong cốp xe gần 20 triệu đồng.


Các vụ cháy xe gắn máy và xe hơi liên tiếp xảy ra trong thời gian vừa qua.


Trước đó 1 ngày, lúc 11 giờ đêm 16 tháng 2 trên quốc lộ 1A, đoạn đi qua thôn Tiền Phong, xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, mặc dù trời đang mưa, nhưng xe khách giường nằm chạy tuyến Ðà Nẵng-Hà Nội do tài xế Phạm Nhật Truyền điều khiển bất ngờ bốc cháy.


Vietnamnet dẫn lời tài xế Phan Nhật Truyền cho biết: “Tôi đang điều khiển thì phát hiện xe có mùi khét. Rồi nghe những hành khách ngồi phía sau hét lên xe cháy rồi. Cháy từ phía sau đuôi. Tôi dừng xe lại, nhanh chóng cho hành khách rời khỏi xe. Ngọn lửa bén mỗi lúc một nhanh rồi rực cháy thiêu rụi tất cả.”


Tin cho hay, thời điểm phát cháy, trên xe chở hơn 30 hành khách. Rất may đã không có người nào bị thương. (KN)

TT Obama hoan nghênh kỹ nghệ sản xuất Mỹ tăng trưởng trở lại

 


WASHINGTON (AP) – Tổng Thống Barack Obama hôm Thứ Bảy nói việc tái cấu trúc kỹ nghệ sản xuất từng gây nhiều đau đớn cho dân Mỹ và khiến nhiều công việc sẽ hoàn toàn mất đi, nhưng kỹ nghệ này đang tăng trưởng trở lại.



Một máy bay Boeing 787 Dreamliner chuẩn bị xuất xưởng tại cơ sở Paine Field ở Everett, Washington. Hoan nghênh kỹ nghệ sản xuất Mỹ tăng trưởng trở lại, Tổng Thống Obama nêu thí dụ Boeing và nói hàng Mỹ có thể không thể rẻ hơn hàng Trung Quốc nhưng “chúng ta vẫn có thể chế những món tốt hơn.” (Hình: Saul Loeb/AFP/Getty Images)


Trong bài diễn văn mỗi cuối tuần được phổ biến qua làn sóng phát thanh và Internet, ông Obama nói rằng các nhà sản xuất Mỹ đang tái tạo chính mình qua kỹ thuật mới và cách điều hành mới giúp tạo thêm 3.7 triệu công việc làm trong hai năm qua.


“Các cơ xưởng mà người dân từng nghĩ sẽ làm cho đến khi nghỉ hưu đã bị đưa đi nơi khác. Các công việc từng cho đời sống tốt đẹp đã bị đưa ra ngoại quốc và sẽ không quay trở lại,” theo ông Obama. “Nhưng điều đó không có nghĩa rằng người dân Mỹ phải chấp nhận tương lai thấp kém hơn.”


Ông Obama thu bài diễn văn này khi viếng thăm cơ xưởng sản xuất phi cơ của công ty Boeing gần thành phố Seattle hôm Thứ Sáu. Ông vào xem bên trong “các công ty như Boeing nhận ra rằng ngay cả khi chúng ta không thể chế tạo các món hàng rẻ hơn Trung Quốc, chúng ta vẫn có thể chế những món tốt hơn,” ông Obama nói trong bài diễn văn. “Ðó là cách chúng ta sẽ cạnh tranh trên thị trường quốc tế.”


Thay mặt đảng Cộng Hòa, Dân Biểu Cathy McMorris Rodgers, thuộc tiểu bang Washington, cáo buộc ông Obama chi tiêu quá nhiều và sẽ dẫn đến tình trạng sụp đổ tài chánh như đang thấy ở Hy Lạp.


“Thay vì hướng dẫn nỗ lực hạ thấp mức nợ nần của chúng ta và có các sự chọn lựa cứng rắn, tổng thống đang đưa ra đề nghị là chúng ta chi tiêu nhiều hơn nữa,” bà Rodgers nói.


Khi đến thăm cơ xưởng Boeing hôm Thứ Sáu, ông Obama loan báo các biện pháp nhằm giúp đỡ tài chánh các công ty Mỹ, giống như những gì các công ty đối thủ ngoại quốc của họ đang có. (V.Giang)

Hý trường Ðại Thế Giới, một thuở Sài Gòn

 


Nguyễn Ðạt/Người Việt


 


Hý trường Ðại Thế Giới, tức “Casino Grande Monde,” do người Pháp bảo trợ thành lập trong thời Pháp thuộc, năm 1937; chủ yếu là sòng bạc lớn bậc nhất ở Ðông Dương thời đó.



Mặt trước của hý trường Ðại Thế Giới ngày nay là Trung Tâm Văn Hóa Quận 5. (Hình: Nguyễn Ðạt/Người Việt)


Trong khuôn viên rộng lớn của hý trường Ðại Thế Giới, ngoài các sòng bạc, còn có các quán rượu nhà hàng vũ trường sang trọng; nơi tụ hội các tay ăn chơi bậc nhất ở Sài Gòn một thuở.


Hý trường Ðại Thế Giới từng bị Tổng Thống Ngô Ðình Diệm của nền Ðệ Nhất Cộng Hòa dẹp vào năm 1955; nhưng tới nay, hầu như những người lớn tuổi ở Sài Gòn đều biết đến tiếng tăm, lịch sử của hý trường này; có người còn là nạn nhân, táng gia bại sản vì các sòng bạc của hý trường Ðại Thế Giới.


Mới đây, anh Thuyên, một người thân quen của gia đình tôi, từ Hà Nội vào Sài Gòn; anh nằng nặc đòi tôi dẫn đi thăm nơi chốn ăn chơi bài bạc nổi tiếng một thời đó.


Anh Thuyên là bà con với ông Vũ Hồng Khanh (một trong những thủ lĩnh Việt Nam Quốc Dân Ðảng thời kỳ sau; từng tham gia với chức vụ bộ trưởng thanh niên trong chính phủ Trần Văn Hữu thời Bảo Ðại). Anh Thuyên bị kẹt lại ở Hà Nội năm 1954, nhưng luôn theo dõi tin tức về miền Nam tự do; có biết vụ việc Bình Xuyên-Bảy Viễn và sòng bạc Ðại Thế Giới.


Năm 1955, hý trường Ðại Thế Giới đã bị xóa sổ, tôi mới mười tuổi; sau đó lớn lên, nếu không có duyên gặp gỡ quen biết kịch tác gia Trần Lê Nguyễn, tôi sẽ không biết gì nhiều về sòng bạc nổi tiếng của một thời đã qua; cũng không biết được sòng bạc này tọa lạc chỗ nào ở Sài Gòn-Chợ Lớn.


Tôi dẫn anh Thuyên thẳng tới Trung Tâm Văn Hóa Quận 5, ở số 105 đường Trần Hưng Ðạo B (đường Ðồng Khánh cũ), thuộc phường 6, quận 5; đây chính là hý trường Ðại Thế Giới thuở trước.


Chúng tôi hình dung hý trường Ðại Thế Giới thuở trước; một tòa nhà to lớn dài dặc hai ba tầng lầu, ngang nhiên chễm chệ giữa khuôn viên rộng lớn án ngữ một vùng, chỗ giao nhau 2 đường phố lớn nối liền của Sài Gòn và Chợ Lớn cũ, đường Trần Hưng Ðạo và Trần Hưng Ðạo B.


Hý trường Ðại Thế Giới nay trở thành Trung Tâm Văn Hóa Quận 5: vẫn dãy tòa nhà hai ba tầng lầu ngang nhiên chễm chệ đó là chính diện, nhìn ra đường Trần Hưng Ðạo B; khúc quành nối với đường Nguyễn Tri Phương tạo nên một khoảng trống rộng rãi cho lòng đường ngay trước mặt.



Mặt sau của hý trường Ðại Thế Giới ngày nay. (Hình: Nguyễn Ðạt/Người Việt)


Trong khuôn viên rộng lớn, bây giờ có chia ngăn khu vực; khu vực khá lớn nằm chếch phía sau tòa nhà, là công viên nước thiết kế hiện đại; ngang hông tòa nhà là nhà sách của công ty Phương Nam, một công ty sách lớn bậc nhất của Sài Gòn. Trong tòa nhà hai ba tầng lớn rộng đó, là các phòng thể dục thẩm mỹ; phòng đọc sách,… và các dịch vụ văn hóa khác. Ðầu tòa nhà, một tháp cao nghệu đặc biệt ấn tượng, gắn hàng chữ nổi bật: “Câu lạc bộ khiêu vũ.”


Anh Thuyên ngó lên kêu mỏi cổ, và nói: “Cái tháp này vừa nhắc nhở thuở đó, vừa cho thấy bây giờ ăn chơi nhảy nhót còn vi vút hơn nhiều đấy nhỉ?!” Ðặc biệt thuận lợi, là phía sau khuôn viên hý trường xưa có nhánh sông chảy qua, cây cầu bắc ngang mang tên cầu Nguyễn Tri Phương; nên hiện nay đã thiết lập được công viên nước nói trên, thu hút đông đảo thanh thiếu niên tới vui chơi bơi lặn hàng ngày.


Anh Thuyên người Hà Nội lại nhắc nhớ vụ việc ở thị xã Tân An-tỉnh Long An của miền Nam: người vợ, một con bạc đốt bạc tỷ ở “casino” bên Campuchia, về nhà thiêu cháy chồng, vì ông chồng không chịu bán nhà để bà vợ có tiền trả nợ thua bạc. “Sao Sài Gòn văn minh hiện đại mà không cho sòng bạc Ðại Thế Giới hoạt động lại nhỉ? Trai gái cờ bạc là thuộc tính của một số đông con người mà, làm sao cấm đoán được; vấn đề là quản lý như thế nào thôi chứ…”


Câu nói của anh Thuyên khiến tôi nhớ người quá vãng; từ trước 30 tháng 4, 1975, đã dẫn tôi tới đây nhìn ngắm để hình dung cái bóng hình xưa cũ, kịch tác gia Trần Lê Nguyễn. Ông tới đây cũng để hồi tưởng những ngày ông không thể quên, bên bàn quay số đánh bạc roulette. “Tôi nghiệm ra, mình khá là say mê tính toán theo khoa học xác suất; ấy vậy mà con bạc không thể nào qua được tần số về tình cờ, may rủi ở cái bàn quay đánh bạc này.” Ông nói vậy sau khi đã không qua được sự tình cờ và may rủi mấy ngàn lần, tới khi sòng bạc Ðại Thế Giới tiêu ma.


Cũng qua kịch tác gia Trần Lê Nguyễn, tôi được biết cái tiểu sử lý lịch của sòng bạc nổi tiếng này. Sự xuất hiện của sòng bạc tại hý trường Ðại Thế Giới là sự tranh giành lợi lộc giữa chính quyền thuộc địa và người Hoa, vốn thao túng về bài bạc ở Chợ Lớn. Bảo trợ việc thành lập sòng bạc Ðại Thế Giới, chính quyền thuộc địa thu được nguồn thuế rất lớn; cao điểm là sau Ðệ Nhị Thế Chiến, khi tay trùm cờ bạc Ma-cao quản lý, sòng bạc chi ra mỗi ngày 400 ngàn đồng bạc Ðông Dương tiền thuế má.


Pháp đã chiêu dụ thủ lĩnh Bình Xuyên là Bảy Viễn, qua một tỷ phú người Hoa, để Bảy Viễn thầu lại sòng bạc Ðại Thế Giới. Tay tỷ phú người Hoa đã bỏ số tiền hơn 4 triệu francs để chiêu đãi Bảy viễn và đàn em của ông ta, tại hý trường Ðại Thế Giới. Bảy Viễn được Pháp gắn cấp bậc đại tá; tay tỷ phú người Hoa hỗ trợ tài chính cho Bảy Viễn; Bảy Viễn còn được sự bảo trợ của Quốc Trưởng Bảo Ðại.


Ngày Tổng Thống Ngô Ðình Diệm xóa sổ hý trường Ðại Thế Giới; Bảy Viễn chỉ huy lực lượng Bình Xuyên chống lại quân đội Quốc Gia, bị thua chạy ẩn náu tại rừng Sát, rồi tẩu thoát sang Pháp.

Trộm viếng nhà tướng công an, lộ ra tiền tỉ

 


HÀ NỘI (NV) – Công an thành phố Hà Nội hôm 15 tháng 2 bắt được thủ phạm ăn trộm nhà của một thiếu tướng công an, qua đó cho thấy số tài sản trong nhà viên tướng này trị giá hàng tỉ đồng Việt Nam.



