Rớt thang máy mỏ bạch kim Nam Phi, hơn 10 công nhân chết

JOHANNESBURG, Nam Phi (NV) – Một thang máy bất ngờ rơi xuống sâu khoảng 200 meter (656 foot) khi đang chở công nhân lên mặt đất tại một quặng bạch kim Nam Phi, làm 11 người chết và 75 bị thương – 14 người trong số họ bị trọng thương, nhà quản lý mỏ cho biết hôm Thứ Ba, 28 Tháng Mười Một.

Tai nạn xảy ra vào tối Thứ Hai, khi kết thúc ca làm việc của công nhân tại một khu mỏ ở thành phố Rustenburg miền Bắc Nam Phi. Tất cả công nhân bị thương đều phải đi bệnh viện.

Tổng Giám Đốc mỏ Impala Platinum Holdings, Nico Muller, cho biết trong một tuyên bố rằng đây là “ngày đen tối nhất trong lịch sử Implats.” Ông cho biết một cuộc điều tra được tiến hành về nguyên nhân làm thang máy rơi và hầm mỏ bị đình hoãn mọi hoạt động vào Thứ Ba.

Quang cảnh hầm mỏ Impala Platinum gần Rustenburg, Nam Phi, hôm 28 Tháng Mười Một, 2023, nơi xảy ra tai nạn rớt thang máy (Hình: PHILL MAGAKOE/AFP/Getty Images)

Bộ Trưởng Tài Nguyên Khoáng Sản và Năng Lượng Gwede Mantashe cho biết chính phủ sẽ mở một cuộc điều tra về thảm kịch. Bộ Trưởng đã thị sát khu mỏ và được tường thuật tin tức súc tích, chính phủ cho biết.

Tất cả 86 công nhân thiệt mạng hoặc bị thương đều ở bên trong thang máy, phát ngôn viên Implats Johan Theron cho biết. Một số người có thương tích bị “gãy xương trầm trọng,” ông nói. Theron nói thang máy rơi xuống khoảng 200 meter, dẫu cho đó chỉ là ước tính ban đầu. Ông gọi đó là tai nạn hết sức quái lạ.

Thang máy khổng lồ có ba tầng, mỗi tầng chở được 35 công nhân, Implats cho biết. Hầm mỏ sâu khoảng 1 kilometer (0.6 dặm).

Nam Phi là nhà sản xuất bạch kim lớn nhất thế giới. Mỏ Impala Rustenburg có chín khu hầm và là mỏ bạch kim lớn nhất thế giới tính theo sản lượng năm ngoái.

Toàn Nam Phi có 49 trường hợp tử vong đến từ tất cả các tai nạn khai thác mỏ vào năm 2022, giảm so với 74 trường hợp của năm trước. Số ca tử vong do tai nạn khai thác mỏ tại Nam Phi giảm đều đặn từ gần 300 vào năm 2000, theo số liệu từ chính phủ. (TTHN)

Ấn Độ cứu 41 công nhân sau 17 ngày nỗ lực

MUMBAI, Ấn Độ (NV) – Sau nỗ lực kéo dài 17 ngày của các cơ quan Ấn Độ và chuyên gia quốc tế, 41 công nhân bị kẹt trong đường hầm đang xây cất trên dãy Himalaya được giải cứu.

Vào tối Thứ Ba, 28 Tháng Mười Một, các công nhân bò ra khỏi một lối đi được đào xuyên qua đống đổ nát ngăn cách họ với thế giới bên ngoài. Thân nhân chào đón họ bằng những cái ôm và nước mắt trước khi xe cấp cứu đưa các công nhân đi. Nhiều người trong số họ phải đi nhiều dặm và cắm trại bên ngoài đường hầm trong suốt chiến dịch giải cứu.

Các công nhân làm việc cho một công ty kỹ thuật đặt trụ sở tại Hyderabad được chính phủ Ấn Độ ký hợp đồng để xây cất đường hầm dài 2.8 dặm tại Silkyara, một ngôi làng hẻo lánh ở chân đồi dãy Himalaya. Ngày 12 Tháng Mười Một, một trận lở đất làm sập một phần đường hầm, làm cho công nhân mắc kẹt dưới đống đổ nát gần 200 foot.

Công nhân vừa được giải cứu khỏi đường hầm bị sập ở Silkyara, tỉnh bang Uttarakhand, Bắc Ấn Độ, chào đón bởi Thống Đốc Pushkar Singh Dhami (phải) của tỉnh bang, hôm 28 Tháng Mười Một, 2023 (Hình: Bộ Thông Tin Tỉnh Bang Uttarakhand)

Trong vài ngày, lực lượng cứu hộ nhét một đường ống đường kính 6 inch và tiến hành liên lạc với các công nhân. Đường ống được dùng để cung cấp thức ăn, thuốc men và các nhu yếu phẩm khác từ phía bên kia. Thân nhân của họ dùng nó để nói chuyện mỗi ngày một lần nhằm vực dậy tinh thần các công nhân.

Đồng thời, lực lượng cứu hộ cố gắng khoan xuyên qua các mảnh vỡ và gắn những đường ống lớn hơn để nhóm công nhân có thể chui qua. Hoạt động này phải dừng lại nhiều lần sau khi đá lớn nhỏ và kim loại bên trong đống đổ nát làm máy khoan phải ngừng hoạt động.

Hôm Thứ Hai, một đội “thợ mỏ chuột” được điều động và yêu cầu đào hết 40 foot còn lại. Những người thợ mỏ chuyên khai thác than bằng cách đào những đường hầm hẹp trong núi đã giải vây chỉ sau hơn một ngày.

Đường hầm Silkyara là một phần của mạng lưới đường bộ đầy tham vọng do chính phủ theo chủ nghĩa dân tộc sùng đạo Hindu của Ấn Độ khởi xướng. Nó có hai mục tiêu chính: kết nối bốn ngôi đền Hindu trên dãy Himalaya và tạo ra lối đi trong mọi thời tiết cho quân đội Ấn Độ tới được vùng biên cương Trung Quốc.

Nhưng các nhà tranh đấu cho môi trường lại chỉ trích kế hoạch này. Họ nói rằng khu vực này dễ xảy ra lở đất, địa chấn và lũ lụt, đồng thời việc xây cất đường bằng cách dùng cỗ máy hạng nặng có thể gây ra nhiều thảm họa hơn.

“[Tai nạn] này có thể đã xảy ra do cẩu thả,” Pramod Nawani, cựu giám đốc Cơ Quan Khảo Sát Địa Chất Ấn Độ cho biết. “Nơi bị sập là một khối đá không vững chắc. Khi họ đào bới ở chỗ đó, lẽ ra họ nên dùng [một] hệ thống hỗ trợ thích hợp, như chốt đá, dầm lưới hoặc bê tông [để bồi đắp cho các tảng đá thật vững chãi]. Nếu có sụp đổ, điều đó có nghĩa là hệ thống tăng cường hỗ trợ thật yếu kém.”

Trong một tuyên bố bằng băng thu hình, Bộ Trưởng Giao Thông Đường Bộ Ấn Độ, Nitin Gadkari, thừa nhận rằng đã có những bài học được rút ra từ tai nạn. “Bây giờ chúng tôi sẽ tiến hành kiểm tra an toàn đường hầm,” ông nói.

Nhưng bất kể kết quả kiểm toán có tiết lộ điều gì, các đề án hạ tầng cơ sở ở dãy Himalaya khó có thể dừng lại. “Thật khó để xây cất tại dãy Himalaya,” Gadkari nói. “Nhưng chúng tôi sẽ phải tìm cách giải quyết.” (TTHN)

Rosalynn Carter được gia đình, bè bạn, đệ nhất phu nhân và tổng thống vinh danh

ATLANTA, Georgia (NV) – Cựu Đệ Nhất Phu Nhân Rosalynn Carter đã được mọi người tưởng niệm vào hôm Thứ Ba, 28 Tháng Mười Một, trong tư cách một đệ nhất phu nhân có trí tuệ cao vời và năng lực chính trị dồi dào đến mức có thể chuyển hóa niềm tin Cơ Đốc Giáo sâu xa của mình thành hành động qua sứ mệnh giúp đỡ người khác, nhất là những người luôn luôn cần được giúp đỡ.

Đây là một cuộc tập hợp các đệ nhất phu nhân và tổng thống, trong đó có vị phu quân 99 tuổi Jimmy Carter của bà, và tất cả hợp cùng các nhân vật khác trong chính trường để bày tỏ lòng ái mộ và tôn kính người quá cố.

“Bà đã diện kiến các vua chúa, nữ hoàng, tổng thống, những nhà quyền quý, các chủ công ty thế lực và những người nổi tiếng,” người con trai của bà, là James Earl “Chip” Carter III nói vậy. Bà từng nói rằng “loại người mà bà cảm thấy hết sức thoải mái khi gặp gỡ và loại người mà bà vui mừng khi làm bạn là những kẻ sống trong nghèo khó cùng cực, thiếu nhà ở, thiếu cái ăn và không có bảo hiểm sức khỏe,” người con của bà nói tiếp.

Các cựu Đệ Nhất Phu Nhân Hillary Clinton, Laura Bush, Michelle Obama, và Melania Trump đến dự buổi tiễn đưa cựu Đệ Nhất Phu Nhân Rosalynn Carter, tại nhà thờ Glenn Memorial Church ở Atlanta, Georgia, hôm 28 Tháng Mười Một, 2023 (Hình: ANDREW CABALLERO-REYNOLDS/AFP/Getty Images)

Lễ viếng diễn ra trong thời gian ba ngày được dành ra để vinh danh con người nhân ái vừa tạ thế hôm 19 Tháng Mười Một tại nhà riêng ở Plaine, Georgia, thọ 96 tuổi. Các nghi thức tưởng niệm bắt đầu từ hôm Thứ Hai tại quê  quán của bà ở Quận Sumter và tiếp tục tại Nhà Thờ Glenn Memorial Church ở Atlanta.

Lễ an táng vị cựu đệ nhất phu nhân quá cố diễn ra vào Thứ Tư tại thành phố quê nhà của người quá cố trong vòng riêng tư của gia đình. Cựu Tổng Thống Jimmy Carter, người đã vào nhà chăm sóc cuối đời từ 10 tháng nay, quan sát các nghi thức từ trên một chiếc xe lăn và bên dưới chiếc chăn có in hình khuôn mặt của vợ mình. Người con trai Chip của ông bà cùng cô em gái, là Amy, cầm lấy tay thân phụ trong khi hai em trai Jeff và Jack vây quanh.

Cựu Tổng Thống Jimmy Carter đến dự lễ tưởng niệm cựu Đệ Nhất Phu Nhân Rosalynn Carter, tại nhà thờ Glenn Memorial Church ở Atlanta, Georgia, hôm 28 Tháng Mười Một, 2023 (HìnhANDREW CABALLERO-REYNOLDS / AFP) (Hình: ANDREW CABALLERO-REYNOLDS/AFP/Getty Images)

Tổng Thống Joe Biden và Đệ Nhất Phu Nhân Jill Biden, hai người bạn cố tri của gia đình Carter thì đứng ở hàng đầu, cùng với cựu Tổng Thống Bill Clinton, cựu Ngoại Trưởng Hillary Clinton, và các vị đệ nhất phu nhân khác hiện còn sống, là Melania Trump, Michelle Obama, và Laura Bush.

Phó Tổng Thống Kamala Harris và Đệ Nhị Phu Quân Doug Emhoff cũng đến làm lễ,  kế đó là các thượng nghị sĩ của Georgia cùng Thống Đốc Brian Kemp và phu nhân Marty. Có hơn 1,000 người, kể cả một nhóm khá đông nhân viên Sở Mật Vụ, cùng chen chúc nhau tại nhà thờ. Các cựu Tổng Thống Donald Trump, Barack Obama, và George W. Bush cũng được mời nhưng không đến dự.

Cậu con trai Chip của ông bà Carter lên tiếng phát biểu một câu đầy ý nghĩa: “Mẹ tôi là chất keo kết nối gia đình chúng tôi lại với nhau qua những bước thăng trầm, những lúc trăng khuyết cũng như khi trăng tròn trong cuộc đời chính trị của gia đình chúng tôi.” (TTHN)

Thích Tuệ Sỹ, khuôn mặt tiêu biểu của văn hóa Việt Nam

Trần Doãn Nho/Người Việt

KENNEDALE, Texas (NV) – Tôi quen với Thầy Tuệ Sỹ tại Huế, năm 1965. Lúc đó, cả hai chúng tôi đều ở lứa tuổi 20.

Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ. (Hình: Giác Ngộ)

Tôi thú vị nhìn người bạn mới quen trong bộ áo quần nhà tu bạc màu, cũ kỹ. Giọng nói nhỏ nhẹ. Dáng bước thong dong. Chiếc áo nâu lất phất. Một nhà tu. Như thực như giả. Như có như không. (…) Hình ảnh một chú tiểu, vừa có cái nét lãng đãng của một người nghệ sĩ, lại không thiếu vẻ siêu thoát của một nhà tu. Nhìn Thầy, tôi có cảm giác như mọi ràng buộc, mọi quy lệ, mọi giáo điều đều vỡ vụn. Thầy đi, Thầy sống y như thể không có ai, không có gì, không từ đâu và đến đâu cả.” (1)

Sau này, gặp lại nhau nhiều lần ở Đại Học Vạn Hạnh, thập niên 1970, Thầy vẫn thế: “Thầy sống, vui chơi, học đạo và làm việc một cách bình thường, đơn giản, không màu mè, khách sáo. Vẫn bộ nâu sồng. Vẫn thân hình mảnh dẻ. Vẫn ánh mắt tươi vui. Vẫn nụ cười dung dị, bình thản. Như độ nào. Một nhà tu. Một nhà trí thức. Một nghệ sĩ. Một người bạn. Một con người. Thầy nhìn mọi sự kiện, mọi vấn đề dưới con mắt thản nhiên, không mấy băn khoăn, ray rứt. Thỉnh thoảng, Thầy đưa ra vài nhận xét dí dỏm, tinh nghịch. Tất cả quyện làm một trong Thầy, gọn gàng, sinh động.” (2)

Mùa Hè năm 1983, tôi ghé thăm Thầy ở chùa Già Lam.

Thầy nằm đó, thân hình ép sát xuống tấm phản gỗ lớn. Người như chẳng còn gì, ngoài xương và da. Ốm o, mảnh dẻ. Chỉ có khuôn mặt là vẫn vậy, như xưa, chỉ có khác là xương xẩu hơn, làm nổi bật thêm đôi mắt to và chân mày đậm. Tôi nhìn chăm Thầy, cảm động nói:

-Thầy không khác…

 Thầy nhổm dậy, nhìn tôi, hỏi:

-Thế nào, ông ở tù chứ?

-Sáu năm. Ra tù năm 1981.

-Ta cũng ra tù năm 1981.

-Thầy làm gì mà ở tù?

-Lý do chính thì ta không biết. Nhưng lý do phụ là cư trú bất hợp pháp, không có hộ khẩu. Ta bây giờ chẳng còn là ta nữa. Không hộ khẩu. Không giấy tờ. Không công dân. Không quê hương. Không gì hết!” (3)

Tháng Tư, 1984, tôi ghé lại chùa Già Lam, thì nghe tin Thầy đã bị bắt trước đó mấy hôm. Từ đó cho đến giờ, tôi không hề gặp lại Thầy. Không gặp, nhưng Thầy vẫn đâu đó bên tôi.

***

Cuộc đời, hành trạng và sự nghiệp văn hóa lớn lao, độc sáng của Thầy đã được đề cập đến một cách cụ thể và đầy đủ qua các bậc thức giả như Văn Công Tuấn, Thích Phước An, Vĩnh Hảo, Tâm Thường Định, Phạm Công Thiện, Tuệ Hạnh, Nguyên Siêu, Lê Mộng Nguyên… và nhất là Thầy Thích Nguyên Siêu, mà bài viết “Hòa Thượng Tuệ Sỹ, Trí Siêu, những thiên tài lỗi lạc” của Thầy đã cung cấp nhiều tài liệu và chi tiết khả tín, rất có ích cho những ai muốn nghiên cứu sau này.

Với tư cách là một người ngưỡng mộ và cũng là một người bạn thời tuổi trẻ, tôi xin chia sẻ cùng quý độc giả một vài điều suy ngẫm riêng của mình về một số các sáng tác (thơ, văn), các bài chính luận cũng như các công trình biên khảo của Thầy mà tôi đã có dịp được đọc qua.

Tuệ Sỹ, nhà thơ

Tuệ Sỹ là một nhà thơ, theo nghĩa chính xác nhất của từ ngữ này. Không những sáng tác thơ, Tuệ Sỹ còn bình thơ: Tô Đông Pha, Quách Tấn, Bùi Giáng, Viên Linh, Nguyễn Đức Sơn, Hoài Khanh… Thơ Thầy khá nhiều, về đủ đề tài, kể cả tình yêu. Trừ những bài chính luận hay biên khảo về Phật pháp đòi hỏi phải sử dụng thứ ngôn ngữ mực thước để tránh hiểu lầm, tôi nhận thấy, hễ bình thơ hay viết bất cứ gì thuộc về cuộc nhân sinh, ngôn ngữ của Tuệ Sỹ luôn luôn hàm chứa chất phóng túng, tự do và phơi mở. Chính điều này đã khiến cho Thầy, dù là một nhà tu đức cao vọng trọng, lại vẫn rất gần gũi với mọi người.

Bàn về thơ Tô Đông Pha, Tuệ Sỹ viết: “Từ tâm tình đến cuộc tình, từ cuộc tình đến cuộc chơi, rồi từ cuộc chơi đến cuộc hẹn; thế là, đang lân la, bỗng đột ngột phát hiện một phương trời viễn mộng, xa xôi. Trong cõi đó, lữ khách bao giờ cũng thấy mình đang bươn bả ra đi, đi biền biệt, đi triền miên, tưởng như không bao giờ có bến bờ để đổ lại; nhưng, đi và đi mất, trong từng khoảnh khắc, cái đến và nơi đến, đã đến tự bao giờ. Cuộc tình chia phôi từ độ đó.”

