Dân Sài Gòn vẫn phải tiêu thụ 50% thực phẩm bẩn

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Theo ông Nguyễn Tấn Bỉnh, giám đốc Sở Y Tế Sài Gòn, nếu tính quy mô toàn thành phố Sài Gòn thì vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm chiếm trên 50%. Do đó, vẫn còn khoảng hơn một nửa thực phẩm đang tiêu thụ trên địa bàn thành phố là chưa an toàn.

Tại phiên họp chiều 5 Tháng Bảy của kỳ họp thứ 5 Hội Đồng Thành Phố Sài Gòn khóa IX, các đại biểu đánh giá vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm còn nhiều bất cập từ khâu sản xuất đến vận chuyển, chế biến và tiêu dùng.

Theo phúc trình của Sở Y Tế, hiện nay ở Sài Gòn có 240 chợ truyền thống, siêu thị và hơn 19,000 cửa hàng ăn uống đường phố. Kết quả kiểm tra các chợ, cơ sở kinh doanh ăn uống, tỉ lệ vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm rất cao, mặc dù chính quyền có nhiều chương trình “nâng cao quản lý an toàn thực phẩm,” nhưng các giải pháp chưa đủ để người dân sử dụng được thực phẩm an toàn.

Cụ thể, trong quá trình xuất thực phẩm nguyên liệu hiện tại vẫn còn dư lượng kháng sinh trong chăn nuôi, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, trong khi khâu chế biến thì việc sử dụng chất phụ gia, hương liệu vẫn tồn tại. Chưa hết, đến khâu vận chuyển lưu thông, việc sử dụng các chất bảo quản, chất cấm vẫn chưa được kiểm soát chặt chẽ.

Báo điện tử Một Thế Giới dẫn lời Giám Đốc Sở Y Tế Nguyễn Tấn Bỉnh thừa nhận vấn đề kiểm soát an toàn thực phẩm hiện vẫn còn khó khăn, việc xử phạt vẫn còn khiêm tốn và vẫn chưa kiểm soát được nhiều cửa hàng ăn uống, thức ăn đường phố nhỏ lẻ…

Ông cho hay, trong hai năm 2015 và 2016, đoàn thanh tra liên ngành ba sở gồm Y Tế, Nông Nghiệp-Phát Triển Nông Thôn, Công Thương đã tiến hành kiểm tra 98,000 cơ sở thực phẩm, phát hiện 15,000 cơ sở vi phạm, xử phạt hơn 11,000 cơ sở.

Đại biểu Nguyễn Mạnh Trí nói rằng kết quả khảo sát này khiến ông cùng người dân cực kỳ hoang mang. Bởi lẽ, từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ, khâu nào người dân cũng không thấy yên tâm 100%. Đặc biệt, trong khi chờ kiểm nghiệm thì thực phẩm đã được tiêu thụ hết cũng là vấn đề khiến các đại biểu lo ngại. (Tr.N)

Tổng Giáo Phận Sài Gòn bắt đầu trùng tu nhà thờ Đức Bà

Người-Việt TV Phỏng vấn nhà báo Bùi Tín-kỳ 2(1/2)

Nhà báo Đinh Quang Anh Thái, Người-Việt TV phỏng vấn nhà báo Bùi Tín đến từ nước Pháp.
Một số suy nghĩ và nhận định của ông Bùi Tín về tình hình chính trị Việt Nam hiện nay. Những phân hóa ngày càng sâu sắc và rõ nét giữa “ Ý Đảng và Lòng dân “. Một xã hội phồn vinh giả tạo, nợ công chồng chất, đang bị xâu xé bỡi các nhóm đặc quyền lợi ích mà trên hết là Đảng Cộng sản Việt Nam, với guồng máy cai trị nô dịch cho Trung Cộng.

Người-Việt TV Phỏng vấn nhà báo Bùi Tín-kỳ 2(2/2)

Nhà báo Đinh Quang Anh Thái, Người-Việt TV phỏng vấn nhà báo Bùi Tín đến từ nước Pháp.
Một số suy nghĩ và nhận định của ông Bùi Tín về tình hình chính trị Việt Nam hiện nay. Những phân hóa ngày càng sâu sắc và rõ nét giữa “ Ý Đảng và Lòng dân “. Một xã hội phồn vinh giả tạo, nợ công chồng chất, đang bị xâu xé bỡi các nhóm đặc quyền lợi ích mà trên hết là Đảng Cộng sản Việt Nam, với guồng máy cai trị nô dịch cho Trung Cộng.

Bé gái gốc Việt mắc bệnh hiểm nghèo, được cựu chiến binh Mỹ cứu mạng

ROSEVILLE, California (NV) – Em Trish Trần, học sinh lớp 9, sống ở Roseville, một thị trấn nhỏ ở phía Bắc Sacramento, California, vừa được gặp một cựu chiến binh Mỹ, người gốc Philippines, mà em không quen biết, nhưng lại là ân nhân cứu mạng em, hôm 1 Tháng Bảy tại San Jose. Đó là anh Conrado Calanoc, hiện đang sống ở miền Nam California, và là người hiến tủy giúp em vượt qua căn bệnh hiểm nghèo, có tên là Aplastic Anemia.

Câu chuyện xảy ra thật bấy ngờ và kết thúc như một cuốn phim có hậu.

Tháng Năm, 2015, đi học về, em kêu mệt với mẹ.

“Tôi không nghĩ gì cả. Cháu kêu mệt thì tôi nói cháu nằm nghỉ một lát, rồi ra ăn uống một miếng gì đó là khỏe ngay thôi,” bà Nga Trần, mẹ của em, kể. “Không dè cháu càng ngày càng thấy mệt mỏi hơn. Lúc đó tôi để ý thấy chân cháu có những vết đỏ.”

Đi khám, bác sĩ chưa thể định bệnh ngay được. Ông chỉ mong rằng đây là chứng sốt xuất huyết vì nhẹ nhất cho em.

Khi có kết quả thử máu sơ lược, bác sĩ cho hay, lượng hồng huyết cầu của Trish quá thấp.

Rồi những cuộc thử máu kế tiếp cho thấy Trish bị một chứng rối loạn máu rất hiếm gặp, có tên là Aplastic Anemia.

Thông thường, những người bị bệnh này chỉ sống được vài tháng.

Trish cùng cha mẹ, ông Dzũng Trần và bà Nga Trần. (Hình: Dzũng Trần cung cấp)

Bệnh này khiến cơ thể Trish không sản xuất đủ máu, làm em thấy mệt mỏi, không thể chống đỡ khi bị nhiễm độc và máu không thể đông được.

“Nghĩa là dù bị nội thương nhẹ, khi bị chảy máu bên trong, cháu sẽ bị nguy hiểm đến tính mạng ngay,” bà Nga giải thích.

Vì cơ thể em không tự cung cấp đủ máu, Trish cần vô máu và tiểu cầu (platelet) hàng tuần.

“Có khi một tuần hai lần,” ông Dzũng Trần, cha em, hồi tưởng.

Trish phải ra vô bệnh viện quá thường xuyên đến nỗi bệnh viện gởi một y tá riêng, chuyên vô máu tại nhà cho em. Nhưng chuyện vô máu chỉ là biện pháp tạm thời thôi.

Phương pháp điều trị duy nhất cho bệnh này là cấy tủy của người hợp máu.

