Đức bắt nghi can có thể liên hệ vụ tấn công chợ Giáng Sinh

BERLIN, Đức (NV) – Đức vừa bắt một người đàn ông Tunisia bị cáo buộc là có liên hệ với Anis Amri, nghi can thực hiện vụ tấn công chết người nhắm vào một ngôi chợ Giáng sinh ở Berlin, theo tin CNN.

Các công tố viên liên bang hôm Thứ Tư nói rằng người đàn ông 40 tuổi bị bắt giữ sau một cuộc lục soát cơ sở làm ăn và nhà riêng của ông.

Các giới chức cho biết họ phát hiện số điện thoại của ông này trong điện thoại di động của Amri.

Cuộc điều tra cho thấy người đàn ông Tunisia có thể liên hệ tới cuộc tấn công, theo một thông cáo của công tố viên liên bang.

Các công tố viên có tới Thứ Năm để quyết định liệu họ có đủ chứng cớ để yêu cầu tòa ra trát bắt giữ ông ta hay không.

Amri bị tố cáo lái một xe tải, lao vào ngôi chợ Giáng Sinh đông đúc ở Berlin hôm 19 Tháng Mười Hai, giết chết 12 người và làm bị thương 48 người.

Trước cuộc tấn công, nghi can thu một băng video cam kết trung thành với ISIS.

Vài ngày sau, nghi can bị cảnh sát Ý bắn chết trong một cuộc đọ súng ở một ga xe lửa ở Milan. (Đ.D.)

Mai Thọ Truyền, từ chùa Xá Lợi tới Phủ Văn Hóa

Ông quốc vụ khanh đặc trách Văn Hóa, nhà biên soạn Phật học Mai Thọ Truyền, bước vào khách sạn Continental lặng lẽ như bất cứ một nhà văn nào. Hôm đó một số tạp chí tại Sài Gòn đã thuê phòng hội của khách sạn này, ngay bên cạnh trụ sở Quốc Hội, để bày tỏ và tìm một quyết định chung trước vấn đề kiểm duyệt. Trong lời diễn từ, sau bài diễn văn gây hấn của người chủ trương nhà xuất bản Trình Bày, sau những phát biểu ý kiến của ông Cao Thế Dung chủ trương biên tạp chí Quần Chúng, và của ông Thế Uyên chủ trương nhà xuất bản Thái Độ, và một vài ý kiến của người viết bài này, nhân danh tuần báo Khởi Hành, ông quốc vụ khanh đã nói trước micro, rằng ông đến dự buổi họp mặt với tư cách một nhà văn, chủ nhiệm một tạp chí Phật Giáo. (1)

Ông nói: “Nếu không với tư cách đó, tôi đã ra về ngay sau bài diễn văn của ông Thế Nguyên.” Sự ở lại của ông, trong buổi họp mặt của những người cầm bút đòi bãi bỏ kiểm duyệt, được minh định như thế, là sự ở lại của một người cầm bút khác.

Nhưng ông vẫn phải đón nhận sự cách biệt vốn có giữa một nhân viên chính phủ cấp bậc bộ trưởng, và một cá nhân nào đó, dù cả hai cùng làm việc văn hóa. Chỉ có vài ba người tới tiếp xúc với ông. Tôi tới, tự giới thiệu là một ký giả, hơn nữa, là thư ký tòa soạn tuần báo Khởi Hành. Ông gật đầu: “Tôi có đọc một hai số Khởi Hành.” Vì sự cách biệt nói trên, các nhà văn, nhà thơ có mặt trong buổi tiếp tân đã để tôi ngồi từ đầu tới cuối, một bàn, với ông. Đó là dịp để tôi có thể viết bài này, sau khi đã đề cập với ông các vấn đề như xuất bản, Tuần Lễ Sách Báo sắp được tổ chức, vấn đề hội đồng văn hóa và những chuyện ngẫu nhiên khác.

Cuộc nói chuyện gián đoạn mấy lần, một lần bởi nhân viên Đài Truyền Hình Việt Nam, một lần bởi lời phát biểu của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, người chủ trương nhà xuất bản Sáng Tạo, một lần bởi sự xúc động của Linh Mục Nguyễn Ngọc Lan, khi ông nói lớn trên micro, ông sẵn sàng vào tù vì in sách lậu. (Chữ lậu hiểu theo nghĩa của Sở Phối Hợp Nghệ Thuật, không hiểu theo nghĩa của điều 12 Hiến Pháp như ông nói đi nói lại). Lần khác, với bút và giấy trên tay, một nhà báo tới phỏng vấn. Ông Mai Thọ Truyền giơ tay ngăn lại: tôi tới đây với anh em nhà văn họp mặt, nếu muốn phỏng vấn, hẹn anh em ở văn phòng (Phủ Văn Hóa).

Vì thế, bài viết này không nên nghĩ là một bài phỏng vấn. Tôi chỉ ghi lại một giờ nói chuyện với ông QVK, cho dù ông đến dự cuộc họp mặt với tư cách nhà văn Mai Thọ Truyền.

Vấn đề kiểm duyệt

Đáp câu hỏi của tôi, ông nói:

-Chính quyền có lợi gì khi duy trì kiểm duyệt? Trong số các anh em, biết đâu không có cộng sản trà trộn? Ai có thể cả quyết chỗ này không có Cộng Sản, chỗ kia không có Cộng Sản? Cả người kiểm duyệt lẫn người bị kiểm duyệt, chúng ta đều là nạn nhân của Cộng Sản (Tôi đưa mắt tìm mấy tà áo màu, và thấy nhà văn nữ Minh Quân bên một cây cột đá lớn, chị cũng chạm mắt tôi. Có người nói với tôi chị làm việc cho bên kia).