Nhà của Thiếu Tướng Vũ Hùng Vương tại phường Dịch Vọng Hậu, Cầu Giấy, Hà Nội. (Hình: Báo Người Lao Ðộng)


Theo báo Dân Việt, vụ trộm xảy ra tại nhà Thiếu tướng Công an Vũ Hùng Vương từ ngày 24 tháng 12 năm 2011, nhưng đến ngày 15 tháng 2, 2012 công an mới bắt được thủ phạm là Nguyễn Tiến Dũng, sinh năm 1988, quê ở Thụy Lương, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.


Thiếu Tướng Vũ Hùng Vương là phó tổng cục trưởng Tổng Cục Cảnh Sát Ðiều Tra Tội Phạm về trật tự xã hội, Bộ Công An.



Thiếu tướng Công an Vũ Hùng Vương. (Hình: Báo Tuổi Trẻ)


Vẫn theo báo Dân Việt, sau khi bị bắt, nghi can Nguyễn Tiến Dũng khai nhận rằng, Dũng cùng một người tên Khải “đột nhập nhà Thiếu Tướng Vũ Hùng Vương (ở đường Phạm Tuấn Tài, quận Cầu Giấy), lấy trộm 550 triệu đồng Việt Nam, 9 cây vàng ta, 12 chỉ vàng tây, 500USD, 500 đôla Australia, 40,000 won Hàn Quốc, 1 dây bạc, 1 đồng hồ đeo tay… Tổng trị giá tài sản hơn 1 tỷ đồng.”


Báo Dân Việt cho biết thêm, “Vàng, ngoại tệ và tài sản khác Dũng khai đã bán cho 1 cửa hàng ở Thái Bình.” Ngoài ra Dũng còn trộm tài sản tại nhà bà Vũ Thị Nga (tổ 14, Dịch Vọng Hậu, Cầu Giấy) vào ngày 1 tháng 1, 2012.


Ngoài báo Dân Việt, nhiều báo khác ở Việt Nam cũng loan tin này, nhưng không thấy đề cập đến số tài sản của ông Vũ Hùng Vương từ đâu mà có. (KN)

Tầm quan trọng của Jeremy Lin

 

Chọi với hàng chục năm kỳ thị đàn ông gốc Á

 

Trần Kỳ Phong/Người Việt 2

Dịch thuật: Triệu Phong/Người Việt

 

Từ khi tạo được tiếng vang trong cả nước chỉ vừa 2 tuần nay, ngôi sao bóng rổ Jeremy Lin đội New York Knicks chứng tỏ anh không phải chỉ là chuyện một người lật ngược thế cờ. Câu chuyện Jeremy Lin là một câu chuyện rất cụ thể, rất độc nhất vô nhị.

Một Jeremy Lin đang giúp đánh đổ hàng chục năm thành kiến kỳ thị đối với đàn ông con trai Mỹ gốc Á. (Hình: Nathaniel S. Butler/NBAE via Getty Images)

Câu chuyện này làm tôi nhớ một cảnh trong phim “White Men Can’t Jump.” Trong đó, Wesley Snipes nói với Woody Harrelson, “Anh có nghe Jimi (Hendrix) đàn đấy, nhưng anh không nghe ra những gì Jimi nói trong tiếng đàn.”

Ðể “nghe cho ra” câu chuyện Jeremy Lin, phải trở lại tới năm 1984 – bốn năm trước khi Jeremy ra đời – và một cuốn phim ăn khách của đạo diễn John Hughes, phim “Sixteen Candles” của John Hughes. Một cuốn phim dễ thương về đời học sinh trung học với hai diễn viên tiêu biểu của thập niên 1980, Molly Ringwald và Anthony Michael Hall.

Thế nhưng, không vì lý do nào khác ngoài diễu cợt kiểu kỳ thị chủng tộc, Hughes nhét vào câu chuyện hình ảnh một nam du học sinh Á Châu đến từ một quốc gia không tên ở Châu Á (và do đó ám chỉ tất cả các nước châu lục đó). Nhân vật này bị gán tên Long Duk Dong, đôi lúc lảm nhảm, đôi lúc ngu ngơ, tiếng Anh thì nói ngọng, nhưng luôn luôn đeo đuổi con gái “Mỹ.”

Muốn thực sự hiểu rõ giá trị và cảm được niềm vui về những gì Jeremy Lin đạt được hôm nay, và để hiểu tại sao rất nhiều nam giới Mỹ gốc Á đều mặc áo Knicks số 17 giống anh và gào lớn tên anh, bạn đã phải từng rùng mình ghê rợn khi cuốn phim cho gióng tiếng chiêng chùa mỗi lúc Long Duk Dong xuất hiện. Bạn phải từng bị người khác gọi bằng tên của Dong nhưng giả bộ không thấy bị chạm tự ái, ngược lại vẫn cười a dua với họ. Bạn phải cố nuốt hận để cho cái nỗi ô nhục đó cháy tiêu dần trong tâm khảm.

Nói chung là bạn bị vác thập tự giá mà “Dong” phải vác.

Và cái thập tự đó là gì? Trong lịch sử văn hóa Mỹ, đó là lúc thì bị làm lơ như không hề có, lúc thì bị miêu tả một cách sỉ nhục hết mức.

Ðiều này có nghĩa là bạn không bao giờ được làm vai chính, mà luôn luôn là vai ké (Kato, Sulu, Mike Chang).

Bạn được dùng để biểu lộ cái gì đó nhập ngoại, rồi để được đặt vào hàng kẻ ác hoặc vật trang trí (The Fast and the Furious).

Bạn không được dẫn đầu ban nhạc mà chỉ được đứng bên hông sân khấu đàn ké (Smasking Pumpkings, Airborne Toxic Event).

Bạn không bao giờ được miêu tả như một người đàn ông thực thụ, đẹp trai, hào hoa.

Bạn sẽ chẳng bao giờ được hôn cô gái ấy cả. (Trong phim “Romeo Must Die” Jet Li không hề hôn cô đào Aaliyah và trong “The Replacement Killers,” Châu Nhuận Phát cũng không hề hôn Mira Sorvino. Tôi khinh bỉ Hollywood trong nhiều năm sau những lỗi đó.)

Và, tới tối Thứ Sáu, bạn sẽ bị lấy tên tuổi hình ảnh để tạo ra một đống tiền quảng cáo cho truyền hình (đài ESPN) để rồi bị đài truyền hình dùng từ ngữ miệt thị chủng tộc trong tựa bài viết về trận đầu tiên đội của bạn thua sau suốt 8 trận (cũng lại ESPN).

Gần đây, có được một số tiến bộ. Trong thể thao, chúng ta có Ichiro và Yao, nhưng vì họ vẫn còn gắn bó sâu đậm với văn hóa Nhật và Trung Quốc, điều này khiến họ không tới gần được bản sắc văn hóa Mỹ của chúng ta.

Gần đây, nhóm nhạc rap Far East Movement là nhóm ban nhạc Mỹ gốc Á đầu tiên được công chiếu lên truyền hình. Và nay mọi người đều được biết con trai gốc Á nhảy rất giỏi, qua các chương trình TV như “So You Think You Can Dance” và “America’s Best Dance Crew.”

Dĩ nhiên, chúng ta có được một nhân vật nổi bật trong văn hóa, có lẽ là cho tới nay chỉ có mỗi một người nam giới Mỹ gốc Á mà làm chúng ta hãnh diện về mình: Lý Tiểu Long. Nhưng tôi thấy có lẽ rằng, trong thâm tâm, chúng ta vẫn có điều ngần ngại: “Ờ thì ổng tài giỏi thật, nhưng mà uổng một cái lại là võ thuật. Có cần phải rập khuôn thành kiến như vậy không?”

Trước khi có Jeremy, nam giới Mỹ gốc Á bị xem như một thứ ma cà rồng. Chúng ta nhìn vào tấm gương của văn hóa bình dân Mỹ, và không thấy gì hết!

Ngày nay, 26 năm sau phim “Sixteen Candles,” Jeremy Lin xuất hiện trên sân đấu tầm cỡ nhất của môn bóng rổ, và chứng minh rằng chúng ta không chỉ hiện hữu mà chúng ta còn có thể thành công trong vai trò thể thao nhà nghề, trong một trong 3 môn thể thao hàng đầu trên ESPN.

Ðó chính là sức mạnh của truyền thông đại chúng, phải không? Khiến có hơn 300 triệu người Mỹ nhìn vào đấy và thấy một hình ảnh tập thể tiêu biểu cho tất cả chúng ta.

Ôi và cái hình ảnh mới đẹp làm sao. Qua thành tích, Jeremy phá tan được nhiều thành kiến nặng nề về đàn ông gốc Á. Anh không lùn, cũng không yếu. Anh sinh ra ở Mỹ và phát âm không có giọng ngoại quốc (mà nếu có nói giọng ngoại quốc thì đã có sao đâu!). Anh có tình cảm, anh biết biểu lộ. Anh có cái thái độ, cái điệu bộ của người biết nghề. Anh không biết sợ, không lùi bước trên sân.

Trở lại với câu của Snipes trong White Men: “Bạn có nghe Jimi đàn, nhưng bạn không nghe ra những gì Jimi nói trong tiếng đàn.”

Hãy tin tôi đi: Chúng tôi, những người nam giới Mỹ gốc Á, nghe ra hết tất cả những gì mà từng cú dội banh, dộng banh, ném banh, ghi bàn, của Jeremy Lin, nói lên về chúng tôi.

Ai ai cũng được tham gia vào hội những người hâm mộ Jeremy Lin, nhưng không phải tự nhiên mà có khu vực VIP dành riêng cho nam giới Mỹ gốc Á. Và vì chúng tôi đều là những người rất “cool,” chúng tôi hoan nghênh Long Duk Dong nếu muốn vào. (TP)

Xếp hạng FIFA Tháng Hai, 2012

 


Ðức tiến lên vị trí số hai sau Tây Ban Nha – Hoa Kỳ thăng hai hạng, xếp thứ 31 – Việt Nam trở lại top 100, đứng đầu khu vực Ðông Nam Á


 


TỔNG HỢP – Liên Ðoàn Bóng Tròn Thế Giới FIFA ngày 15 Tháng Hai mới đây vừa cho công bố bảng xếp hạng các đội tuyển trên thế giới. Theo đó, đương kim vô địch thế giới và vô địch Châu Âu, đội tuyển Tây Ban Nha, vẫn tiếp tục tại vị ngôi số một của mình với 1566 điểm, nhưng đội tuyển Ðức leo lên một bậc, chiếm hạng nhì được 1369 điểm đứng trước Hòa Lan, thứ ba với 1359 điểm.



Ðội tuyển Tây Ban Nha trước trận đấu vòng loại Euro 2012 với đội Liechtenstein trên sân Las Gaunas, Logrono, Spain ngày 6 tháng 9 năm 2011. (Hình: Denis Doyle/Getty Images)


Thứ tư là đội bóng vùng Nam Mỹ, Uruguay 1317 điểm, kế đến là tuyển Anh xếp thứ năm, và cựu vô địch World Cup Brazil lọt xuống hàng thứ bảy.


Riêng hai đội tuyển nặng ký ở Châu Âu là Bồ Ðào Nha và Italy đều nhảy lên một bậc với Bồ Ðào Nha chiếm vị trí thứ sáu còn Italy xếp hạng 8.



Ðội tuyển Bồ Ðào Nha trước trận đấu playoff vòng loại Euro 2012 với Bosnia-Herzegovina diễn ra trên sân Luz Stadium, Lisbon, Bồ Ðào Nha ngày 15 tháng 11 năm 2011. (Hình: Bruno Pires/AFP/Getty Images)


Hai đội cuối cùng trong top 10 của bảng xếp hạng FIFA là Croatia thứ chín và Ðan Mạch thứ mười.


Ðội tuyển Argentina, lừng danh một thời giờ đây lọt khỏi top 10 đầu bảng, chỉ đứng thứ 11. Còn đội tuyển Hoa Kỳ nhảy lên hai bậc xếp hạng 31 trong khi đội tuyển láng giềng phía Nam là Mexico chễm chệ ở vị trí thứ 21.


Trong khi đó, đội tuyển Việt Nam cũng nhảy lên một bậc đứng cuối cùng trong danh sách 100 đội tuyển hàng đầu thế giới của FIFA với 347 điểm.