Ông Dzũng nói: “Là cha mẹ, chúng tôi thử máu trước tiên, nhưng cao lắm chỉ là có 50% hợp với cháu thôi. Thường thường, dù là anh chị em ruột cũng chỉ có 30% hợp.”

Nhớ lại thời gian kinh khủng đó, ông Dzũng tiếp: “Lúc đó, chúng tôi chỉ trông mong vào những người gốc Việt hiến tủy, mà số người tình nguyện làm việc này quá ít ỏi, dù là để cứu sống một mạng người.”

Trish là học sinh xuất sắc, từng được bằng khen của Tổng Thống Barack Obama.

Ông Dzũng cho biết, thời gian ấy, cả hai vợ chồng ông hy vọng mọi việc sẽ tốt đẹp, nhưng cũng đã chuẩn bị cho trường hợp xấu nhất rồi.

Trish cười tươi bên người cứu mạng mình. (Hình: Dzũng TRần cung cấp)

Bà Nga kể: “Vô máu như vậy đâu có yên thân. Có bữa gặp máu không hợp, cháu bị lở miệng, hoặc ngứa ngáy toàn thân, rồi bị sạn thận nữa.”

Sạn thận làm Trish rất đau đớn, nhưng bác sĩ không thể giải phẫu để lấy ra vì máu em sẽ chảy hoài, không cầm được.

“Cháu mới 12 tuổi. Lúc ấy, tôi chỉ còn biết trông mong vào niềm tin tôn giáo. Là Phật tử, tôi cầu xin với Đức Quán Thế Âm Bồ Tát,” ông Dzũng kể. “Rồi gần như ngay sau đó, cục sạn của cháu, không hiểu vì lý do gì, vỡ vụn ra và cháu bớt đau ngay.”

Ông nói với giọng vui mừng: “Thật may mắn, hội Asian American Donor Program (AADP) tìm được người hợp tủy với cháu. Hợp tới 97% lận.”

Thường thì những người cùng một dân tộc dễ hợp tủy với nhau hơn. Nhưng trong trường hợp này, người hợp tủy với Trish lại là một thanh niên gốc Philippines, 23 tuổi.

Người thanh niên tốt bụng này tên Conrado Calanoc.

Ngày 6 Tháng Tư, 2016, Trish vào bệnh viện của đại học UC San Francisco để làm giải phẫu cấy tủy.

Lúc đó, anh Conrado là lính Hải Quân Mỹ, đóng ở Seattle, Washington. Khi bệnh viện liên lạc, anh đang ở California nghỉ mát.

“Tất cả, tôi chỉ hiến tủy có ba lần là xong. Mỗi lần chưa đến một tiếng và không hề đau đớn gì cả,” anh Conrado nói. “Trong vài tuần sau đó, tôi thấy hơi khó chịu ở gần hông một chút xíu, và mọi sinh hoạt của tôi không hề bị gián đoạn gì cả.”

Theo qui định bảo mật, ít nhất là 365 ngày sau khi cấy tủy thì người hiến và người nhận mới được gặp nhau, một phần để bác sĩ biết chắc không có biến chứng gì.

Hôm 1 Tháng Bảy, 400 ngày sau khi cấy tủy xong, Trish và Conrado gặp nhau lần đầu.

“Cảm xúc của tôi lúc ấy rất là ‘siêu thực,’” anh Conrado nói. “Trish khóc. Tôi cố cầm lòng nhưng không nhớ có được không.”

Anh tâm tình: “Đó là một cảm giác mà tôi không bao giờ quên được. Tôi rất vui vì nhờ một đóng góp nhỏ bé của mình mà cứu được một người.”

Anh thành thật nói: “Người ta gọi tôi là anh hùng vì đã cứu sống Trish. Nhưng thật sự, Trish và cha mẹ cô mới chính là anh hùng vì cả ba đã vượt qua bao nhiêu thử thách để có được hôm nay. Phần tôi, tôi chỉ hiến tủy mà thôi.”

Anh thêm: “Nếu sau này, Trish cứu sống được người khác nữa thì đây là một chuyện rất đẹp.”

Ông Dzũng nói: “Chúng tôi chưa bao giờ đầu hàng, nhưng ý nghĩ tuyệt vọng, có lúc đã đến với chúng tôi. Nhờ trời, nhờ Phật dun dủi cho AADP tìm được Conrado để giúp con tôi.”

Bà Nga nói: “Tôi mong rằng Trish sẽ sống một cuộc đời rất xứng đáng để đền đáp lại phép lạ này.”

Về phần Trish, em sẽ cố gắng tiếp tục lấy toàn điểm A như từ trước đến giờ.

“Em sẽ học ngành bác sĩ nhi khoa và đi đến các nước nghèo để giúp trẻ em ở đó. Em cũng sẽ học thêm ngành nghiên cứu ung thư nữa,” Trish nói.

AADP, có trang web là www.aadp.org, là một tổ chức bất vụ lợi, chuyên tìm người hiến tủy cho người cần tủy.

AADP từng giúp nhiều người gốc Á Châu mắc bệnh hiểm nghèo thoát chết.

“Nhiều năm làm việc với bệnh nhân, lúc nào chúng tôi cũng hồi hộp khi chứng kiến cảnh người hiến tủy gặp người nhận tủy,” ông Jonathan Leong, sáng lập viên AADP, nói.

Chuyện của Trish là trường hợp hy hữu.

Trong số 816,000 người ghi danh hiến tủy, chỉ có 4% là người gốc Việt.

“Vì thế, chúng tôi cần mở rộng và tăng cường con số này để những người gốc Việt bị ung thư máu có cơ hội sống sót,” bà Carol Gillespie, giám đốc AADP, nói.

Mọi chi tiết về AADP, liên lạc Sally Douglas Arce qua điện thoại 510-525-9552 hay email [email protected].


Liên lạc tác giả: [email protected].

Mời độc giả xem bình luận “Dũng Sĩ và Tiến Sĩ” (Phần 1)

STTD Tưởng Năng Tiến – Giữa cơn gió bụi

“Lịch sử không có chữ NẾU. Nhưng, đôi khi tôi vẫn cứ không cầm lòng được, suy nghĩ vẩn vơ, Việt Nam sẽ ra sao, nếu từ Tháng Tám, 1945, vẫn là ‘Chính phủ Trần Trọng Kim…’” Huy Đức

Tuần rồi, trên trang Dân Luận có một bài viết ngắn nhưng rất súc tích của tác giả Mạnh Kim. Xin được ghi lại đôi dòng:

“Lại thêm một quyển sử bị cấm phát hành. Lần này là Một Cơn Gió Bụi của học giả Trần Trọng Kim. Không chỉ là ‘một cơn gió bụi,’ hồi ký của Lệ Thần Trần Trọng Kim, một tượng đài văn hóa Việt Nam thế kỷ 20, thật ra là một ‘cơn bão’ xét dưới góc độ kiểm duyệt hiện hành. Nó tiết lộ các chi tiết về ‘một góc đời thường’ Hồ Chí Minh, về vai trò rất ít được biết của Võ Nguyên Giáp, về những ngày tranh giành quyền lực và triệt hạ nhau giữa Việt Minh với các đảng phái đối thủ mà Việt Minh có khi không ngần ngại dùng ‘mền trùm đầu rồi bắt đi mất tích.’ Việt Minh, theo miêu tả trong Một Cơn Gió Bụi là tổ chức có thủ đoạn chính trị quỷ quyệt bậc nhất giai đoạn lịch sử thập niên 1940.”