Đáp câu hỏi vì sao có những chuyện đăng báo rồi, mà báo có đến hàng chục ngàn độc giả, khi in thành sách nhằm một số độc giả chỉ bằng một phần mười, lại bị cấm, bị gạch bỏ, ông cười nói:

-Sách quan trọng hơn báo. Báo người ta đọc một ngày rồi liệng bỏ, còn sách, người ta giữ. Tất cả những cuộc cách mạng làm đảo lộn lịch sử đều khởi nguồn từ sách vở. Ngòi bút vô cùng quan trọng. Ngòi bút cũng vô cùng tai hại.

-Thưa cụ, sách không phục vụ cho một giai đoạn.

Tôi góp ý ngắn gọn không có tính cách thảo luận, chỉ là nói ra ý mình. Xoa xoa hai ngón tay cái và ngón tay trỏ của bàn tay trái, ông nói:

-Chúng ta đang ở trong một tình trạng đặc biệt. Chính quyền phải tìm những biện pháp để an dân. Ở trong tình trạng đặc biệt đừng đòi hỏi một tình trạng bình thường.

Khuôn mặt bình thản, chân thật, tự tin, ông nói tiếp:

-Chính tôi cũng bị kiểm duyệt.

Rồi ông cười, nói tiếp một câu mà tôi còn ghi nhớ:

-Mấy ông kiểm duyệt bây giờ kém quá.

Lúc này kịch sĩ Thiếu Lang đã tới ngồi bên và có cả kịch tác gia Mĩ Tín, ngồi trên một cái ghế kê hơi xa mép bàn. Ba vị đều sàn sàn tuổi nhau, nghĩa là đều hơn tôi khoảng 30 tuổi. Chúng tôi đã quen biết, gặp mặt trong sinh hoạt văn nghệ thủ đô những năm qua. Chỉ một cái gật đầu thay cho lời chào hỏi.

Ông Mai giải thích lời chê trách vừa nói:

-Mấy ông kiểm duyệt bây giờ ít tuổi, chưa hiểu được chỗ dụng bút của nhà văn. Tôi cầm bút 18 năm nay, tôi thấy có những cái người ta chủ tâm đưa lên cao để rồi quật xuống, thì mấy ông lại gạch bỏ đi.

Đọc ông không nhiều, chỉ biết ông trông coi tạp chí Từ Quang.

-Thưa cụ – tôi nói – trên một số của tờ Khởi Hành mới đây, chúng tôi đề nghị nếu phải kiểm duyệt sách, sao chính phủ không trao việc này cho Phủ Văn Hóa làm, mà lại trao cho các cán bộ thông tin?

-Tôi là người vào sau trong một gia đình, không lẽ tôi dành lấy việc của người đến trước?

Ông quốc vụ khanh phân trần.

Tuần Lễ Sách Báo

Tôi hỏi về Tuần Lễ Sách Báo được dự định tổ chức tại Sài Gòn nhiều tuần qua.

-Thưa có một giải thưởng nào được dự trù cho tuần lễ triển lãm này không?

Ông lắc đầu. Tôi nhắc đến Đại Hội Sách Quốc Tế vừa được tổ chức tại Nice *[*Đại hội này khai mạc vào đầu Tháng Sáu vừa qua, được 22 quốc gia gửi sách tới tham dự. Một ban giám khảo được thành lập, nhiều cuốn sách, cuối cùng, được trao giải, mà giải Meilleur Livre, được trao cho cuốn Stèles (Bia Đá) của thi sĩ quá cố Victor Segalen. Theo tờ Le Figaro Litéraire số 1204, cuốn sách in có 300 bản trong lần xuất bản đầu. Trong kỳ xuất bản năm 1922 in 1,300 bản mà tôi có mua được một cuốn với giá 10 đồng khi nó được thải ra bán trên một hè sách cũ tại lề đường Lê Văn Duyệt].

Tôi đề nghị đặt giải thưởng, chia làm nhiều giải: giải sách in đẹp nhất, giải tặng nhà xuất bản nào có số sách in mỗi năm cao nhất, một cách để tìm hiểu thị trường chữ nghĩa, làm những bản thống kê về các loại sách v.v… Ông quốc vụ khanh gật đầu nói là sẽ nghiên cứu đề nghị này của tôi.

Nhân đó, ông nói sang chuyện xuất bản:

-Làm xuất bản bây giờ thật là phiêu lưu. Số độc giả có là bao. Giỏi lắm mấy ngàn người thôi. Tuy nhiên, phải nhận là độc giả đã tăng tiến nhiều lắm. Người đọc sách ở Việt Nam mặc dù sống trong tình trạng chiến tranh, vẫn không quên các vấn đề văn hóa. Ngoài chợ người ta cũng đọc.

Quả thế. Tôi thấy ông biết nhiều hơn là trước khi trao đổi với ông. Sự xa cách xảy ra hoàn toàn tự nhiên, Sài Gòn thủ đô văn hóa miền Nam có cả trăm tờ báo, lại chia thành nhiều luồng, báo Nam báo Bắc, tệ nhất là một cách chính thức, người ta có Nghiệp Đoàn Ký Giả Việt Nam, lại có cả Nghiệp Đoàn Ký Giả Nam Việt. (2)

Nhà văn Mai Thọ Truyền hiệu là Chánh Trí, sinh năm 1905 tại làng Long Mỹ, tỉnh Bến Tre, thuở niên thiếu học các trường sơ học Pháp – Việt Bến Tre, rồi trung học Mỹ Tho, và Chasseloup Laubat Sài Gòn. Năm 1931, ông thi đậu tri huyện rồi đốc phủ sứ, nổi tiếng chính trực. Ông là một trong những người sáng lập và xây dựng chùa Xá Lợi và Hội Phật học Nam Việt. (3)

Mai Thọ Truyền trước tác nhiều, dịch các kinh sách, có uy tín trong ngành Phật học, từng giữ chức phụ tá Viện trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, đặc trách hành chánh và tài chánh, kiêm tổng thư ký niên khóa 1967-1968. Ông mất ngày 17 Tháng Tư, 1973 tại Sài Gòn, thọ 68 tuổi.