Tuy chỉ chiếm hạng 100, nhưng tuyển Việt Nam lại đứng đầu khu vực Ðông Nam Á, bỏ xa Thái Lan với khoảng cách 30 bậc chỉ được 245 điểm.


Thái Lan tụt bảy bậc từ 124 xuống hạng thứ 130 còn đội tuyển Indonesia cũng rớt từ vị trí 143 xuống 146. Cùng chung số phận là Singapore và Malaysia đều tuột hạng.


Thăng hạng nhiều nhất là đội tuyển Zambia của Châu Phi, với chức vô địch bóng tròn Châu Phi 2012, đội này đã vọt lên 28 bậc, đứng vị trí 43 thế giới, trở thành đội tuyển thứ tư của lục địa này có thứ hạng cao nhất trên bảng xếp hạng FIFA.


FIFA cho biết những sự thay đổi vì việc giảm các trận đấu so với những năm trước, khi không có quốc gia nào trong số những quốc gia Nam Mỹ và Châu Âu nằm trong top 10 ra sân trong tháng qua. (TD)

Nhiều viên chức cao cấp bóng tròn Trung Quốc lãnh án tù

 


Nhận hối lộ và dàn xếp tỉ số, bán độ


 


TỔNG HỢP – Một cựu chủ tịch Liên Ðoàn Bóng Tròn Trung Quốc và một cựu giám đốc Hội Ðồng Trọng Tài (Referees Director) lãnh án tù nhiều năm về tội nhận hối lộ và dàn xếp tỷ số ở Trung Quốc trong phiên tòa xử ngày Thứ Bảy vừa qua như là một phần trong chiến dịch chống lại tệ nạn hối lộ, làm sạch các tệ nạn trong bóng tròn đã và đang diễn ra tại quốc gia này.



Cựu giám đốc hội đồng trọng tài của Liên Ðoàn Bóng Tròn Trung Quốc, Zhang Jianqiang, tại tòa án Teiling. (Hình: Globaltimes/Thanh Niên online)


Theo tin tức của các báo chí và truyền hình Trung Quốc, ông Yang Yimin, cựu phó chủ tịch Liên Ðoàn Bóng Tròn Trung Quốc, đồng thời cũng là trưởng ban tổ chức giải Vô Ðịch Quốc Gia Trung Quốc, bị tòa án Tieling của tỉnh Liaoning, phía Ðông Bắc Trung Quốc, kết án 10 năm rưỡi tù đồng thời ra lệnh phải trả tiền phạt là 200,000 nhân dân tệ (tương đương 32,000 đô la, 6.2991 nhân dân tệ = 1 đô la).


Yang Yimin, một trong những giới chức cao cấp nhất của bóng tròn Trung Quốc, thừa nhận tội ăn hối lộ của mình cách đây hơn hai năm. Ông đã 40 lần nhận tiền hối lộ tổng cộng lên đến 1.25 triệu nhân dân tệ từ các câu lạc bộ địa phương cũng như các cá nhân, hãng thông tấn Xinhua cho biết như thế.


Theo lời Luật Sư Wang Shujing của ông Yang cho biết sẽ không kháng án. Luật sư này nói: “Hình phạt này không khắc nghiệt. Ông Yang là một công chức bị tội hối lộ, theo hình phạt cao nhất cho một công chức ăn hối lộ là có thể lãnh án tử hình.”


Tòa án cũng tuyên án tù Zhang Jianqiang, cựu giám đốc Hội Ðồng Trọng Tài của Liên Ðoàn Bóng Tròn Trung Quốc, 12 năm tù và phạt 250,000 nhân dân tệ.



Cựu phó chủ tịch Liên Ðoàn Bóng Tròn Trung Quốc, Yang Yimin, bị dẫn độ đến tòa án xét xử. (Hình: Globaltimes/Thanh Niên Online)


Ông Zhang, với quyền hành là giám đốc Hội Ðồng Trọng Tài cũng như những vai trò quan trọng khác trong làng bóng tròn không chuyên nghiệp và bóng tròn nữ, thú nhận đã nhận hối lộ từ một số các đội bóng của giải đấu cao nhất trong nước, giải Chinese Super League (CSL), bao gồm hai đội Shandong Luneng và Shanghai Shenhua.


Ông đã từng nhận tiền từ đội Shenhua giúp đội này đoạt chức vô địch giải năm 2003. Giống như ông Yang Yimin, Zhang cũng chấp nhận hình phạt này mà không kháng án.


Ngoài ra, tòa án Tieling có tuyên án tù đối với tất cả 39 người, bao gồm ông Du Yunqi, cựu chủ tịch đội bóng Qingdao của CSL, bị bảy năm tù.


Cựu tổng giám đốc điều hành (general manager) câu lạc bộ Liaoning Guangyuan, ông Wang Xin cũng bị án tù 7 năm trong khi cựu tổng giám đốc điều hành của Shaanxi Guoli, ông Wang Po lãnh án tám năm tù.



Ông Yang Yimin tại phiên tòa xét xử. (Hình: Tuổi Trẻ Online)


Theo hãng thông tấn Xinhua, những cổ động viên bóng tròn đã đốt pháo bên ngoài tòa án, ăn mừng về những phán quyết mà tòa án đưa ra.


Bóng tròn Trung Quốc gần như bị khựng lại vì những vụ xì căng đan dàn xếp tỷ số, ăn hối lộ, bán độ… trong nhiều năm qua cũng với những bạo động xảy ra trong và ngoài sân cỏ, khiến cho người dân mê đá banh ở Trung Quốc chuyển sang xem các trận cầu ở Châu Âu hơn là ở trong nước.


Ngoài ra, bốn trọng tài, bao gồm ông Lu Jun, cựu trọng tài từng thổi trận đấu vòng chung kết World Cup 2002 và Olympic 2000, được vinh danh là “Cây Còi Vàng-Golden Whistle” cũng bị án bảy năm tù vào ngày Thứ Năm trước đó về tội dàn xếp tỷ số và nhận hối lộ.


Hai nhân vật nổi tiếng nhất bị bắt trong chiến dịch càn quét tệ nạn trong bóng tròn Trung Quốc nói trên là ông Nan Yong và Xie Yalong sẽ được xét xử sau.


Trước đây, bóng tròn Trung Quốc gần như bị khựng lại và đội tuyển của quốc gia này đã bị loại khỏi vòng loại của World Cup 2010, và lọt sổ khỏi danh sách 10 đội tuyển hàng đầu Châu Á. Trung Quốc chỉ có mặt một lần duy nhất tại World Cup 2002 mà đội tuyển của họ đã thua cả ba trận ở vòng đấu bảng và không ghi được bàn thắng nào. (TD)

Cướp 60 cổ vật từ bảo tàng Olympic

 


ATHENS (AFP) – Kẻ cắp có võ trang hôm Thứ Sáu đánh cướp hơn 60 cổ vật vô giá, kể cả một nhẫn vàng, từ một viện bảo tàng Hy Lạp chuyên về Thế Vận Hội thời cổ, khiến bộ trưởng Văn Hóa Hy Lạp phải từ chức.



Cảnh sát dò tìm bằng chứng bên ngoài viện bảo tàng ở Hy Lạp bị kẻ cắp đột nhập cướp đi 60 cổ vật vô giá. (Hình: Menelaos Myrillas/AFP/Getty Images)


Hai người bịt mặt, lợi dụng tòa nhà này không được canh gác trong vòng một tiếng đồng hồ vào lúc sáng sớm, đã phá hệ thống báo động, sau đó khống chế nữ nhân viên canh gác khi người này đến khởi sự giờ trực nhật.


Thị trưởng Olympia, Thymios Kotzias, cho hay có hai kẻ cướp và một trong hai người có súng.


Bộ trưởng Văn Hóa Hy Lạp trong thời gian qua than phiền về việc cắt giảm ngân sách khiến không có tiền chi cho việc bảo vệ an ninh các bảo tàng viện, nơi cất giữ các tài sản văn hóa vô giá của quốc gia này. (V.Giang)

Hải Quân Mỹ đưa 4 khu trục hạm đến Tây Ban Nha

 


WASHINGTON (NavyTimes) – Bộ trưởng Hải Quân Mỹ, ông Ray Mabus, hôm Thứ Năm cho hay bốn khu trục hạm sẽ được đưa đến đóng tại Tây Ban Nha bắt đầu từ năm 2014.



 


Ông Mabus nói rằng các chiếc Ross, Donald Cook và Porter, hiện có bến nhà ở Norfolk, tiểu bang Virginia, và chiếc Carney ở Mayport, tiểu bang Florida, có trang bị hỏa tiễn và dàn radar tối tân loại Aegis sẽ được đưa đến cảng Rota.


Hai chiếc Ross và Donald Cook sẽ đến năm 2015 và sau đó là hai chiếc Carney và Porter.


Hồi Tháng Mười năm ngoái, phát ngôn viên Hải Quân Mỹ ở Âu Châu, Trung Tá Marc Boyd, ước lượng kế hoạch này sẽ đưa khoảng 1,300 thủy thủ cùng nhân viên dân sự với 2,100 thân nhân của họ đến Rota.


Các chiến hạm này sẽ có nhiệm vụ hỗ trợ hệ thống phòng thủ chống hỏa tiễn tại Âu Châu. (V.Giang)

Mối bất an cho thế giới: Chương trình nguyên tử Iran

 


Hà Tường Cát/Người Việt


 


Chế độ cầm quyền ở Iran vừa một lần nữa tỏ ra bất chấp dư luận quốc tế và thách thức những áp lực ngày càng gia tăng nhằm buộc họ phải ngưng chương trình phát triển vũ khí nguyên tử.


Trong một buổi lễ được quảng bá rộng rãi qua phóng sự truyền hình hôm Thứ Tư, Tổng Thống Mahmoud Ahmadinejad đích thân đưa một thanh nhiên liệu nguyên tử vào lò phản ứng hạt nhân ở Tehran. Theo giải thích, thanh nhiên liệu này đã do Iran hoàn toàn tự chế tạo và lò phản ứng hạt nhân là một lò sử dụng vào mục tiêu nghiên cứu. Cho đến bây giờ Iran vẫn luôn luôn khẳng định chương trình nguyên tử lực của họ hoàn toàn nhằm mục tiêu hòa bình trong khi thế giới vẫn tin rằng ý đồ chính là phát triển vũ khí.


Theo lời giải thích, thanh nhiên liệu đưa vào lò đã được tinh chế tới 20%. Loan báo này có ý nghĩa quan trọng trong ý đồ che giấu sự thật, vì để có thể sử dụng vào mục tiêu quân sự, uranium phải được tinh chế tới 90% mới có thể làm vũ khí nguyên tử. Nhưng một chuyên viên nguyên tử nêu lên nghi vấn khác là liệu Iran có khả năng chế tạo những thanh nhiên liệu phù hợp cho lò nguyên tử như vậy hay không và đã thử nghiệm để bảo đảm an toàn chưa.


Iran cũng tuyên bố họ đã có những máy ly tâm thế hệ mới đủ khả năng làm giầu quặng uranium hiệu quả và nhanh chóng hơn tại trung tâm nguyên tử Natanz. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ coi đây là một lời tuyên truyền có phần huênh hoang phóng đại, nhưng thể hiện ra thực tế là Iran quyết tâm xúc tiến chương trình nguyên tử của họ dù phải chịu áp lực quốc tế nào.


Mặt khác để giải tỏa bớt những áp lực ấy, một lần nữa Iran lại đề nghị tái tục đàm phán. Tháng 1 năm 2011, Iran đã đề nghị đàm phán nhưng chẳng bao lâu sau đó những cuộc thảo luận đi đến bế tắc vì Iran chỉ đồng ý thương thuyết nếu bãi bỏ tất cả mọi biện pháp cấm vận.


 


Ðàm phán với phương Tây


 


Hôm 16 tháng 2, chính quyền Iran gởi văn thư đến bà Catherine Ashton, trưởng Ban Ðối Ngoại Liên Âu (EU), đề nghị tái tục cuộc đàm phán đã ngưng trệ từ năm ngoái và cho biết Tehran có thể đưa ra “những sáng kiến mới.” Trong bản văn thư vắn tắt gởi đến bà Ashton, Iran chưa nói gì cụ thể về cái gọi là những sáng kiến mới này. Bà Ashton giữ vai trò tiếp xúc với Iran trong tư cách là đại diện của nhóm “P5+1” bao gồm Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc và Ðức (nước duy nhất trong nhóm không có vũ khí nguyên tử).


Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton và Trưởng Ban Ðối Ngoại EU Catherine Ashton hoan nghênh đề xuất này, nói là văn thư “tỏ ra có sự hiểu biết và chấp nhận yêu cầu từ lâu của Tây phương rằng mọi cuộc nói chuyện đều bắt đầu từ vấn đề nguyên tử và cần đạt tới thỏa thuận là Iran phải tuân thủ những nghĩa vụ quốc tế.” Cho đến nay Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đã lần lượt ban hành nhiều biện pháp cấm vận kinh tế Iran, đồng thời Hoa Kỳ và EU cũng đơn phương đưa ra những biện pháp trừng phạt khác.


Sau cuộc họp giữa hai người, bà Clinton và bà Ashton nói với các phóng viên: “Chúng tôi tin rằng đây là một bước tiến quan trọng và chúng tôi tán thành văn thư của Iran.” Bà Clinton cho biết các cường quốc hãy còn cứu xét sự phúc đáp chính thức đối với đề nghị của Iran.


Trong tình thế hiện nay, Hoa Kỳ chắc chắn không chịu vướng vào những cuộc thảo luận kéo dài để cho Iran mua thời gian hoàn thành kế hoạch phát triển nguyên tử. Một cách cụ thể, Hoa Kỳ muốn đi đến kết quả Iran ngừng chương trình làm giầu quặng uranium của họ trước khi Israel có thể viện lý do tự vệ để thi hành những biện pháp quân sự đưa đến chiến tranh.


Chương trình nguyên tử của Iran là một trong những vấn đề dễ đưa đến biến chuyển đột ngột ở Trung Ðông vốn là một khu vực bất ổn định nhất trên thế giới. Giới lãnh đạo Iran nói là chương trình nguyên tử nhắm mục tiêu chính là sản xuất điện và như vậy hầu hết dầu khí của họ có thể để xuất cảng. Trong khi đó các giới chức Hoa Kỳ và Âu Châu đều tin rằng Tehran có kế hoạch phát triển vũ khí nguyên tử.


Tháng 11 năm 2011, cơ quan Năng Lượng Nguyên Tử Quốc Tế (IAEA) tìm thấy nhiều bằng cớ đủ để chứng tỏ rằng quả thật “Iran có những hành động liên quan đến việc chế tạo vũ khí nguyên tử và tiến trình này vẫn đang tiếp tục.”


 


Tham vọng nguyên tử nhiều thập niên


 


Chương trình nguyên tử của Iran thật ra khởi đầu ngay từ thời quân chủ trong những năm 1960 dưới triều đại quốc vương Shāh Pahlavi, tuy nhiên ít có tiến bộ và bị hủy bỏ sau cuộc Cách Mạng Hồi Giáo năm 1979. Giữa thập niên 1990, giới lãnh đạo Iran tỏ ra muốn thực hiện những nỗ lực mới và sự kiện này dấy lên nhiều nghi ngại cho Hoa Kỳ. Trong khi Iran cam kết tuân hành hiệp ước quốc tế cấm phát triển vũ khí nguyên tử thì một nhóm dân lưu vong công bố những tài liệu chứng tỏ Iran đang tiến hành một dự án bí mật.


Trước triển vọng có thể lãnh chịu biện pháp cấm vận của Liên Hiệp Quốc, chính quyền của Tổng Thống Mohammad Khatami năm 2003 đồng ý ngưng chương trình làm giầu quặng uranium và chấp thuận cho phái đoàn IAEA của Liên Hiệp Quốc đến thanh tra, đồng thời vẫn tiếp tục thương lượng với Pháp, Anh và Ðức về việc xây dựng những nhà máy điện nguyên tử.


Tháng 8 năm 2005, Mahmoud Ahmadinejad, một chính trị gia có lập trường cực đoan được bầu làm tổng thống thay thế Khatami và đến tháng 1 năm sau loan báo sẽ tái tục chương trình làm giầu uranium. Theo hiệp ước cấm phát triển vũ khí nguyên tử, Iran vẫn được phép tinh chế uranium nhưng IAEA đòi hỏi chỉ được thực hiện việc này sau khi đã làm sáng tỏ những nghi vấn về chương trình bí mật trước kia và chính quyền Ahmadinejad kéo dài thời gian mà không thi hành đòi hỏi ấy, Tháng 12 năm 2006, Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc chấp thuận nghị quyết cấm vận Iran vì không ngừng chương trình điều chế uranium.


Từ đầu năm 2008 IAEA nhiều lần đưa ra những bằng cớ nghi ngờ chương trình nguyên tử của Iran là nhắm đến mục đích quân sự, nhưng Iran luôn luôn bác bỏ lập luận ấy. Trong hai năm đầu tiên của nhiệm kỳ, Tổng Thống Obama muốn dùng giải pháp ngoại giao sau khi Tổng Thống Bush đã qua nhiều năm không đạt kết quả buộc Iran tuân hành những đòi hỏi quốc tế, tuy nhiên cũng không thành công. Bằng nỗ lực vận động từ Hoa Kỳ và Âu Châu, tháng 6 năm 2010 Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc biểu quyết chấp thuận một đợt những biện pháp cấm vận mới trong khi Hoa Kỳ và Âu Châu đơn phương thi hành thêm những biện pháp trừng phạt khác.


Tuy nhiên những áp lực quốc tế chưa đủ mạnh để Iran thay đổi chủ trương. Tình hình trở nên căng thẳng hơn khi một mặt Iran đe dọa trả đũa những biện pháp cấm vận, mặt khác loan báo thành lập thêm một trung tâm nguyên tử khác để đẩy mạnh việc điều chế uranium. Trong khi đó tình báo Israel tiến hành hoạt động bí mật ám sát các kỹ thuật gia nguyên tử Iran cũng như tấn công phá hoại qua hệ thống điện toán, ngược lại Iran trả thù bằng những hành động khủng bố chống Do Thái ở Ấn Ðộ, Thái Lan.


Trong tình hình hiện nay, nếu cuộc đàm phán do Iran đề nghị không thực hiện được và nếu cuộc thảo luận không đi đến kết quả, người ta khó dự đoán chuyện gì sẽ đến. Xung đột quân sự với Hoa Kỳ và Âu Châu khó xảy ra nhưng Israel có thể hành động bất ngờ lôi kéo các bên vào cuộc chiến. Tình trạng đối đầu có lẽ sẽ không tiếp tục kéo dài nhiều tháng nữa mà phải đi đến một giải pháp hay chuyển biến trong một tương lai gần. (HC)

‘Mối tương quan mất dạy!’ – Huy Phương

 


Tạp Ghi Huy Phương


 


Trong nước càng ngày chúng ta thấy sự quan hệ giữa chính quyền cai trị và dân chúng càng ngày càng tồi tệ, và đảng đẩy quần chúng vào thế đối nghịch, coi dân như kẻ thù. Mặt nạ “nhân dân làm chủ” mị dân của cái thời xa xưa đã rơi xuống, phơi bày một sự thật, đó là, sự quan hệ giữa “dân-nhà nước” bây giờ được xem như là giữa con cái và cha mẹ, thậm chí là chó với chủ. Có hai người đàn bà tương đối có chức sắc, và cũng khá “sắc sảo” luôn luôn muốn tâng công với đảng nhà nước, nhưng đôi khi lại đi quá đà, “bảo hoàng hơn nhà vua,” là hai bà Nguyễn Thị Hồng Ngát, Tôn Nữ Thị Ninh, muốn đem Khổng Tử ra để coi chính quyền là cha mẹ dân: “Dân chi phụ mẫu,” đi ngược lại khẩu hiệu “nhân dân làm chủ” mà đảng Cộng Sản vẫn thường rêu rao.


Nguyễn Thị Hồng Ngát, hồi còn là cục phó Cục Ðiện Ảnh VN đã trả lời cuộc phỏng vấn của phóng viên Evan Williams đài truyền hình ABC tại Úc đã trả lời về những sự bất đồng của dân Việt Nam đối với chính phủ bằng câu trả lời: “Con cái không chê cha mẹ khó…” (cho nên không được chê trách, hỗn hào!). Câu nói này lại được Trương Ngọc Ninh, phó giám đốc Sở VH-TT Hà Nội, phụ họa: “Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo!”


Tôn Nữ Thị Ninh, nguyên đại sứ Ðặc Mệnh Toàn Quyền của VN tại Liên Hiệp Châu Âu (EU), phó chủ tịch Ủy Ban Ðối Ngoại của Quốc Hội Việt Cộng, tại buổi họp báo tại Câu Lạc Bộ Báo Chí Quốc Gia Hoa Kỳ hồi tháng 10 năm 2004, đã biện bác rằng về tình trạng nhân quyền tồi tệ ở Việt Nam bằng một câu nói khá hỗn xược: “Trong gia đình chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh thì để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó, dĩ nhiên là trừng trị theo cách của chúng tôi. Các anh hàng xóm đừng có mà gõ cửa đòi xen vào chuyện riêng của gia đình chúng tôi.” Có nghĩa là những nhà tranh đấu cho dân chủ, cho sự bảo toàn lãnh thổ, những người dân kêu oan là những đứa con hỗn láo, bướng bỉnh mà đảng có quyền trừng trị riêng của đảng (đánh đập, đạp vào mặt, lôi đi như con chó, bắt bớ, tù đày…), người ngoài chớ có xía vô. Thành ngữ Việt Nam có câu “mồm loa mép dãi” dùng trong trường hợp của hai phụ nữ này quả là đúng chỗ.


Blogger Ðinh Tấn Lực ở trong nước đã cho rằng mối tương quan “cha mẹ-con cái,” “chó-chủ nhà,” theo lối nói này là thứ “tương quan mất dạy.”


Nguyễn Thị Hồng Ngát là “biên kịch” cuốn phim “Nhìn Ra Biển Cả” nói về tuổi trẻ của Hồ Chí Minh, đoạt giải nhì cuộc thi sáng tác kịch bản điện ảnh hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh,” kỷ niệm 120 năm ngày sinh của “bác” vào năm 2010, thì chúng ta cũng thấy tầm vóc nhai lại của một tay văn nô như thế nào, đã tâng bốc một thứ “đạo đức mắm tôm,” mà người có liêm sỉ phải lấy làm ngượng. Những cuốn phim như loại này chỉ dùng để báo cáo thành tích hằng năm, chứ phát vé đi xem không cũng chẳng ai thèm.


Tôn Nữ Thị Ninh từng du học ở Pháp, Anh, dạy học ở Pháp. Trước năm 1975, bà dạy ở Ðại Học Văn Khoa Sài Gòn và là người liên lạc giữa Viện Ðại Học Saigon với Tòa Ðại Sứ Mỹ, nhưng không biết vì sao vào giờ phút chót bà lại không có tên trong danh sách dược di tản. Những ngày cuối cùng của tháng 4, 1975, Tôn Nữ thị Ninh đã chạy đôn đáo nhưng không kiếm được ra đường đi, đành phải kẹt lại. Số phận tình cờ, bà gặp Xuân Thủy, lúc đó là trưởng Ban Ðối Ngoại Trung Ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam, người đã từng biết bà trong thời gian hội nghị Paris (1968-1972) nên được kéo về làm việc tại Ban Ðối Ngoại Trung Ương. Nhờ vốn liếng sinh ngữ, có cơ hội gần gũi với các cấp lãnh đạo trong đảng Cộng Sản, công danh của Tôn Nữ Thị Ninh thăng tiến vượt bực. Hà Nội khen ngợi bà đã có một số những “phản bác tương đối mạnh mẽ trước một số cáo buộc về vấn đề nhân quyền” từ phía Hoa Kỳ, như lối nói “để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó” như ở trên. Dù là mị dân, trong khi đảng kêu gọi đảng viên “trung với đảng, hiếu với dân” là đã công nhận nhân dân là cha mẹ, bây giờ quý ông, quý bà lại theo đảng, quay ngược theo thời thế, gọi dân là “hỗn láo,” “bướng bỉnh” cần phải đóng cửa để “trừng trị,” xem ra cái thời theo dân để xin gạo, xin vàng, xin nơi trú ẩn đã qua, bây giờ nắm quyền lực trong tay, đảng làm gì chẳng được. Tệ hơn nữa, người dân dưới mắt chế độ, như nhà văn Võ Thị Hảo ở trong nước đã nhận định: “…họ coi dân, những người nuôi nấng, làm vinh thân phì gia cho họ, như kẻ thù phải triệt hạ?”