(…) “Đó là tình thơ trong cuộc thơ và cõi thơ; không quyết là của Đông Pha hay không là của Đông Pha. Nhưng người chơi thơ, mở cuộc giao tình với cuộc thơ, ban đầu chỉ như đi tìm một cõi mộng đơn sơ; rồi đột ngột, và sững sờ, cảm khái như một mối sầu cô lữ, thấy mình lưu lạc ở một phương trời đọa đày viễn mộng.” (4)

Tuệ Sỹ là như thế! Thích thú với cung cách độ lượng đó, tôi luôn đọc thơ Tuệ Sỹ như Tuệ Sỹ, một nghệ sĩ, không như một nhà tu. Thơ Tuệ Sỹ, trước hết và trên hết, là thơ của một con người sống giữa trần gian với tất cả những thuộc tính rất trần gian: hỷ, nộ, ái, ố, ai, lạc, dục. Thầy viết về phận người, về tình yêu, về thế sự, về tù đày, về tuyệt vọng, về đau khổ, tiếc nuối, nhớ nhung, mơ ước, hy vọng. Chỉ nói riêng về mặt từ ngữ thôi, ta cũng đã thấy thơ Thầy nhuốm đầy mùi vị nhân sinh: du thủ, mỏi mòn, ân tình, tàn thu, tóc huyền, tóc rối, tóc em rung sương chiều, gót chân em nắng vàng, môi hôn, mắt biếc, gầy hao, trơ vơ…

Về điểm này, quan điểm Thầy rất rõ ràng. Theo Thầy, “…một tác phẩm xứng đáng với một kích thước rộng lớn, nó phải khởi lên từ cảm hứng của thực tại; vì rằng, ngay qua đó, người ta sẽ thấy một cách như thực đâu là tiếng nói của thực tại và đâu là tiếng nói của lòng người: thực tại tức là lòng người. Và cũng từ đó, người ta sẽ tìm thấy đâu là khát vọng sâu xa đang ẩn kín trong lòng người. Một tác phẩm mà không đủ sức chấn động lòng người để mở ra một thế giới như vậy không thể xứng danh là một tác phẩm văn học.” Do đó, “một tác phẩm văn học phải đặt hết tâm tình và cảm xúc ngay ở hình thức phô diễn.” Không phân biệt giữa nội dung và hình thức, tính cách phô diễn là “cả một thế giới sống thực triền miên.” (5)

Tiễn một người bạn là tiễn một người bạn:

-“Một bước đường thôi nhưng núi cao
Trời ơi mây trắng đọng phương nào
Đò ngang neo bến đầy sương sớm
Cạn hết ân tình, nước lạnh sao?”
(Tống biệt hành)

Đã nói “Em” thì là em, không thể ai khác:

-“Lời em ca phong kín nhụy hoa hờn
Anh trĩu nặng núi rừng trong đáy mắt
Mờ phố thị những chiều hôn suối tóc
Bóng ai ngồi so phím lụa đàn xưa.”
(Nhớ dương cầm)

-“Tóc em tung bay sương chiều khói biếc
Dệt tơ trời thành khúc hát bâng khuâng
Tình hay mộng khi Trường sơn xa hút
Ðến bao giờ mây trắng gởi tin sang.”
(Nhớ con đường thơm ngọt môi em)

Đã là uất ức (của một tù nhân) thì là uất ức (của tù nhân):

-“Tiếng ai khóc trong đêm trường uất hận
Lời ai ru trào máu lệ bi thương
Hồn ai đó đôi tay gầy sờ soạng
Là hồn tôi tìm dấu cũ quê hương.”
(Dạ khúc)

Uất ức nhưng vẫn mơ mộng:

Rồi trước mắt ngục tù thân bé bỏng 
Ngón tay nào gõ nhịp xuống tường rêu
Rồi nhắm mắt ta đi vào cõi mộng
Như sương mai, như ánh chớp, mây chiều.

(Tôi vẫn đợi)

Phân tích bài thơ này, nhà văn Nguyễn Mộng Giác nhận định: “Bài thơ không hề là một lời tố cáo đầy phẫn nộ, lại không phải là một bài hịch. Không phải là một tiếng sấm. Ngược lại, như tôi đã so sánh ở trên, đây là những lời ru hiền hòa, lời vỗ về của mẹ, lời thì thầm của lá, của hoa, của cây cỏ. Không phải là mũi nhọn công phá vào vách khám mà là một làn hương tỏa lên trên, len qua kẽ ngục và tỏa rộng lên trời cao.” (6)

Tôi đồng ý với Nguyễn Mộng Giác.

Nếu lưu ý, ta sẽ nhận thấy Tuệ Sỹ rất hiếm những bài “thơ (tải) đạo”: quảng bá giáo lý hay răn dạy đạo đức. Do đó, thơ Thầy ít thuật ngữ và ý niệm tôn giáo, không có cái “chay” (tịnh) của một nhà tu, trái lại, “mặn” (mà) nhân tình thế thái:

Trong ta là núi là rừng
Là trăm tiếng hát đã dừng trên môi

(Thân phận/trong Tô Đông Pha)

Ngược xuôi nhớ nửa cung đàn
Ai đem quán trọ mà ngăn nẻo về
(Lô Sơn/trong Tô Đông Pha)

Ngay cả khi diễn tả một vị sư xuống núi, “Hạ sơn,” ta cũng thấy toàn mùi vị trần gian: sờn, mòn, hờn, đường cùng, bóng tối, rưng rưng, trầm, ho, ác mộng.

“Ngày mai sư xuống núi
Áo mỏng sờn đôi vai
Chuỗi hạt mòn năm tháng
Hương trầm lỡ cuộc say
Bình minh sư xuống núi
Tóc trắng hờn sinh nhai
Phương đông mặt trời đỏ
Mùa hạ không mây bay
Ngày mai sư xuống núi
Phố thị bước đường cùng
Sư ho trong bóng tối
Điện Phật trầm mông lung
Bình minh sư xuống núi
Khóe mắt còn rưng rưng
Vì sư yêu bóng tối
Ác mộng giữa đường rừng”

Nói như thế không có nghĩa là Tuệ Sỹ không có thơ đạo, thơ thiền. Nhưng thay vì nặng về từ ngữ, Tuệ Sỹ sử dụng một bút pháp khác, có tính cách “thơ” hơn, chứa đựng nhiều hình ảnh hơn, do đó, sống động và cụ thể hơn:

“Thời gian đi khấp khiểng
Để rụng phấn rơi hồng
Tơ nắng dài tâm sự
Bồi hồi mộng vẫn không”

Chỉ có 20 chữ, nhưng chúng trộn lẫn màu sắc, tâm tình, ý thức và cảm xúc vào nhau, tạo nên một mùi vị lạ, có vẻ “thoát tục,” “thiền;” mùi này đậm hay nhạt, tùy theo cách cảm nghiệm của mỗi người.

Đó là nét rất riêng của Tuệ Sỹ. Nhưng “thiền” nhất, theo tôi, nằm trong bài thơ dài 13 khổ, “Thiên Lý độc hành” (7). Đa phần các khổ thơ được làm theo lối tứ tuyệt (bốn câu), diễn tả bước du hành của một người lữ khách cô độc, khởi đầu ở chỗ:

Ta về một cõi tâm không
Vẫn nghe quá khứ ngập trong nắng tàn”

Một mình và tâm không, lữ khách đi, hết ngày đến đêm, hết mưa đến nắng, hết mùa đến mùa, qua đèo, qua rừng, qua suối, qua triền đá, bờ lau, nếm trải đủ thứ mùi đời, với một dấu hỏi không nguôi ném vào cuộc nhân sinh: ta là ai? chờ ai? đợi ai? từ đâu? về đâu?

-“Đã mấy nghìn năm đợi mỏi mòn
Bóng người cô độc dẫm hoàng hôn
Bởi ta hồn đá phơi màu nắng
Ôm trọn bờ lau kín nỗi buồn”

-“Từ thuở hồng hoang ta ở đâu
Quanh ta cây lá đã thay màu
Chợt nghe xao xuyến từng hơi thở
Thấp thoáng hồn ai trong khóm lau”

Bài thơ kết thúc bằng một lời nhắc nhở bất ngờ:

“Khi về anh nhớ cài quai nón
Mưa lạnh đèo cao không cõi người”

Đọc xong, tôi cảm thấy thấm thía, nhưng không rõ thấm thía cái gì! Vì phải “cài quai non” hay vì cái cảnh “mưa lạnh đèo cao” lại “không cõi người?” Hiệu ứng thơ thuờng mông lung như vậy.

Thầy Tuệ Sỹ đánh đàn. (Hình: Facebook Thư Viện Phật Việt)

Nhưng đặc biệt hơn hết, Tuệ Sỹ… yêu. Yêu, nên làm thơ tình. Một nhà tu làm thơ tình, quả là điều xưa nay hiếm! Tuy số lượng không nhiều, nhưng những bài thơ tình của Tuệ Sỹ rất… tình: thắm thiết, da diết, nồng nàn.

“Mắt em nhỏ ngại ngùng song cửa
Nghe tình ca trên giọt sương tan
Bóng tôi xa đêm dài phố thị
Nhớ con đường thơm ngọt môi em”

Hai câu thơ và cả tựa đề của nó, “Nhớ con đường thơm ngọt môi em,” nghe phảng phất Nguyên Sa. Thơ tình Tuệ Sỹ có thể là về một người mà mình yêu, có thể là về một bóng hình, một nhân dáng nào đó, cũng có thể là nỗi nhớ vu vơ về một “Em nhỏ:”

“Ôi nhớ làm sao, Em nhỏ ơi!
Từng đêm ngục tối mộng Em cười
Ta hôn tay áo thay làn tóc
Nghe đắng môi hồng lạnh tím người!
(…)
Cho ta chút nắng bên song cửa
Ðể vẽ hình Em theo bóng mây.”
(Cho ta chép nốt bài thơ ấy)

Đôi khi chỉ là một gặp gỡ tình cờ:

Mắt em quán trọ của ngàn sao
Ngọt ngất hoang sơ ánh rượu đào

(Quán trọ của ngàn sao)

Cũng có thể chỉ là một ấn tượng thoáng chốc:

“Em mắt biếc ngây thơ ngày hội lớn
Khóe môi cười nắng quái cũng gầy hao
Như cò trắng giữa đồng xanh bát ngát
Ta yêu người vì khoảnh khắc chiêm bao.
(Thoáng chốc)

Nhưng có lúc lại là một nỗi nhớ vô cùng sâu sắc:

“Công Nương bỏ quên chút hờn trên dấu lặng
Chuỗi cadence ray rứt ngón tay
Ấn sâu xuống ưu phiền trên phím trắng
Nửa phím cung chỏi nhịp lưu đày”
(Những điệp khúc cho dương cầm)

Thắm thiết đến thế thì thôi!

Dẫu vậy, như ta biết, trong đời sống, Tuệ Sỹ không hề vướng vào con đường tục lụy. Lời thơ, tuy rất tình, nhưng nếu đọc kỹ, chúng chẳng hề mang mùi tục lụy. “Em,” “tóc rối,” “môi em” hay “nụ hôn” chứa đựng vẻ tinh khôi của một thứ tình cảm lý tưởng. “Yêu” mà không “lụy.” “Tình” nhưng không “dục.” Đó là “tình yêu thuần khiết” (amour platonique), thứ tình cảm trai gái hoàn toàn không dính líu đến quan hệ thân xác hay những hình thức lãng mạn khác (hẹn hò, quà tặng…). Điều này không phải là hiếm hoi đối với những người hiến mình cho con đường tu tập, dù thuộc bất cứ tôn giáo nào. Một tình yêu như thế thường xuất phát từ sự tự chế hay từ sự “thăng hoa” (sublimation), hiểu theo nghĩa phân tâm học. Yêu một người mà như yêu mọi người!

Mặt khác, về phương diện sáng tác nói chung, thơ Tuệ Sỹ có những tứ thơ khác lạ, rất “tuệ sĩ,” hiếm thấy ở những nhà thơ khác. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên. Mỗi một tài năng thi ca luôn luôn biểu lộ một cái “riêng” nào đó rất riêng, không ai giống ai. Chẳng hạn ở khổ thơ này:

“Ta làm kẻ rong chơi từ hỗn độn
Treo gót hài trên mái tóc vào thu
Ngồi đếm mộng đi qua từng đọt lá
Rũ mi dài trên bến cỏ sương khô
(Mười năm trong cuộc lữ)

Bốn câu thơ hoàn toàn không có gì lạ về mặt từ ngữ, nhưng cách kết hợp chữ, hình ảnh và ý nghĩa tạo ra nét lạ: rong chơi từ hỗn độn, đếm mộng trên từng đọt lá, rũ mi dài, bến cỏ sương khô. Đọc lên những nhóm chữ này, ta cảm thấy bỡ ngỡ y như thể chúng trừu tượng hay có vẻ bí hiểm; nhưng đồng thời, ta lại vẫn hiểu ngay được ý nghĩa của chúng, mặc dầu không thể kiến giải một cách rõ ràng. Những tứ thơ như thế có thể tìm thấy rải rác ở nhiều bài thơ khác. Hoặc đó là những nhóm chữ: khung trời hội cũ, trăng đã gầy vĩnh viễn, những chiều pha tóc trắng, kể chuyện trăng tàn, nông nổi vết sa cơ, điêu tàn vờ vĩnh…; Hoặc đó là nguyên cả một câu thơ: Một lần định như sao ngàn đã định, Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ, Trời không ngưng gió chờ sương đọng…

Những tứ thơ như thế đôi khi được hình thành một cách xuất thần:

“Khi nắng sớm hôn nồng lên nụ nhỏ
(Bình minh)

Chỉ bảy chữ thôi, nhưng câu thơ vẽ ra một bức tranh đẹp. Mặn mà nhất có lẽ nằm ở mấy chữ “hôn nồng” và “nụ nhỏ.”

Về điểm này, nhà phê bình Đặng Tiến có một nhận định, theo tôi, là hoàn toàn chính xác: “…ở Tuệ Sỹ đời sống hằng ngày, ý thức và vô thức dường như đã thăng hoa, thành một siêu thức. Ngôn ngữ do đó cũng siêu thoát, khó bề lý giải chân phương và đơn phương.” (8)

Ở nhiều bài thơ, sự vật và sự kiện cũng như ngôn ngữ rất bình thường nhưng được nhà thơ “cột” chúng lại trong một kết cấu lạ, bất ngờ, đẩy ý nghĩa khiến chúng bay thoát hẳn ra khỏi nội hàm của chúng. Chẳng hạn hình ảnh đối sánh giữa cây trúc và con nhện dưới đây:

“Trúc biếc che ngày nắng
Hương chiều đuổi mộng xa
Phương trời nhuộm ráng đỏ
Tóc trắng nhện tơ lòa”
(Trúc và nhện)

Trúc biếc che ngày nắng” gợi nên một trạng thái tâm lý bất thường, đó là “hương chiều đuổi mộng xa;” trong lúc đó, “Phương trời nhuộm ráng đỏ” lại cho ta một hình ảnh khác, hoàn toàn có tính cách vật lý, một kết hợp màu sắc rất đẹp:“tóc trắng nhện tơ lòa.” Cả hai tứ thơ đều bất ngờ và độc đáo.

Riêng tôi, một trong những bài thơ mà tôi thích nhất là trường ca “Tĩnh thất” (9). Bài thơ gồm 32 khổ mà cũng là 32 bài, tùy cách đọc và cách cảm nhận. Đó là một kết hợp của nhiều thể loại thơ khác nhau: nhị ngôn, tam ngôn, tứ ngôn, ngũ ngôn, lục bát, thất ngôn, bát ngôn, tự do hay hỗn hợp, chứa đựng cả tình yêu, tình nhân thế, tình đời, tình đạo. Nhiều bài ngắn, gọn gàng, hàm súc, từa tựa như lối thơ “hài cú” của Nhật Bản. Ít chữ, nhiều nghĩa, qua đó, cách nắm bắt và diễn tả hiện thực, cách sử dụng ngôn ngữ, cách nén, ép ý nghĩa và ý tưởng của nhà thơ đạt đến mức thượng thừa, theo tôi. Xin trích vài đoạn:

Rất hoang vu:

“Hoang vu
Cồn cát cháy
Trăng mù
Hoang vu
Cồn cát
Trăng mù
Cỏ cây
mộng mị
Cơ đồ
nước non.”

Rất nghịch lý:

“Bứt cọng cỏ
Đo bóng thời gian
Dài mênh mang”
(Lấy ngắn đo dài)

Rất lãng đãng:

“Trời cuối thu se lạnh
Chó giỡn nắng bên hè
Nắng chợt tắt
Buồn lê thê.”

Rất khốn khổ:

“Lão già trên góc phố
uằn quại trời mưa dông
Áo lụa gầy hoa đỏ
Phù du rụng xuống dòng”

Rất hiện thực và trần tục:

-“Lon sữa bò nằm im bên chợ;
Con chó lạc
đến vỗ nhịp
trời mưa.
Tôi lang thang
đi tìm cọng cỏ
Nó nhìn tôi
vô tư.”

-“Lời rao trong ngõ hẻm:
Đồng hồ điện!
Cầu dao!
Công tắc!
Những lời rao chợt đến chợt đi.
Một trăm năm mưa nắng ra gì,
Cánh phượng đỏ đầu hè, ai nhặt?”

Trong hai bài thơ trên, nội dung hoàn toàn hiện thực, những câu kết (in đậm) rớt vào khổ thơ như một ngẫu nhiên, một vật lạ từ trên trời rơi xuống khiến toàn bài thơ hoàn chỉnh một cách thần tình, nằm ngoài mọi dự đoán.

Thơ Tuệ Sỹ mang phong cách phóng túng của Tô Đông Pha, nhà thơ mà Thầy đặt cho cái biệt danh “những phương trời viễn mộng”: “Muốn cho lời thơ tuyệt diệu, thì phải là đừng gò ép, vừa Không và vừa Tĩnh. Tĩnh cho nên thâu tóm hết mọi vọng động. Không cho nên bao hàm vạn cảnh. Ngắm nhìn sự đời, bôn ba giữa đời, mà thấy mình như nằm trên chóp đỉnh mây cao. Đủ hết các thứ mặn nồng, chua chát; trong đó có cái hương vị tuyệt vời.

Thơ và Pháp (Đạo) không chống trái nhau, không hại nhau.” (10) 

Thầy Tuệ Sỹ. (Hình: Facebook Thư Viện Phật Việt)

Tuệ Sỹ, nhà văn

Về văn, Tuệ Sỹ không viết nhiều. Nhưng ba truyện ngắn mà tôi được đọc, “Piano Sonata 14,” “Gốc tùng” và “Sư Thiện Chiếu” (11) đều là những sáng tác hay, kết hợp cả lối viết truyền thống lẫn hiện đại. Cũng như thơ, văn Tuệ Sỹ, trước hết, là văn chương của con người, về con người và về cuộc đời. Cả ba truyện đều có nhân vật, cốt truyện, đối thoại, độc thoại; đặc biệt, cả ba đều có cấu trúc lỏng lẻo với kết thúc mở. Đọc xong truyện rồi, độc giả vẫn còn bâng khuâng, không tìm thấy ngay câu trả lời.

Đoạn kết trong “Gốc tùng:”

Khi đến gần ông cụ, cậu đứng thẳng người, khẽ cúi đầu.

-Dạ, thưa ông, cháu đi.

Lại một lần nữa. Ngày mai, trời sẽ có mưa hay gió gì đây. Vào mùa này, Huế thường có sương mù mỗi sáng. Lúc xe ngang qua cầu Trường Tiền, phía dưới kia dòng nước cồn nhỏ thấp thoáng như một hải đảo xa xôi nào đó.”