Tác phẩm Mai Thọ Truyền:

Tâm và Tánh, Đuốc Tuệ Hà Nội ấn hành, 1950. Ý nghĩa Niết Bàn, 1962. Một đời sống vị tha, 1962. Tâm kinh Việt giải, 1962. Le Bouddhisme au Viet Nam, 1962. Pháp Hoa huyền nghĩa, 1964. Địa Tạng mật nghĩa, 1965.

Tác phẩm còn lại: Truyền tâm pháp yếu, Hư Vân Lão Hòa Thượng, Kinh Vô Lượng Thọ, Vòng quanh thế giới Phật Giáo, Đạo đời, Khảo cứu về Tịnh Độ Tông, Mật Tông.


CHÚ THÍCH
(1) Tạp chí Từ Quang xuất hiện đều đặn từ 1957, Mai Thọ Truyền là nhân vật nòng cốt. Theo một bài viết của Thích Nhất Hạnh, Từ Quang ra tới số 242 và vẫn tiếp tục.
(2) Thanh Thương Hoàng (hiện nay 2016 đang cư ngụ tại San Jose) là chủ tịch Nghiệp đoàn Ký giả Việt Nam. Nguyễn Kiên Giang là chủ tịch Nghiệp đoàn Ký Giả Nam Việt.
(3) Chùa Xá Lợi khởi công xây dựng từ 1956, tọa lạc tại đường Bà Huyện Thanh Quan, bên trường nữ trung học Gia Long, Sài Gòn. Hội Phật Học Nam Việt thành lập năm 1950.

California: Kể từ 1 Tháng Giêng, không được sử dụng điện thoại khi lái xe

SACRAMENTO, California (NV) – Bắt đầu từ ngày 1 Tháng Giêng, 2017, người lái xe không được cầm điện thoại trên tay với bất cứ lý do gì, dù chỉ để nghe nhạc, theo nhật báo Sacramento Bee.

Dân Biểu Bill Quirk (Dân Chủ-Hayward), tác giả đạo luật này, nói rằng luật sẽ tạo sự dễ dàng cho cảnh sát phạt những người dùng điện thoại trái phép.

Đạo Luật AB 1785 của ông Quirk nhằm chấn chỉnh lại những gì mà các giới chức gọi là lỗ hổng quan trọng trong luật lệ của tiểu bang về điện thoại di động.

Luật cũ cấm không được nói chuyện hay nhắn tin (text) trong lúc lái xe, mục đích là để người ta rảnh tay và chú tâm vào việc lái xe.

Nhưng nhiều người vẫn dùng tay làm việc khác với điện thoại, như quay video hay coi Facebook một cách hợp pháp, báo Sacramento Bee viết.

Với đạo luật mới, người lái xe vẫn có thể sử dụng điện thoại nếu không dùng tay, nghĩa là điều khiển điện thoại bằng khẩu lệnh.

Tuy nhiên, điện thoại phải được gắn lên bảng điều khiển hay mặt kính chắn gió.

Với đồ gắn điện thoại, luật mới này cho phép người lái xe chạm tay vào điện thoại một lần để khởi động hay kết thúc một chức năng bằng cách quẹt ngón tay hay gõ vào điện thoại.

Luật này nhằm mục đích ngăn chận người lái xe cầm điện thoại vì nhiều lý do khá phổ biến trong thời gian gần đây như đọc tin và đăng tin trên Facebook, kiểm tra Sapchat, dò đọc danh sách nhạc trong Spotify hay Padora, đánh địa chỉ vào bản đồ hay quay video và chụp hình.

Trong một cuộc thăm dò của Cơ Quan An Toàn Giao Thông tại California, một trong tám người lái xe tập trung vào việc sử dụng điện thoại thay vì lưu ý vào đường xá. Giới chức an toàn đường xá ước lượng sự phân tâm là một yếu tố chính trong 80% vụ đụng xe, báo Sacramento Bee cho hay.

Đây là điều đòi hỏi nhiều giáo dục và luật lệ nhắm vào giảm thiểu sự lơ là lúc lái xe. (ĐG)

Bùi Bảo Trúc và Cuộc Tình Đã Chết

Với Bùi Bảo Trúc, có lẽ “Khi Cuộc Tình Đã Chết” là ca khúc ông thầm hát nhiều nhất, từ trong tiềm thức.

Với Bùi Bảo Trúc, vì Tình Yêu là tuyệt đối thì Người Tình phải là siêu nhân. Ông đòi hỏi “ý trung nhân,” một người tuyệt vời giữa nhiều người, những điều bất khả cho nên gieo họa cho mọi người. Khi cuộc tình đã chết, xác pháo ngày cưới cứ nổ như tạc đạn và Bùi Bảo Trúc lãnh đạn. Nhiều lần, quá nhiều lần. Bạn bè của ông cũng bị văng miểng. Người viết này chẳng thoát được mối họa từ bụi trúc, và đâm ra thương bạn.

Ai cũng sợ ngòi bút Bùi Bảo Trúc sau các thiên tình hận ấy mà ít ai thấy rằng mũi tên ông bắn ra đều gặp “hiệu ứng boomerang”: bay ngược và bắn thẳng vào tim người viết. Sau đó, kẻ tình si hay người bạc tình – xấu đẹp tùy người đối diện – càng thêm chua chát với Tình Yêu. Ông hơi bất công vì các ý trung nhân đó đều là người xuất sắc, chứ không là nữ nhi thường tình đâu.

Chuyện này, ít ai nói ra, nhưng người viết vẫn nói!

Ngoài Tình Yêu Đôi Lứa, Bùi Bảo Trúc còn có một mối tình lớn khác, là với chữ nghĩa.

Ông khó tính chừng nào với tình yêu và với người tình thì lại khó tính gấp bội với văn chương chữ nghĩa. Hạnh phúc của ông quả là ngắn ngủi, trong giai đoạn làm phát ngôn viên của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, khi ông dùng chữ nghĩa và còn tận dụng tài đốp chát cả Anh lẫn Việt ngữ để bảo vệ chính nghĩa miền Nam tự do của ông đang bị bức tử và bị nhục mạ. Người ta có thể quên rồi những giai thoại kỳ thú ấy vì sau đấy là thảm kịch cho cả nước.