Cùng lúc, nhà báo Huy Đức cũng có góp đôi lời (nhỏ nhẹ) về sự kiện này:

Lý do chính để Cục Xuất Bản ra lệnh thu hồi Một Cơn Gió Bụi của học giả Trần Trọng Kim là vì “cuốn sách có nhiều chi tiết, đánh giá không phù hợp, không khách quan hoặc chưa được kiểm chứng.” Một Cơn Gió Bụi (Kiến Văn Lục) là cuốn hồi ký của học giả Trần Trọng Kim (1882-1953), từng được NXB Vĩnh Sơn phát hành năm 1969. Đầu năm 2017 sách được NXB Hội Nhà Văn và Phương Nam Books phát hành.

Sự thật lịch sử là một khối đa diện, không ai có thể tiếp cận hết mọi tiết diện. Nếu sách có những chi tiết “không phù hợp, không khách quan hoặc chưa được kiểm chứng” thì hãy để các nhà sử học khác kiểm chứng, chỉ ra cái sai. Điều quan trọng là những gì cụ Trần Trọng Kim viết trong Một Cơn Gió Bụi đã phải là sự thật hay chưa. Nếu đã là sự thật thì nó luôn phù hợp ở mọi thời đại, chế độ nào thấy một sự thật không phù hợp với mình thì chế độ đó… không phù hợp với thời đại nào của loài người cả.

PS: Tôi cực lực phê phán việc biên tập sách nhưng tôi cũng khuyến cáo Cục Xuất Bản rằng, lệnh cấm này sẽ khiến người đọc trẻ tìm tới bản in không bị kiểm duyệt của NXB Vĩnh Sơn, bản in mà trong đó có nhiều đoạn rất nhạy cảm đã bị NXB Hội Nhà Văn biên tập.

Ví dụ: Trang 75 bản Vĩnh Sơn 1969 có đoạn, “Trong số 22 người ấy có một nữ đảng viên tên Đỗ Thị Lạc là người sau này có đứa con gái với Hồ Chí Minh. Về sau người ta nói khi về đến địa hạt Bắc Giang, có ba đảng viên trong 22 người ấy bị giết vì không chịu theo Cộng Sản.” Đoạn này đã bị cắt ở bản Phương Nam in 2017 (trang 80).

So với cái tâm, và cái tầm, của nhà xuất bản thì chuyện “cắt xén” vụn vặt kể trên không có chi đáng để phàn nàn; bởi ngoài hai ấn bản thượng dẫn, còn có bản in năm 2015 – do tuần báo Sống phát hành từ California – và hàng chục trang mạng với đường dẫn đến nguyên bản của tác phẩm này. Bức màn sắt đã rớt xuống từ lâu. Đâu có chuyện chi mà giấu được hoài bên trong đó nữa!

Wikipedia tiếng Việt, giọng Hà Nội, có ghi lại những câu sau:

Chính phủ Trần Trọng Kim thường được Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa mô tả trong các tài liệu nghiên cứu chuyên môn trước và sau năm 1975, một cách trực tiếp hay gián tiếp, là bù nhìn của Nhật.

Việc đưa Trần Trọng Kim đứng ra lập nội các cho Bảo Đại trước sau đều do người Nhật đạo diễn để dẫn dụ ông, chứ bản thân ông tự ý thức bản thân mình bất lực, họ trao quyền cũng chỉ để biến ông thành bù nhìn.

Cái thời độc quyền thông tin đã qua nên cùng với “các tài liệu nghiên cứu chuyên môn” của nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, còn có không ít ghi nhận của những vị thức giả khả tín. Xin đơn cử một vài để rộng đường dư luận:

Lê Xuân Khoa:

“Trong phiên họp đầu tiên của Hội Đồng Nội Các, bên cạnh công tác khẩn cấp cứu trợ nạn đói ở miền Bắc đã làm ngót 2 triệu người thiệt mạng, chính phủ Trần Trọng Kim đã ấn định một chương trình sáu điểm:

1-Chuyển giao tất cả các cơ sở hành chánh cho các viên chức Việt Nam.

2-Thâu hồi đất Nam kỳ và các nhượng địa đã dành cho Pháp.

3-Ân xá toàn thể các phạm nhân chính trị.

4-Cho phép thành lập các đảng phái chính trị.

5-Miễn thuế cho công chức, thợ thuyền và dân nghèo.

6-Thiết lập các ủy ban tư vấn quốc gia để soạn thảo Hiến Pháp và nghiên cứu cải tổ chính trị, hành chánh và giáo dục [7].

Chỉ trong thời gian ngắn ngủi bốn tháng (17 Tháng Tư đến 16 Tháng Tám, 1945) chính phủ Kim đã thực hiện được gần hết chương trình này.”

Trần Văn Chánh:

“Về phần nội các Trần Trọng Kim, mặc dù chỉ tồn tại trong thời gian chưa đầy bốn tháng, nếu tính đến 23 Tháng Tám 1945, khi quyết định xong chiếu thoái vị thì được bốn tháng sáu ngày, tổng cộng 126 ngày, tương đương 1/3 năm) và làm việc trong những điều kiện vô cùng khó khăn, nhất là khi vẫn bị quân đội Nhật kiềm chế mọi mặt, nội các đã tỏ ra năng nổ, nhiều thiện chí và cũng làm được một số việc đầy ý nghĩa, đáng ghi nhận:

-Tháng Sáu 1945, đặt quốc hiệu là Đế Quốc Việt Nam (bỏ tên Đại Nam, An Nam); tạm duy trì bài quốc thiều “Đăng đàn cung,” đổi mới quốc kỳ, thay cờ Long Tinh bằng cờ Quẻ Ly có nền vàng hình chữ nhật, giữa có hình Quẻ Ly màu đỏ thẫm.

-Bộ Tiếp Tế tập trung cao độ lo việc cứu đói nhưng kết quả rất hạn chế vì phương tiện, nhân lực đều do quân Nhật nắm giữ và nhất là giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển từ Nam ra Bắc đều bị quân đồng minh cắt đứt.

-Thanh trừng quan lại tham nhũng với kết quả hạn chế, vì thời gian ít và điều kiện khó khăn trước mắt về nhân sự chưa cho phép làm mạnh.

-Tha thuế thân cho người dân và cho những công chức có thu nhập thấp. Thực hiện sự công bằng về thuế khóa.

-Chủ trương tăng lương cho tiểu công chức, bỏ các món chi tiêu huy hoàng vô ích.

-Can thiệp với Nhật để từ ngày 9 Tháng Tám 1945, tổng ân xá các tù chính trị, kể cả những người cộng sản bị Pháp bắt giam tại các nhà lao và nhà ngục khổ sai. Chủ trương thanh trừng quan lại và bài trừ tệ hối lộ.

-Đấu tranh với Nhật đòi lại các công sở và lấy lại được ba thành phố nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng, và Ðà Nẵng kể từ ngày 20 Tháng Bảy 1945.