Đoạn kết trong “Sư Thiện Chiếu:”

Sau buổi cơm trưa, chúng tôi cố cầm ông bạn cố tri này ở chơi ít hôm. Nhưng ông nhất quyết từ chối. Hỏi thăm nơi trú ngụ, cũng không nói. Đến nay, cũng đã mấy năm rồi, tôi không biết hỏi thăm ai về sư Thiện Chiếu ngày xưa hay cụ đồ viết mướn ngày nay nữa.”

Kết thúc nào cũng lửng lửng lơ lơ, thả lỏng cho trí tưởng tượng của độc giả.

“Gốc tùng” có văn phong trong sáng, mới mẻ, hiện đại. Đặc biệt, tác giả áp dụng ý nghĩa của cây tùng trong văn chương cổ điển vào quan hệ gia đình thời nay. Có chút gì hơi chỏi ở cách ví von này, nhưng hình như tác giả Tuệ Sỹ muốn gài vào đó một ẩn ý riêng. Đoạn vào đầu truyện đã nghe khang khác, ngồ ngộ:

“Những năm trước, hai gốc tùng trước sân như hai đứa trẻ, dáng điệu miệt mài trong cơn gió hiu hắt của mùa thu. Quanh năm suốt tháng, không một lời qua lại, không trao đổi nhau đến cả một chiếc lá đã qua mùa. Vào năm mưa bão nhiều, đôi khi nước dâng cao, từ xa vọng lại như một bãi tuyết trắng ngập nửa thân hình. Thỉnh thoảng vài cánh bướm ghé xuống, không hương sắc của phấn nhụy để bày tỏ một chút tình nồng nhiệt. Cánh bướm lại bay đi, vẫn không một cử chỉ xao động hứa hẹn nào.”

Hai nhân vật người ông và đứa cháu nội được xây dựng một cách đơn giản, có tính cách điển hình, nhưng không quá tròn trịa và khuôn mẫu. Thỉnh thoảng, ở vài chỗ, tác giả cố tình để lửng một chi tiết nào đó khiến người đọc cảm thấy như mất dấu. Có lẽ vì thế, khung cảnh và nhân vật tuy hoàn toàn hiện thực, nhưng lại thấp thoáng nét hư ảo như ta thường tìm thấy trong các truyện truyền kỳ hay trong các công án thiền.

Một mùa Xuân nào đó; nước đẫm ướt đầu mấy con vịt, như nhuộm trắng; một cụ già chống gậy tiếp khách. Khách mang theo cả một thời quá khứ của cụ, trong từng bước. Khách hẹn sẽ có ngày ghé thăm lại. Hòn núi trơ trọi trong buổi chiều, y ước đứng mãi đấy để đếm từng buổi nắng quái đi qua (…) Những ánh nắng của buổi chiều lây lất và một mái tóc bạc đứng đợi cái gì đã đi qua và đi mất.”

Cuối cùng, “Piano Sonata 14,” theo tôi, là một truyện ngắn hoàn hảo, cả về kỹ thuật, cấu trúc, nội dung lẫn nhân vật. Nhân vật chính là một chú tiểu.

Trước hết, hãy khoan nói chuyện hư cấu, mà nói về hình ảnh cụ thể về một chú tiểu có thật ở ngoài đời. Hồi nhỏ, tôi hay theo mẹ đi nhiều chùa ở Huế, do đó, quen với khá nhiều chú tiểu cùng lứa tuổi, có chú đã từng là bạn học ở trong trường. Một chú, sau này là Đại Đức Thích Thanh Tuệ, để lại trong tôi một dấu ấn không thể phai mờ: chú đã tự thiêu tại chùa Phước Duyên vào Tháng Tám, 1963, để phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm.

Nói chung, tôi rất thương các chú, vì trong lúc ở độ tuổi 6, 8, 9, 10, bọn trẻ con chúng tôi được ăn thịt, ăn cá, đánh bi, đánh đáo, câu cá bắn chim thỏa thích, thì các chú phải khép mình vào khuôn khổ, mặc áo nâu sồng, thức khuya dậy sớm, ăn chay, tụng kinh gõ mõ. Bởi vậy, mỗi khi đi chùa, tôi thường mang theo ít kẹo, có khi là đồ ăn mặn, dấm dúi vào trong túi áo mấy chú hay lợi dụng lúc mấy “ôn” bận bịu, rủ mấy chú ra vườn sau chạy nhảy, hái hoa, đuổi bướm. Các chú vừa thích vừa sợ. Riêng tôi, mỗi lần nhìn mấy chú, tôi cứ băn khoăn trong lòng không hiểu thực sự, trong thâm tâm, mấy chú nghĩ gì, mơ ước gì.

Chính vì thế, đưa nhân vật chú tiểu vào truyện là một điều không đơn giản. Nếu “đạo” quá, truyện sẽ khô, cứng; nếu “đời” quá, rất dễ đi quá đà, phóng túng. Ấy thế mà, qua “Piano Sonata 14,” Tuệ Sỹ xây dựng một chú tiểu hết sức sống động, vừa có nét hồn nhiên của một chú bé lên 12 vừa có phong thái nề nếp của một chú tiểu nằm trong khuôn phép. Đồng thời, nếu tinh ý, ta sẽ thấy tác giả khôn khéo rắc vào một chút gia vị thế tục, tuy rất nhẹ nhàng, nhưng thấm thía.

Chú tiểu tên Nghi, 12 tuổi đang học lớp Đệ Lục trường công lập. Mẹ chú, không rõ vì lý do gì, mang chú lên giao cho chùa rồi đi mất; về sau, bà chết, được tu viện lập bàn thờ thờ trong chùa.

Chú chăm chỉ làm việc chùa, “châm trà, lau bàn ghế và quét dọn trong phòng của sư trưởng. Không ai biết tuổi thơ trôi qua như vậy đang ấp ủ sự gì. Sự thành kính khi bưng ấm trà để vào khay.”

Hằng ngày, chú lại phải học về “ý nghĩa của sự vô thường, khổ đau và giả tạo đang đè nặng kiếp người.”

Ấy thế mà chú tiểu cũng là một cậu bé nghịch ngợm: thường xuyên trốn chùa ra ngoài đi chơi, qua cổng chính, bằng cách “làm cho một chấn song cửa sắt gẫy hết một đầu, chỉ cần kéo nhẹ qua là lách mình vào lọt. Rồi sau đó nắn lại”, mà sư trưởng tu viện không hề biết.

Ghét cái miễu thờ bà ở trong khuôn viên chùa, có lúc, chú hứng thú “leo lên đống ngói đứng đái, xoay người tứ phía y hệt như tưới rau.” Hay “Ăn cắp chuối trên bàn Phật, hay lẻn qua vườn rau nhổ bậy vài bụi cải cho những cuộc kiết tập kín đáo, với bánh tráng mỏng và nước tương dầm ớt thiệt cay.”

Một hôm, ra vườn sau, chú khám phá ra một điều mới mẻ: ban đêm, giữa “luồng trăng bạc như sương khuya lấp lánh đang nhảy múa chập chờn trên các luống cải,” chú bỗng nghe một thứ âm thanh “ngọt ngào và quyến rũ” vọng lại từ bên kia con đường.

Tò mò, chú không ngần ngại “chui qua hàng rào kẽm gai, băng qua vườn, sang tuốt con đường đất,” tìm đến “một ngôi nhà ẩn sau nhiều bóng cây rậm rạp,” nơi “đang có người chơi đàn.”

Ở đó, “Xuyên qua khung cửa sổ, chú thấy một mái tóc chảy dài, nghiêng nghiêng theo âm điệu to nhỏ và tiết điệu buông lơi của tiếng đàn.

À, người đánh đàn là một cô người Huế. Cô mở cửa cho chú điệu vào. Dưới cái nhìn của cô, chú điệu với “Chỏm tóc lệch qua một bên, phủ mép trán. Đôi mắt sáng ngây thơ dưới hàng mi dài và cong.

Khi cười, chú “chớp hai hàng mi tinh nghịch. Nụ cười của trẻ thơ, trong trắng và hồn nhiên, nhưng quá nhỏ nhoi và khiêm tốn giữa một thế giới đòi hỏi quá nhiều sự trang nghiêm và kính cẩn. Tuổi thơ hiếm hoi cho một tâm hồn tập sự săn đuổi những ước mơ ngoài tầm với bắt của con người.

Cô mời chú vào. Và lần đầu tiên chú thích thú nhìn thấy “cây đàn kê sát vách tường nhìn nghiêng ra khung cửa sổ.” Chú đi thẳng lại đó, níu hai tay lên thùng đàn, đôi mắt thích thú cúi nhìn chăm chú những phím đen trắng chen nhau sắp thành một hàng thẳng. Được chủ nhân cho phép, chú “đặt cả bàn tay lên phím đàn và ấn xuống. Âm thanh so le nhau cùng tấu lên. Khi cất tay, chú nghe chúng ngân dài, lẫn vào thùng đàn như đang chìm sâu vào trong bóng tối hun hút phía sau.

Thấy chú thích đàn, cô gái hứa sẽ dạy cho chú học. Chú tiểu hoàn toàn là một đứa trẻ vô tư hồn nhiên, thấy lạ thì thích. Thay vì đợi cô gái chỉ dẫn, chú đập tay lên các phím đàn, bị cô gái la, nhưng rồi chú cũng lại đập tay lên các phím đàn một lần nữa.

Cái hồn nhiên, tinh nghịch của một chú bé đi tu tạo nên trong lòng cô gái, Như Khuê, những cảm giác lạ, phức tạp: “Nghi lúc nào cũng cao hứng, Như Khuê tự nhiên thấy mình đã thân thiết với chú vô cùng. Cô muốn hôn lên đôi mắt thần tiên của chú. Cửa chùa không biết có vĩnh viễn khép kín nổi con người có cái phong vận như thế. Nhưng chắc cũng có mấy ai có thể nhìn suốt qua đôi mắt kia mà thấy được bóng dáng của huyễn mộng phù sinh. Cô đâu biết, và chưa bao giờ thấy sự thành kính của chú và đôi mắt mông lung như khói trầm. Dù vậy, ngay lúc này, cô thấy rõ hơn ai hết, có lẽ vậy, sự nóng cháy đam mê trong đôi mắt thần tiên đó. Thế mà cô cũng chưa bao giờ thấy được sự nóng cháy của một ngọn nến lẻ loi giữa đêm khuya tịch mịch. Cô bỗng thấy trong thâm tâm mình bây giờ y hệt như một họa sĩ vẽ trúc đã mọc đầy trúc trong bụng. Cô mong cho sự nóng cháy kia không sớm bị dập tắt dưới những kỷ luật lạnh lùng nơi tu viện. Cô có cảm giác mười đầu ngón tay của mình đang vuốt nhẹ lên mặt hồ với những lượn sóng nhỏ.” (…) “Như Khuê nghe cánh tay chú đụng vào người. Cô nhìn lại. Chú đang kéo chỏm tóc sang một bên.” (12)

Cảm giác đó khiến cô gái đâm ra bồn chồn. Tâm trạng này chỉ được phác qua vài nét lửng lơ, nhưng bao hàm nhiều gợi ý: “Cô thích được nắm chỏm tóc của chú mà vuốt dài xuống. Cô đứng tựa mình lên khung cửa và nhìn lên bầu trời. Trăng khuya, lác đác vài ngôi sao. Một ngôi sao… xa quá…

Khi chú đi rồi, “Như Khuê đứng nhìn bóng trắng khuất ngoài hàng rào bông bụp.

Trong phần kết thúc, truyện bỗng dưng chuyển sang vị sư trưởng: “Ngang qua thiền thất, Nghi thấy sư trưởng bắc ghế ngồi nhìn ra phía trước cổng. Cổng sắt đã khép kín. Con đường kéo dài bất tận. Tiếng đàn buông lơi và chạy suốt, mất hút ngoài kia. Nghi lén nhìn sau lưng sư trưởng và sư trưởng thì nhìn vào bóng tối của con đường vì sư biết đó là Piano Sonata 14 với tiến nhịp của sustenuto, chậm nhưng vĩnh viễn chìm sâu trong bóng tối như những làn sóng nhỏ ôm bóng trăng mà ngủ vùi trên bến cát.” (14)

Lúc đầu, truyện tập trung vào nhân vật chú tiểu Nghi, rồi đột ngột chuyển qua nhân vật Như Khuê, và cuối cùng, đột ngột chuyển một lần nữa qua vị sư trưởng. Dù chỉ bằng một dòng ngắn ngủi ở cuối truyện, vị sư trưởng trở thành một phần “chưa nói ra hết” của câu chuyện.

Chả là vì, hàng đêm, khi tiếng đàn dương cầm vang lên tấu khúc “Khúc Nhạc Dưới Trăng” (Piano Sonata 14 hay Moonlight Sonata) của Ludwig van Beethoven chỉ gợi trí tò mò của chú tiểu thì lại lắng đọng sâu xa trong tâm hồn vị sư trưởng đang chịu trách nhiệm dìu dắt cả một lứa đệ tử tóc đang còn để chỏm, nhưng là tương lai của giáo hội sau này.

Hai nhân vật cô gái và vị sư trưởng thì tôi không rõ, nhưng có lẽ có một phần của chú tiểu Nghi trong Tuệ Sỹ!

Tôi được nghe Tuệ Sỹ chơi tấu khúc “Piano Sonata 14” nhiều lần ở trong phòng của Thầy tại Đại Học Vạn Hạnh cùng với nhiều ca khúc thời thượng khác thuở đó: “Diễm xưa,” “Gọi tên bốn mùa,” “Nắng thủy tinh,” “Mùa thu chết”… Thầy đàn rất hay, nhuần nhuyễn và đam mê. Những ngón tay dài, nhỏ nhắn của Thầy chạy thoăn thoắt trên phím đàn piano trông rất điệu nghệ, đến nỗi Quỳnh Thu, một cô bạn gái của tôi, sinh viên Vạn Hạnh, thỉnh thoảng lại nài nỉ tôi dẫn cô đến phòng để nghe Thầy đánh đàn. Thầy bảo, Quỳnh Thu có đôi mắt rất đẹp. Một cô bạn khác, Phương Huệ, nữ tu xuất Công Giáo, bạn cùng lớp với tôi, cũng thế, lâu lâu lại ghé đến, yêu cầu Thầy đàn. Phương Huệ khen hai bàn tay Thầy xinh xắn, dễ thương.         

Chân dung Thích Tuệ Sỹ. (Tranh: Đinh Cường)

Tuệ Sỹ, nhà chính luận

Là một nhà giáo, dạy ở tu viện cũng như ngoài đời, lại có lúc đảm nhận trọng trách của một vị lãnh đạo cao cấp của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, nên ngoài chuyện nghiên cứu kinh sách Phật Giáo, Tuệ Sỹ rất quan tâm đến những vấn đề vừa đạo vừa đời.

Thầy viết khá nhiều tham luận về văn hóa, giáo dục, xã hội và tư tưởng, thẳng thắn phê phán những sai trái, tiêu cực và đưa ra những giải pháp cho các vấn đề nêu ra: “Văn minh tiểu phẩm,” “Thư gửi các Tăng sinh Thừa Thiên-Huế,” “Trí thức phải nói,” “Đạo Phật với thanh niên,” “Suy nghĩ về hướng giáo dục cho tuổi trẻ,” “Tuổi trẻ lên đường,” “Thi ca và tư tưởng,” “Giữa thời đại và nhân sinh,” “Tư tưởng là gì,” “Sự hủy diệt của một trào lưu tư tưởng,” “Dẫn vào thế giới văn học Phật Giáo”…

Tôi ghi nhận một số điểm sau:

1. Một trong những vấn đề tâm huyết của Thầy là vai trò tuổi trẻ đối với đất nước và đạo pháp. Sau khi đã nêu lên và phân tích những khó khăn của Phật Giáo dưới chế độ toàn trị, Thầy đề nghị một số giải pháp cụ thể và tích cực:

-Đối với những người tuổi trẻ đi theo đường đạo, các tăng sinh phải chọn thái độ dứt khoát:

+Một là, “không buông mình chiều theo mọi giá trị hư dối của thế gian, không cúi đầu khuất phục trước mọi cường quyền bạo lực;”

+Hai là, “Chớ khoa trương bảo vệ Chánh pháp, mà thực tế chỉ là ôm giữ chùa tháp làm chỗ ẩn núp cho Ma vương, là nơi tụ hội của cặn bã xã hội;”

-Và ba là, “Chớ hô hào truyền pháp giảng kinh, thực chất là mượn lời Phật để xu nịnh vua quan, cầu xin một chút ân huệ dư thừa của thế tục, mua danh bán chức.” (15)

-Đối với các bạn trẻ theo đường đời, “Các bạn trẻ ấy tự tìm thấy hình thái đạo Phật thích hợp với mình,” không nên rập theo “khuôn mẫu do bởi các anh chị trưởng, do các đại đức, thượng tọa, hay do các nhà nghiên cứu uyên bác.” Thay vào đó, tuổi trẻ “hãy đi con đường do chính ta lựa chọn, không cần gì phải lắt nhắt theo dấu vết của Như Lai.” Vì sao? Thầy khẳng định: “Không có đạo Phật chung chung cho đồng loạt tuổi trẻ. Mỗi cá nhân tuổi trẻ là biểu hiện của mỗi hình thái đạo Phật sinh động.” (16)

Theo tôi, đó là những lời khuyên thẳng thắn, can đảm, phù hợp với điều kiện và nhu cầu của thời đại.

2. Trong “Văn minh tiểu phẩm” (17), tham luận độc đáo nhất của Thầy, Tuệ Sỹ lên tiếng phê phán quan niệm cho rằng:

-Việt Nam chỉ có văn học từ khi có chữ quốc ngữ.

-Không có một nền văn học gọi là văn học Phật Giáo; nếu có, thì đó không phải là văn học Việt Nam.

Theo Thầy, quan niệm hoàn toàn sai lầm này xuất phát từ hai yếu tố:

-Hạn chế về mặt ngôn ngữ: Tất cả các tác phẩm văn học đều viết bằng chữ Hán hay chữ Nôm. Các thế hệ sau chỉ biết chữ quốc ngữ qua ký tự La Tinh, nên không đọc và hiểu được chữ Hán và chữ Nôm.

-Tác động chính trị bên ngoài: sự thống trị của thực dân và sự truyền bá Thiên Chúa Giáo.

Tuệ Sỹ quả quyết: “Chính hai yếu tố tác động này đã khiến cho nhiều trí thức Việt Nam bị bứt khỏi gốc rễ truyền thống.”

Thầy không phủ nhận giá trị của ký tự La Tinh. Tuy nhiên, theo Thầy, đó “không phải là loại hình ký tự duy nhất để tiếp cận khoa học.” Có rất nhiều “khái niệm cũng như nhiều định lý toán học được khám phá không phải do các tư duy và các thuật toán được thực hiện thông qua ký tự La Tinh.” Mặt khác, dù có ký tự La Tinh, nhưng cho đến nay, Việt Nam chẳng hề chứng tỏ được đất nước “tiến bộ hơn Nhật Bản, Đài Loan, Nam Hàn hay Thái Lan” là những quốc gia chỉ sử dụng thứ ký tự mà tổ tiên họ đã truyền lại từ cả ngàn năm nay. Không những thế, Việt Nam còn đi chậm hơn họ cả hàng chục năm. Điều đó chứng tỏ, ký tự chẳng phải là “yếu tố quyết định cho tiến bộ văn minh.”