Nhưng còn lại cho tới sau này, đến những ngày giờ cuối của ông, vẫn là tinh thần quốc gia và cái thói khinh miệt sự giả trá phản ảnh qua cách viết và cách nói.

Về tình yêu với chữ nghĩa, Bùi Bảo Trúc có sự trái ngược với thói đốp chát chanh chua làm ông nổi tiếng hay mang tiếng. Ông tuyệt đối tôn trọng văn chương và bậc đàn anh trên văn đàn. Ông cúi đầu lặng thinh nhiều tiếng đồng hồ khi bị nhà văn Mai Thảo nặng lời trách móc vì tật xấu trong tình trường. Ông ân cần theo dõi tình trạng sức khỏe của nhà văn Võ Phiến qua tiếp xúc và điện đàm thường xuyên với bà Võ Phiến Viễn Phố. Bùi Bảo Trúc kính trọng bậc trưởng thượng chứ không hề nổi loạn hay chửi bậy. Chỉ trong giới bạn thân người ta mới thấy nét khiêm cung nhẫn nhục của Bùi Bảo Trúc. Cũng chỉ ở “vòng trong,” người ta mới thấy ông trân quý văn chương đến chừng nào khi đọc thơ và diễn giải về từng tác phẩm của thi ca Việt Nam.

Bùi Bảo Trúc thật ra vẫn giữ được truyền thống của một gia đình mô phạm.

Độc giả và thính giả của Bùi Bảo Trúc, đông lắm, đều khâm phục và ngợi ca trí thông minh và sự uyên bác khác thường của ông nên có thể bỏ qua hoặc thông cảm với sự giận dữ và cay độc mà ông dành cho những kẻ đánh bạc giả, phường làm dáng hay lũ rởm đời. Người viết này nhớ ông ở một khía cạnh khác: Bùi Bảo Trúc là người bất đắc chí và cô đơn. Một trong nhiều lý do có thể là thời sự, vận nước và số phận hẩm hiu của người dân Việt.

Bùi Bảo Trúc dành cho thủ phạm, bọn cầm quyền tại Hà Nội, hai chữ khinh miệt và thịnh nộ, nhưng ít nói về nhiều việc ông dành cho nạn nhân. Ồn ào mạt sát bạo quyền chừng nào ông kín đáo chừng đó khi tìm cách cứu giúp nạn nhân. Con người thô bạo ấy lại là người đầy từ tâm. Nghịch lý ấy của Bùi Bảo Trúc toát ra từ những bài tùy bút hàng ngày dưới tiêu đề Thư Gửi Bạn Ta.

Thật ra, gần ông mà phải tinh ý, thì chúng ta có thể thấy ông sống với nỗi niềm tự sát. Nơi ông, cái sống sôi nổi lại ôm ấp cái chết. Không nói ra, đã nhiều lần ông muốn tự tử. Mà còn có gì kinh hoàng cô độc hơn khi lởn vởn giáp mặt tử thần gần như mỗi ngày vì chẳng thiết sống? Ông gặp Mai Thảo trong ý định sâu kín đó: không muốn ăn mà chỉ còn uống để đi cho nhanh.

Người ta có thể sống nhờ tình yêu, sự nghiệp hay vì thói quen, vì lười biếng. Bùi Bảo Trúc thiết tha với tình yêu, ân cần với sự nghiệp chữ nghĩa, nhưng có thói quen của người cực đoan là không thỏa hiệp. Nhiều người phật ý về cái tánh quyết liệt không muốn thỏa hiệp của ông, nhưng ở vòng trong thì mới hiểu là ông không còn thỏa hiệp với chính đời sống.

Bùi Bảo Trúc sống cho đến chết mới thôi. Khi còn sống, vào những ngày tháng hay giờ phút cuối cùng, ông vẫn tận tụy với chữ nghĩa và thính giả trên làn sóng điện. Rồi gục ngã trong ước nguyện sau cùng. Giữa chốn thân tình, người viết này ưa cười khẩy cùng bạn: “Khi trời không cho là trò không chơi.” Bùi Bảo Trúc chơi tới bến – cho đến lúc dạt bờ.

Còn lại là gì? Chúng tôi có ba tên trời đánh là Phan Nhật Nam, Bùi Bảo Trúc và Nguyễn Xuân Nghĩa. Một trong ba tên vừa được trời tha là Bùi Bảo Trúc! Còn lại, có hai đứa ngơ ngác…

Bài này mở đầu bằng nhạc, lời cuối cho bạn ta cũng lại là nhạc.

Trong một dịp không xa, người viết này nhắc đến Thuyền Viễn Xứ và cả đoản khúc Nước Non Ngàn Dậm Ra Đi trong bản trường ca của Phạm Duy. Chưa ai hiểu gì thì Bùi Bảo Trúc đã bật cười sảng khoái vì chữ Cố Lý trong hai ca khúc. Cố Lý là quê cũ đã không còn, hay là mối tình cuối cùng ở một nơi xa xôi mà rất gần gụi trong mấy ngày chia tay?

Trời tha rồi, Trúc ơi. Hãy ra đi bình an thanh thản.

Tìm vàng ở Cali

Ẩn mình kín đáo giữa một thung lũng cây xanh tuyệt đẹp, nép dưới chân rặng núi Sierra và men theo con đường cao tốc 49 lịch sử của California, thắng tích ghi dấu cuộc săn vàng Marshall Gold Discovery ở ngay cuối ngã ba sông American River. Tại đây, ngày 24 Tháng Giêng năm 1848, doanh gia James Marshall tình cờ phát hiện những vụn vàng lấp lánh dưới lòng sông cạn, mở màn cho cuộc di dân lớn nhất trong lịch sử nhân loại thời đó.