-Ngày 1 Tháng Tám 1945, Đốc Lý Hà Nội Trần Văn Lai cho phá các tượng Pháp ở Hà Nội vốn biểu trưng cho nền thống trị ngoại bang, như tượng Paul Bert, Jean Dupuis, Đầm Xòe ở Cửa Nam, Đài Kỷ Niệm Lính Khố Xanh, Khố Đỏ.

-Ngày 14 Tháng Tám 1945, tranh thủ lấy lại Nam Kỳ cho triều đình Huế, thống nhất (về mặt danh nghĩa) đất Nam Kỳ vào đất nước Việt Nam.

-Chủ trương cho phép thành lập các đảng phái chính trị.

-Về tư pháp, thành lập Ủy Ban Soạn Thảo Hiến Pháp trên cơ sở thống nhất xứ sở, các quyền tự do chính trị, tôn giáo và nghiệp đoàn. Đạo luật tổ chức nghiệp đoàn đầu tiên ở Việt Nam là do chính phủ Trần Trọng Kím soạn thảo và ban hành ngày 5 Tháng Bảy 1945.

-Đổi chương trình học tiếng Pháp ở bậc tiểu học và trung học sang chương trình tiếng Việt, do Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục và Mỹ Thuật Hoàng Xuân Hãn chủ trì biên soạn.

-Hành chánh được cải tổ với việc dùng chữ Việt trong tất cả các giao dịch của chính phủ ngoại trừ lãnh vực y tế và các văn thư liên lạc với Pháp hoặc với các công ty người Hoa…

Phạm Cao Dương:

“Bốn tháng đầy rẫy những khó khăn nhưng những thành quả đạt được không phải là không đáng ghi nhận… Vượt qua tất cả mọi khó khăn, Trần Trọng Kim và các cộng sự viên của ông đã vạch ra những mục tiêu và chương trình hành động cụ thể và thực tế, từ những việc làm có tính cách tượng trưng như đổi quốc hiệu thành Việt Nam, đổi quốc kỳ, duyệt lại quốc ca… đến cứu đói, thu hồi toàn vẹn lãnh thổ, bắt các quan ở các tỉnh phải trực tiếp liên lạc với chính phủ Việt Nam và cấm họ liên lạc trực tiếp với người Nhật như họ vẫn liên lạc với người Pháp trước kia, Việt Nam hóa nền giáo dục, cải tổ thuế má, tư pháp, vận động thanh niên sinh viên và cả quần chúng nói chung tham gia sinh hoạt chánh trị, xã hội, lập các hội đồng tư vấn địa phương và vận dụng mọi khả năng để thực hiện.”

Tổng cộng thời gian chấp chính của Thủ Tướng Trần Trọng Kim, có lẽ, vẫn chưa bằng số giờ mà các ông thủ tướng Cộng Sản sau đó ngồi hội họp. Và có lẽ đám người này không họp bàn về chuyện gì khác ngoài việc bán nước hại dân nên chế độ hiện hành càng kéo dài thì quê hương càng lụn bại.

Hành trang vào đời

“Con đường Nam Giao thẳng mà không bằng…” Tất cả “Phấn Thông Vàng” của Xuân Diệu chỉ còn ngần ấy chữ lưu lại trong trí nhớ tôi, gắn bó như một phần đời không thể quên, không thể tách rời.

Lớp Pháp Văn Ðại Học Sư Phạm Huế niên khóa 1958-1961 nằm bên lề trái con đường có hai hàng cây xanh cao chạy từ tiền đình Tòa Ðại Biểu Chính Phủ trên đại lộ Lê Lợi, vòng qua một công viên nhỏ rồi thẳng lên dốc Nam Giao. Năm cuối, lớp chúng tôi chỉ còn bốn sinh viên: anh Lê Ngọc Diêu, anh Nguyễn Thành Hưng, anh Nguyễn Như Lộc và tôi.

Các phòng học dành cho các chuyên ban Anh, Pháp và Sử Ðịa mở ra cái hành lang ngắn ven đường. Giờ học tới, chúng tôi đứng tụm nhau trên cái hành lang ấy, chuyện trò đủ mọi vấn đề xảy ra trong cái thành phố nhỏ thân thiết với mỗi chúng tôi như vòng ôm ấm áp của mẹ hiền cho đến khi nhìn thấy hoặc Viện Trưởng Cao Văn Luận trong tấm áo chùng đen, nghiêm nghị xuất hiện ở đầu hành lang; thầy khoa trưởng Lê Văn lướt tới với bước chân nhẹ tưởng chừng không chạm đất.

Rồi thầy Nguyễn Khắc Hoạch lệt xệt đế giầy, cà vạt lỏng buông trên cổ áo, đôi mắt đỏ vì thiếu ngủ; Giáo Sư Camborde đường bệ, đem theo ông cả Châu Âu nên thơ, cổ kính khi ông phát âm chậm từng vần, kéo dài ra như âm ba sóng lượn ở đuôi chữ “Strasb..o..u..r..g,” thành phố đẹp nhất, quý phái nhất, mang nhiều phong vị của cả Pháp và Ðức, ngàn năm soi bóng xuống dòng sông Rhin huyền hoặc; cô Pias mặc áo sơ mi ngắn tay màu cà rốt, mái tóc búi cao vàng óng, vội vã đi băng qua dưới bóng những tàn cây đọng nắng trong cái công viên nhỏ.

Chúng tôi còn Giáo Sư Charles Bonzon và Linh Mục Lefas, một khi nhị vị đã bắt đầu nói là không bao giờ ngừng trước khi đồng hồ báo hết giờ. Linh Mục Urbain với đôi mắt màu xanh xám, thông minh, lẩn khuất nét nghi ngại, đôi môi mỏng kiểu Tây phương lúc nào cũng đỏ như một vết thương. Riêng cô Bảo Xuyến (bà Lê Văn) tươi tắn, linh hoạt với mái tóc à la garçonne, ánh mắt hiền hậu dưới rèm mi óng ả, nụ cười trên môi không bao giờ tắt, cũng như cô không bao giờ đến sau sinh viên mà luôn đứng bên cửa sổ chờ chúng tôi tới đông đủ để bắt đầu giờ học.

Ở thời điểm này, kiểm điểm lại, bạn đồng môn của tôi ngày đó đã mất hết. Anh Nguyễn Như Lộc vào những giờ phút cuối của cuộc chiến chấm dứt với biến cố 30 Tháng Tư, 1975. Anh Nguyễn Ngọc Diêu qua đời tại Canada có lẽ đã trên mười năm. Anh Nguyễn Thành Hưng mất tại Việt Nam, ở quê hương Ðà Nẵng, tuy các con anh định cư ở Hoa Kỳ và trước đó anh chị vẫn thỉnh thoảng đi thăm qua những chuyến du lịch ngắn ngày.

Về phía ban giảng huấn, mất mát bất ngờ và sớm sủa nhất là Linh Mục Urbain, tiếp theo là cô Pias, Linh Mục Cao Văn Luận, Giáo Sư Nguyễn Khắc Hoạch, Linh Mục Lefas, Giáo Sư Lê Văn.

Các cựu môn sinh Ðại Học Sư Phạm Huế rất xúc động nhận được kỷ vật như một nén tâm nhang đầy tình nghĩa từ Giáo Sư Bảo Xuyến, cũng là bà quả phụ Lê Văn, một DVD thu gom toàn bộ 23 số Dòng Việt đã phát hành hầu lưu lại cho người sau những tài liệu văn học quý giá của dân tộc.