Tuệ Sỹ khẳng định: “Chữ viết mà chức năng là ký hiệu truyền đạt, và là biểu tượng của tư duy, tự bản chất, phản ảnh phong thái sinh tồn của một dân tộc trong ý thức cá biệt của nó, đồng thời cũng phản ảnh lối quan hệ và ảnh hưởng hỗ tương giữa các dân tộc. Không thể nói loại hình nào ưu việt hay tiện lợi hơn loại hình nào. Người học chữ Hán cho đến một trình độ nào đó sẽ thấy rằng chữ ‘Uất’ gồm 29 nét không phải là khó nhớ hơn chữ ‘Nhất’ một nét. Nói rằng chữ Nôm phức tạp cho nên không tiện lợi để phổ biến cho bằng chữ La Tinh, điều này chỉ đúng cho những người mà não trạng đã quen với tập tính lười biếng.”

Mặt khác, cũng trong bài viết này, Tuệ Sỹ thẳng thắn chỉ trích chính sách đối với Phật Giáo của nhà cầm quyền Cộng Sản. Theo Tuệ Sỹ: “Sự xuất hiện sau năm 1982 của một tổ chức được mệnh danh là giáo hội, mà thực chất là một tổ chức chính trị nằm trong Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam do cán bộ Cộng Sản lãnh đạo, cho thấy trước sau như một, đảng Cộng Sản Việt Nam đã vận dụng các biện pháp kinh điển xã hội chủ nghĩa được thi hành tại Liên Xô cũng như tại Trung Quốc và trong tất cả các nước xã hội chủ nghĩa khác.

Hậu quả là: “Một thứ Phật Giáo theo định hướng xã hội chủ nghĩa còn quái dị hơn một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà nhiều phê bình gia kinh tế nhận xét.

Thầy ví von một cách chua chát: “Sự gán ghép đạo pháp vào chủ nghĩa xã hội chẳng khác nào buộc con chó nhà và chó sói vào một sợi dây, để khi có sự biến, một con tìm cách chui xuống gầm giường, một con cố gắng phóng mình trở lại rừng. Hai con thú giằng co nhau bởi một sợi dây oan nghiệt.”

Nhận thức đó khiến Thầy luôn luôn giữ thái độ của một kẻ sĩ, “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất,” ngay cả khi đứng trước mặt cán bộ nhà nước: “Hôm trước ở bên Châu Lâm ông Ngọc có lên thăm và nói chuyện, tôi cũng có nói vấn đề này: Vấn đề giáo hội nằm trong mặt trận, tôi không chấp nhận. Còn vấn đề liên hiệp giữa hai giáo hội, Tôi nói lập trường của chúng tôi là không có vấn đề liên hiệp. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam là thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc, đó là một tổ chức chính trị; chúng tôi không làm chính trị, không liên hiệp với bất cứ tổ chức chính trị nào. Rồi người ta có nói rằng trong quy chế, trong Hiến Pháp mình thì đảng lãnh đạo tất cả. Tôi nói tôi biết điểm đó. Tôi còn biết Lenin đã nói ‘đảng phải thông qua tôn giáo để tập họp quần chúng.’ Lenin nói, cán bộ Cộng Sản nào mà đàn áp tôn giáo là phản động. Lenin không chấp nhận chuyện đàn áp tôn giáo; trong Cộng Sản không có chuyện đàn áp tôn giáo, đó là Lenin đã chỉ thị. ‘Đảng phải thông qua tôn giáo để tập họp quần chúng’ có nghĩa là tôn giáo là một công cụ chính trị của đảng. Vì đảng không đủ khả năng tập họp, phải mượn tay tôn giáo tập họp giùm. Mà tôi không bao giờ để cho Phật Giáo làm công cụ cho bất cứ đảng phái chính trị nào. Như Liên Xô, một đảng phái chính trị, 70 năm thì sụp. Cứ cho là đảng Cộng Sản Việt Nam tồn tại 1000 năm nữa đi, tôi cũng không bao giờ đem 2500 năm lịch sử truyền thừa Phật Giáo ra làm công cụ cho bất cứ đảng phái nào. Tôi còn nói: ‘Nếu mà lời nói này của tôi là tự đào hố chôn mình, tôi vẫn sẵn sàng tự chôn mình, chứ không thể chấp nhận chuyện đó. Còn nếu nói là luật pháp, đúng, tôi tôn trọng luật pháp, nhưng luật pháp mà xâm phạm lý tưởng của tôi, tôi không chấp nhận cái luật pháp đó, chứ đừng có dùng chữ luật pháp với tôi.’ Đúng là ở trong đất nước nào thì phải tôn trọng luật pháp đó, nhưng nếu tự mình đặt ra luật pháp để dùng luật pháp đó xâm phạm tới giá trị, xâm phạm lý tưởng của người khác thì tôi không chấp nhận luật pháp đó, tôi sẵn sàng chịu chết. Tôi đã từng đứng trước bản án tử hình rồi, tôi không sợ, tôi chấp nhận nó. Đây không phải tôi thách thức, mà là vấn đề lý tưởng của mình…” (18)

3. Đánh giá về xã hội Việt Nam hiện nay dưới chế độ Cộng Sản qua bài “Trí thức phải nói!,” Thầy thừa nhận, Việt Nam có “những đổi thay từ trên thượng tầng, thấy được sự giầu sang của đất nước qua những tiện nghi vật chất từ các khách sạn năm sao dành cho cán bộ cao cấp và khách nước ngoài.” Nhưng thực ra, đàng sau cái xã hội tiêu thụ hào nhoáng ở sân trước là những “rác rưởi phế thải được dồn ra sân sau.

Thầy quả quyết, Việt Nam đang là “một đống rác khổng lồ,” là “kho chứa tất cả những gì xấu xa nhất của nhân loại văn minh.” (…) “Đất nước đã thấm bao nhiêu xương máu của bao nhiêu thế hệ ông cha và bè bạn để dồn lại thành những đống rác như thế, những đống rác càng ngày càng to phình lên một cách khủng khiếp.” (19)

Nhìn lại hiện tình đất nước mấy chục năm qua và ngay cả hiện nay, quả là Thầy không hề quá lời!

4. Một luận điểm quan trọng khác, tương quan giữa văn học và Phật Giáo, được Thầy soi sáng trong bài “Dẫn vào thế giới văn học Phật Giáo.”

Nghiên cứu tương quan giữa văn học và tôn giáo, Thầy nhận thấy có một sự nghịch chiều (mà Thầy gọi là “song quan luận”) giữa hai lãnh vực: “Người ta sẽ không đòi hỏi tác giả phải có một phong cách độc đáo trong đường lối phô diễn; y khỏi phải nỗ lực vận dụng mọi khả năng sáng tạo đến mức tuyệt động, vốn là giá trị đặc sắc của một tác giả văn học – thuần túy. Như vậy, một khi nội dung của kinh nghiệm tôn giáo càng được nới rộng, thể tài văn học càng bị thu hẹp lại. Cho đến một lúc nào đó, lúc mà kinh nghiệm tôn giáo được mở rộng đến vô hạn và tận cùng trong tuyệt đối bất khả tri, người ta bị bắt buộc phải khước từ mọi phương tiện diễn đạt qua các thể tài văn học. Đây là một song quan luận của phương tiện (văn học) và cứu cánh (tôn giáo).”

Vì thế, theo Thầy, nếu “khai triển phương tiện đến tận cùng thì cứu cánh sẽ vắng bặt. Ngược lại, nếu tiến đến chỗ tuyệt đối cứu cánh, phương tiện sẽ hết còn là phương tiện. Nói cách khác, hình như cứu cánh tôn giáo, với những chân lý thành kiến của nó, lúc nào cũng sẵn sàng phản bội mọi tính cách sáng tạo của văn học. Văn học không phải là phương tiện của bất cứ một chân lý cứu cánh nào, thành kiến hay không thành kiến, dù là chân lý về sự sống và cuộc đời; vấn đề sẽ mở sang một chiều hướng khác: đâu là phương tiện và đâu là cứu cánh của văn học?” (20)

Thầy đề nghị giải quyết vấn đề nêu trên bằng ba giải pháp sau:
-Sơ khởi văn học Phật Giáo không từ chối vai trò “truyền đạo” của nó. Tức là, chân lý của tôn giáo này, tùy trường hợp, được phô diễn tự do trong mọi thể tài văn học, và coi văn học chỉ như một phương tiện, thứ yếu, không quan trọng cho bằng nội dung.
-Nhưng, chân lý ở đây mang tính cách nội tại và cá biệt nơi mỗi người, do đó, sự phô diễn của nó cũng bắt đầu như sự bắt đầu của một tác phẩm văn học, nghĩa là, khởi đi từ cảm hứng bộc phát trước một thế giới của kinh nghiệm tâm linh.
-Trên khía cạnh tôn giáo, chân lý được chứng ngộ là phản ảnh của một thế giới sống động. Trên phương diện diễn đạt của văn học là cảm hứng tự phát của một tình tự cá biệt. Do đó, lấy tánh Không làm chất, lấy thế giới trùng trùng vô tận làm văn. Văn và chất phản chiếu lẫn nhau tạo thành thế giới toàn diện của văn học Phật Giáo.
(21)
Cách lý luận có tính cách hàn lâm của Thầy về hai lãnh vực văn học và tôn giáo, nói cho đơn giản một chút, thực ra, chính là vấn đề “đạo” và “đời.” Theo tôi, thực không dễ gì tìm ra một giải pháp dứt khoát cho vấn đề. Chọn giải pháp nào là tùy cá nhân và cũng “tùy duyên.” Riêng Thầy, nếu đọc lại thật kỹ các sáng tác thơ, văn của Thầy, thì rõ ràng là Thầy đã chọn thực hành, và thực hành một cách nghiêm túc và sống động, giải pháp thứ ba: “lấy tánh Không làm chất, lấy thế giới trùng trùng vô tận làm văn. Văn và chất phản chiếu lẫn nhau tạo thành thế giới toàn diện của văn học Phật Giáo.”

Tượng Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ tôn trí tại lễ đường chùa Phật Ấn, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. (Hình: Giác Ngộ)

Tuệ Sỹ, nhà nghiên cứu Phật Giáo

Thầy là một học giả đa tài, đa năng. Công trình của Thầy để lại nhiều, mênh mông và đa dạng. Thầy dành trọn cả cuộc đời để viết, hết tiểu luận đến biên khảo, hết biên khảo đến dịch thuật, về những vấn đề Phật Giáo và kinh sách Phật Giáo: Nghiệp, Trung Quán, Tánh Không, Bồ Tát Hạnh, Kinh Hoa Nghiêm, Tạp A Hàm, Duy-Ma-Cật, Thiền, tìm hiểu về ngã, về tâm ý thức…

Dù Thầy không theo học một trường học nào ở ngoài đời, nhưng với vốn liếng ngoại ngữ tự học, Thầy có thể tự mình đi sâu vào tư tưởng triết học của nhiều triết gia Tây phương quan trọng, vừa của cả cổ truyền lẫn hiện đại, do đó, Thầy nắm rất vững những khái niệm triết học căn bản của họ như: tồn tại, hữu thể, hư vô, bản thể, thường nghiệm, siêu nghiệm…

Hãy thử đọc một trích đoạn Thầy bàn về bản chất của tư tưởng viết theo lối văn hàn lâm thường tìm thấy trong các giáo trình triết học Tây phương ở đại học: “Chúng ta không tư tưởng, không phải vì chúng ta không có cái tư tưởng để mà tư tưởng, nhưng vì cái đó lẩn tránh chúng ta. Bởi vì cái tư tưởng đích thực thì ẩn giấu, lẩn khuất, không biểu lộ; cái biểu lộ chỉ là tác dụng công dụng của nó. Chúng ta đặt lại vấn đề; và chủ đích được nhắm đến là hiệu quả của cung cách đặt lại vấn đề sẽ xảy ra như thế nào. Mọi cái xuất hiện cho ta chỉ có ý nghĩa ở cái công dụng của nó, nghĩa là chúng xuất hiện với tư cách là Dụng tính (Zuhandensein) chứ không như là Thể tính. Chúng ta tư tưởng, nói thế cũng có nghĩa là chúng ta cưu mang Dụng tính, nghĩa là cưu mang tính cách ích dụng mà một sự thể, một vật hay một người, có thể mang lại cho ta.” (22)

Về tư tưởng Phật Giáo, ngoài thế mạnh của một người tu học, Thầy lại thông hiểu cả sinh ngữ (Anh, Pháp, Đức) lẫn cổ ngữ (Hán, Phạn, Pali), nên Thầy có thẩm quyền hơn bất cứ ai khác khi biên soạn, thảo luận, đối chiếu và đánh giá lại những vấn đề căn bản trong tư tưởng Phật Giáo. Mặt khác, do thấm nhuần phương pháp lý luận triết học của Tây phương và do tiếp cận và thấu hiểu tinh thần của những bản kinh văn cổ, điều mà các học giả Tây phương thiếu sót, nên cách trình bày tư tưởng Phật Giáo của Thầy trong các công trình biên khảo lúc nào cũng rõ ràng, sâu sắc và thuyết phục, không bị thiên kiến tư tưởng Đông hay Tây chi phối.

Theo tu sĩ Thích Nguyên Siêu: “Thầy đã đơn đao đột kích phá tung nền triết học Tánh Không, khai quật và trình bày giá trị sâu thẳm tận cùng tư tưởng Trung Quán, phiên dịch giảng giải Trí Độ luận, để từ đó, hình ảnh chư Tổ Đức, luận sư nổi tiếng, vang danh oai đức như Tổ Long Thọ, người bấy giờ tôn xưng là Đệ Nhị Thích Ca, Đề Bà, Vô Trước, Thế Thân, Mã Minh, Huyền Trang, La Thập, Tăng Duệ, Tăng Triệu… dường như quá gần gũi, quen thân với Thầy. Vì tất cả các tác phẩm trước tác, dịch thuật của chư Tổ, như là sách gối đầu giường của Thầy, còn Tam Tạng kinh điển, bộ Đại Tạng, chẳng bộ nào mà Thầy không giở đọc. Người viết đã học với Thầy, sau đó cùng Thầy làm việc dịch thuật Trung A Hàm, Kinh Pháp Cú, tuyển tập Nikàya A Hàm… qua những năm 75-77 tại Viện Cao đẳng Hải Đức Nha Trang và 80-84 tại Tu viện Quảng Hương Già Lam cũng là nơi thư viện Vạn Hạnh (Võ Di Nguy, Phú Nhuận) mới thấy được khả năng, trí nhớ trác tuyệt của Thầy. Kinh, luật, luận, Tam Tạng giáo điển, hầu như Thầy nằm lòng tự kiếp nào.” (23)

Riêng tôi, là một người thích nghiên cứu về phân tâm học, đặc biệt là vấn đề tâm thức và bản ngã, tôi hết sức thú vị khi đọc hai bài tham luận của Thầy, một là “Truy tìm bản ngã” và hai, “Tâm ý thức.”

Nếu trong phân tâm học Freud, cái “ngã” (the ego) là một thực thể tâm lý bị chi phối bởi cái “ấy” (Id) tức là bản năng và cái “siêu ngã” (super-ego) đóng vai trò kiểm soát, thì trong Phật Giáo, cái “ngã” là một ảo tưởng, nghĩa là không có thực, cần phải được phá bỏ (phá chấp) trên con đường giải thoát. Do đó, vô ngã là quan điểm cốt lõi của Phật Giáo. Nói thì đơn giản như thế, nhưng càng đi sâu vào tư tưởng vô ngã, người học Phật càng thấy rối rắm, phức tạp, không dễ gì nắm vững. Để hiểu vô ngã thì trước hết phải hiểu bản ngã.

Giải thích về sự hình thành của bản ngã, Thầy sử dụng một ví dụ rất cụ thể: “Có một người mới mua về một con chó, đặt tên cho nó Lucky. Ban đầu, gọi Lucky, nó dửng dưng, vô cảm. Dần dần, nghe hai tiếng Lucky, nó mừng rỡ, ngoắt đuôi. Nó đã hiểu Lucky là cái gì, và như vậy nó cũng hiểu nó là cái gì. Nó hình thành một cái vỏ tự ngã mới qua một cái tên gọi mới. Trước khi có một tên gọi, nó vẫn tồn tại, và tự bảo vệ sự tồn tại ấy. Nó tìm thức ăn, tìm chỗ ngủ, và cắn bất cứ ai đến gần như muốn đe dọa, uy hiếp nó. Khi được đặt tên, toàn thể sự tồn tại ấy bây giờ tồn tại dưới một cái tên Lucky. Dù vậy, nếu có ai xúc phạm đến cái tên Lucky, nó không có phản ứng gì. Nhưng với một con người, khi cái tên gọi, một cái danh gì đó, mà bị xúc phạm, thì hãy coi chừng. Tất nhiên, con người cho đến một tuổi nào đó mới biết nó tên gì, cũng như con Lucky vậy. Rõ ràng cái danh mang nội hàm tự ngã ấy chỉ là hư danh, nhưng con người cũng như vậy đau khổ hay hạnh phúc bởi chính cái hư danh đó. Một ông thầy giáo có cái ngã là thầy giáo. Ai xúc phạm đến danh từ thầy giáo, chức nghiệp nhà giáo, người ấy phải bị khiển trách. Nó là ông vua, nhưng ban đêm lén ra ngoài thành chơi. Dân nào không biết mà đối xử vô lễ như với dân thường, hãy coi chừng. Tự ngã chỉ là cái danh, và đó là giả danh do nghề nghiệp, hay do chỗ ngồi, chỗ đứng giữa mọi người mà đạt thành. Cái giả danh chỉ mới hình thành trong một đời người thôi, mà đã khó quên, khó trừ như vậy; nếu là cái ngã được tích lũy trong nhiều đời, tất không dễ gì trừ bỏ. Cái ngã của ông xã trưởng chỉ to bằng cái xã của ông. Cái ngã của một quốc vương to bằng cái vương quốc của ông. Cái ngã của một nhà thông kim bác cổ thì dài bằng thời gian kim cổ, rộng bằng không gian đông tây. Cái ngã của một chúng sinh luân hồi trong tam giới, tất cũng lớn bằng cả tam giới. Cái ngã ấy không phải dễ nhận ra. Không nhận ra nó, để thấy nó là thật hay giả, thì cũng không thể tận cùng biên giới đau khổ.” (24)

Thay vì sử dụng các thuật ngữ triết học để biến những điều đơn giản và dễ hiểu thành những điều khó hiểu (như cách khoe chữ của một số nhà trí thức), trong trích đoạn trên, Thầy đã cố gắng biến những ý niệm khó hiểu thành những điều mà ai cũng có thể hiểu ngay, khiến cho nó dễ dàng đến với những người bình thường, không đòi hỏi một trình độ học vấn chuyên môn nào.