Trải hàng ngàn năm, các bộ tộc Nisenan và Miwok sinh sống dưới bóng núi, trong những ngôi nhà mái vòm tự tay họ dựng lên bằng gỗ tùng, quây quần thành làng mạc ven những con suối nhỏ chảy ra sông American mà họ thương yêu gọi tên là “Cullumah,” ngày nay phát âm là Coloma. Cuộc sống trên sông nước êm đềm cho họ nguồn thực phẩm cá tươi đánh bắt dồi dào hàng ngày cùng với nhiều loại chim thủy sinh, hươu nai rừng và thức ăn căn bản của họ là hạt, quả từ cây sồi. Ngoài việc chăm nuôi con cái, thời giờ rảnh rỗi, phụ nữ các bộ tộc này tự tay đan những chiếc giỏ tre đựng hạt giống rất mỹ thuật. Dân làng sinh hoạt khép kín, ít tiếp xúc với thế giới bên ngoài cho tới cuối năm 1820, khi những tay đi săn lùng lông thú tìm tới đây và gặp gỡ họ. Cuối năm 1830, tiếc thay, số người mới xâm nhập vùng này mang theo họ các thứ tật bệnh dẫn tới tử suất dân làng tăng cao. Tiếp theo đó, vàng được khám phá dài theo dòng sông American trong thung lũng Coloma và khối đông người đi tìm vàng lập tức nắm quyền kiểm soát các địa điểm tập họp đánh cá của thổ dân. Năm 1849, con số thổ dân sống còn qua gian khổ, bệnh tật và mâu thuẫn đối nghịch với thành phần mới hạ cánh ở nơi này ngày càng tản mát vào sâu trong các thung lũng hoang vu, một số đổi sang nghề phu mỏ, một số làm công cho chủ nông John Sutter, người đã xây dựng nên vùng đất ngày nay có tên là Sacramento.

Ngoài vị thế làm chủ một đế chế nông nghiệp lớn trong thung lũng Sacramento, John Sutter sau kết hợp với James W. Marshall làm thêm công nghệ đốn gỗ và chính trong quá trình xoay chuyển hướng con nước từ dòng sông American để thuận tiện cho việc chuyên chở cây tới xưởng cưa, một buổi sáng Tháng Giêng năm 1848, James W. Marshall đã bất ngờ thấy vàng. Trong thời khoảng 50 năm tiếp theo biến cố này, ước lượng chừng 125 triệu ounce vàng đã được khai thác từ các ngọn đồi trong vùng, ảnh hưởng đến sự phát triển và hưng thịnh sớm sủa của California, tạo nên một nền văn hóa đa dạng và một đại chúng tiến bộ về mặt kỹ thuật. Nếu không có vàng, mọi thuận lợi khác của Cali như khí hậu, tài nguyên, vị trí địa dư… hẳn vẫn còn mai một trong bóng tối thêm một thời gian lâu nữa.

Tin tức về vàng của Cali lan rộng trên toàn thế giới. Người dân ở Trung Hoa gọi California là “Gum San, Kim Sơn, núi vàng.” Giới lao động Hoa kiều chạy trốn chiến tranh và cảnh nghèo khó, đổ xô tới miền đất hứa Coloma, Cali, với hy vọng tạo dựng sự nghiệp. Họ chỉ có chừng 50 người nhưng kỹ năng khai thác vàng của họ đạt năng suất quá cao khiến lực lượng phu mỏ tại đây than phiền bị người Hoa xâm lăng lấn chiếm. Không khí thù nghịch trong giới phu mỏ đưa tới những luật lệ và chính sách thuế khóa kỳ thị áp dụng cho “người nước ngoài” khiến một số Hoa kiều bỏ cuộc nhưng một số nhỏ vẫn kiên trì bám trụ, ở lại làm các dịch vụ khác còn lưu dấu vết tại thắng tích lịch sử ở Coloma. Trong tòa nhà Man Lee có ngân hàng và một cửa tiệm bán các loại dụng cụ gia dụng, có tiệm ăn với bảng hiệu ghi bằng Hán tự hai chữ Wah Hop, phiên âm là Hòa Hợp (?).

Đến khu đất lịch sử này mới thấy cung cách làm ăn đáng sợ của người Hoa. Họ không chỉ bỏ xứ đến Mỹ để lập nghiệp với tư cách người phu mỏ ăn trùm kẻ đồng hội đồng thuyền mà họ đến với đầu óc thống lĩnh để tận thu thành quả mồ hôi nước mắt của đám đông. Họ làm đường xe lửa để chuyên chở vật liệu và dụng cụ nặng cần cho kỹ nghệ tìm vàng, từ những máy móc cồng kềnh, búa xẻng, đĩa sắt để đãi vàng cho tới cái cân tiểu ly nhỏ xíu đặt trong lồng kiếng. Họ cung cấp không thiếu một thứ gì các phu mỏ cần. Họ mở nhà băng giúp trao đổi tiền tệ kiếm lời, họ mở tiệm ăn, tiệm rượu… Những người phu mỏ làm việc vất vả suốt ngày ngoài bãi sông, chiều về mang số vụn vàng kiếm được bán cho xì thẩu thu mua, đổi lấy chút tiền nào lại đem nộp tiếp cho xì thẩu ở ngân hàng, ở quán ăn, tiệm rượu, sòng bạc, một xu cũng không lọt ra ngoài mạng lưới phục vụ tinh vi của các doanh nhân Hoa Kiều. Nhiều chứng tích còn lưu lại trong khu vực tìm vàng, đánh dấu sự có mặt sớm sủa cùng với quyền lực và sự khôn ngoan bên trong những đôi mắt một mí sắc sảo, những cái đầu tóc tết đuôi sam dài quá thắt lưng nhìn thấy ở rất nhiều hình ảnh trưng bày tại khu công viên lịch sử Marshall Gold Discovery. Bên trong tòa nhà Wah Hop tường đá sứt mẻ nay là phế tích được trùng tu nhưng vẫn giữ nguyên hình dáng khởi thủy, xưa là cao lâu hay tửu lầu, du khách có dịp nhìn tận mắt giá treo thức ăn, bát đĩa, nậm rượu, ấm chén uống trà, đặc biệt bàn tính bằng gỗ cả chục cái vứt lăn lóc. Họ biết xây cả lò để quay thịt hay làm bánh mì ngay trong tiệm. Tôi đứng giữa cảnh vật hoang tàn, bụi bặm, ngửi thấy mùi thời gian ẩm mốc và hình dung ra một thời náo nhiệt với đông đúc người đến đây. Họ là những phu mỏ địa phương hoặc tới từ các tiểu bang lân cận, xa xôi nhất từ bên kia bán cầu là những người Hoa đánh hơi cơ hội kiếm tiền. Họ thở ra hơi rượu và tham vọng, thể hiện cơn sốt vàng từng khiến cho thành phố San Francisco vắng đi một nửa dân số bởi vì thanh niên trai tráng đổ xô về đây. Trong phút giây bất chợt, tôi rùng mình với cảnh tượng trước mắt, cảm giác như một người vừa thoát nạn khiến tôi bàng hoàng xúc động. Một ngàn năm bắc thuộc, bị thống trị bởi một sắc dân thông minh, quyền biến như vậy mà Việt Nam vẫn đứng vững, vẫn nguyên vẹn, hóa ra tổ tiên tôi, dân tộc tôi tài giỏi, xuất sắc, lẫm liệt đến thế! Cả kho sử sách làu thông dưới mái trường, chỉ một tích tắc cơ duyên đủ để cháy lên ngọn lửa huy hoàng âm ỷ nhiều thế kỷ.