Phải nói chúng tôi đã được may mắn lớn lên trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt, khi chiến tranh còn xa thành phố, người tình còn là những hẹn hò mây bay gió thoảng và khói đạn bom chưa ở cường độ làm cay mắt đám con gái trong giảng đường đại học. Cha, mẹ, thầy, bạn, đều là những tấm gương tốt cho chúng tôi noi theo trong cuộc sống đẹp như một bản hòa âm trải đi trên những cung bậc tài hoa.

Bây giờ hồi tưởng lại những tháng năm tuyệt vời đã vô cùng xa xôi ấy, lòng tôi như bị cứa ra từng đoạn, đôi mắt khô vì tuổi tác lệ dâng như cơn mưa tím trên ngọn cây sầu đông trơ trọi ở một góc vườn vắng vẻ. Kỷ niệm là những mảnh vỏ nâu khô bị bóc ra khỏi mình cây khuynh diệp đứng trơ xương cốt trắng hếu bên vệ đường, gió làm rơi rụng tả tơi và thoi thóp nhớ nhung.

Ba năm đại học ở cả Văn Khoa và Sư Phạm, hơn một ngàn ngày ngược xuôi trên con đường Lê Lợi chạy dọc theo bờ hữu ngạn sông Hương, chúng tôi thân thiết nhau như thân thiết với sách vở hằng ngày theo chúng tôi tới lớp. Cuộc sống bình yên, an vui, thậm chí không bao giờ nghĩ đến chia tay.

Trong các bạn cùng khóa, anh LND có thân phụ là thẩm phán trong ngành tư pháp. Anh đã xuất dương du học bên trời Tây nhưng nửa đường hồi hương, không nghe anh kể vì lý do nào. Anh đi học bằng xe Lambretta. Mùa mưa, những khi tôi lướt thướt đạp xe tới trường, gặp anh ở hàng hiên, anh nhìn tôi nửa ái ngại, nửa ngượng ngùng vì ưu thế của mình.

Nhà anh có một thư viện nhỏ, kệ sách cao tới trần nhà, đôi khi phải dùng thang để lấy những cuốn ở trên cao. Những lúc cần tham khảo tài liệu để làm bài, tôi được anh cho phép đến thư viện nhà anh. Kết quả điểm các bài làm, do tôi lẻo mép hơn nên điểm thường cao hơn anh, đến lượt tôi ngượng ngùng vừa nhìn anh với lòng biết ơn, vừa phân bua với giáo sư.

Một tối mùa trăng năm nào tôi không nhớ rõ, anh bất ngờ chạy cái Lambretta vào sân nhà tôi, nói là “tiện đường đi một công việc khác, thấy trăng lồng lộng trên cái mặt hồ bát ngát hương hoa sen ngay ven đường” nên không thể không dừng xe lại. Chúng tôi và hai cô hàng xóm nhỏ thấy khách đến bất ngờ, vui thì hùa theo, cùng ra ngồi trên bờ cỏ ven hồ, thi nhau lượm gạch ngói vụn ném xuống nước để thấy nước bắn tung tóe lên những tàu lá sen đựng ánh trăng như thủy ngân. Nói chuyện vu vơ và cười vang một lúc thì sương xuống thấm lạnh hai vai, tiếng giun dế vang lừng trong các lùm cây thảm cỏ khắp bốn chung quanh, báo đêm đã khuya. Anh cáo từ ra về và đó là kỷ niệm duy nhất tôi còn giữ về anh ngoài khuôn viên trưởng.

Nhiều năm sau, tôi đã theo chồng rời xa Huế, sinh hai con gái đầu lòng, chị TN gặp lại tôi ở Hội Ðồng Thi Gia Long, cầm tay tôi nói cười trong mừng tủi: “Em thế này mà tin đưa về Huế, nói em khổ lắm, bị chồng đánh mỗi ngày một trận mềm như dưa, làm D. xót xa, than thở mãi: ‘Sao BH tươi tắn như vậy mà số không sung sướng?’”

Sự thật, tôi không hề bị đòn mỗi ngày như tin đồn nhưng quả là có nỗi buồn riêng, cũng bầm tím những vết roi. Lời nói vô tư của chị TN làm lay động trong tôi chút vui ngày tháng cũ, cho tôi cảm nhận thời chúng tôi có những tình bạn đồng môn chân thật, êm đềm, cao quý, có lẽ sau này không còn nữa.

Năm 2005, tôi về Huế viếng mộ phụ thân, đã ghé qua bờ sông Bến Ngự thăm PTBÐ. Anh U. phu quân của chị, vừa qua đời. Ngôi nhà rộng, thanh tịnh, thoáng mát, bàn ghế còn lại từ quán cà phê thời cuộc của anh chị đã đóng cửa, giờ đây im lìm úp mặt vào nhau.

Chị vẫn nhỏ nhắn, xinh đẹp, vẫn mái tóc cắt ngắn, đôi mắt bồ câu nay thấp thoáng chút buồn xa vắng, đằm thắm tiếp người bạn cũ chưa bao giờ gặp lại từ ngày được chị ân cần tiễn chân lên xe hoa về nhà chồng xa tận Sài Gòn, Tháng Ba, 1962. Vuông sân gạch ngăn nắp, sạch sẽ, còn ẩm hơi sương, cân đối với tiền đình ngôi nhà, duy nhất có một cội mai thật đẹp đứng trong chiếc chậu cổ, khiến tôi bàng hoàng như chạm phải một mảnh linh hồn Huế, mong manh mà kiên cường thách đố qua thời gian.

Cùng chiều hôm đó, chúng tôi từ hai hướng khác nhau, đội mưa đến một nhà hàng đặc sản Huế, ăn với nhau bữa cơm chung đầu tiên, có thể cũng là cuối cùng vì ai biết ra sao ngày sau? Tôi không còn nhớ rõ hương vị những món ăn nhà hàng dọn ra vì cảm xúc chìm vào ký ức ngổn ngang và có lẽ cũng vì phong cách chiêu đãi kiêu điệu theo thời thế của nhà hàng nay đã hoàn toàn xa lạ so với những năm tháng tuổi trẻ của chúng tôi lớn lên ở đây. Khác với chị, tôi bây giờ là khách lạ tình cờ về qua Huế.

Cơn mưa tuy đã tạnh nhưng những sợi mưa còn sót lại vẫn lác đác bay nghiêng trong ánh đèn đường khi chúng tôi từ giã nhau, hai đứa ở hai bên chiếc xe đạp, là bằng chứng một thời ngỡ như hoang đường trong sân trường đại học. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn 10 năm tắm gội trong ca từ của ông, tôi 50 năm gió bụi quay về thành phố xưa, tắm gội trên dòng sông thinh lặng trong hai mắt bạn hiền, ngơ ngác thấy nguyên vẹn mình dường như chưa chút gì hao hụt hay tàn phai. Chia tay nhau lần này, biết có bao giờ còn gặp lại?

Con đường tôi đi bộ mỗi buổi chiều ở đây có hai hàng cây cổ thụ cao, mùa Hè thả bóng mát xuống lòng đường, mùa Thu Ðông lá trút như mưa. Tiếng chim về tổ ríu rít trong những tán lá rộng, có hôm lảnh lót nghe vui tai, khiến tôi cười thầm hình dung ra đám chim mái trẻ trung đang tranh nhau kể chuyện một ngày qua; có hôm dồn dập, ồn ào, rít lên chát chúa, có lẽ cũng giống con người, chúng cãi nhau.