Kinh Thi có câu “khởi đễ quân tử, dân chi phụ mẫu,” theo nghĩa thường đã có nhiều người giải thích đại ý là “quân tử là cha mẹ của dân.” Người chăm sóc, lo lắng cho dân thì được dân xem như cha mẹ, là người quân tử. Tư tưởng này truyền đến đời sau, cho nên những quan lại trị dân được gọi là “quan phụ mẫu,” xem mình như cha mẹ trị dân. Người trị dân nào mà có đức độ như cha mẹ dưỡng dục con mới được coi là quân tử, chứ không phải là loại người “bóp họng, nặn hầu” dân, vô lại, xem dân như cỏ rác mà được xưng tụng là cha mẹ dân. Ngày trước khi còn nằm trong hầm bí mật, chưa nắm chính quyền trong tay thì đảng mị dân, tự nhận là người đầy tớ trung thành, là công bộc dân, nhưng khi có quyền lực rồi thì cướp nhà, chiếm đất, gieo oan khuất cho dân, sao tự cho mình là cha mẹ được. Câu nói của Tôn Nữ Thị Ninh là một câu nói của bọn nha sai, nịnh bợ đám quan lại, đánh mất lòng tự trọng của một người trí thức, mà có lẽ ngay cả những người được Ninh coi là cha mẹ cũng lấy làm ngượng.


Còn như câu nói của một Ninh khác, Trương Ngọc Ninh, loại chức sắc nhỏ “vô văn hóa,” ví von dân với chính phủ như chó với chủ bằng một giọng miệt thị trong câu “Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo!” thì không thể bình luận gì hơn. Dân chưa cam tâm làm chó để cho chủ đánh đập, nhưng những loại cán bộ “ăn cơm Chúa múa tối ngày” này đã cam tâm vẫy đuôi lấy điểm với chủ. Thì cũng được đi, nhưng bọn này lại đem ví quần chúng ngày nay với đảng của chúng nó như chó với chủ thì quá xấc xược, khinh mạn.


Ðó là số phận thằng dân trong chế độ hiện nay ở quê nhà. Quê nhà hiện nay phải chăng là một nhà tù lớn, nói như Henry David Thoreau, một sử gia và cũng là một nhà thơ Mỹ vào thế kỷ XIX: “Dưới một chính phủ mà họ bắt giam bất cứ ai một cách vô lý thì ngay chỗ ngồi của kẻ xử án cũng là một nhà tù rồi!”

Câu chuyện ruộng đất – Lê Phan

 


Lê Phan


 


Năm 1993, trong lúc đang cao trào đổi mới, chính quyền Hà Nội đã cho ban hành Luật Ðất Ðai với một nguyên tắc, “Ðất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Nhà nước giao đất cho các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan chính trị, xã hội (gọi chung là tổ chức), hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Nhà nước còn cho… thuê đất.” Luật này được sửa đổi lại nhiều lần và lần cuối là năm 2003.


Trên nguyên tắc người “sử dụng đất” không phải là chủ nhân, đất được giao (tức là trao quyền sử dụng bằng quyết định hành chánh) hay thuê (tức là trao quyền sử dụng bằng hợp đồng), và do đó có thể bị thu hồi, và việc thu hồi này chính là vì “mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế.” Và đó chính là một trong những vấn đề căn bản dẫn đến những vụ “cưỡng chế” bởi “thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chánh để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao.” Tuy trong luật có nói mơ hồ đến “bồi thường” thì “Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất.”


Vấn đề thêm phức tạp khi được giải thích bởi các văn bản dưới luật nhằm thi hành luật này. Và đến khi thi hành thì mọi sự trở thành là một mớ bòng bong.


Như nhận định của Phó Giáo Sư-Tiến Sĩ Vũ Trọng Khải và Nguyễn Minh Nhị trong tờ Người Lao Ðộng, đã có những sự thiếu bình đẳng giữa các chủ thể sử dụng đất. Hai vị đã đặt câu hỏi: “Tại sao đất đai cho nhà đầu tư thuê để xây dựng khu công nghiệp hay sân golf, đến khi Nhà nước cần để xây dựng đường sá thì phải thương lượng mua lại quyền sử dụng đất của chủ đầu tư theo giá thị trường, còn đối với nông dân thì lại ‘thu hồi đất nông nghiệp’ của họ và áp đặt ‘giá đền bù’ sát giá thị trường mà không phải là mua theo giá thị trường?”


Hơn thế, điều phi lý hơn nữa là trong số lượng đất đai được quyền sử dụng. Hai vị giáo sư viết, “Luật pháp không được phân biệt đối xử giữa các chủ thể (cá nhân và tổ chức) trong cùng một hành vi. Cùng sử dụng đất nông nghiệp nhưng tại sao hộ nông dân bị hạn điền khi giao đất và khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, còn tổ chức thì không? Các doanh nghiệp chỉ cần lập dự án trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, nếu xét thấy khả thi, Nhà nước có thể cho họ thuê, giao quyền sử dụng đất với diện tích hàng ngàn hecta. Một cặp vợ chồng được tính là 1 hộ gia đình thì chỉ được nhận chuyển quyền sử dụng đất tối đa 2 ha ở đồng bằng sông Hồng nhưng nếu họ lập công ty trách nhiệm hữu hạn thì không bị hạn điền 2 ha mà có thể có cả trăm, cả ngàn hecta trong trường hợp dự án đầu tư của họ được cấp có thẩm quyền phê duyệt.”


Và chính sách “hạn điền” còn áp dụng cả với thời gian. Câu hỏi nữa được đặt ra là, “Năm 2013, thời hạn 20 năm có ‘quyền sử dụng đất’ của đại đa số nông dân sẽ hết. Ðiều gì sẽ xảy ra nếu không sửa ‘thời hạn’ và cả ‘hạn điền’?”


Nhưng dầu sao chăng nữa, phải nói trong giai đoạn đầu, đạo luật này đã giúp “giải phóng” sức lao động của nông dân Việt Nam. Chính nhờ đạo luật cho phép nông dân được “quyền sử dụng” một thời gian dài, không còn bị ép buộc trong khuôn khổ hợp tác xã nông nghiệp nên họ đã bung ra làm ăn và đưa Việt Nam từ một quốc gia đang phải nhận viện trợ về thực phẩm, ăn độn vào những năm của các thập niên 1970 và 1980, trở thành quốc gia xuất cảng gạo.


Trong 15 năm kể từ 1993, sản lượng nông nghiệp của Việt Nam đã tăng hơn gấp đôi. Ðến năm 2008 Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia xuất cảng hàng đầu về gạo, cà phê, hột điều, hạt tiêu cũng như trong việc nuôi thủy sản, tôm và cá.


Và ở một khía cạnh nào đó, người nông dân đã lầm tưởng là quyền sử dụng đất, nay vốn được quyền chuyển nhượng, di truyền lại cho con cái, đã biến mảnh đất họ canh tác thành tài sản của họ. Nông dân, như chính Marx và Engels đã nhận xét, chỉ muốn làm chủ mảnh đất của mình. Mà quả thật đó chính là điều khiến họ là nông dân. Ðối với họ ruộng vườn, mảnh đất canh tác là tất cả, là nguồn sống hiện tại và tương lai. Và khi được “giao” cho khoảng đất trong vòng 20 năm, nông dân đã giả định là rồi thì “quyền sử dụng” của họ sẽ được tái tục.


Trong hoàn cảnh đó, đột nhiên bị tước đi mất đất đai thì người nông dân, dầu là một người nông dân ít học hay một ông kỹ sư canh nông trở thành nông dân như ông Ðoàn Văn Vươn, cũng đồng có một phản ứng, họ sẽ chống trả đến kỳ cùng để bảo vệ mảnh đất của họ. Ở Trung Quốc, làng Ô Khảm đã có lúc tuyên bố độc lập khỏi Trung Quốc cũng chỉ là phản ứng của nông dân.


Mà nếu xét những con số khổng lồ nông dân bị tước đoạt tài sản thì vấn đề nổi loạn, nổi dậy sớm muộn rồi cũng xảy ra. Theo thống kê của Bộ Nông Nghiệp Việt Nam, từ năm 2001 đến năm 2006, có 376,000 ha ruộng lúa bị “thu hồi,” làm cho trên một triệu nông dân mất kế sinh nhai.


Nhưng cũng phải nói là vấn đề ruộng đất còn có một khía cạnh nữa, khía cạnh thuế vụ của chế độ. Chính quyền Hà Nội là một trong những chính quyền hãn hữu trên thế giới này không đánh thuế đất. Hẳn là vì nó nằm trong cái logic đã là vì không phải là sở hữu chủ của đất đai nên những người được giao hay cho thuê không trả thuế đất. Nhưng khổ một nỗi ở tất cả các nơi trên thế giới này thuế đất chính là thuế để nuôi chính quyền địa phương.


Chúng ta cứ thử nghĩ xem, nếu thuế đất không có thì county nơi chúng ta đang ở lấy đâu tiền để thuê người đổ rác, để sửa đường, để cung cấp những dịch vụ mà một cộng đồng đòi hỏi. Chính quyền Hà Nội khi từ chối không cho chính quyền địa phương quyền đánh thuế đất đai đã làm cho họ không có nguồn tài chánh tự túc và không có cả tiền để trả lương cho mình.


Trong khi đó mọi thứ thuế khác chính quyền địa phương thâu được đều phải nộp về cho chính quyền trung ương. Ông Võ Trần Trí, hồi còn làm bí thư Thành Ủy Sài Gòn, đã có lần than thở với dân chúng trong một cuộc gặp gỡ với dân là, “Trung ương lấy hết tiền rồi. Thành phố không có tiền. Trung ương chi viện nhưng không đủ thành ra đường thành phố ổ gà, cống rãnh hư hỏng không có tiền sửa chữa.”


Ðể đối phó với hoàn cảnh đó, chính quyền địa phương đã lợi dụng quyền duy nhất nằm trong khuôn khổ luật pháp cho phép họ, đó là quyền tịch thu đất đai để bán đi kiếm tiền. Dĩ nhiên quyền đó sẽ bị lạm dụng. Viên chức huyện được quyền tịch thu đất để đem bán chi cho công việc của huyện sẽ khó dừng lòng khi tịch thu đất để bán lấy lợi riêng cho bản thân.


Một luật lệ thiếu suy nghĩ đã dẫn đến một nguồn tham nhũng vô tận và một nguyên nhân thường xuyên tạo bất ổn mà một vụ Tiên Lãng chỉ là mẩu trên cùng của một tảng đá ngầm khổng lồ.

Vàng Ðen (Kỳ 11)

 


“Vàng Ðen” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Dũng Tiến, được xây dựng trên những tư liệu cùng huyền thoại liên quan tới vùng “Tam Giác Vàng,” một trong những nguồn sản xuất và cung cấp thuốc phiện (“vàng đen”) lớn nhất thế giới. Ngoài việc viết văn, tác giả Nguyễn Dũng Tiến cũng là một trong những người Việt Nam đầu tiên có công gầy dựng vườn cây ăn trái cho người Việt ở xứ người. Ông hiện là chủ nhân vườn cây LA Mimosa Nursery, 6270 East Allston Street, Los Angeles, CA 90022-4546. Tel: (323) 722-4543. Ðược sự cho phép của tác giả, Người Việt hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết “Vàng Ðen” trên mục truyện dài của nhật báo Người Việt cũng như Người Việt Online.


 


Kỳ 11


 


Sáng hôm sau, cảnh sát tại thị xã El Monte quây quanh hai tử thi của hai trẻ gốc Á Ðông để làm biên bản, trông chúng như còn vị thành niên. Theo nhận xét đầu tiên của cảnh sát, chúng đã chết vì dùng quá độ bạch phiến. Cảnh sát còn tìm thấy trong túi chúng khoảng hai trăm Mỹ kim, hoàn toàn tiền một đồng.


Biên bản đầu tiên của vụ án được trình lên đại úy trưởng phòng cảnh sát El Monte. Người đại úy già gầm gừ qua interphone:


-Tìm cho tôi Smith, gởi hắn lên phòng tôi liền.


-Có ngay, đại úy.


Một giọng nữ nhanh nhẹn trả lời và chỉ vài phút sau Trung Sĩ Smith đã trình diện vị đại úy trong căn phòng ấm áp của ông ấy.


-Trình đại úy gọi tôi.


-Cái biên bản của anh sáng nay về vụ hai thằng nhỏ, coi bộ tôi nuốt không trôi.


-Chuyện gì vậy, đại úy?