Nhưng khi bàn về “Tâm ý thức,” do tính cách tương đối phức tạp của nó, Thầy buộc phải sử dụng cách viết hàn lâm, nhưng vẫn cố gắng không biến thành những điều bí hiểm. Trong lúc ở chữ Hán, tâm đơn giản chỉ có nghĩa là trái tim, tấm lòng hay sự suy nghĩ, thì ở trong tiếng Phạn, tâm được hiểu một cách sâu xa hơn.

Theo tiếng Phạn, tâm (citta) có nghĩa là tích tập. Định nghĩa này được thấy trong kinh Hoa Nghiêm, bản dịch chữ Hán của Bát-nhã (quyển 6): tích tập danh tâm 積集名 . Nó do gốc động từ là CI (cinoti): tích chứa, tích lũy, tăng trưởng và cũng có nghĩa là quán sát, tri nhận, cảm nhận. Đây là định nghĩa đặc biệt trong thuật ngữ Phật Giáo, đặc biệt là Đại thừa. Nghĩa thông thường của nó, được nói là do gốc động từ cit hay cint (cintayati): tư duy, suy tưởng. Tâm là cái tư duy. Nói tâm là cái tích tập: tích tập gì? Một cách tổng quát, đó là kinh nghiệm hay nhận thức được tích lũy. Vậy tâm là kinh nghiệm đời sống; tất cả những gì đã từng trải, bằng hành động và nhận thức, tích lũy lại thành tâm. Nếu diễn tả ra trong cuộc đời con người, từ khi bắt đầu biết suy nghĩ, biết hành động và có ghi nhớ, cho đến khi chết; tất cả những ghi nhớ trong óc não còn lại đó gọi là tâm.” (25)

(…) “Tóm lại, có mấy vấn đề, chúng ta đi từ từ: tâm là sự tích tập, tích lũy kinh nghiệm. Mà kinh nghiệm là hoạt động của nghiệp, nghiệp tạo ra thế gian, nhưng cái tâm thì chúng ta không thể hiểu được, không thể biết được, vì không thấy được mà phải nhìn qua những hiệu quả của nó, tức là những công dụng, tác dụng mà nó gây ra trên mọi thứ tồn tại trong đời. Tác dụng của nó là duy trì sự tồn tại, duy trì mối quan hệ của các sự vật, tồn tại của các pháp.” (26)

Để dễ hiểu hơn, Thầy ví von cái tâm trừu tượng đó với một vật cụ thể và hiện đại: máy vi tính.

Con bò ráp nối dữ liệu tích lũy theo kiểu nó; con chuột ráp nối cảnh theo cách của nó, để nó nhìn và hiểu thực tại theo cái cách khác nhau của mỗi loài; mặc dù mắt tai mũi lưỡi giống nhau nhưng sự ráp nối khác nhau. Ta hãy lấy thí dụ về máy vi tính. Các dữ liệu được nhập thông qua bàn phím và con chuột [mouse] là sáu thức. Chúng được lưu trữ như là các chủng tử được tích chứa trong kho chứa thức thứ tám (thức a-lại-da). Tại đó, chúng được đưa vào trung tâm xử lý để chờ xuất. Trung tâm xử lý dữ liệu đó là thức thứ bảy.” (27)
(… ) Tự bản chất, chúng là những dạng xung điện có và không, 1 và 0, nhưng do kết cấu của hệ thống vi mạch để nhận xung điện; rồi tùy theo lập trình mà chúng được đưa vào bộ vi xử lý để xử lý, cho ra kết quả với nhiều hình thái khác nhau trên màn hình: núi, sông, nhân vật; khóc, cười, yêu, ghét… đủ mọi cảnh đời. Tất cả đều là do sự ghép nối. Thuật ngữ Phật học gọi sự ghép nối ấy là phân biệt. Đôi khi nói thêm là phân biệt vọng tưởng. Phân biệt, nghĩa là cấu trúc lại thực tại.” (28)

Dẫn lại vài trích đoạn trên, tôi không cố ý muốn làm rối trí thêm độc giả về một vấn đề hết sức khúc mắc và tinh tế của Phật Giáo, đòi hỏi phải học hỏi và nghiền ngẫm lâu dài. Tôi chỉ muốn mọi người thấy rõ phương cách làm việc và tấm lòng cao cả của Thầy: tìm cách chuyển tải những vấn đề căn bản của Phật Giáo đến đại chúng thuộc mọi trình độ khác nhau bằng cách sử dụng một văn phong và lập luận rõ ràng, cụ thể.

***

Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ là một tu sĩ Phật Giáo, nhưng những gì Thầy để lại cho hậu thế không chỉ là để truyền bá đạo Phật và dành cho những người Phật tử, mà là một sự nghiệp văn hóa đa dạng, liên quan mật thiết đến cuộc nhân sinh, đến tư tưởng, đến nghệ thuật và những vấn đề nóng bỏng khác của dân tộc trong quá khứ cũng như trong thời hiện đại. Hòa thượng xứng đáng được vinh danh là một trong những khuôn mặt văn hóa tiêu biểu của Việt Nam. (Trần Doãn Nho) [qd]

———-

Chú thích:

(1) Trần Doãn Nho, “Thầy, trong trí tưởng,” trích từ “Căn phòng thao thức” (tập truyện), Văn Mới, California, 1997.

(2) Trần Doãn Nho, “Thầy, trong trí tưởng,” trích từ “Căn phòng thao thức” (tập truyện), Văn Mới, California, 1997.

(3) Trần Doãn Nho, “Thầy, trong trí tưởng,” trích từ “Căn phòng thao thức” (tập truyện), Văn Mới, California, 1997.

(4) “Tô Đông Pha, những phương trời viễn mộng,” trang 235, tập 3.

(5) “Dẫn vào thế giới văn học Phật Giáo,” trang 97, tập 2.

(6) Nguyễn Mộng Giác, “Đọc lại thơ Tuệ Sỹ,” trang 73, tập 1.

(7) “Thiên Lý Độc Hành,” trang 357, tập 1.

(8) Đặng Tiến, “Âm trầm Tuệ Sỹ,” trang 46, tập 3.

(9) “Tĩnh thất,” xem ở Thi Viện: thivien.net/Tu%E1%BB%87-S%E1%BB%B9/T%C4%A9nh-th%E1%BA%A5t/poem-mhbvNRVASQxwBEWwdO7jAA

(10) “Tô Đông Pha, những phương trời viễn mộng,” tập 3, trang 278.

(11) “Piano Sonata 14,” trang 238, “Sư Thiện Chiếu,” trang 247, “Gốc tùng,” trang 251, tập 1.

(12) “Piano Sonata 14,” trang 244, 245.

(13) “Piano Sonata 14,” trang 246.

(14) “Piano Sonata 14,” trang 246.

(15) “Thư gửi các tăng sinh Thừa Thiên – Huế,” trang 88, tập 2.

(16) “Đạo Phật với thanh niên,” các trang 126-133, tập 2.

(17) “Văn minh tiểu phẩm,” trang nhà Phật Việt, xem: https://thuvienphatviet.com/thich-tue-sy-van-minh-tieu-pham/

(18) “Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ kể lại một vài chi tiết về giai đoạn thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam và Hòa Thượng Thích Trí Thủ, xem Trang nhà “Thư viện Hoa Sen:” https://thuvienhoasen.org/a8191/thuong-toa-thich-tue-sy-ke-lai-mot-vai-chi-tiet-ve-giai-doan-thanh-lap-ghpgvn-va-ht-thich-tri-thu

(19) “Trí thức phải nói,” trang 90-94, tập 2.

(20) “Dẫn vào thế giới văn học Phật Giáo,” trang 96, tập 2.

(21) “Dẫn vào thế giới văn học Phật Giáo,” trang 98, tập 2.

(22) “Tư tưởng là gì?,” trang 136, tập 1.

(23) Thích Nguyên Siêu, “Hòa thượng Tuệ Sỹ, Trí Siêu, những thiên tài lỗi lạc,” trang 27, 28, tập 1.

(24) “Truy tìm tự ngã,” trang 178, tập 1.

(25) “Tâm ý thức,” trang 327, 328 tập 1.

(26) “Tâm ý thức,” trang 330, tập 1.

(27) “Tâm ý thức,” trang 331, tập 1.

(28) “Tâm ý thức,” trang 333, tập 1.

Hầu hết những tài liệu trích dẫn trong bài viết đều được lấy từ nguồn “Tuệ Sỹ – Những Phương Trời Viễn Mộng” tập 1, tập 2 và tập 3 do Nguyễn Hiền Đức (Santa Ana, California, Hoa Kỳ) thực hiện (2016).

-Tập 1: https://thuvienhoasen.org/images/file/MPQX8XyQ1AgQAFUK/tue-sy-nhung-phuong-troi-vien-mong-tap1.pdf

-Tập 2: https://thuvienhoasen.org/images/file/t8qYfIKQ1AgQAC0M/tue-sy-nhung-phuong-troi-vien-mong-tap2.pdf

-Tập 3: https://thuvienhoasen.org/a27659/tue-sy-nhung-phuong-troi-vien-mong-tap-3

Những bài viết nào của Tuệ Sỹ, các ghi chú liên hệ kèm theo chỉ ghi tên bài viết và số trang cùng số tập, mà không ghi tên tác giả.

Nếu trích dẫn từ bài của một tác giả khác, các ghi chú ghi tên tác giả đó, cùng với số trang và số tập.

Nếu bài viết lấy từ trang mạng khác, các ghi chú sẽ ghi rõ tên và đường nối dẫn đến địa chỉ trang mạng đó.



Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ viên tịch

Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, bậc cao tăng uyên bác từng bị nhà cầm quyền Việt Nam kết án tử hình, đã viên tịch lúc 4 giờ chiều Thứ Sáu, 24 Tháng Mười Một (nhằm ngày 12 Tháng Mười năm Quý Mão), tại chùa Phật Ân, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, theo Hội Đồng Hoằng Pháp thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN).

Theo bản tiểu sử do hội đồng đưa ra, “Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, thế danh Phạm Văn Thương, sinh ngày 15-2-1943 theo khai sanh (gia đình khai tăng tuổi để thầy đi học), tuổi thật sinh ngày 5 tháng 4 năm 1945 (nhằm ngày 23 tháng 2 năm Ất dậu), tại tỉnh Paksé, Lào.”

Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ húy thượng Nguyên hạ Chứng, đời thứ 44 Dòng Lâm Tế Chánh Tông và đời thứ 10 Thiền Phái Liễu Quán, là Chánh Thư Ký kiêm Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống GHPGVNTN. Sau một thời gian nằm bệnh viện, ông được đưa về chùa Phật Ấn hôm Thứ Năm.

Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ là một học giả uyên bác về Phật Giáo, nguyên giáo sư thực thụ của Đại Học Vạn Hạnh tại Sài Gòn, nhà văn, nhà thơ, dịch giả và là một người bất đồng chính kiến với nhà cầm quyền Việt Nam, theo trang mạng Quảng Đức.

Ông thông thạo tiếng Trung, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Pali, tiếng Phạn và tiếng Nhật, đọc hiểu tiếng Đức. Ông được giới học giả Việt Nam đánh giá cao vì đã công bố nhiều tiểu luận, chuyên khảo, thơ và nhiều công trình dịch thuật Phật Giáo từ tiếng Phạn, tiếng Trung và tiếng Nhật.

Lúc bị Việt Nam bắt năm 1984, ông và ông Thích Trí Siêu (Lê Mạnh Thát), được coi là hai nhà sư uyên bác nhất của Phật Giáo Việt Nam, đang soạn thảo quyển Bách Khoa Phật Học Đại Tự Điển.

Ông quy y Phật lúc 7 tuổi, học Phật pháp trong Viện Hải Đức tại Nha Trang, rồi sau đó là tại Thiền Viện Quảng Hương Già Lam tại Sài Gòn.

Ông tốt nghiệp Viện Cao Đẳng Phật Học năm 1964, Viện Đại Học Vạn Hạnh phân khoa Phật học năm 1965, được đặc cách bổ nhiệm là giáo sư thực thụ Viện Đại Học Vạn Hạnh từ năm 1970 nhờ nhiều công trình nghiên cứu và khảo luận triết học nổi tiếng.

Ông là chủ bút của tạp chí Tư Tưởng do Viện Đại Học Vạn Hạnh phát hành. Ông cũng làm thơ, viết một số truyện ngắn đăng trên tạp chí Khởi Hành (1969-1972), Thời Tập (1973-1975). Ngoài ra ông cũng hiểu biết rất nhiều về triết học Tây phương. Ông là người đầu tiên thuyết trình về Michel Foucault tại Việt Nam.

Sau năm 1975 ông về lại Nha Trang, đến năm 1977 thì vào sống tại Thị Ngạn Am, chùa Già Lam ở Sài Gòn. Đầu năm 1978 ông bị tù ba năm, đến năm 1980 thì được thả.

Ngày 1 Tháng Tư, 1984, ông bị bắt cùng với ông Thích Trí Siêu. Tổ chức Ân Xá Quốc Tế (AI) tin rằng nguyên nhân việc bắt giữ Thích Tuệ Sỹ và Thích Trí Siêu là do hai ông là thành viên của GHPGVNTN, một tổ chức tôn giáo Việt Nam không công nhận và thường xuyên đàn áp.

Tháng Chín, 1988, ông và ông Thích Trí Siêu bị Việt Nam tuyên án tử hình vì tội hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân. Tháng Mười Một, 1988, sau một cuộc vận động quốc tế, bản án giảm xuống còn tù chung thân. Ngày 1 Tháng Chín, 1998, ông được thả về từ trại Ba Sao-Nam Hà ở miền Bắc Việt Nam. Một năm sau, vì tiếp tục hoạt động cho GHPGVNTN, ông cùng với Hòa Thượng Thích Quảng Độ lại bị đe dọa giam giữ và bị công an triệu tập tra hỏi.

Theo di nguyện của Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ lập ngày 19 Tháng Chín, đăng tải trên trang mạng của Hội Đồng Hoằng Pháp GHPGVNTN, kim quan được quàn tại chùa Phật Ân ở Long Thành, tang lễ sẽ do Hòa Thượng Thích Minh Tâm làm trưởng ban tổ chức. Sau đó, nhục thân sẽ đưa đi hỏa táng và tro cốt rải ngoài khơi Thái Bình Dương.


 

Chris Pratt chuyển âm cho nhân vật chú mèo Garfield

HOLLYWOOD, California (NV) – Chú mèo màu cam thích ăn món lasagna sẽ tái ngộ với khán giả trong dự án mới nhất mang tên “The Garfield Movie” sau một thời gian tạm dừng vì Nghiệp Đoàn Diễn Viên Điện Ảnh và Liên Đoàn Nghệ Sĩ Truyền Hình và Truyền Thanh (SAG-AFTRA) đình công, với sự góp giọng của tài tử Chris Pratt.

Theo tin của trang mạng Movie Web, “The Garfield Movie” do hai hãng phim Columbia Pictures và Alcorn Entertainment hợp tác thực hiện, sau khi hợp đồng của hãng phim 20th Century Fox với hãng truyện Paws Inc., nơi nắm giữ bản quyền của Garfield, kết thúc.

Chris Pratt xuất hiện tại buổi công chiếu “Guardians of the Galaxy Vol.3” tại nhà hát Dolby Theatre ở Hollywood, California. (Hình: Rich Polk/Getty Images)

“The Garfield Movie” phiên bản người đóng từng được sản xuất và ra mắt khán giả vào năm 2004 mang tên “Garfield: The Movie” với tài tử Bill Murray đóng vai trò chuyển âm cho chú mèo Garfield.

Garfield nhân vật chú mèo màu cam, xuất hiện lần đầu tiên trong bộ truyện tranh cùng tên vào năm 1976, do họa sĩ Jim Davies sáng tạo, tạo nên sức hút lớn khi cả người lớn và trẻ em đều yêu mến. Không chỉ có truyện tranh mà sau này nhân vật Garfield còn được mở rộng ra, bao gồm cả phim hoạt họa, trò chơi điện tử và điện ảnh. Không chỉ vậy, chuỗi nhà hàng đồ ăn nhanh mang tên “GarfieldEAT” khai trương hồi năm 2018 cũng được ra mắt người hâm mộ tại một số thành phố lớn trên thế giới.

Ngoài Chris Pratt đảm nhận chuyển âm cho Garfield, bộ phim còn có sự tham gia của các diễn viên tên tuổi, bao gồm Samuel L. Jackson chuyển âm cho vai cha của Garfield, Harvey Guillen chuyển âm vai Odie – bạn thân của Garfield, và các diễn viên khác như Hannah Waddingham, Cecily Strong, Ving Rhames và Nicholas Hoult…

Chú mèo Garfield thích ăn lasagna rất được mọi người yêu thích. (Hình: 20th Century Fox)

Đây không phải là lần đầu tiên Chris Pratt đảm nhận vai trò chuyển âm trong bộ phim hoạt họa. Trước đó, anh từng chuyển âm cho nhân vật Mario trong bộ phim “The Super Mario Bros,” trở thành dự án có doanh thu cao nhất trong sáu tháng đầu năm 2023.

“The Garfield Movie” dự trù ra rạp vào ngày 24 Tháng Năm, 2024. (N.A) [qd]

1975 – thơ Thận Nhiên

Thận Nhiên

1975

Giải phóng và cách mạng. (Hình minh hoạ: Việt Báo)

thời ấy ai cũng như ai
buổi sáng cô lựa ra chiếc áo dài
xếp lại
bỏ vào giỏ mang đi

trưa đến trường dạy
giờ ra chơi cô lấy ra gói kẹo
bán cho lũ trẻ nhà nghèo không tiền
ngày nào cũng lỗ

chiều tan trường
con đường ngày mưa ngày nắng
cô đi bộ về
tiếng guốc gõ cầu thang mệt nhọc
tối nay nấu món gì?

tối cúp điện
bữa cơm độn sắn khoai
đèn dầu leo lét soạn giáo án
thời tóp mỡ và cá sô*
giải phóng và cách mạng

những chiếc áo dài không về
cà vạt áo vét cũng không về
chúng ở lại chợ trời
có lẽ rồi ra Hà Nội
có lẽ thành áo chú rể cô dâu ngày cưới

những đứa trẻ lớn lên, già đi
cô giáo qua đời
chuyện mới hôm qua mà lịch sử

 


LTS: Nhằm mục đích tạo thêm tình thân ái giữa bạn đọc và tòa soạn, nhật báo Người Việt trân trọng kính mời quý bạn đọc, thân hữu tham gia “Vườn Thơ Người Việt,” bằng tất cả mọi thể loại thơ. Xin gửi về địa chỉ email: [email protected], hoặc “Vườn Thơ Người Việt” 14771 Moran Street, Westminster, CA 92683


 

Buổi sáng bệnh viện – Thơ PN Thường Đoan

PN Thường Đoan

Buổi sáng bệnh viện

 

buổi sáng trong veo cuộc sống ở đầu sân. (Tranh: Nguyễn Trung)

mặt trời lên từ phía cơn đau
nung dỏ những tế bào đã chết
giọt máu cuối cùng trong tim ngỡ kiệt
chợt bùng lên thắm tươi.

mặt trời lên từ phía không nụ cười
lũ chim chóc rộn ràng vòm lá
màu xanh kéo tơ hy vọng
ta ghìm cơn đau

cố nuốt chút khí trời.
buổi sáng trong veo cuộc sống ở đầu sân
không giấu được màu xám cánh cửa phòng ly biệt
bụi trần rơi lạnh căm!

biết khi nào mặt trời không lên nữa?
hoa nắng tái xanh
tiếng chim rụng buồn.
mây vướng lại một vầng trắng mỏng
nụ cười trôi lãng đãng
phía hoàng hôn.