Thế nhưng chiều hôm đó, tiếng một con chim lạ nghe lần đầu đâu đó trên những đỉnh cây xanh rậm rạp, um tùm, khiến tôi ngạc nhiên. Nó không phải là tiếng hót. Nó là tiếng kêu. Chậm rãi. Ồ ề. Như từ cái cổ khản đặc của một con chim già tình cờ dừng chân trên đường bay. Nó từ đâu đến đây, qua đêm, chờ sáng để bay tiếp tới nơi nào nó muốn tới, liệu đôi cánh cô đơn, mỏi mệt của nó có giúp nó hoàn tất con “đường xa vạn dặm, một mình ta đi,” hay không? Hay nó cũng như tôi, chờ ngày tới trả lời cho câu hỏi đêm qua?

Bước vào tuổi hoàng hôn vắng ngắt của cha mẹ ngày xưa, tôi thấm ngấm tự hỏi lòng cha mẹ tôi đã đào sâu, chôn chặt ở đâu, cách nào, những tháng ngày sống qua đầy ắp kỷ niệm và biến cố được/mất to lớn, trong cả một quá khứ dài của cả hai mà tôi sống kề cận bên cạnh, không một phút giây nào ngờ vực cha mẹ cũng có những niềm đau như bất cứ ai khác trên thế gian này? Hình như cha mẹ tôi có cùng một cách nhìn vào cuộc đời, chỉ nhìn tới, không nhìn lui. Không nuối tiếc. Không oán hận. Nếu không hy vọng, cũng không thất vọng.

Từ thơ ấu, tôi chứng kiến một phần không nhỏ cả sự nghiệp vẫy vùng ngang dọc của cha tôi từ Bắc vào Trung với lý tưởng mở mang dân trí, canh tân đất nước nhưng lạ thay, cha tôi không cho tôi khi lớn lên và quê hương chia cắt, một liên tưởng nào giữa người đàn ông phi thường, râu hùm, hàm én, mày ngài ấy và ông lão mái tóc bạc phơ, thần thái ôn nhu, chiều chiều chống gậy trúc ra vườn lặng ngắm cỏ cây, lắng nghe tiếng chuông thu không từ ngôi chùa bên kia cánh đồng ngân nga trong hoàng hôn bảng lảng.

Còn mẹ tôi? Từ cái đêm mùa Ðông tôi thức giấc ở tuổi lên bảy, kinh ngạc thấy bà xì xụp quỳ gối giữa cái sân gạch đỏ, khấn khứa trước chiếc ghế gỗ trên bày cái đĩa có nải chuối, ly nước trong và một cái ly khác cắm mấy nén nhang, tôi chạy ra, vịn vai mẹ, nhận ra khuôn mặt bà đầm đìa nước mắt trong ánh đèn dầu lù mù. Hóa ra trong ngày hôm đó, mẹ tôi được tin bà ngoại tôi bị nước lũ cuốn trôi trên đường về chợ.

Từ đấy về sau, tôi nhớ mẹ tôi không còn lần nào nhắc lại cái chết thương tâm của bà ngoại tôi. Nơi mẹ tôi chôn cất bà là trái tim bầm giập, chôn cất nhiều thứ thiêng liêng khác của người con gái làng quê nghèo khi rời bỏ ruộng đồng vì vâng lời các đấng sinh thành, đâu biết một lần đi là trăm năm vĩnh biệt?

Có chăng, khi tôi khôn lớn, ưu tư của cha mẹ mà tôi được nhìn thấy chỉ là nỗi băn khoăn gửi những ước mơ không toại vào con cái, kỳ vọng chúng sống tốt hơn cha mẹ. Có lẽ vì vậy, ngày tháng nào của cha mẹ tôi cũng chỉ là những phẩm kinh cầu an chan chứa từ tâm giành cho anh em chúng tôi.

Bây giờ bơ vơ nơi xứ người, xin mãi mãi tạ ơn tổ quốc, cha mẹ, trường xưa, thầy bạn cũ, đã ban cho tôi dung mạo và hành trang vào đời, dù nên hay hư, dù buồn hay vui, ân tình cao cả ấy là vốn liếng theo tôi trong chuyến đi, nâng dắt tôi qua bao nhiêu gian lao, trắc trở, gập ghềnh, làm nên ý nghĩa sự có mặt không quá trăm năm đời người của tôi trên địa cầu này.

Hàng ngàn hồ, đập ở Việt Nam có thể vỡ trước mùa mưa bão

Bị cô lập, người dân Sủng Hoảng liều mình qua dòng lũ

LÀO CAI, Việt Nam (NV) – Con đường tạm qua suối dẫn vào khu tái định cư thôn Sủng Hoảng 2 (xã Phìn Ngan, huyện Bát Xát, Lào Cai) bị lũ cuốn trôi khiến 35 gia đình bị cô lập, người dân phải liều mình băng qua dòng nước lũ chảy xiết.

Mưa liên tục trong những ngày qua, lũ trên các sông suối tại tỉnh Lào Cai lên nhanh gây sạt lở nhiều tuyến đường. Cụ thể, tại xã Phìn Ngan, huyện Bát Xát, lũ cuốn trôi hoàn toàn con đường tạm duy nhất đi qua suối dẫn vào khu tái định cư thôn Sủng Hoảng 2.

Theo báo Tuổi Trẻ, cho đến chiều 3 Tháng Bảy, 35 gia đình với gần 180 người thuộc thôn Sủng Hoảng 2, xã Phìn Ngan, gần như tách biệt với bên ngoài. Tuy nhiên, bất chấp nguy hiểm, nước sâu đến ngực, người dân vẫn phải băng qua suối để mang hàng hóa, thức ăn, vật dụng… để mưu sinh.

Để có gạo ăn, người dân không còn cách nào khác phải vác từng bao lúa qua dòng nước lũ rồi đi xay thành gạo, rồi lại vác mang về. Mỗi lần đi qua suối, nhiều người phải băng qua dòng nước sâu đến ngực rất khó khăn và nguy hiểm.

Nói với báo Tuổi Trẻ, ông Tẩn Láo Tả, chủ tịch xã Phìn Ngan, cho biết nước lũ vẫn dâng cao nên xã chưa thể làm cầu tre tạm qua suối cho người dân đi lại. (Tr.N)

Hàng ngàn hồ, đập ở Việt Nam có thể vỡ trước mùa mưa bão

Thanh Hóa lấy Trạm Cảnh Báo Bão và Sóng Thần làm nhà nghỉ

THANH HÓA, Việt Nam (NV) – Trạm Cảnh Báo Bão và Sóng Thần thuộc Chi Cục Đê Điều và Phòng Chống Lụt Bão tỉnh Thanh Hóa mới được đầu tư sửa chữa hơn 12 tỷ đồng được cho “mượn” để kinh doanh khách sạn.

Cứ vào dịp Hè, mỗi ngày có hàng nghìn lượt người đổ về thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, thăm viếng, nghỉ dưỡng. Lượng khách du lịch đông, trong khi số phòng nghỉ có hạn nên giá thuê phòng bị đẩy lên cao và luôn trong tình trạng thiếu phòng.