-Hai thằng cùng chết một lượt vì dùng quá độ bạch phiến, theo tôi, nó không ổn chút nào hết. Anh phải liên lạc với ban giảo nghiệm tử thi để coi có phải tụi nhỏ mua trúng đồ giả hay không?


Smith đứng chết trân, mồ hôi vã đầy sống lưng. Hắn tự trách mình, sao lại có thể hàm hồ trình lên một cái biên bản thiếu suy xét như vậy, mấy khi lại có hai thằng chết vì quá độ bạch phiến một lượt. Ông thầy mình quả giỏi thiệt, ngồi một chỗ, biết mọi việc. Hắn đâm ra phục ông thầy. Sự cảm phục của hắn được thể hiện qua những câu nói đầy ấp úng của hắn:


-Trình… đại úy, tôi, tôi… quả có sơ sót, tôi, tôi sẽ coi lại ngay. Ðại úy có, có… cần nói gì nữa không?


-Vụ này giống hệt như vụ ở China Town (phố Tầu) trên Los Angeles, không chừng dính líu luôn đến mấy vụ chết nữa trên phố Tầu ở San Fransisco. Tất cả đều là Á Ðông, đều cùng chết trong tháng này. Anh liên lạc ngay với ban giảo nghiệm tử thi rồi cho tôi báo cáo tức thì. Vụ này có vẻ lớn đó.


-Tuân lệnh, tôi sẽ làm liền. Chào đại úy.


Người trung sĩ vừa bước ra, viên đại úy già lại gọi trong interphone:


-Liên lạc cho tôi nói chuyện thẳng với F.B.I.


Vẫn giọng nữ nhanh nhẹn trả lời:


-Có ngay, đại úy. Nhưng bây giờ có lẽ giờ ăn trưa trên D.C.. Ðại úy có muốn tôi để lại lời nhắn, để trên ấy gọi lại không?


-Ờ thì đành vậy.


Tháng này, Ðại Úy Osborn phải làm việc nhiều hơn bình thường, băng đảng Á Ðông trong vùng càng ngày, càng lớn mạnh. Nhỏ, mới chập chững vào trường bụi thì đi xập nhà, ăn cắp vặt; Tay nghề khá hơn, chúng tổ chức đĩ điếm, buôn lậu ma túy, cà thẻ nhựa giả, rồi tranh giành vùng ảnh hưởng, chúng bắn nhau loạn xà cào, không một chút e ngại. Khó nỗi, chúng làm ăn lưu động, thành phố này qua thành phố nọ, xuyên luôn các tiểu bang. Ðộng ổ, chúng rút êm qua Gia Nã Ðại, quậy một hồi trên đó cho nóng rồi lại kéo ngược về. Kẹt cái, tụi Á Ðông này, đứa nào coi mặt cũng như vị thành niên hết; Nhân viên của ông thả lầm tụi băng đảng hàng bữa, vì luật pháp không bắt buộc phải có và mang theo thẻ căn cước trong người, cũng không được giữ kẻ tình nghi quá hai mươi bốn tiếng.


Cuộc họp của những sếp sòng cảnh sát trong quận Los Angeles đầu tháng vừa qua cũng không đưa ra được những giải pháp gì thiết thực, vì những nạn nhân đều không dám thưa kiện, không dám làm chứng.


Lại nữa, kỹ thuật mới của ngành truyền tin với những chiếc beeper (máy thu nhận số điện thoại của người muốn mình gọi lại), đã khiến cho cảnh sát không tài nào theo dõi được chúng. Vì với những ám số, chỉ có chúng biết với nhau, cùng sử dụng những máy điện thoại công cộng, cảnh sát đã phải điên đầu.


Còn một vụ thiệt dữ, cảnh sát của tất cả thị xã thuộc Los Angeles và quận San Fransisco đang phải hợp tác với nhau để giải quyết. Vụ này làm Ðại Úy Osborn như ngồi trên một lò lửa. Lò lửa chừng như quá lửa, không thể chờ, khiến Ðại Úy Osborn đích thân bấm số điện thoại của người bạn thân trên Washington D.C., sếp sòng đặc trách về ma túy của F.B.I.


-Ðại Úy Osborn tại L.A., cho tôi nói chuyện với ông Frank.


-Ô… Ô… Thưa ông, ông Frank chưa… Ô, chờ một chút, ông ta đang vào.


Vài chục giây sau.


-Alô, người bạn già Osborn, có chuyện gì đây?


-Ê, thằng nhỏ tuổi, bộ có chuyện mới phải gọi hay sao?


-Cũng đâu đó, nào người bạn già, có chuyện gì thẩy đại lên bàn cho rồi, còn khách sáo làm gì.


-Anh biết chuyến hàng mới tụi nó vừa đem vào cảng Seattle?


-Biết, nói tiếp đi.


-Cả chục thằng chết vì thuốc giả, chưa biết tụi nó pha cái giống gì. Có một mạng chết vì bị thanh toán, xác nó vứt trên xa lộ 10, ngay tại thị xã của tôi. Ngày xác đưa đi chôn, tụi nó bắn thêm thằng đàn em nữa, ngay tại nghĩa trang.


-Tôi biết, tụi giết đã thuê sát thủ từ Hương Cảng sang để thanh toán nguyên băng Việt. Tụi nó giẫm chân nhau tùm lum. Vài ngày nữa, ông già sẽ thấy báo chí Hương Cảng đăng tin vài thằng cô hồn đang sống ngon lành, tự nhiên trúng gió lăn đùng ra chết.


-Coi mòi anh nắm vững vụ này. Như vậy tôi có thể đóng hồ sơ xác chết trên xa lộ rồi chứ gì.


-Ờ, ông già có thể kết thúc hồ sơ, coi như băng đảng thanh toán nhau.


-Khi nào anh giải quyết xong vụ này.


-Tôi hết lo vụ này rồi, xếp tôi đã bàn giao hết nội vụ cho C.I.A.. Vụ này không chỉ đơn giản trong nội địa Hoa Kỳ, nó dính líu tùm lum hết. Ðiểm chính bỏng nhất lại không nằm trong Hoa Kỳ.


-Ở đâu vậy?


-Lào. Tam giác vàng. Tụi C.I.A. đã có địa bàn hoạt động tại đó từ lâu rồi. Tụi xịa nó rành vụ này lắm, để tụi nó lo, ông già không cần bận tâm nhiều nữa. Sau này có gì cần đến tôi, cứ gọi.


-OK.


Biết đầu dây bên kia muốn chấm dứt câu chuyện, Ðại Úy Osborn cũng không còn cách gì hơn để tiếp tục câu chuyện, đành chào và gác máy. Hóa ra đây là một vụ có tầm vóc quốc tế.

Cả năm ‘mài dao’, một mùa ‘chém’ du khách

 


15-02-2012
Diễn Đàn Kinh Tế Việt Nam


Cả năm ‘mài dao’, một mùa ‘chém’ du khách


Tác giả: Hải Linh


(VEF.VN) – “Chặt chém” du khách bất kể là ai có lẽ đã trở thành thói quen với nhiều người Việt Nam làm trong lĩnh vực dịch vụ như bán hàng, lái xe… Và đây là thói quen rất xấu làm ảnh hưởng đến hình ảnh quốc gia trong con mắt của nhiều du khách nước ngoài.


Trong một lần sang Nhật Bản công tác, vào thời gian rảnh rỗi, một nhóm người Việt Nam chúng tôi đến phố công nghệ Akihabara tại Tokyo để mua sắm. Chúng tôi muốn tìm một cửa hàng bán camera cũ, nhưng không biết nó ở đâu. Hỏi một cô gái (chắc là nữ sinh của một trường trung học, vì thấy mặc đồng phục học sinh) đang đi trên phố, cô ấy liền lấy điện thoại ra để vào một trang tìm kiếm. Cô chỉ cho tôi cửa hàng đó, cách cũng không xa phố Akihabara – nơi chúng tôi đang đứng, nhưng phải đi khá vòng vèo. Thấy chúng tôi nói tiếng Anh không tốt và có vẻ như không hiểu lắm, cô gái đã cầm tay dẫn đến tận nơi có cửa hàng đó.


Thái độ và hành động của cô gái người Nhật khiến chúng tôi vô cùng cảm kích. Khi trao đổi chuyện này với một số người Việt Nam có thời gian sống tại Nhật, họ đều có chung nhận xét, người Nhật rất tận tình với tất cả mọi người, khi hỏi đường hay nhờ việc gì đó thường giúp đến nơi đến chốn.


Còn tại Việt Nam thì như thế nào? Trước đó, trong một chuyến công tác tại Nha Trang, hai anh em chúng tôi có mượn một chiếc ôtô lái từ đường Trần Phú ra Cam Ranh. Lúc đó khoảng 6 giờ chiều, trời không còn sáng nữa, do không biết đường nên bị lạc. Thấy mấy bác xe ôm đứng bắt khách, chúng tôi nhờ chỉ đường để chạy ra Cam Ranh. Khi một bác định trả lời thì bác đứng cạnh gạt đi không cho nói và cướp lời: “Để kiếm tiền bọn này coi”. Ý của bác này là muốn được chỉ đường, chúng tôi phải trả tiền.


So sánh như vậy để thấy rằng, tại Việt Nam thiếu hẳn sự thân thiện với du khách. Nếu có cơ hội moi được tiền của du khách, bất kể là ai, nhiều người sẽ không chịu bỏ qua.


Nổi tiếng về “chém” khách tại Việt Nam phải kể đến là các lễ hội, nơi đông khách thập phương tìm đến. Nếu ai đã đi chùa Hương đúng mùa lễ hội, từ tháng 1-3 âm lịch hàng năm, chắc hẳn sẽ trải qua nhiều cung bậc cảm xúc.



Có một câu nói nổi tiếng mà những người ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức (nay thuộc Hà Nội) thường nói: “chín tháng mài dao, ba tháng băm”. Nghĩa là, lễ hội chùa Hương diễn ra có 3 tháng và đó là 3 tháng kiếm tiền của những người làm dịch vụ tại đây. Một năm có 12 tháng nhưng lễ hội chỉ có 3 tháng, vì vậy 9 tháng còn lại không kiếm tiền được nên làm công việc chuẩn bị (mài dao) nghĩ ra các chiêu kiếm tiền đợi lễ hội tới là “chặt chém”.


Chúng tôi cũng đã từng lĩnh trọn “nhát dao” của chủ quán tại đây. Đó là vào mùa lễ hội năm Tân Mão (2011). Khi đi từ động Hương Tích xuống, thấy đói, khát, muốn ăn, chúng tôi vào một quán ven đường, hỏi giá cả cẩn thận. Mỳ tôm 25.000 đồng/bát, trứng vịt luộc 10.000 đồng/quả. Tưởng thế là yên tâm, 7 người ăn xong mới gọi ấm trà tráng miệng. Chính cái không ngờ nhất lại bị chém ác nhất, cứ nghĩ là rẻ như nước nên không hỏi giá, đến lúc tính tiền chủ quán hét 210.000 đồng/ấm trà (30.000 đồng/người). Lý do là đường lên núi cao đưa nước lên khó khăn tốn nhiều công sức.


Tại các khu du lịch những ngày Tết hoặc lễ như  30/4, 2/9 cứ khách đến đông là mọi thứ tăng vọt từ giá phòng cho đến đồ ăn, nước uống.


Các bãi biển như Trà Cổ (Quảng Ninh), Đồ Sơn (Hải Phòng), Sầm Sơn (Thanh Hoá), Vũng Tàu… giá cả đều tăng vọt, cứ hở ra là bị “chém”. Điều này chắc không có gì lạ đối với nhiều người. Không phải lúc nào các bãi biển này cũng đông vui, nên vào những ngày nghỉ người đổ về đông là bị “chặt chém” bù cho những ngày vắng khách “ngồi chơi xơi nước”.


Người Việt với nhau còn bị “chém” như vậy huống chi là người nước ngoài, không thông thuộc ngõ ngách, không nói được tiếng Việt và không nắm được giá cả.


Những câu chuyện “chém” khách nước ngoài đầy rẫy trên báo chí. Một vài vụ điển hình như năm 2011, tài xế taxi (hãng taxi Phú Gia) chở khách là ông Chen Ang Dani và Than Sha Pen (quốc tịch Singapore, khách đến dự Đại hội đồng Interpol lần thứ 80 tại Hà Nội) đi từ phố Phan Bội Châu (quận Hoàn Kiếm) tới  Trung tâm Hội nghị quốc gia (Mỹ Đình, Từ Liêm). Với quãng đường hơn 10 cây số, tài xế bắt khách phải trả 200 USD, 100 đôla Singapore (tổng cộng gần 6 triệu đồng). Hai ông khi xuống xe để quên điện thoại Iphone 4 cũng bị lái xe “ỉm” đi.