“Giàu sang chưa chín một nồi kê.” Buổi bình minh nạm vàng nhanh chóng nhường chỗ cho hoàng hôn ảm đạm. Tháng chạp cùng năm 1848, một trận lụt lớn gây khó khăn cho xưởng cưa và chủ nhân chính, ông John Sutter, rút khỏi công ty. Marshall tìm hai cổ đông thay thế nhưng về sau, công việc quản trị gặp nhiều rắc rối về luật pháp, khiến công ty phải ngưng hoạt động rồi đóng cửa hoàn toàn sau năm 1850. Marshall tiếp tục theo đuổi công việc tìm vàng không mấy thành công. Năm 1857, ông mua 15 mẫu đất ở Coloma với giá $15, cất cho mình ngôi nhà gần nhà thờ Thiên Chúa giáo và đầu tư vốn vào nhiều giống nho ngoại quốc. Ông lập vườn nho trên lưng ngọn đồi nhìn xuống nghĩa trang, làm hầm chứa rượu và bắt đầu sản xuất rượu vang đưa vào thị trường. Năm 1860, thương vụ của ông phát triển tốt đẹp, nhận được bằng khen của hội chợ quận hạt nhưng cuối thập niên ấy, một loạt trở ngại lại đưa ông về khởi điểm. Trong thời gian này, ông cũng có cơ hội đồng sở hữu một mỏ thạch anh gần Kelsey. Nuôi hy vọng gây quỹ để có vốn khai thác dự án mới, ông hăng hái lên đường chỉ để thấy may mắn không cười với ông dễ dàng như trong buổi sáng cuối tháng giêng 1848, khi ông nhặt được từ lòng sông những hạt vàng đầu tiên đẹp như mơ. Không còn một xu dính túi, nhờ từ tâm của một người bạn mua tặng tấm vé xe, ông về thăm mẹ và em gái ở New Jersey, sống với họ vài tháng trước khi quay lại Kelsey.

Do công trạng của ông trong cơn sốt vàng, năm 1872, Quốc Hội tiểu bang ân thưởng cho ông trợ cấp $200 hàng tháng và trong hai năm. Nhờ vậy, ông thanh thỏa được một số nợ nần và mở cơ sở lò rèn ở Kelsey. Trợ cấp này sau giảm một nửa và kéo dài thêm được bốn năm nữa rồi chấm dứt vào năm 1878, giữa dư luận eo xèo bình phẩm về tật uống rượu của ông.

Từ đây cho tới cuối đời, bên cạnh công việc sinh nhai bằng nghề lò rèn, ông vẫn lặn lội chắt mót quanh cái mỏ vàng nho nhỏ của mình gần Kelsey. Năm 1885, ông qua đời ở tuổi 75, mộ phần nằm trên sườn ngọn đồi trông xuống thành phố. Năm 1890, bia tưởng niệm lịch sử đầu tiên của tiểu bang California, uy nghi, lộng lẫy, chạm khắc phương danh ông, niên đại tìm thấy vàng, các dụng cụ dùng để đào và đãi vàng với tượng toàn thân ông đứng trên chóp cao, tay co, tay duỗi, chừng như ngập ngừng nửa cầm chắc, nửa cho đi, được dựng trên đỉnh đồi, nhìn bao quát toàn cảnh khu vực khám phá ra vàng, đánh dấu nơi James W. Marshall yên nghỉ.

Câu chuyện tìm được vàng của James W. Marshall nhắc tôi câu chuyện tương tự từng xảy tới cho phụ thân tôi khoảng trước năm 1950, ở Việt Nam. Cùng với 80% mỏ than ở Hỏn Gai, Cẩm Phả; cùng với suối Vĩnh Hảo ở Bình Thuận do bố tôi khám phá ra, ông còn tìm thấy mỏ vàng ở Cửa Rào. Ông đã đặt mua hai cái máy ở ngoại quốc (không biết có giống cái máy ở khu Marshall Gold Discovery không?) nhưng chưa kịp khởi công thì Hiệp Ước Genève chia đôi đất nước ra đời, nửa quê hương phía bắc rơi vào tay cọng sản Bắc Việt và bố tôi, không theo họ mà nhờ họ, cũng rơi vào thành phần vô sản. Ngoài mỏ than ở Hòn Gai, Cẩm Phả và suối Vĩnh Hảo nay thuộc chủ quyền quản lý của chính phủ, tôi thực sự không nghe nói gì về số phận mỏ vàng ở Cửa Rào vẫn nằm yên trong trí nhớ tôi từ năm lên 10. Cả sau khi phụ thân tôi đã qua đời, cũng nhờ chính quyền đương thời, ngôi nhà cuối cùng của ông nay thuộc về mọi người.