 


LTS: Nhằm mục đích tạo thêm tình thân ái giữa bạn đọc và tòa soạn, nhật báo Người Việt trân trọng kính mời quý bạn đọc, thân hữu tham gia “Vườn Thơ Người Việt,” bằng tất cả mọi thể loại thơ. Xin gửi về địa chỉ email: [email protected], hoặc “Vườn Thơ Người Việt” 14771 Moran Street, Westminster, CA 92683


 

Tác giả kiện OpenAI, Microsoft vì bị đạo văn

MANHATTAN, New York (NV) – Một nhóm tác giả đệ đơn kiện công ty kỹ nghệ khổng lồ Microsoft và công ty trí tuệ nhân tạo (AI) OpenAI đặt trụ sở tại Hoa Kỳ, cáo buộc hai hãng này đào tạo công cụ AI ChatGPT để sao chép tác phẩm của họ mà không có sự đồng thuận.

Trong đơn khiếu nại nộp lên tòa án liên bang Manhattan hôm Thứ Ba, 21 Tháng Mười Một, nhà văn Julian Sancton, nguyên đơn chính trong vụ kiện, cáo buộc rằng ông và hàng ngàn tác giả viết văn phi hư cấu khác không nhận được bất kỳ khoản bồi thường nào cho việc tác phẩm của họ bị AI sao chép.

Đơn khiếu nại nhấn mạnh Microsoft và OpenAI đạt được thành công tài chánh khi thương mại hóa các tác phẩm, kiếm được hàng tỷ Mỹ kim thông qua doanh thu từ các sản phẩm AI.

Một nhóm tác giả đệ đơn kiện công ty kỹ nghệ khổng lồ Microsoft và công ty trí tuệ nhân tạo (AI) OpenAI đặt trụ sở tại Hoa Kỳ, cáo buộc hai hãng này đào tạo công cụ AI ChatGPT để sao chép tác phẩm của họ mà không có sự đồng thuận (Hình: Sanket Mishra)

“Các tác giả thường dành nhiều năm lên ý tưởng, nghiên cứu và sáng tác. Trong khi OpenAI và Microsoft từ chối trả tiền cho các nhà văn, thì nền tảng AI của họ lại có giá trị rất lớn,” đơn kiện viết. “Cơ sở của nền tảng OpenAI không khác gì nạn trộm cắp tràn lan các tác phẩm có tác quyền.”

Bản khiếu nại cũng cáo buộc cả hai công ty hợp tác chặt chẽ trong việc tạo ra rồi sử dụng các sản phẩm AI, chẳng hạn như chatbot ChatGPT phổ biến, để nhận dạng và tạo nên chữ nghĩa do người dùng viết ra và “viết bản văn được hiệu chỉnh để bắt chước phản hồi bằng bản văn của con người.”

“Các bị cáo đã sao chép thương mại hàng triệu, có thể là hàng tỷ tác phẩm có tác quyền mà không trả thù lao cho tác giả, không có giấy phép và cũng không được phép,” đơn kiện viết. “Khi làm như vậy, họ vi phạm các quyền độc quyền của Nguyên Đơn Sancton cũng như các nhà văn và chủ bản quyền khác có tác phẩm bị sao chép và chiếm đoạt để đào tạo các mô hình trí tuệ nhân tạo.”

Các vụ kiện diễn ra trong bối cảnh gần đây có sự lung lay giữa hai công ty kỹ nghệ, khi Sam Altman, đồng sáng lập và Tổng Giám Đốc OpenAI, trở lại công ty chỉ vài ngày sau khi bị cho thôi việc do cuộc điều tra nội bộ của hội đồng quản trị.

Để đáp trả việc Altman bị đuổi việc, hơn 600 nhân viên OpenAI ký một bức thư ngỏ đe dọa sẽ nối gót Altman tại Microsoft nếu hội đồng quản trị hiện tại của công ty không từ chức.

OpenAI nổi danh nhờ việc ra mắt ChatGPT phổ biến vào Tháng Mười Một năm ngoái, một chatbot được hỗ trợ bởi AI, tự động trả lời giống con người khi được người dùng đặt câu hỏi theo cách thức tân tiến hơn kỹ nghệ trước đó.

Sự phổ biến của chatbot OpenAI làm cho các công ty kỹ nghệ lớn khác, gồm có cả Microsoft, buộc phải giới thiệu hoặc công bố các dịch vụ tích hợp AI của riêng họ trong năm nay.

Sancton, thay mặt cho nhóm nhà văn, đang yêu cầu hai công ty bồi thường thiệt hại “vì vi phạm quy mô lớn các tác phẩm có bản quyền, cũng như biện pháp khẩn cấp theo lệnh.” (TTHN)

Nhạc sĩ, nhà văn Nguyễn Đình Toàn qua đời, hưởng thọ 87 tuổi

FOUNTAIN VALLEY, California (NV) – Nhạc sĩ, nhà văn Nguyễn Đình Toàn, tác giả bài hát nổi tiếng “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên” và từng một thời phụ trách chương trình Nhạc Chủ Đề trên đài phát thanh Sài Gòn trước năm 1975, vừa qua đời lúc 7 giờ 15 phút tối Thứ Ba, 28 Tháng Mười Một, tại bệnh viện Fountain Valley, California, hưởng thọ 87 tuổi.

Tin này được anh Nguyễn Đình Thư, con trai cố nhạc sĩ, xác nhận với nhật báo Người Việt.

Nhạc sĩ, nhà văn Nguyễn Đình Toàn. (Hình: Người Việt)

Theo Wikipedia, ông Nguyễn Đình Toàn sinh ngày 6 Tháng Chín, 1936 tại huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh. Ông còn có bút hiệu Tô Hải Vân khi viết văn và Hồng Ngọc khi viết nhạc.
Năm 1954, ông di cư vào Nam.

Ông đóng góp nhiều sáng tác văn học nghệ thuật dưới nhiều dạng như tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch nói, và bút ký. Tác phẩm “Áo Mơ Phai” của ông đoạt Giải Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam Cộng Hòa năm 1973.

Ông cũng viết nhiều truyện dài đăng thành nhiều kỳ trên các báo miền Nam Việt Nam như tạp chí Văn, Văn Học và các nhật báo như Tự Do, Chính Luận, Xây Dựng, và Tiền Tuyến.

Sau năm 1975, ông bị bắt và giam học tập cải tạo 10 năm mới được thả. Năm 1998 ông cùng gia đình xuất cảnh sang Mỹ, định cư ở Nam California, và tiếp tục hoạt động trong lĩnh vực văn học nghệ thuật. (Đ.D.)

Mẹ bị buộc tội trấn nước con gái 9 tuổi gần Little Saigon

WESTMINSTER, California (NV) – Người mẹ 32 tuổi bị bắt tuần rồi đã ra tòa hôm Thứ Ba, 28 Tháng Mười Một, với cáo trạng sát hại con gái 9 tuổi tật nguyền trong bồn tắm ở nhà gần Little Saigon, rồi bỏ xó thi thể bé gái nhiều ngày đến khi cảnh sát phát giác.

Khadiyjah Aliyyah Pendergraph, cư ngụ ở Westminster, bị cảnh sát bắt hôm Thứ Sáu trong bãi đậu xe một khu mua sắm ở Aliso Viejo, vài giờ sau khi cảnh sát tìm thấy thi thể đang thối rữa của con gái bị can trong bồn tắm ở căn nhà dãy số 14100 đường Goldenwest Street, phía Tây của Little Saigon, theo Văn Phòng Biện Lý Quận Orange.

Pendergraph khai rằng đã tìm cách tự tử hơn một lần sau cái chết của con gái.

Người mẹ 32 tuổi bị bắt tuần rồi đã ra tòa hôm Thứ Ba, 28 Tháng Mười Một, với cáo trạng sát hại con gái 9 tuổi tật nguyền trong bồn tắm ở nhà gần Little Saigon, rồi bỏ xó thi thể bé gái nhiều ngày đến khi cảnh sát phát giác (Hình minh họa: Kat Wilcox/Pexels)

Con gái bị can tên là Victoria, công tố viên cho hay, phải ngồi xe lăn và không nói được.

Cha của bé gái đến nhà theo hẹn để đón con vào dịp Lễ Tạ Ơn, nhưng căn chung cư khóa cửa và không ai mở cửa cho ông.

Ông liền gọi cảnh sát vào ngày Thứ Sáu tuần rồi để trình báo con gái mình mất tích và nhờ cảnh sát đến nhà xem xét tình hình sau khi nhận được “tin nhắn đáng ngại từ vợ cũ của ông về con gái của hai người,” Văn Phòng Biện Lý cho biết.

Cảnh sát đến nơi và phá cửa vào nhà sau giữa trưa rồi tìm thấy bé gái. Không có ai khác ở nhà.

“Không lời nào tả xiết nỗi đau cùng cực khi biết rằng bé gái này còn không thể la lên cầu cứu khi mẹ bé nhấn bé xuống nước để rồi cắt lìa bé khỏi cuộc sống này quá bi thương, quá sớm,” Chánh Biện Lý Todd Spitzer phát biểu.

Động lực sát nhân và lý do Pendergraph có mặt ở Aliso Viejo không được công bố. Thời điểm chính xác bé gái bị sát hại không rõ, nhưng hồ sơ tòa án ghi ngày phạm tội là 19 Tháng Mười Một, năm ngày trước khi cảnh sát tìm thấy thi thể của bé gái.

Pendergraph đối diện mức án tối đa 25 năm đến chung thân trong nhà tù tiểu bang nếu bị phán có tội. (TTHN)

2025 Toyota Crown Signia: là xe SUV hay wagon?

LOS ANGELES, California (NV) – Tại hội chợ xe hơi LA Auto Show 2023, hãng Toyota đã trưng bày mẫu xe 2025 Toyota Crown Signia. Đây là một mẫu xe quan trọng trong chiến lược bán hàng của Toyota, thay thế cho mẫu xe Venza sẽ ngưng sản xuất sau năm 2024. Toyota xếp Crown vào phân khúc SUV cỡ nhỏ. Tuy nhiên, một số chuyên gia cho rằng Crown có hình dáng của một chiếc wagon nhiều hơn.

Theo trang mạng xe hơi jalopnik.com, wagon là một mẫu xe ít phổ biến tại Hoa Kỳ. Kiểu dáng thân xe mui dài này hiện chỉ còn lại một số mẫu xe ở Mỹ. Subaru Outback là chiếc wagon được ưa chuộng vào bậc nhất hiện nay. Một số mẫu wagon đắt tiền hơn là của các thương hiệu Audi, Mercedes và Volvo, đều của Châu Âu.

2025 Toyota Crown Signia sẽ thay thế cho mẫu xe Venza. (Hình của nhà sản xuất Toyota)

2025 Crown Signia có giá khởi điểm ước tính vào khoảng $45,000. Crown Signia rất giống mẫu xe Crown sedan/fastback, nhưng thân xe kéo dài để có thêm không gian chở hành lý, khiến nó thực dụng hơn. Mẫu xe này chỉ sử dụng hệ truyền động hybrid, là một thế mạnh của hãng Toyota. Crown Signia có thiết kế nội thất cao cấp, được trang bị nhiều vật liệu sang trọng và công nghệ cao cấp.

2025 Crown Signia được cho là mẫu xe trung gian giữa Toyota RAV4 Hybrid, mẫu xe SUV nhỏ gọn, và Highlander Hybrid, mẫu SUV cỡ trung. Signia là phiên bản được đổi tên của Crown Estate, là mẫu xe Toyota bán ở thị trường ngoài Mỹ. Về cơ bản, “Estate” là từ ưa thích để chỉ xe wagon ở những thị trường khác trên thế giới.

Các chuyên gia của Jalopnik cho rằng có một số quy tắc rõ ràng để xác định xem một chiếc ô tô có hình dạng wagon hay không. Thứ nhất, xe cần phải có một cửa sổ bên hông có thể nhìn trực tiếp vào khu vực chở hành lý. Thứ hai là phần mui xe (roofline) phải chiếm ít nhất 50% diện tích chở hành lý. Crown Signia rõ ràng có cả hai đặc điểm này. Và khi so sánh Signia với với các mẫu xe wagon khác hiện đang bán ở thị trường Mỹ, xe Signia chắc chắn là một chiếc xe mui dài.

Toyota có thể tuyên bố rằng 2025 Crown Signia là chiếc xe wagon hybrid duy nhất ở Mỹ. Nhưng thay vào đó, Toyota xếp Crown Signia vào một phân khúc xe SUV crossover. Lý do có thể là vì hiện nay, SUV là mẫu xe bán chạy hàng đầu tại Mỹ.

Chỉ có những người mê xe hơi thực sự mới quen thuộc với cái tên Crown. Và những người này cũng có thể ngay từ đầu sẽ lựa chọn cho mình mẫu xe Crown Signia sang trọng, với động cơ hybrid của Toyota với độ tin cậy tuyệt vời. Có lẽ vì vậy, việc gọi 2025 Crown Signia là SUV hay wagon không đáng quan tâm lắm. Vấn đề quan trọng nhất vẫn là chất lượng mà mẫu xe này đem lại cho người lái. (HD)

Ngũ Giác Đài thúc đẩy việc áp dụng võ khí sát thương AI

NATIONAL HARBOR, Maryland (NV) – Trí tuệ nhân tạo AI được quân đội Hoa Kỳ sử dụng tiến hành thử nghiệm các máy bay không người lái do thám cỡ nhỏ trong các nhiệm vụ của lực lượng đặc nhiệm và giúp đỡ Ukraine trong cuộc chiến chống Nga. AI theo dõi thể lực của binh sĩ, dự đoán khi nào máy bay của Không Lực cần bảo trì và giúp theo dõi các đối thủ trong không gian.

Giờ đây, Ngũ Giác Đài đang dự tính tăng cường hàng ngàn công cụ tự hành hỗ trợ AI tương đối rẻ tiền, có thể sử dụng được vào năm 2026 để theo kịp Trung Quốc. Sáng kiến đầy tham vọng – mang tên Replicator – tìm cách “thúc đẩy tiến bộ trong quá trình chuyển đổi quá chậm trong đổi mới quân sự của Hoa Kỳ, nhằm thúc đẩy các nền tảng nhỏ, thông minh, rẻ và dồi dào,” Thứ Trưởng Quốc Phòng Kathleen Hicks cho biết hồi Tháng Tám.

Mặc dù nguồn tài trợ đề án không chắc chắn và mơ hồ, nhưng Replicator dự trù ​​sẽ đẩy nhanh các quyết định khó khăn về kỹ nghệ AI trưởng thành và đủ tin cậy để đưa vào hoạt động – gồm có cả trên các hệ thống được võ khí hóa.

Lần đầu tiên máy bay U-2 Dragon Lady cất cánh với kỹ thuật trí tuệ nhân tạo điều khiển cùng phi công từ Căn Cứ Không Quân Beale, California, hôm 15 Tháng Mười Hai, 2020 (Hình: Luis A. Ruiz-Vazquez/US Air Force)

Có rất ít tranh cãi giữa các khoa học gia, chuyên gia và các viên chức Ngũ Giác Đài rằng trong vòng vài năm tới, Hoa Kỳ sẽ có võ khí sát thương tự động hoàn toàn. Và mặc dù các viên chức khẳng định con người sẽ luôn luôn nắm quyền kiểm soát, nhưng các chuyên gia cho rằng những tiến bộ về tốc độ vận hành dữ liệu và giao tế giữa máy với máy chắc chắn sẽ đẩy con người vào vai trò giám sát.

Điều đó đặc biệt đúng nếu như, theo dự tính, võ khí sát thương được khai triển hàng loạt trong các dàn máy bay không người lái. Nhiều quốc gia đang nghiên cứu chúng – và cả Trung Quốc, Nga, Iran, Ấn Độ hay Pakistan đều chưa ký cam kết do Hoa Kỳ khởi xướng về việc sử dụng AI trong quân sự một cách có trách nhiệm.

Chưa rõ liệu Ngũ Giác Đài hiện có đang chính thức đánh giá bất kỳ hệ thống võ khí sát thương tự động hoàn toàn nào để khai triển hay không, theo yêu cầu của sắc lệnh năm 2012. Phát ngôn viên Ngũ Giác Đài sẽ không tiết lộ.

Replicator nêu bật những thách thức to lớn về kỹ nghệ và nhân lực cho việc mua sắm và phát triển của Ngũ Giác Đài khi cuộc cách mạng AI hứa hẹn sẽ thay đổi cách thức chiến tranh bùng nổ.

“Bộ Quốc Phòng đang gặp khó khăn trong việc áp dụng các phát triển AI từ bước đột phá về máy tính tự học gần đây nhất,” Gregory Allen, cựu viên chức AI hàng đầu của Ngũ Giác Đài hiện đang làm việc tại Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Quốc Tế cho biết.

Danh mục đầu tư của Ngũ Giác Đài đầy ắp với hơn 800 đề án chưa được phân loại liên quan tới AI, nhiều đề án vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm. Thông thường, mạng lưới máy tính tự học và thần kinh đang giúp con người hiểu rõ hơn và tạo ra hiệu quả.

Một lãnh vực mà các công cụ AI đang theo dõi các mối đe dọa tiềm ẩn là không gian, biên giới mới nhất trong cạnh tranh quân sự.

Hoa Kỳ đặt mục tiêu theo kịp nhịp độ phát triển.

Một nguyên mẫu vận hành mang tên Machina được Lực Lượng Không Gian sử dụng sẽ tự động theo dõi hơn 40,000 vật thể trong không gian, điều phối hàng ngàn bộ dữ liệu hàng đêm với mạng lưới kính viễn vọng toàn cầu.

Thuật toán của Machina sắp xếp các cảm biến kính thiên văn. Thị giác máy tính và các mô hình ngôn ngữ lớn cho họ biết những đối tượng cần theo dõi. Và kiến trúc sư AI ngay lập tức vẽ lên trên các bộ dữ liệu vật lý và động lực học thiên văn, Đại Tá Wallace ‘Rhet’ Turnbull thuộc Bộ Tư Lệnh Hệ Thống Không Gian phát biểu tại một hội nghị vào Tháng Tám.

Trong số những nỗ lực liên quan tới sức khỏe có đề án thử nghiệm theo dõi sức khỏe của toàn bộ Sư Đoàn Bộ Binh Đệ Tam thuộc Lục Quân – hơn 13,000 binh sĩ. Thiếu Tá Matt Visser cho biết mô hình dự đoán và AI giúp giảm chấn thương và tăng hiệu suất.