 
Uống một ấm trà tại chùa Hương mùa lễ hội 2011 khách phải trả 210.000 đồng.


Trước đó, cuối năm 2009,  ông Lee Dae Won, Kim Joo Hwan, Jung Jaejin, Joo Jaehun, đều là giảng viên đại học, quốc tịch Hàn Quốc đến quán karaoke ở số 201 Giảng Võ, phường Cát Linh để hát. Đến lúc tính tiền, lợi dụng là khách nước ngoài, nhân viên phục vụ đã chặt chém, tính tiền nâng lên gấp 5-7 lần. Khi khách không đồng ý trả, lập tức nhân viên của quán xúm lại lục soát từng người để lấy 1,4 triệu đồng.  Sau đó, đến khoảng 4h sáng cùng ngày, bốn người Hàn Quốc này phải thanh toán thêm 200USD để được về.


Để “giấu” địa chỉ quán, nhân viên đã đưa cả bốn người ra lối cửa sau và lên một chiếc taxi đã đợi sẵn rồi đi theo áp tải các vị khách này. Trên đường đi, ông Kim thấy tài xế chạy không đúng đường về nơi ở nên trong lúc xe vẫn chạy, ông đã chống cự và tự mở cửa nhảy xuống xe. Hậu quả là ông bị bị chấn thương sọ não.


Trong khi đó chúng ta đi du lịch nước ngoài, ít gặp phải nạn “chặt chém” như vậy. Tại BangKok (Thái Lan) đi xe Tuk tuk giá hoàn toàn như nhau, người lái xe dù biết khách là người nước ngoài, nhưng không bao giờ coi đó là cơ hội để “chém”.


Tại Trung Quốc, đi xe taxi chỉ cần đưa địa chỉ là lái xe đưa đến tận nơi và giá giữa người nước ngoài với người Trung Quốc là như nhau không hề có hiện tượng chặt chém. Taxi ở đây không bao giờ được chở vượt người. Thừa người gọi thêm xe khác mặc dù chúng tôi nói trả thêm tiền cho họ vẫn kiên quyết không. Họ nói  nếu bị cảnh sát bắt thì sẽ không bao giờ có cơ hội được lái taxi nữa chứ đừng nói chỉ bị phạt.


Tiếp xúc với nhiều người nước ngoài, người ta đều nhận xét: Việt Nam có rất nhiều bãi biển đẹp, đồ ăn ngon và họ cũng rất thích đến Việt Nam, nhưng cứ nghĩ đến bị “chặt chém” thì chẳng muốn quay lại. Người ta cho đó là sự thiếu thân thiện.


Penang là một bang khá nhỏ của Malaysia, ở đó thắng cảnh không thể đẹp so với Việt Nam. Nổi tiếng nhất có lẽ là một trại bướm được quảng cáo có tới hơn 2.000 loài, nhưng thực chất là 1nơi nhốt bướm với núi giả đắp bằng xi măng, quây lưới và thả bướm bên trong; hoặc ngôi chùa có 3 tầng kiến trúc (Trung Quốc, Miến Điện, Ấn Độ). Biển thì không thể tắm được, bởi cát có mùi vị tanh nên du khách thường phải tắm nước biển trong các bể bơi tại khách sạn, vậy nhưng mỗi năm hòn đảo này đón tới hơn 4 triệu khách nước ngoài chủ yếu là người Mỹ và Singapore đến đây để nghỉ dưỡng, mua sắm.


Còn Việt Nam thì sao? đất nước có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng cùng nhiều bãi biển đẹp… nhưng đến nay mỗi năm cũng chỉ thu hút được trên 5 triệu khách nước ngoài. Đặc biệt phần lớn trong số khách này đến một lần rồi không bao giờ trở lại.


Nếu chúng ta không thay đổi cách làm du lịch, không đưa du lịch vào giáo dục tại các trường học cũng như không có các chương trình giáo dục cộng đồng dành cho những người bán hàng rong,  lái xe… để có thái độ thân thiện với khách, cũng như không có các chế tài đủ mạnh để ngăn chặn nạn “chặt chém” du khách thì chắc chắn ngành du lịch sẽ không thể phát triển

http://vef.vn/2012-02-14-ca-nam-mai-dao-mot-mua-chem-du-khach

Nợ như ông Newt Gingrich! – Nguyễn Văn Khanh

 


Nguyễn Văn Khanh


 


Cả trăm năm nay người Việt đã có câu “nợ như Chúa Chổm”. Ngày nay, các nhà báo được cắt cử theo sát cuộc tranh cử tổng thống 2012 bảo với nhau: “Nợ như ông Newt Gingrich”.









Ứng cử viên Newt Gingrich, cựu chủ tịch Hạ Viện Mỹ, bị coi là nợ nần quá nhiều. (Hình: Frederic J. Brown/AFP/Getty Images)


Chỉ vài tuần lễ sau khi chính thức loan báo sẽ tranh cử tổng thống hồi giữa Tháng Năm năm ngoái, ông cựu chủ tịch Hạ Viện Hoa Kỳ đã nổi tiếng là người mắc nợ nhiều nhất trong số những chính trị gia Cộng Hòa nuôi mộng lãnh đạo quốc gia, thế chỗ cho chủ nhân đương thời của Tòa Bạch Ốc là ông Barack Obama thuộc đảng Dân Chủ. Ngay cả những lúc tên tuổi ông nổi như cồn để ông hãnh diện vỗ ngực bảo “tôi là ứng viên của đảng chứ đâu có ai khác” (nguyên văn: “I am the candidate”), ông cũng đứng đầu danh sách “những người đang thiếu nợ”.


Bằng chứng là Tháng Mười năm ngoái ông nợ khoảng $1.2 triệu, khi bản báo cáo tài chánh mới nhất được công bố hồi cuối tháng trước, Ủy Ban Vận Ðộng của ông cho hay vẫn còn nợ chừng $600,000, trong khi ứng cử viên Cộng Hòa ông nhất quyết phải đánh bại là Mitt Romney chẳng nợ đồng nào cả. Tình trạng đó khiến chính những người ủng hộ ông phải lo âu, không biết ông lấy đâu ra tiền để tiếp tục theo đuổi cuộc đua chính trị được dự đoán ngày một tốn kém hơn trước.


Mặc dù tất cả các cuộc tranh cử cấp liên bang ở Hoa Kỳ đều diễn ra theo nguyên tắc “thiếu trước trả sau”, nhưng khoản nợ ông Gingrich đang có được xem là “quá nhiều” và “bất thường”. Những người có kinh nghiệm điều hành các ủy ban vận động chính trị cho biết tình trạng này xảy ra chỉ vì ông Gingrich thích xài sang, quen thói “bóc ngắn cắn dài”, quyên được 1 đồng thì ông tiêu tới… đồng rưỡi.


Chính vì thế nên dù trong ba tháng gần đây tiền của các cử tri bảo thủ và các tổ chức tôn giáo gửi về giúp ông nhiều như nước, nhưng vẫn chưa đủ để thanh toán các khoản nợ cũ, khoản tiền phải trang trải cho cuộc vận động và khoản tiền ông chi tiêu hàng ngày. Hai khoản tiền nặng nhất: Ông thuê máy bay riêng để di chuyển mỗi tuần tốn cả chục ngàn đô la, và ở khách sạn hạng sang, mỗi đêm trả bạc ngàn.


Giới thạo tin ở Washington cho biết chuyện ông Gingrich – và vợ là bà Callista – thích tiêu sang và tiêu phung phí là một trong những nguyên nhân khiến dàn tham mưu của ông quyết định xin nghỉ việc hồi Tháng Sáu năm ngoái để về đầu quân cho ông Thống Ðốc Rick Perry của tiểu bang Texas. Sau khi ông cho phổ biến bản thông cáo mang đại ý chỉ trích những người này không thật lòng, lúc khó khăn thì bỏ đi đầu quân cho người có nhiều tiền hơn, lúc đó nhóm quân sư cũ của ông mới kể cho mọi người biết chuyện thâm cung bí sử.


Nhà báo Dan Eggen của tờ The Washington Post cho hay từng nghe một cố vấn cũ của ông Gingrich than thở “tụi tôi cãi nhau hoài về chuyện ngân sách tranh cử, cãi nhau về chuyện vợ chồng ông ta tiêu xài phung phí quá”. Ông cựu cố vấn này than tiếp: “Ông ta trách móc chúng tôi trong khi chính ông ta là người nhất định phải thuê máy bay để đi lại, chứ đâu phải chúng tôi đề nghị ông nên đi máy bay riêng”.


Ông nợ những ai và đã trả nợ cho những ai? Khoản lớn nhất là tiền ông nợ công ty InfiCision ở Ohio, một công ty chuyên trách về các chương trình gây quỹ cho những chính trị gia bảo thủ và cho các nhà thờ. Tháng Mười năm ngoái, ông nợ công ty này khoảng $471,000 và hồi Tháng Mười Hai vừa rồi đã trả xong.


Ông cũng trả $67,000 cho công ty mang tên Gingrich Productions do bà vợ ông thành lập và điều hành, giữ nhiệm vụ coi sóc trang web và trả lời email của những người muốn biết chi tiết về ông, muốn tham gia vận động giúp. v.v. Ủy Ban Vận Ðộng của ông cũng trả cho ông khoản tiền $47,000 để lấy danh sách những mạnh thường quân sẵn lòng bỏ tiền giúp vận động tranh cử, và $206,000 khác được ghi là “bồi hoàn” lại những chi phí mà ông đã trang trải khi vận động tranh cử, gồm tiền di chuyển, ăn uống, khách sạn… cho ông bà và cho nhân viên làm việc cho Ủy Ban Vận Ðộng. Ông cũng trả hết số tiền $203,000 thiếu của Tổ Hợp Luật Sư McKenna Long ở Atlanta mà ông từng có thời làm việc, công việc ông được giao phó trách nhiệm đảm trách phần pháp lý cho ủy ban.


Phát Ngôn Viên R.C. Hammond của Ủy Ban Tranh Cử cho ông Gingrich cho biết tất cả những khoản tiền được trả đều theo đúng với luật lệ mà chính phủ liên bang đòi hỏi các ứng viên phải thi hành. Khi có nhà báo thắc mắc tại sao lại trả tiền do công ty của bà Gingrich, ông Hammond trả lời công ty này do bà thành lập, “và phải thuê nhân viên làm việc” chứ không phải bà dựng công ty để lấy tiền cho cá nhân.


Ông Hammond cũng nói là điều đáng mừng “đã trả được một khoản nợ thật lớn và số tiền cử tri ủng hộ cũng đang tăng đáng kể”. Nhờ đó, ông nói tiếp, “Tôi có thể thông báo là số tiền thu được trong sáu tháng vừa qua đã giúp trả được phần lớn tiền nợ và tiếp tục giúp chúng tôi trả tiếp những khoản nợ còn thiếu”.


Trong số những khoản nợ chưa trả được, khoản lớn nhất là số tiền Ủy Ban Vận Ðộng của ông đang thiếu công ty Moby Dick Airlines, một công ty chuyên cung cấp máy bay cho những chính trị gia đi vận động hoặc chuyên chở các nhân vật tên tuổi lẫy lừng đi diễn thuyết. Khoản tiền nợ công ty hàng không này hiện chỉ còn $351,000, tức đã trả được $100,000 so với số tiền nợ được công bố hồi năm ngoái.


Ông Roy Oakley, chủ tịch Moby Dick Airlines, cho biết thông thường khi cuộc vận động tranh cử kết thúc, “số tiền còn thiếu kể như bỏ luôn” vì các uy ban vận động tranh cử được thành lập và điều hành tương tự như các công ty thương mại. “Nhưng trong trường hợp của tôi”, ông Oakley nói thêm, “Tôi được đích thân ông Gingrich hứa sẽ đích thân trả, bất kể là ông có quyên được tiền tranh cử hay không”.