Theo báo điện tử Dân Trí, thấy số phòng của Trạm Cảnh Báo Bão và Sóng Thần (địa chỉ tại đường Thanh Niên, phường Trường Sơn, thành phố Sầm Sơn) để không, khoảng hai năm trở lại đây, nơi này đã cho một đối tác “mượn” để phục vụ khách du lịch.

Từ đó, tòa nhà được xây dựng năm tầng với hơn 20 phòng làm việc, thay vì để phục vụ công việc, thì hai năm nay, tầng một được bố trí cho lễ tân và nhà ăn, tầng năm là hội trường, và hơn 2/3 số phòng được lắp máy điều hòa, kê giường, trang thiết bị… biến thành “nhà nghỉ Ngọc Dũng” để cho khách du lịch đến thuê ở.

Chiều 4 Tháng Bảy, phóng viên báo điện tử Zing trong vai khách thuê phòng nghỉ và được nhân viên lễ tân giới thiệu giá phòng ở đây “mềm” hơn các khách sạn, nhà nghỉ khác.

“Nếu không có biển tên ngoài cổng thì nhiều người không thể biết đây là công trình nhà nước xây để làm Trạm Cảnh Báo Bão và Sóng Thần, mà cứ nghĩ nó là nhà nghỉ,” một người dân bất bình nói.

Nói với phóng viên, ông Nguyễn Văn Nhân, phó Chi Cục Đê Điều và Phòng Chống Lụt Bão tỉnh Thanh Hóa, thừa nhận trạm đang cho một cá nhân “mượn” để kinh doanh nhà nghỉ.

“Theo ông, năm 2012, trạm này được tu sửa lại nhưng không có cơ sở vật chất, trang thiết bị nên bỏ không. Nhận thấy việc bỏ không là lãng phí, Công Đoàn của chi cục đã đề xuất cho công ty xây dựng-thương mại Tiến Anh ‘mượn’ để làm nhà nghỉ, đồng thời cũng tạo điều kiện cho đoàn viên của chi cục có chỗ nghỉ dưỡng khi có nhu cầu,” báo này viết.

Ông cho biết thêm: “Chi cục đang có kế hoạch sửa chữa các thiết bị đo đạc các yếu tố khí tượng, thủy văn đã bị hư hỏng và lắp đặt mới trang thiết bị cảnh báo bão và sóng thần, đồng thời sẽ yêu cầu công ty Tiến Anh bàn giao nguyên trạng trước ngày 10 Tháng Bảy.” (Tr.N)

Dân Lào Cai liều mình băng qua nước lũ để mưu sinh

Abu Sayyaf chặt đầu hai con tin người Việt

BASILAN, Philippines (NV) – Sáng sớm 5 Tháng Bảy, quân đội Philippines vừa tìm thấy thi thể hai người Việt bị Abu Sayyaf (một tổ chức Hồi Giáo cực đoan hoạt động tại miền Nam Philippines) chặt đầu.

Vụ hành quyết được thực hiện trên đảo Basilan. Thi thể hai nạn nhân được phủ lá chuối, đặt sát một đường mòn, đầu của họ đã bị cắt rời để bên cạnh.

Phát ngôn viên của quân đội Philippines nhận định, hai nạn nhân nằm trong nhóm sáu thủy thủ của tàu vận tải MV Royal 16 bị Abu Sayyaf bắt làm con tin hồi trung tuần Tháng Mười Một, 2016.

Hồi trung tuần Tháng Mười Một năm ngoái, báo chí Việt Nam cho biết, MV Royal 16 (thuộc quyền sở hữu của công ty Quý Sang ở Thái Bình, cho công ty Hoàng Gia ở Hải Phòng thuê) đang vận chuyển xi măng từ Hải Phòng đến Indonesia thì bị Abu Sayyaf tấn công lúc băng ngang đảo Basilan.

Có sáu trong 19 thành viên thuộc thủy thủ đoàn của MV Royal 16 bị Abu Sayyaf bắt làm con tin, bao gồm thuyền trưởng, ba thuyền phó và hai thủy thủ.

Theo Japan Times thì quân đội Philippines đã tổ chức nhận dạng và xác định hai nạn nhân là “Hoang Thong” và “Hoang Va Hai.” Ðối chiếu danh sách sáu con tin bị Abu Sayyaf cầm giữ khi tấn công tàu MV Royal 16 mà báo chí Việt Nam đã công bố thì tên đầy đủ của hai nạn nhân là Hoàng Trung Thông và Hoàng Văn Hải – cả hai đều là thủy thủ.

Báo điện tử News của Úc cho biết, Abu Sayyaf vẫn đang cầm giữ 3/6 thành viên của thủy thủ đoàn tàu MV Royal 16.

Trung tuần tháng trước Phil Star từng loan báo, một trong số sáu thành viên của thủy thủ đoàn tàu MV Royal 16 đã vượt thoát khỏi trại giam của Abu Sayyaf, tọa lạc gần thị trấn Sumisip trên đảo Basilan, khi trại giam này bị quân đội Philippines vừa không tập, vừa pháo kích. Theo đó tên của con tin hết sức may mắn này là “Hoang Vo.”

Ðối chiếu danh sách những con tin bị Abu Sayyaf cầm giữ khi tấn công tàu MV Royal 16 mà báo chí Việt Nam đã công bố thì tên đầy đủ của ông ta là Hoàng Võ – một trong ba thuyền phó của tàu MV Royal 16.

Abu Sayyaf ra mắt hồi đầu thập niên 1990 với sự hậu thuẫn của al-Queda. Gần đây, Abu Sayyaf tuyên bố trung thành với IS – tổ chức Hồi Giáo cực đoan ở Trung Ðông.

Theo chính phủ Philippines, Abu Sayyaf đang cầm giữ 22 con tin trong đó có 16 con tin là người ngoại quốc. Mục tiêu chính của việc bắt giữ con tin là kiếm tiền chuộc. Năm 2015, Abu Sayyaf đã hành quyết hai con tin người Canada. Tháng Hai vừa qua, nhóm Hồi Giáo cực đoan này hành quyết một con tin người Ðức. (G.Ð)

Cần sa có thể thu hút nhiều khách tại các hội chợ quận ở California

Công ty Trung Quốc đến Huế giăng băng rôn ‘đến với Đại Nam Hải’

THỪA THIÊN-HUẾ, Việt Nam (NV) – Đồn Biên Phòng Cửa Khẩu Cảng Chân Mây vừa thu giữ một băng rôn đón một đoàn khách Trung Quốc đến du lịch tại Việt Nam có dòng chữ “đến với Đại Nam Hải” bị cho là “đụng chạm đến chủ quyền Việt Nam.”

Theo báo Tuổi Trẻ, trên một trang mạng xã hội cho biết một nhóm du khách người Trung Quốc đã đến cảng Chân Mây để đón một gia đình người Trung Quốc cập cảng sáng 4 Tháng Bảy. Nhóm du khách này đã căng băng rôn có nội dung: “Công ty Yandi Việt Nam chào mừng gia đình Yandi đến với Đại Nam Hải.”

“Dòng chữ Hán của bên dưới tấm băng rôn là: ‘Việt Nam tử công ty hoan nghênh Viêm Đế gia nhân ngao du Đại Nam Hải.’ Dịch nghĩa là: ‘Công ty con Việt Nam chào mừng người nhà Viêm Đế dạo chơi Đại Nam Hải,’” theo tin báo này.