Tại Ukraine, AI do Ngũ Giác Đài và các đồng minh NATO cung cấp giúp ngăn chặn sự xâm lược của Nga.

Các đồng minh NATO chia sẻ tin tức tình báo từ dữ liệu được thu thập bởi vệ tinh, máy bay không người lái và con người, một số được tổng hợp bằng nhu liệu từ nhà thầu Palantir của Hoa Kỳ. Một số dữ liệu có từ Maven, dự án AI tìm đường của Ngũ Giác Đài hiện phần lớn do Cơ Quan Tình Báo Không Gian Địa Lý Quốc Gia quản lý, các viên chức gồm có Tướng Không Quân nghỉ hưu Jack Shanahan, Giám Đốc AI mới nhận nhiệm sở của Ngũ Giác Đài cho biết. (TTHN)

Lễ tang Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ ở Đồng Nai, hàng ngàn người đưa tiễn

ĐỒNG NAI, Việt Nam (NV) – Lễ tang Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ được cử hành vào sáng 29 Tháng Mười Một, giờ Việt Nam, tại chùa Phật Ân, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

Các ảnh chụp và video clip được phát trực tiếp trên mạng xã hội, cho thấy hàng ngàn chư tăng, Phật tử từ khắp nơi tham dự lễ tang và tiễn đưa vị hòa thượng là Chánh Thư Ký Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Lễ tang Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ. (Hình: Facebook Phước Châu)

Hầu hết các báo ở Việt Nam đều không đưa tin này, ngoại trừ một, hai trang tin của Giáo Hội Phật Giáo do nhà nước kiểm soát.

Video clip về lễ tang phát trên trang Facebook “Thiệu Long Thánh Chủng” và nhiều trang khác thu hút hàng ngàn lượt xem và lượt bình luận bày tỏ sự thành kính.

Lễ tang Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ. (Hình: Facebook Phước Châu)

Facebooker “Le Van Quy”, một người tham dự lễ tang cho hay: “Người đi đưa tiễn đông nhưng rất trật tự và nghiêm trang.”

Theo bản cáo phó Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ được công bố, thi hài hòa thượng được hỏa táng tại Nhà Hỏa Táng Hòa Lạc Viên, Sala Garden, ở huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

Lễ di quan Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ. (Hình: Facebook Kien Trung Phan)

Tính đến trưa 29 Tháng Mười Một, dường như lễ tang diễn ra suôn sẻ, không bị giới an ninh phá sóng điện thoại hoặc ngăn cản các nghi thức.

Trong lúc tang lễ đang diễn ra, báo Giác Ngộ đăng chùm ảnh và cho biết “đông đảo Tăng Ni, Phật tử đã đến tham dự tiễn đưa.”

Theo bản tin, nghi thức cung thỉnh kim quan thăng thượng giá diễn ra “trong tiếng đồng thanh niệm Phật của chư tôn đức Tăng Ni, toàn thể Phật tử…”

Lễ di quan Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ. (Hình: Facebook Kien Trung Phan)

Hôm Thứ Hai, 27 Tháng Mười Một, Bộ Ngoại Giao Mỹ ra thông cáo ca ngợi Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, nói rằng: “Thay mặt cho người dân Mỹ, chúng tôi chia buồn sâu sắc tới người dân Việt Nam và các tín đồ trên toàn thế giới sau khi Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ viên tịch, đó là vị lãnh đạo lỗi lạc của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất…”

“Trong nhiều thập niên, Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ là một nhà đấu tranh không mệt mỏi cho quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng và các quyền con người liên quan, khiến chính quyền Việt Nam bỏ tù ông hơn một thập niên. Ông cũng là một học giả uyên bác, một nhà văn và triết gia có nhiều tác phẩm.” Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Mỹ Matthew Miller nói trong tuyên bố.

Các tăng ni tiễn đưa Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ. (Hình: Facebook Kien Trung Phan)

Một ngày trước lễ tang, nghi thức cung thỉnh giác linh (linh hồn đã giác ngộ) của Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ đã diễn ra tại Chùa Già Lam ở quận Gò Vấp, Sài Gòn theo nghi thức truyền thống Thiền Môn, trước ngày trà-tỳ.

Báo Giác Ngộ đưa tin này và đề cập đến sự tham dự của Giáo Sư Lê Mạnh Thát, “chư tôn đức là thân hữu của Hòa Thượng Tuệ Sỹ,” nhưng tránh nhắc chi tiết giáo sư này cũng chính là Hòa Thượng Thích Trí Siêu, người bị bắt giam và kết án tử hình cùng Hòa Thượng Tuệ Sỹ hồi thập niên 1980.

Giáo Sư Lê Mạnh Thát (Thích Trí Siêu), người thân cận của Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, trước giờ tiễn biệt người bạn của mình. (Hình: Facebook Phước Châu)

Tiến Sĩ Mạc Văn Trang bình luận trên trang cá nhân về số phận của Hòa Thượng Tuệ Sỹ và Trí Siêu khi được phóng thích: “…Thời đó chưa có Internet, mạng xã hội nên dân chúng chả biết gì, không tạo nên áp lực từ trong nước. Nhưng ông Nguyễn Văn Linh làm tổng bí thư và ông Đỗ Mười làm chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng (thủ tướng) hình như có lắng nghe lẽ phải và có quyền lực để ra lệnh được cho bên tư pháp (công an, Viện Kiểm Sát, tòa án) chấp hành.”

“Còn ngày nay, dường như mọi lời kêu oan, mọi thư kêu gọi, mọi tuyên bố, mọi dư luận trong và ngoài nước không tác động gì đến ông tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng, hoặc có nhưng các ông không đủ quyền lực để chi phối được ngành tư pháp? Cho nên hai vị [Hòa Thượng Tuệ Sỹ và Trí Siêu] vẫn còn chút may mắn hơn ngày nay chăng?”

Nhục thân của Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ được hỏa táng theo di nguyện của hòa thượng. (Hình: Cắt từ clip facebook Kien Trung Phan)

Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, bậc cao tăng uyên bác từng bị nhà cầm quyền Việt Nam kết án tử hình, đã viên tịch lúc 4 giờ chiều Thứ Sáu, 24 Tháng Mười Một (nhằm ngày 12 Tháng Mười năm Quý Mão), tại chùa Phật Ân, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. (N.H.K) [kn]

Tuệ Sỹ – ánh tà dương của một thời đại

Hiếu Chân/Người Việt

“Cọng lau gầy gánh nặng ánh tà dương” – trong thơ, thiền sư Tuệ Sỹ tự coi mình như một cọng lau gầy. Nhưng khi nằm xuống, cọng lau gầy ấy đã làm “chấn động cả đại ngàn” như nhận xét của một người viết trong nước. Quả thật, sự viên tịch của Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ ngày 24 Tháng Mười Một vừa qua đã gây cảm xúc mạnh cho rất nhiều người Việt cả trong và ngoài giáo hội Phật Giáo.

Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ. (Hình: Tài liệu)

Theo chương trình tang lễ do Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất công bố, hôm Thứ Bảy, 29 Tháng Mười Một, nhục thân của Hòa Thượng Tuệ Sỹ sẽ được trà tỳ (hỏa thiêu) tại Việt Nam.

Ở đây chúng tôi xin mạn phép không bàn về tài đức của ngài Tuệ Sỹ. Thầy Tuệ Sỹ để lại cho hậu thế một kho tàng lớn sách vở, trước tác, công trình nghiên cứu dịch thuật về triết học, văn chương. Ngoài ra, đã có hàng trăm bài viết trên mạng điện toán, của các bậc thức giả, của môn đồ pháp chúng về trí tuệ siêu việt và hạnh vô úy “Trí, Dũng” của bậc chân tu, bạn đọc dễ dàng tham khảo. Chúng tôi chỉ xin đề cập đến một khía cạnh ít được nói tới: thời đại, xã hội đã hun đúc nên một con người xuất chúng như Thầy Tuệ Sỹ, một nhà Phật học, nhà thơ, một người tù thế kỷ bất khuất trước bản án tử hình (sau đổi thành án chung thân), mà chế độ gán cho thầy đầu thập niên 1980.

Con người là sinh vật xã hội. Trí tuệ, tâm tính của một người có phần do thiên phú, do huyết thống, nhưng phần lớn là do ảnh hưởng của xã hội, của thời đại mà người đó sống, thông qua tác động của giáo dục, văn hóa và các mối giao tiếp. Tục ngữ đã nói “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” – tròn hay dài đâu phải là nghiệp số nhất thành bất biến. Nói theo từ ngữ của nhà Phật, nếu phần thiên phú là nhân thì môi trường xã hội là duyên để tạo nên quả; không gặp duyên lành hay môi trường thuận lợi thì nhân tốt cũng khó thành quả ngọt.

Cũng như nhiều bậc kỳ tài thuộc “thế hệ vàng” của miền Nam Việt Nam trước năm 1975, Thầy Tuệ Sỹ (sinh năm 1943 hoặc 1945) lớn lên trong không khí tự do dân chủ mới manh nha. Tuy chưa hoàn thiện, nhưng những quyền tự do căn bản minh định trong Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa 1967, cùng với nền giáo dục “dân tộc, nhân bản và khai phóng” đã tạo ra môi trường thuận lợi để phát triển tài năng và phẩm giá con người.

Tự do tư tưởng, tự do học thuật không bị gò bó vào một học thuyết, một chủ nghĩa cứng nhắc cho phép các bậc thức giả tìm tòi, nghiên cứu kho tàng trí tuệ của nhân loại, chắt lọc những tinh túy đem về phục vụ khai dân trí. Từ đó, chúng ta có những bậc trí thức thông kim bác cổ, tự do đàm luận, trước tác mà không sợ hãi. Chỉ riêng về nghiên cứu Phật học, trong một thời gian ngắn chừng mười năm, đã xuất hiện những học giả cao sâu như các hòa thượng Minh Châu, Huyền Quang, Nhất Hạnh, Trí Siêu và nhiều vị cao tăng khác mà Hòa Thượng Tuệ Sỹ là gương mặt tiêu biểu.

Tự do sáng tác cho phép các văn nhân, thi sĩ, nhạc thả trí tưởng tượng bay bổng và tạo ra những tác phẩm thấm đẫm tình người, tồn tại mãi với thời gian. Không ai giống ai, mỗi nghệ sĩ thực tài là một gương mặt riêng, một tiếng nói riêng, đem vào cái vườn hoa đầy hương sắc của văn nghệ miền Nam một giá trị độc đáo. Nhìn vào mọi lĩnh vực sáng tạo, từ triết học, văn nghệ tới khoa học ở đâu ta cũng thấy những cây đại thụ làm nên hình hài một nền văn hóa quốc gia.

Nghiên cứu không chỉ để nghiên cứu, sáng tác không chỉ vị nghệ thuật, đến lượt mình, những thành quả văn hóa ấy phục vụ công cuộc chấn hưng xã hội, xây dựng đạo lý, làm cho cuộc sống của người dân tuy chưa thật sự sung túc về vật chất nhưng đúng với phẩm giá con người. Nói cách khác, tự do dân chủ có ảnh hưởng sâu rộng tới đạo đức của xã hội chứ không chỉ ươm mầm và phát triển các tài năng.

So sánh với các xã hội độc tài thì thấy rõ. Không phải chế độ độc tài nào cũng đều làm băng hoại đạo lý, bóp chết các tài năng nhưng rõ ràng chế độ độc tài sử dụng bạo lực để tồn tại, tôn sùng sự giả dối và thù hận thì không thể là mảnh đất thích hợp để tài năng và đạo đức phát triển.

Chế độ toàn trị ở miền Bắc trong thời nội chiến và trên cả nước Việt Nam từ ngày 30 Tháng Tư, 1975, đến nay lại càng kinh khủng. Khi dối trá và bạo lực trở thành bản chất của chế độ cầm quyền thì mọi giá trị đạo đức bị đảo lộn, trắng thành đen, phải thành trái, người tài năng và đức hạnh bị những kẻ vô học nhưng thừa lòng tham và thủ đoạn đè đầu cưỡi cổ. Cứ xem trường hợp của hai nhạc sĩ cùng thời, Văn Cao và Phạm Duy, thì thấy – tài năng một chín một mười, nhưng Văn Cao khốn khổ sống lay lắt như chết dưới chế độ xã hội chủ nghĩa miền Bắc trong khi Phạm Duy phát tiết tinh hoa ở miền Nam, để lại một gia tài âm nhạc đồ sộ ít ai sánh nổi. Có vô số những ví dụ như vậy, cho thấy tự do và dân chủ là điều kiện cốt yếu của sự phát triển tài năng và đạo lý xã hội.

Nhưng như đã thưa trên, tự do và dân chủ ở miền Nam chỉ mới manh nha, chưa hoàn chỉnh và vững chắc như ở các nước tiên tiến. Hơn nữa, miền Nam kiến quốc trong hoàn cảnh chiến tranh tự vệ với một địch thủ cùng màu da cùng chủng tộc nhưng vô cùng xảo quyệt. Vì thế, những mầm mống tự do dân chủ đã bị lợi dụng để phá hoại từ bên trong bởi một thế lực gian ác nhưng giỏi ngụy trang dưới những lớp vỏ dân tộc, hòa bình, dân chủ. Văn minh bị thất bại trước dã man là điều đáng tiếc, là nỗi bất hạnh của dân Việt, nhưng không phải là chuyện gì khó hiểu; trong lịch sử một Athens văn minh rực rỡ đã phải thất thủ trước cuộc xâm lăng của Sparta man rợ trong cuộc chiến nổi tiếng Peloponnesian (431-404 Trước Công Nguyên).

Báo chí thiên tả Tây phương thời Chiến Tranh Việt Nam và đến tận bây giờ vẫn coi chế độ Cộng Hòa ở miền Nam Việt Nam như một chế độ thối nát, hoặc độc tài gia đình trị thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm hoặc độc tài quân phiệt thời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Nhưng với người miền Nam, đó là một chế độ nhân bản, tôn trọng dân chủ và tự do tuy ở mức hạn chế của thời chiến. Không có một chế độ nhân bản như vậy, sẽ không thể có những thành quả văn hóa rực rỡ còn chiếu rạng đến hôm nay.

Trở lại với sự ra đi của Thầy Tuệ Sỹ. Hơn một tuần qua, không chỉ môn đồ pháp quyến của thầy mà rất nhiều đồng bào trong và ngoài nước, Phật tử và tín đồ các tôn giáo khác, đều cảm thấy một sự mất mát to lớn. Cảm giác mất mát đó có phần do thực tế Thầy Tuệ Sỹ – trí huệ uyên thâm, đạo đức sáng rỡ – như là cây đại thụ cuối cùng của một cánh rừng những tài năng xuất chúng trưởng thành trong không khí tự do dân chủ buổi đầu kiến quốc ở miền Nam, một trí thức chân chính, một công dân đầy trách nhiệm với xã hội, đất nước và dân tộc.

Với Phật Giáo, sau các vị trưởng lão Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thầy Tuệ Sỹ có thể là bậc cao tăng cuối cùng gánh vác vận mệnh của giáo hội qua những truân chuyên của thời mạt pháp. “Cọng lau gầy trĩu nặng ánh tà dương,” gợi hình ảnh Thầy Tuệ Sỹ như ánh tà dương của một thời thịnh trị đang qua nhanh. Nỗi thương tiếc ngài Tuệ Sỹ có phần cũng là thương tiếc một thời đại, một chế độ nhân bản đã sớm thất bại và bị hủy diệt dưới bạo lực của cường quyền và gian trá.

Khi ánh tà dương Tuệ Sỹ vụt tắt, nhiều người vẫn hy vọng “hàng ngàn, hàng vạn tăng sĩ Phật Giáo đang âm thầm chuyên tâm tu tập chờ cơ hội đóng góp thiết thực cho đạo pháp và dân tộc,” nối gót chư tổ chấn hưng Phật Giáo và từ đó chấn hưng đạo lý của cả dân tộc. Nhưng chúng tôi không cảm thấy lạc quan như vậy. Nửa thế kỷ qua, đất nước chìm trong chế độ toàn trị nghiệt ngã nhất, chưa từng có trong lịch sử. Không chỉ Phật Giáo mà gần như toàn bộ hệ thống giá trị đạo lý đều đã bị phá hủy hoặc lũng đoạn trong một xã hội tôn sùng bạo lực và gian trá. Để vực dậy một nền kinh tế lạc hậu, người ta cần một thế hệ nếu có đường lối chính sách đúng đắn, nhưng để chấn hưng tinh thần và đạo đức của một dân tộc thì cần nhiều hơn thế, cần nhiều thế hệ với những nỗ lực vô cùng lớn trong một xã hội thật sự tự do, dân chủ và nhân bản.

Bao giờ đất nước ta có một thể chế tự do, dân chủ như vậy, chúng tôi không biết nhưng chắc hẳn sẽ không sớm như mong ước. [qd]

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ tưởng niệm Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ

Văn Lan/Người Việt

SANTA ANA, California (NV) – Hội Đồng Điều Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ (GHPGVNTNHK) cử hành Lễ Tưởng Niệm Hành Trạng và Công Hạnh của Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ vào chiều Chủ Nhật, 26 Tháng Mười Một, tại chùa Bát Nhã, Santa Ana, và cũng là Văn Phòng Điều Hành của GHPGVNTNHK.

Chư tôn đức tăng, ni và đồng hương Phật tử niệm hương trong lễ tưởng niệm Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, bậc cao tăng uyên bác từng bị nhà cầm quyền Việt Nam kết án tử hình, đã viên tịch lúc 4 giờ chiều Thứ Sáu, 24 Tháng Mười Một (nhằm ngày 12 Tháng Mười năm Quý Mão), tại chùa Phật Ân, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, theo Hội Đồng Hoằng Pháp thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Theo bản tiểu sử do hội đồng đưa ra, “Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, thế danh Phạm Văn Thương, sinh ngày 15-2-1943 theo khai sanh (gia đình khai tăng tuổi để thầy đi học), tuổi thật sinh ngày 5 tháng 4 năm 1945 (nhằm ngày 23 tháng 2 năm Ất dậu), tại tỉnh Paksé, Lào.”

Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ húy thượng Nguyên hạ Chứng, đời thứ 44 Dòng Lâm Tế Chánh Tông và đời thứ 10 Thiền Phái Liễu Quán, là Chánh Thư Ký kiêm Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống GHPGVNTN. Sau một thời gian nằm bệnh viện, ông được đưa về chùa Phật Ấn hôm 23 Tháng Mười Một.