Bùi Bảo Trúc rạng danh Ký Mục Gia

Nghe tin, trong lòng tôi thấy lặng lẽ đau… và thoáng đôi chút chua xót nổi lên lẫn với tiếc thương.

Ký ức của trên 50 năm qua lần lượt trở lại, đậm nhạt khác nhau, nhưng không được rõ bất cứ một thời điểm nào cả. Có điều những hình ảnh đang hiện ra ngay trước mặt tôi như những khúc phim đứt đoạn.

Xuất sắc trong hoạt động sinh viên

Trong thời sinh viên Văn Khoa Sài Gòn, người ta ghi nhận hai sự kiện sống động:

Một là cuối năm 1967, trong một liên danh dự trù ra ứng cử Ban Chấp Hành Sinh Viên Đoàn Văn Khoa, Bùi Bảo Trúc được đề nghị giữ chức vụ chủ tịch. Muốn tổ chức sinh hoạt để giới thiệu hoạt động, liên danh đã cử Ngô Vương Toại (dự trù làm tổng thư ký ban đại diện này) đứng ra lo thực hiện đêm ca nhạc sinh viên vào giữa tháng 12 tại giảng đường lớn nhất thuộc khuôn viên mới của trường bên đường Cường Để.

Trong giờ giải lao, nhóm nằm vùng đã nhảy lên cướp micro tuyên truyền cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Toại vội giật lại micro và bị họ bắn vào bụng đứt mấy khúc ruột, may mà Toại khỏe quá và được cứu chữa kịp thời nên sau 1975 còn sang định cư ở Mỹ, lần lượt thực hiện các tờ báo VIỆT CHIẾN, XÁC ĐỊNH với Đặng Đình Khiết và HOA THỊNH ĐỐN Việt Báo với Giang Hữu Tuyên, tại Washington DC, rồi cuối cùng mất vì bệnh vào năm 2014.

Đúng cái đêm giữa tháng 12 năm 1967 ấy, Bùi Bảo Trúc tổ chức đám cưới nên thoát!

Hai là cũng giữa Tháng Mười Hai năm sau, 1968, nhóm thân hữu đang tổ chức trại họp bạn quốc tế ở Trung tâm Huấn Luyện Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn-Vũng Tàu thì ở trường Ngô Vương Toại gọi ra báo rằng nhóm nằm vùng quậy quá, chúng muốn tổ chức bãi khóa, thầy Khoa Trưởng bảo phải có một anh uy tín về gấp lo đối phó. Được anh em cử, Bùi Hồng Sỹ sáng sớm hôm sau về thẳng khuôn viên trường Văn Khoa thì ngay trên đường đi ăn trưa đã bị một tên bắn lén sau gáy, may mà không trúng chỗ nhược nên cũng “tai qua nạn khỏi.”

Hai ngày sau, tổng thống ra tham dự trại họp bạn, các bài diễn văn đón tiếp đã soạn trước liền bị hủy bỏ mà thay vào đó là đại diện ban tổ chức ứng khẩu lên án chính quyền đã hành sử thiếu hữu hiệu trong công việc bảo vệ an toàn cho các hoạt động của sinh viên. Được giao nhiệm vụ thông dịch, Bùi Bảo Trúc cũng ứng khẩu dịch theo trên micro, ông vừa nói vừa tuôn trào nước mắt cảm thương bạn hiện lúc ấy chưa biết sống chết ra sao!

Nổi bật từ giáo chức tiến sang viên chức

Từ Tân Tây Lan (New Zealand) về nước vào giữa thập niên 1960, Bùi Bảo Trúc ghi danh học tại Văn Khoa Sài Gòn, đồng thời ông đã là giảng viên tại Hội Việt Mỹ – Saigon lẫn trường London School.

Và ông “nổi tiếng” trong nhóm anh chị em đi dạy học thuở ấy thường tụ tập nhau uống cà phê ăn sáng tại La Pagode với những câu chuyện tiếu lâm ý nhị rút ra từ Playboy- Penthouse, hai tạp chí ông mua dài hạn. Nhưng tiếp sau đấy, ông lại nổi danh khắp miền Nam Việt Nam ở nhiều vị trí khác:

Chương trình “ Đố Vui Để Học” của Trung Tâm Học Liệu thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục đều đặn phát hằng tuần trên đài Truyền Hình, 2 nhân vật điều khiển đầu tiên dí dỏm – duyên dáng nhất phải là Đinh Ngọc Mô và Bùi Bảo Trúc.

Không dừng ở đấy, ông sau đó còn được chọn làm Phát Ngôn Viên Chính Phủ; và cuối cùng giữ chức vụ Trung Tâm Trưởng Trung tâm Luân Đôn, cục Quốc Ngoại, bộ Thông Tin-Dân Vận-Chiêu Hồi.

Ký Mục Gia Bùi Bảo Trúc

Vào giữa thập niên 1980 gặp lại trên một chuyến sang Washinton D.C., tôi được Bùi Bảo Trúc dẫn vào thăm Ban Việt Ngữ đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA), gặp anh Lưu Văn Khoa trưởng ban, gặp anh Lê Văn hồi ấy là nhân vật nổi danh nhất cộng đồng hải ngoại đang phụ trách sinh hoạt văn nghệ ca nhạc Việt.