“Cũng trang mạng này cho biết, khi nhân viên hải quan cửa khẩu hỏi sao lại đến với Đại Nam Hải, thì một du khách giải thích là vì: ‘Huế, Đà Nẵng trực thuộc Đại Nam Hải của Trung Quốc,’” trích báo Tuổi Trẻ.

Sáng 5 Tháng Bảy, ông Nguyễn Văn Hùng, đồn trưởng Đồn Biên Phòng Cửa Khẩu Chân Mây (Bộ Chỉ Huy Bộ Đội Biên Phòng tỉnh Thừa Thiên-Huế), xác nhận với báo Tuổi Trẻ “có xảy ra sự việc như trên, nhưng không đúng như thông tin trên mạng.”

Ông Hùng cho biết những người này là nhân viên của công ty Yandi Việt Nam ở Sài Gòn, đang đi du lịch qua Huế thì dừng lại chào đón người của công ty Yandi ở Trung Quốc đang đi trên tàu du lịch cập cảng Chân Mây.

“Đại Nam Hải là tên của một công ty ở Bình Dương. Công ty này và công ty Yandi Việt Nam có cùng một công ty mẹ ở Trung Quốc. Gia đình Yandi đang đi trên tàu là người của công ty mẹ,” theo báo Tuổi Trẻ.

Ông Hùng cũng khẳng định không có người khách nào phát ngôn “Huế, Đà Nẵng trực thuộc Đại Nam Hải của Trung Quốc” như trên mạng lan truyền. Vì sự việc không có gì bất thường, nên các cơ quan chức năng đã không làm gián đoạn chuyến đi chơi của du khách, đồng thời giữ lại tấm băng rôn dễ gây hiểu nhầm.

Trong khi đó, nói với báo Thanh Niên, ông Huỳnh Văn Toàn, tổng giám đốc công ty cảng Chân Mây (xã Lộc Vĩnh, huyện Phú Lộc, Thừa Thiên-Huế), cho biết khoảng 7 giờ sáng 4 Tháng Bảy, tàu du lịch Voyager of The Seas mang quốc tịch Bahamas chở theo 3,577 khách và 1,152 thủy thủ cập cảng Chân Mây do Saigontourist tổ chức.

Khi tàu cập cảng, có một nhóm người đến đón khách bất ngờ giăng băng rôn song ngữ Trung-Việt nội dung “Công ty Yandi Việt Nam chào mừng gia đình Yandi đến với Đại Nam Hải.” Nhân viên của cảng đã yêu cầu những người đón đoàn hạ băng rôn xuống và tạm giữ, sau đó công ty báo với cơ quan chức trách để phối hợp giải quyết. Tối cùng ngày, tàu du lịch trên đã rời cảng Chân Mây.

Lý do tàu mang quốc tịch Bahamas nhưng lại có người đón với băng rôn song ngữ Trung-Việt là vì “ngoài hàng ngàn khách du lịch, trên tàu này còn chở theo gia đình của vị tổng giám đốc công ty Yandi (có trụ sở chính tại Thượng Hải, Trung Quốc và có chi nhánh tại Việt Nam) đến thăm viếng Việt Nam,” theo báo Pháp Luật TP.HCM.

Theo tin báo Tuổi Trẻ, công ty Yandi Việt Nam có trụ sở ở đường Nguyễn Thị Minh Khai, phường Đa Kao, quận 1, Sài Gòn. Còn công ty Đại Nam Hải ở đường Thủ Khoa Huân, khu phố Hòa Lân 1, phường Thuận Giao, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. Cả hai công ty này đều của nhà đầu tư Trung Quốc. (Tr.N)

Dân Lào Cai liều mình băng qua nước lũ để mưu sinh

Volvo sẽ ngưng sản xuất xe hơi máy xăng từ 2019

STOCKHOLM, Thụy Điển (AP) – Hãng sản xuất xe hơi Volvo dự tính đến năm 2019 sẽ chỉ sản xuất xe động cơ điện và hỗn hợp xăng-điện (hybrid), ngưng chế tạo các xe máy nổ dùng xăng.

Tổng giám đốc Volvo, ông Hakan Samuelsson, nói rằng kế hoạch này là nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng đối với việc sử dụng kỹ thuật mới.

Theo nhận định của ông Sam Abuelsamid, phân tích gia thuộc Navigant Research, toàn thể ngành kỹ nghệ xe hơi sẽ chuyển hướng như thế trong vòng ít năm nữa, dẫn đầu là các hãng sản xuất xe hạng sang trọng.

Ông giải thích rằng xe hybrid là bước đầu trong sự tiết giảm tiêu thụ nhiên liệu như đòi hỏi của các chính quyền nhiều nước trên thế giới ngày nay.

Những xe “hỗn hợp hạng nhẹ” (mini-hybrid) dùng một máy điện 48-volt để trợ giúp động cơ nổ và tiết giảm tiêu thụ nhiên liệu từ 10 đến 15%.

Bằng hệ thống này, những chức năng như máy điều hòa không khí, bơm dầu, không phải dùng đến giây chuyền làm cản sức vận hành của động cơ và do đó tiết kiệm nhiên liệu thêm nữa.

Các hãng Audi và Mercedes-Benz đã ứng dụng động cơ “hỗn hợp nhẹ” cho các xe sản xuất ở Âu Châu.

Theo phân tích gia Abuelsamid, hệ thống này có lẽ cũng sẽ được dùng ở Mỹ dù tốn kém cho các hãng muốn sản xuất nhiều kiểu xe thích ứng với những thị trường khác nhau.

Xe  động cơ hỗn hợp và  động cơ điện đã gia tăng từ 2012 nhưng đến nay mới chỉ có 2.6 triệu chiếc, nghĩa là khoảng 3% số xe mới  được bán trên thị trường thế giới.

Navigant Research dự đoán số xe này sẽ tăng lên tới 3.7 triệu năm 2018 và hơn 9 triệu năm 2025.

Volvo thuộc hãng Trung Quốc Geely, đặt trụ sở ở Thụy Điển, năm ngoái bán được 535,000 xe trên 100 quốc gia.

Hãng  hy vọng sẽ bán 1 triệu xe năm 2015, tất cả đều là động cơ điện hoặc hỗn hợp xăng-điện.

Xe Volvo điện loại đường trường có thể chạy 500 km (310 dặm) mỗi lần nạp điện.

Tuy nhiên, hãng này hy vọng các nhà cung cấp sẽ có những kiểu bình điện mới và tốt hơn nữa.

Tổng giám đốc Samuelsson nói rằng hai năm trước đây Volvo hoài nghi về sự điện hóa xe hơi nhưng bây giờ nhận thấy chiều hướng của giới tiêu thụ đã thay đổi nhanh. (HC)

Oregon thành tiểu bang đầu tiên cho phép không xác định giới tính trên thẻ nhận dạng

Bà Quả Phụ Trương Như Nguyên

Bà Anna Đặng Thị Hồng

Cụ Ông Phạm Ngọc Duy

Bác Sĩ Trịnh Hương Sơn

Chiến Hữu CSQG Trần Đờn

Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết

Ông Lưu Gia Lân

Tin mới cập nhật