Giác linh cố Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ trong lễ tưởng niệm. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Đại Đức Thích Đức Trí điều hợp chương trình buổi lễ, nói lời mở đầu: “Quả thật, không có ngôn từ nào đủ để miêu tả chính xác và đầy đủ về chân dung của một người nhỏ bé bề ngoài hiện thân nhưng quá khổ về tầm vóc của Thầy Tuệ Sỹ. Thầy không chỉ là một nhà tu, Thầy là một nhân vật lan tỏa vĩ đại với dấu ấn vĩ đại của lịch sử văn hóa Việt Nam. Thầy là nhà thơ, là nhà văn, là nhà nghiên cứu Phật học, Thầy là một triết gia, là thiền sư, là giảng sư của nhiều thế hệ. Thầy là một người rất Việt Nam, một con người phi thường, một con người ngoại hạng, tích lũy tất cả những gì cao quý trong con người rất bình dị này. Hôm nay GHPGVNTNHK long trọng thiết lễ truy tán công hạnh của Đại Lão Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ…”

Hòa Thượng Thích Nguyên Trí, phó chủ tịch nội vụ Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTNHK, viện chủ chùa Bát Nhã, trưởng ban tổ chức lễ tưởng niệm, phát biểu: “Khi nghe tin Hòa Thượng Tuệ Sỹ viên tịch, ai ai trong chúng ta cũng đều đau xót khi mất đi một bậc trí tuệ của Phật Giáo, của dân tộc. Nhắc lại công lao của Thầy đối với giáo hội, với dân tộc, thật sự là một con người rất đại hùng đại lực. Trong tất cả chúng ta ai cũng ngán Cộng Sản khi còn ở Việt Nam, nên phải bỏ nước ra đi vì chế độ, ngược lại Cộng Sản rất sợ ngài. Không người nào mà không quan tâm đến mạng sống, ấy vậy mà khi bị Cộng Sản lên án tử hình, ngài lại hiên ngang dám tuyên bố rằng ‘Tôi sẵn sàng bỏ thân mạng này chứ không bao giờ bỏ dân tộc tôi và Phật Giáo Việt Nam.’”

Hòa Thượng Thích Nguyên Trí (phải) nói về hành trạng Hòa Thượng Tuệ Sỹ. Bên cạnh là Giáo Sư Tiến Sĩ Huỳnh Tấn Lê. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

“Chính những lời như vậy mà Phật Giáo hiên ngang trước tất cả mọi đe dọa của Cộng Sản, và ngài sẵn sàng hy sinh không nhường bước trước bất cứ giai đoạn nào, nhất là những năm Cộng Sản muốn tiêu diệt Phật Giáo, nhưng ngài sẵn sàng thà chết chứ không bao giờ bỏ đạo. Chính nhờ hành động như vậy mà quý thầy tại quê nhà sẵn sàng đứng sau lưng để cùng ngài đứng ra lãnh đạo, làm cho ngọn đuốc chánh pháp và tinh thần dân tộc ngày càng vững mạnh, khiến ngày hôm nay gần như Cộng Sản phải bỏ những ý định tiêu diệt Phật Giáo và tất cả các tôn giáo khác nói chung. Vì vậy hôm nay chúng ta nơi đây cũng như tại quê nhà, tôi nghĩ rằng từ người trong đạo lẫn người ngoại đạo, nói chung là dân tộc Việt Nam ai ai cũng đau lòng khi mất đi một con người xứng đáng trong cương vị lãnh đạo,” hòa thượng tiếp.

“Ngày hôm nay chúng tôi rất vui mừng khi được chư tôn đức tăng già và toàn thể quý đạo hữu vân tập về đây cùng góp lời cầu nguyện cho ngài cao đăng Phật quốc để cứu độ chúng sanh ở cõi ta bà. Với bản nguyện của ngài, tôi nghĩ rằng chí nguyện của ngài là phục hưng Chánh Pháp, phục hưng cho ngôi nhà dân tộc vẫn chưa xong, và ngài sẽ trở lại với chúng ta, với dân tộc Việt Nam,” Hòa Thượng Nguyên Trí tiếp.

Hòa Thượng Thích Nguyên Siêu cung tuyên tiểu sử Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Tiếp đến, Hòa Thượng Thích Nguyên Siêu, tổng thư ký Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTNHK, cung tuyên tiểu sử Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, với cuộc đời hành đạo đã hy sinh cả cuộc đời mình để gìn giữ Phật Giáo Việt Nam, để tưởng niệm công đức sâu dày của một bậc thạc đức đã tận hiến đời mình cho Đạo Pháp và Dân Tộc.

Sau đó, ca sĩ Phong Dinh với tiếng đàn guitar của nhạc sĩ Trần Chí Phúc qua nhạc phẩm “Những Năm Anh Đi” thơ Tuệ Sỹ.

Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Chơn Thành, thượng thủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Trên Thế Giới, viện chủ chùa Liên Hoa, Garden Grove, trong đạo từ, nói lời cám ơn Hòa Thượng Tuệ Sỹ trong suốt cuộc đời đã tranh đấu cho giáo hội và cho con dân Việt Nam.

Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Chơn Thành chia sẻ về công trạng của Hòa Thượng Tuệ Sỹ. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

“Xin mọi người hãy noi gương Hòa Thượng Tuệ Sỹ tranh đấu cho cho sự tồn vong của giáo hội trong nước bị nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam hãm hại Phật Giáo Việt Nam. Chúng ta nhất tâm thanh tịnh tiễn đưa giác linh cố Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ về cõi Tây Phương Cực Lạc, cầu nguyện cho hòa thượng an nghỉ một thời gian ở cõi Tây Phương rồi sẽ trở lại trần gian giúp cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam an lạc và phát triển.”

Tiếp đến, Hòa Thượng Thích Kim Đài diễn ngâm bài thơ “Khung Trời Cũ,” một trong những bài thơ nổi tiếng của cố Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, khiến cả không gian như trầm mặc tiếng lòng một tâm hồn thi sĩ, bao trùm cả chân trời thi tứ Đông Tây.

Giáo Sư Tiến Sĩ Huỳnh Tấn Lê, tổng vụ trưởng Tổng Vụ Pháp Chế GHPGVNTNHK, đảnh lễ chư tôn đức tăng già, thưa rằng vì không đủ văn chương và tài ba để nói lên tất cả những cái hay cái đẹp của một siêu nhân Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, nên ông chỉ xin nói lời chân thành của một Phật tử bình thường, và nêu sáu công trạng nổi bật trong cuộc đời cố Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ:

Hòa Thượng Thích Kim Đài diễn ngâm bài thơ “Chân Trời Cũ” của Hòa Thượng Tuệ Sỹ. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

1. Ngài là một bậc đống lương kiệt xuất của GHPGVNTN, là một đại dịch giả Việt Nam vang danh và là một học giả uyên thâm, nhà tư tưởng, nhà văn, nhà thơ, một bậc thượng nhân mô phạm và thạch trụ trong chốn tòng lâm, một bậc Thầy của nhiều thế hệ tăng, ni và Phật tử Việt Nam.

2. Với trí tuệ thâm sâu, đạo hạnh cao vời, hòa thượng đã một đời cống hiến cho GHPGVNTN nói riêng, cho Phật Giáo Việt Nam nói chung, qua việc giảng dạy, biên khảo, sáng tác, dịch thuật vô số Kinh Luật cho nhiều thế hệ tăng, ni.

3. Hòa thượng cũng từng sát cánh với nhị vị Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ trong việc giữ gìn giềng mối của GHPGVNTN kinh qua những giai đoạn phong ba nghiệt ngã của đạo pháp và dân tộc.

4. Những năm tháng cuối đời, thân mang trọng bệnh, hòa thượng vẫn an nhẫn, kiên cường, cố gắng dựng lại một giáo hội đã có nhiều sự phân tán, đổ nát, đồng thời tái lập và điều hành công trình phiên dịch của Hội Đồng Phiên Dịch Tam Tạng bị dang dở từ sau năm 1975.

5. Hòa thượng đã sống một cuộc đời đáng sống, đã sống đầy hùng lực, dù đứng trước sự kết án tử hình. Trong trại tù, hòa thượng đã tuyệt thực 14 ngày không ăn uống, chính quyền đương thời buộc Thầy ký vào đơn xin khoan hồng để được tự do nhưng Thầy không đồng thuận, câu nói lịch sử của Thầy được lưu truyền “Các ông không có quyền ân xá hay khoan hồng với chúng tôi.” Cuối cùng họ phải nhượng bộ phóng thích Thầy vào ngày 1 Tháng Chín, 1998.

6. Công đức đóng góp của hòa thượng cho nền Phật Việt quả là không thể nghĩ bàn. Sự viên tịch của ngài là một mất mát rất lớn của Phật Giáo Việt Nam cận đại. Giờ đây, từ phương xa, con xin được chắp tay cung kính vọng bái về Giác Linh Hòa Thượng, ngưỡng nguyện Thầy về cảnh Phật an nhiên – từ bi tái hiện tùy duyên độ đời. Nam Mô Tiếp Dẫn Đại Sư A Di Đà Phật.

Ca sĩ Phong Dinh hát “Những Năm Anh Đi” thơ Tuệ Sỹ, do nhạc sĩ Trần Chí Phúc phổ nhạc và đệm đàn guitar. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Sau đó, chư tôn đức tăng, ni cùng trang nghiêm niệm hương trước giác linh cố Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, bạch Phật Cung Tiến Giác Linh cố hòa thượng.

Hòa Thượng Thích Nguyên Siêu cũng nhắc lại, vào lúc 4 giờ 30 phút chiều Thứ Bảy, 2 Tháng Mười Hai, sẽ có buổi lễ truy tán công hạnh và tưởng niệm Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ tại Tu Viện Đại Bi, 13852 Newland Street, Garden Grove, CA 92844.

Buổi lễ sẽ giới thiệu “Kỷ Yếu Tri Ân Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ” dày hơn 500 trang, với gần 100 tác giả viết về tư tưởng thi ca triết học, Kinh Luật Luận. Ban tổ chức cung thỉnh chư tôn đức tăng, ni và quý Phật tử tới tham dự. (Văn Lan) [qd]

Cựu tù chính trị Nguyễn Viết Dũng trốn ra khỏi Việt Nam

NGHỆ AN, Việt Nam (NV) – Cựu tù chính trị Nguyễn Viết Dũng cho hay ông đã trốn khỏi Việt Nam thời gian gần đây vì nguy cơ đi tù lần thứ ba.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn của đài Á Châu Tự Do (RFA), ông Nguyễn Viết Dũng, 38 tuổi, đã lén trốn ra khỏi nhà ở xã Hậu Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, nơi ông đang bị quản chế năm năm sau khi đã ở tù sáu năm vì bị vu cho tội “tuyên truyền chống” chế độ độc tài sắt máu.

Ông Nguyễn Viết Dũng, cựu tù chính trị, đã trốn khỏi Việt Nam. (Hình: Facebook Nguyễn Viết Dũng)

“Họ nói rằng bản án thứ ba đang chờ sẵn tôi lần này mức án sẽ không có nhẹ nhàng như sau sáu năm về trước nữa đâu, sẽ hơi lâu. Khi đó tôi nghĩ rằng những người làm việc với tôi là những người bên PA02, là cơ quan an ninh điều tra, họ có quyền đề nghị hoặc là bắt tôi cho nên tôi tin rằng lúc đấy là họ không có nói đùa,” lời ông Dũng nói với đài RFA ngày 27 Tháng Mười Một.

Thật ra những lời này đã được ông lặp lại khi ông thuật lại buổi “làm việc” với Công An Nghệ An cách đây ít ngày và được ông kể lại nội dung khá dài trên trang Facebook cá nhân gần như một cuộc hỏi cung một nghi can với những lời đe dọa buộc ông phải suy nghĩ trốn đi hay ở lại để chịu đựng tiếp.

Theo những gì ông kể lại buổi làm việc vừa nói trên Facebook, ông bị chất vấn về trả lời phỏng vấn của đài RFA những ngày tháng ở tù và các bài viết sau khi ra tù khiến nhà cầm quyền tức giận. Ông tố cáo ông bị tra tấn, ép cung nhưng làm đơn yêu cầu xét lại bản án không được cứu xét. Ông nêu tình trạng sức khỏe vô cùng tồi tệ của bạn tù Vũ Quang Thuận mà không hề được chữa trị.

Theo ông Dũng, ông phải trốn ra khỏi Việt Nam thì mới có thể sống và nói hay viết những gì mình nghĩ trong đầu mà không bị bắt tội. Một chế độ độc tài khắc nghiệt như Việt Nam hiện nay thì ai cũng đều là “chuẩn tù nhân” khi nói hay làm những điều ngược với ý muốn của kẻ cầm quyền.

“Với những áp lực như vậy thì tôi thấy rằng là nếu tôi còn ở Việt Nam thì không thể nào có tự do tư tưởng được, tôi không thể nào nói ra những gì mà mình suy nghĩ, không thể nào biểu đạt ý kiến của tôi một cách ôn hòa được,” lời ông Nguyễn Viết Dũng nói với đài RFA.

Ông Nguyễn Viết Dũng tại phiên tòa sơ thẩm ngày 12 Tháng Tư, 2018, với bản án sáu năm tù. (Hình: Pháp Luật TP.HCM)

Trước đó, ông đã bắn tiếng trên Facebook: “Đấy các bạn ạ. Nếu các bạn sinh sống tại Việt Nam hoặc đã quen với môi trường ở Việt Nam, hẳn các bạn thừa biết rằng chỉ cần với mỗi việc ‘rắc hành vào tô phở’ (ai chưa biết mời Google ‘Thánh rắc hành’) còn bị bỏ tù năm năm sáu tháng nữa là với những gì rõ ràng như trên. Trên đây chỉ là phần nổi của tảng băng chìm cho những gì mà mình đã phải trải qua từ khi ra tù. Có lẽ bây giờ các bạn cũng đã hiểu lý do vì sao mình tạm rời khỏi nơi cư trú.”

Ông Nguyễn Viết Dũng, biệt danh Dũng Phi Hổ, bị bắt ngày 27 Tháng Chín, 2017, rồi bị kết án sáu năm tù ngày 12 Tháng Tư, 2018, khi bị vu cho tội “tuyên truyền chống nhà nước…” qua các bài viết trên Facebook. Trước đó, ông đã bị bỏ tù 12 tháng vì mang huy hiệu Lực Lượng Đặc Biệt Việt Nam Cộng Hòa đi biểu tình ở Hà Nội.

Ông Nguyễn Viết Dũng không phải người đầu tiên. Nhiều cựu tù chính trị đã tìm cách trốn ra khỏi Việt Nam, phần lớn vượt biên đường bộ tới Thái Lan rồi xin Văn Phòng Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc giúp đỡ đi định cư tại một quốc gia thứ ba. Tuy nhiên, một số người bị đặc tình Việt Nam bắt cóc về nước bỏ tù như Đường Văn Thái, Trương Duy Nhất. (TN) [qd]

Vương Hương Pianist

Ông Hồ Đức Sung

Bà Catherine Hoàng Thi Hương

Phi cơ bay xuyên Đại Tây Dương đầu tiên dùng nhiên liệu xanh

LUÂN ĐÔN, Anh Quốc (NV) – Chuyến bay xuyên Đại Tây Dương đầu tiên của một phi cơ chở khách kích cỡ lớn chỉ vận hành bằng nhiên liệu thay thế đã cất cánh và đáp xuống Hoa Kỳ.

Điều hành bởi Virgin Atlantic, phi cơ Flight100 bay từ Heathrow tại Luân Đôn tới phi trường JFK ở New York.

Các hãng hàng không coi chuyến bay được chính phủ hỗ trợ là minh chứng cho thấy một cách bay xanh sạch hơn là khả thi.

Chuyến bay đầu tiên dùng nhiên liệu hàng không bền vững (SAF) Virgin Atlantic Flight100 từ Anh Quốc đã đáp xuống Hoa Kỳ hôm 28 Tháng Mười Một, 2023 (Hình: Virgin Group)

Nhưng việc thiếu nguồn cung ứng nhiên liệu vẫn là một thách thức trong khi cần có kỹ nghệ khác để đạt mục tiêu phát thải.

Cho đến nay, chuyến bay này là chuyến bay duy nhất sử dụng loại nhiên liệu này và không chở hành khách trả tiền vé. Tỷ phú Richard Branson, nhà sáng lập Virgin Group, có mặt trên chuyến bay.

Nhiên liệu hàng không bền vững (SAF) có thể được sản xuất từ nhiều nguồn khác nhau, gồm có cây trồng, rác thải sinh hoạt và dầu ăn.

Đối với chuyến bay này, một chiếc Boeing 787 có 50 tấn nhiên liệu SAF. Hai loại nhiên liệu đang được sử dụng, với 88% có nguồn gốc từ chất béo thải và phần còn lại từ chất thải sản xuất bắp tại Hoa Kỳ.

Sau khi thí nghiệm và phân tích, chuyến bay được Cơ Quan Hàng Không Dân Dụng Anh Quốc chuẩn thuận đầu tháng này. Một số công ty tham gia vào đề án gồm có nhà sản xuất động cơ Rolls-Royce và tập đoàn năng lượng danh tiếng BP.

Ngành hàng không đặc biệt khó khử carbon, nhưng các ông chủ hãng hàng không coi SAF là công cụ hiệu quả nhất hiện có để giúp giảm lượng khí thải ròng xuống bằng không.

Phi cơ vẫn thải ra carbon khi chạy bằng SAF, nhưng ngành công nghiệp cho biết “lượng khí thải trong vòng đời” của những loại nhiên liệu này có thể thấp hơn tới 70%.

Shai Weiss, tổng giám đốc Virgin Atlantic, cho biết chuyến bay hôm Thứ Ba, 28 Tháng Mười Một của hãng hàng không này “chứng minh… rằng nhiên liệu có nguồn gốc hóa thạch có thể được thay thế bằng nhiên liệu hàng không bền vững”.

SAF từng được áp dụng với số lượng nhỏ, pha trộn với nhiên liệu phi cơ phản lực truyền thống, nhưng chỉ chiếm chưa tới 0.1% lượng nhiên liệu hàng không tiêu thụ toàn cầu.

Hiện tại, SAF có giá cao hơn dầu hỏa và số lượng tương đối nhỏ được tạo ra. Phi cơ thường chỉ được phép sử dụng tối đa 50% hỗn hợp.

Hiện không có nhà máy SAF thương mại chuyên biệt nào tại Anh Quốc, dẫu cho mục tiêu của chính phủ là xây cất năm nhà máy vào năm 2025, được rót tiền bằng nguồn vốn tài trợ.

Các hãng hàng không coi chuyến bay đường dài đầu tiên của phi cơ dân dụng kích cỡ lớn sử dụng 100% SAF là cột mốc quan trọng. Nhưng các chuyên gia cho rằng loại nhiên liệu đó không phải là phát súng thần kỳ.

Các bộ trưởng Vương Quốc Anh và lãnh vực hàng không khẳng định họ tin rằng “số không ròng” vào năm 2050 là khả dĩ khi số lượng hành khách ngày càng tăng.

Chính phủ Anh Quốc có kế hoạch yêu cầu 10% nhiên liệu hàng không phải là SAF vào năm 2030.

Airlines UK, đại diện cho các hãng hàng không đăng bạ tại Vương Quốc Anh, cho biết họ phải có khả năng tiếp cận đủ nhiên liệu SAF có giá cả phải chăng để đáp ứng yêu cầu này, trong đó càng nhiều càng tốt đến từ Anh Quốc. (TTHN)

Tin mới cập nhật