Ngay chuyện quyên tiền vận động tranh cử của ông Gingrich cũng là chuyện đáng được nói đến. Chỉ ít ngày sau khi ông loan báo tranh cử, báo chí Hoa Kỳ loan tin ông nợ công ty nữ trang Tiffany khoảng nửa triệu đô la, và chính điều này khiến ông khó xin được tiền. Ðến Tháng Mười Một vừa rồi, uy thế của ông trong cuộc đua bỗng dưng nổi bật – phần lớn nhờ quyết định ủng hộ của các nhóm Thiên Chúa Giáo bảo thủ miền Nam – giúp ông thắng sơ bộ ở South Carolina. Trước ngày này, ông chỉ xin được có $800,000 nhưng trong một tháng sau đó ông nhận được $9.8 triệu và Tháng Giêng vừa rồi, nhận được thêm $5.5 triệu nữa. Ông Gingrich cho biết “Tôi có tiền để tiếp tục tranh cử”, nhưng đồng thời cũng nhìn nhận “Tôi không có nhiều tiền như ông Mitt Romney”.


Không có nhiều tiền buộc ông phải bỏ hẳn lối sống bị chỉ trích là xa hoa. Trong những ngày gần đây, ông ít khi sử dụng máy bay riêng, và thường ghé ở nhờ nhà bạn thay vì ở khách sạn đắt tiền. Ban tham mưu của ông cũng đưa ra kế hoạch mới, buộc ông phải tiếp xúc nhiều với cử tri “để được báo chí chú ý đến nhiều hơn”, thay thế phần nào khoản tốn kém khổng lồ phải trả khi quảng cáo trên truyền hình.

Lấy chồng Mỹ ‘không phải chịu cảnh mẹ chồng nàng dâu’

 


Nhân đọc bài “Vợ chồng khác sắc tộc: Nhiều hơn, và suôn sẻ hơn.”


 


Tôi đồng ý với cô Yến, vì tôi cũng lấy chồng Mỹ, nay được 14 năm. Anh ta rất tôn trọng và yêu mến tôi, “vì tôi là tôi”. Anh ta yêu thích con cái tôi cũng như con của anh vậy. Có điều, anh không may mắn như chồng Yến, vì tôi không thể sanh cho anh 1 baby nào cả. Người chồng Việt Nam trước của tôi không hề tôn trọng tôi mặc dầu rất yêu thương tôi. Tôi phải làm những điều anh muốn mà không được lựa chọn, cũng không được quyền trang điểm hay xức nước hoa. Với người chồng mới, tôi không phải “deal” với cảnh “mẹ chồng nàng dâu” như câu chuyện “Em quyết định phải bỏ chồng.”


Purple (17 Tháng Hai)

Chế độ lấy ghế che mặt

 


Ngô Nhân Dụng


 


Nhìn cảnh một anh công an chìm nâng chiếc ghế lên che mặt khi kỹ sư Ðỗ Nam Hải đưa máy lên chụp hình khiến người coi phải động lòng trắc ẩn. Nó chứng tỏ người công an này biết xấu hổ.


Anh bạn trẻ này không muốn phơi bộ mặt cho mọi người biết mình là công an. Không muốn đi đâu cũng có người nhận ra mà hỏi: Anh chính là anh công an vẫn “canh cửa” nhà ông Ðỗ Nam Hải phải không, sao tôi thấy giống quá? Anh cũng không muốn đám con anh bị bạn bè trong trường dò hỏi: Bố mày làm công an hả? Hay vợ anh đi chợ bị người ta chỉ trỏ: Vợ công an đấy!



Công an theo dõi Ðỗ Nam Hải bị chụp hình. Một tên công an lấy ghế che mặt để không bị chụp hình. (Hình do nạn nhân cung cấp)


Hà Sĩ Phu có lần phân tích tình trạng nước ta bây giờ đầy tham nhũng, trấn lột, thấy một nguyên nhân là trong xã hội nhiều người không còn biết xấu hổ nữa. Cho nên khi một anh công an còn biết xấu hổ, chúng ta phải mừng. Và thương cảm. Phản ứng nhanh chóng cho thấy anh công an này biết xấu hổ thật! Các cụ nói: “Xấu hổ lấy rổ mà che, lấy nong mà đè, lấy đấu mà đong” (Trong Ca Dao Nhi Ðồng, do Doãn Quốc Sĩ sưu tầm). Ngồi trên lề đường giữa thành phố không kiếm ra cái rổ, anh công an của Ðỗ Nam Hải lấy ngay cái ghế mình ngồi đưa lên che mặt. Ghế là đồ dùng để ngồi lên, đem ghế che mặt là vạn bất đắc dĩ, cũng không khác gì lấy cái đũng quần mà che lên mặt. Mạnh Tử coi tính biết xấu hổ là một dấu hiệu của tính Thiện bẩm sinh trong mỗi người. Biết xấu hổ là một trong bốn đầu mối (Tứ Ðoan) của các đức tính Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí. Mạnh Tử viết: “Tu ố chi tâm, Nghĩa chi đoan dã.”


Khi kỹ sư Ðỗ Nam Hải điện thoại cho Trung Tá Nguyễn Văn Tâm, trưởng phòng công an 35 thành phố trình bày mình bị một công an canh cửa tấn công, thì bị ông này hỏi: “Anh có chắc thằng đó là công an không?” Ông hỏi một câu con nít nghe cũng phải bật cười! Rõ ràng là ông trung tá này không thèm lấy cái gì che mặt hết. Buột miệng hỏi như vậy mà không tự thấy ngượng miệng. Nhưng cũng chẳng nên phê phán ông Nguyễn Văn Tâm. Ông ta phản ứng đúng với vai trò một trung tá công an. Khi thấy dân tố cáo bất cứ cái gì, phải chối ngay, phải lấp liếm, bịa đặt, bưng bít, bằng bất cứ cách nào, không bao giờ nhận lỗi. Nó cũng giống như phản ứng của ông Ðỗ Trung Thoại, phó chủ tịch thành phố Hải Phòng khi bị nhà báo hỏi về vụ đem công an, bộ đội kéo theo côn đồ đến phá sập nhà ông Ðoàn Văn Vươn. Ông Thoại cũng nói xưng xưng: Nhân dân “bức xúc” đến phá đấy!


Những phản ứng nhanh chóng này cũng không phải vì các ông Tâm, ông Thoại sáng trí, nhanh miệng. Nó là do hệ thống đã đào luyện cho họ, tạo thành một phản xạ do điều kiện, như những con chó của Pavlov nghe tiếng chuông là chảy nước bọt. Hệ thống bảo phải bất chấp mọi thủ đoạn gian dối, vu cáo, ngụy tạo, che đậy, gian trá, không cần biết phải trái, chỉ cần bảo vệ quyền lợi của đảng. Gian dối không phải một tính xấu của một vài cá nhân mà là một thứ “Lỗi hệ thống”. Nó nằm trong cốt tủy các chế độ cộng sản, từ xưa đến nay vẫn vậy. Lại nhắc lời nhà văn Solzhenitsyn nói về chế độ độc tài cộng sản ở Nga: Một hệ thống đàn áp luôn luôn phải đi kèm với một hệ thống dối trá để bưng bít, che đậy những cái ác.


Phản ứng xạ nhấc ngay cái ghế che lên mặt cũng là do thói quen che đậy, bưng bít mà các cán bộ học được trong hệ thống đó. Ông Ðỗ Trung Thoại đưa “Nhân dân” ra làm cái ghế che mặt ngay lập tức. Bởi vì ông đã được đào tạo như thế từ trong lò của hệ thống. Không riêng gì anh công an gác cửa nhà kỹ sư Ðỗ Nam Hải, mà tất cả các cán bộ đảng viên cộng sản chân chính đều phải thấm nhuần chủ nghĩa lấy ghế che mặt.


Như trong vụ cướp đất của gia đình Ðoàn Văn Vươn chẳng hạn. Một bản kiến nghị do Luật Sư Phạm Vũ Hải đã vạch ra là anh em ông Ðoàn Văn Vươn là nạn nhân của một trình tự vi phạm pháp luật “có hệ thống”. Hơn nữa, còn sự “toa rập” của cả hệ thống tòa án từ huyện lên tỉnh. Ðây là một vụ ăn cướp có hệ thống, do hệ thống sinh đẻ ra. Ông Nguyễn Tấn Dũng đã cố làm dịu nỗi phẫn uất nổi lên khắp nước Việt Nam bằng lời thú nhận là nhà nước sai lầm từ đầu đến cuối. Cho phép ông Ðoàn Văn Vươn dùng một phần đất đã sai luật. Ra lệnh lấy lại đất lại còn sai hơn. Ðem lính tráng, con đồ, súng ống đến cướp đất, phá nhà càng sai hơn nữa.


Nhưng ông Nguyễn Tấn Dũng cũng biết đem ngay một cái ghế đưa lên che mặt. Cái ghế này là việc đổ tội cho đám quan chức cấp dưới ở Hải Phòng. Gọi là cái ghế không ngoa. Ông Dũng ngồi trên cái ghế thủ tướng là vì ông đang làm đại biểu Quốc Hội. Ông được bầu vào Quốc Hội là nhờ đám quan chức Hải Phòng, Tiên Lãng “cơ cấu” cho các lá phiếu. Ông dùng họ như một phương tiện để leo lên ngồi ghế thủ tướng. Chính đám này là những cái chân trong cái ghế thủ tướng của Nguyễn Tấn Dũng. Trước cuộc tấn công của dư luận cả nước vì vụ Ðoàn Văn Vươn, Nguyễn Tấn Dũng đã đưa cái ghế đó lên che mặt.


Nhưng cái ghế đó lủng. Nó thủng lỗ chỗ, những lỗ thủng rất to. Nó không che đậy được cái mặt của mạng lưới lạm dụng quyền hành chia chác quyền lợi riêng tư giữa đám tham quan, từ xã, từ huyện lên thành phố, lên đến trung ương! Cái ghế lủng đó càng bất lực không che đậy được cả chủ trương không cho phép nông dân làm chủ ruộng đất của họ. Nó không che đậy được một hệ thống gian trá tham tàn đang lợi dụng mồ hôi nước mắt của dân Việt Nam để làm giầu.


Cuộc họp báo “trấn an” của Nguyễn Tấn Dũng không che đậy được cái mặt thật của chế độ, mà còn kéo dài thêm tình trạng bất an. Bởi vì nó “đánh bùn sang ao,” như nhiều người mô tả. Nó không giải quyết những oan ức của các nạn nhân là gia đình Ðoàn Văn Vươn. Nó không xác định những kẻ gây ra tội lỗi phải chịu trách nhiệm gì. Bọn họ chỉ cần kiểm điểm trong nội bộ với nhau! Những lệnh thu hồi đất bị thù hồi vì sai luật, nhưng những mảnh đất do gia đình Ðoàn Văn Vươn khai khẩn vẫn có thể bị mất bất cứ lúc nào. Gia đình đó vẫn không được coi là chủ đất. Chỉ có nhà nước làm chủ. Họ chỉ cần sửa lại mấy quyết định cũ, làm sao cho nó đúng luật hơn là gia đình Ðoàn Văn Vươn lại có thể mất hết. Cũng như hàng triệu nông dân Việt Nam khác. Không những thế, Ðoàn Văn Vươn còn có thể đi tù nữa! Tất cả chứng tỏ vụ án lịch sử Ðoàn Văn Vươn sẽ còn kéo dài chưa biết bao giờ xong. Cái ghế mà ông Nguyễn Tấn Dũng đưa lên che mặt không chỉ bị lủng không thôi. Nó đang rách nát cả rồi.


Chính miệng ông thủ tướng còn vu oan giá họa cho gia đình Ðoàn Văn Vươn tội “giết người”. Không có ai bị giết làm sao có tội giết người? Súng hoa cải bắn ra vì phẫn uất trước những hành động phi pháp, làm sao súng đó giết được người? Sáu trăm nhà trí thức lên tiếng yêu cầu phải xóa bỏ tội danh “giết người” của ông Ðoàn Văn Vươn. Mấy trăm nông dân nạn nhân bị cường hào cướp đất đã kéo đến thăm nơi gia đình Ðoàn Văn Vươn ở, họ đến từ những tỉnh Hà Ðông, Hưng Yên. Bao giờ thì những nạn nhân cướp đất này kéo nhau về Hà Nội, đem theo hình ảnh ông Ðoàn Văn Vươn đi biểu tình? Bao giờ nông dân Việt Nam đứng lên đòi phải xóa bỏ chế độ cướp đất của nông dân mà đảng Cộng Sản đã bắt đầu từ khi thi hành chính sách tập thể hóa nông nghiệp của Stalin và cải cách ruộng đất của Mao Trạch Ðông? Không cái ghế nào đưa lên che được bộ mặt đó.

Cố Đại Tá Hoàng Ngọc Tiêu

 

Cụ Bà lê Nguyên Chân

 

Tin mới cập nhật