Và “Thư Gửi Bạn Ta” do Ký Mục Gia Bùi Bảo Trúc viết, xuất hiện hằng tuần trên mặt báo Người Việt. Tôi còn nhớ rằng cuối thập niên 1980 sang 90, nhật báo LATimes có cho biết, mỗi năm trung bình báo chí – truyền thông Hoa Kỳ “đẻ” từ 3 đến 5 từ ngữ mới (thí dụ hồi đó có chữ Hooligan, chỉ sự kiện hỗn loạn) để diễn đạt chính xác những hiện tượng mới xuất hiện. Thì cùng thời, trong báo chí – truyền thông Việt ngữ ở hải ngoại cũng có 2 từ ngữ mới là Dương Cầm Thủ của Lê Đình Điểu và Ký Mục Gia của Bùi Bảo Trúc.

Sau đó Nhà Xuất Bản Người Việt đã gom lại in ra thành từng tập Thư Gửi Bạn Ta. Đây là bộ sách bán chạy trên thị trường thời gian ấy.

Nói chung lại, mặc dù khi giao tế ông có đôi lúc tỏ thái độ thẳng thắn trực tiếp quá và khi viết thì ông hay để sót trên bài của mình những từ ngữ thô nhám, theo cá nhân tôi nghĩ, hai sự kiện này đã làm giảm đi cái tinh chất dí dỏm duyên dáng cố hữu của ông, nhưng đặc biệt là mỗi khi xuất hiện ở các sinh hoạt văn học nghệ thuật cộng đồng, cũng như trong bài viết, ông luôn có phong thái lịch lãm, tài hoa và uyên bác.

Sự nghiệp hoạt động trong giáo dục – truyền thông trên năm mươi năm qua của Bùi Bảo Trúc rõ rệt là xuất sắc, hiếm ai trong cộng đồng chúng ta có thể bì kịp.

Đa số dân Canada không muốn thần phục Hoàng Gia Anh

OTTAWA, Canada (NV) – Một cuộc thăm dò mới, do Ipsos thực hiện cho Global News, tiết lộ 53% người dân Canada tin rằng có thể sớm chia tay sự thần phục với Hoàng Gia Anh khi Nữ Hoàng Elizabeth II qua đời và Hoàng Tử Charles lên ngôi vua.

Ông Sean Simpson, phó chủ tịch về quan hệ công chúng của Ipsos, cho biết, đó là con số cao nhất được ghi nhận từ năm 2010 đến nay,

Như thường lệ, lời kêu gọi xóa bỏ sự lệ thuộc vào chế độ quân chủ là ồn ào nhất ở Quebec, nơi 73% số người được hỏi cho biết là mối liên kết đến Hoàng Gia Anh nên cắt đứt ngay sau khi nữ hoàng băng hà, một tỉ lệ cao nhất so với giữa 44% và 51% ở tất cả các tỉnh bang khác.

Tình cảm kém mặn nồng của Quebec với Hoàng Gia Anh bắt nguồn từ hàng trăm năm lịch sử, ông Simpson nói.

Nhưng những người Canada phò đế chế hiện nay đang lo ngại rằng đã có đủ một “khối lượng quan trọng” những người phản đối việc tiếp tục đặt Canada dưới sự cai trị của Anh, ông Simpson nói thêm.

Trong khi đó, dù mối ràng buộc với Anh chỉ là danh nghĩa có tính lịch sử, chính phủ Canada vẫn cấm những thách thức đòi thay đổi cơ bản hệ thống và hiến pháp liên quan đến điều này, ông nói.

Ipsos cũng đặt ra một số câu hỏi liên quan đến bộ phim tư liệu mang tên “Hoàng Gia” (The Crown) được Netflix phát hành ở Canada vào tháng trước.

Bộ phim nói về Nữ Hoàng Elizabeth II sau khi Vua George VI, thân phụ của bà, băng hà, và những năm đầu của triều đại, nêu bật những thách thức cá nhân và chính trị liên quan đến vương triều của bà.

Trong số được hỏi, chỉ có 13% cho biết có xem toàn bộ hoặc một phần, so với 80% cho biết đã không hề xem loạt phim lịch sử này.

Điều thú vị là những ai từng xem bộ phim đều không đồng ý hoặc ít có khả năng đồng ý việc Canada nên kết thúc mối quan hệ với chế độ quân chủ khi triều đại của nữ hoàng kết thúc.

Nữ Hoàng Elizabeth II hiện nay 90 tuổi, là người trị vì quốc vương Anh lâu nhất trong lịch sử, đang bắt đầu chuyển dần quyền lực cho các thành viên trẻ của hoàng tộc. Tuy nhiên, các chuyên gia tin rằng bà sẽ không bao giờ thoái vị.

Cá nhân bà vẫn được dân Canada đánh giá cao trong cuộc bình chọn mới nhất này, với 8 trong 10 người Canada đồng ý rằng bà đã làm tốt vai trò quốc vương của mình. Mặc dù con số có giảm từ 84% xung quanh ngày sinh nhật lần thứ 90 của bà, nhưng vẫn tăng từ 73% so với thăm dò hồi Tháng Sáu, 2010. (L.Q.T.)

Số người mua nhà ở Mỹ giảm trong Tháng Mười Một

WASHINGTON, DC (AP) – Có ít người Mỹ ký giấy mua nhà trong Tháng Mười Một hơn là những tháng trước. Việc sút giảm này phần lớn do mức lãi suất tăng cũng như số nhà đưa ra thị trường vẫn không nhiều.

Hiệp Hội Người Môi Giới Địa Ốc (NAR) hôm Thứ Tư cho hay con số giao kèo mua bán nhà giảm 2.5%, ít nhất từ đầu năm 2016.

Số giao kèo bán nhà giảm ở vùng Trung Tây, Nam và Tây Mỹ trong khi tăng ở vùng Đông Bắc.

Sự sút giảm này cũng đánh dấu chuyển đổi hẳn của thị trường nhà cửa, do số nhà bán đã tăng trong suốt năm ngoái.

Việc hoàn tất hồ sơ mua nhà đang có trên thị trường hồi Tháng Mười Một đã lên đến mức cao nhất từ gần một thập niên nay, theo NAR tuần qua.

Tuy nhiên, số giao kèo chờ ký ít hơn cho thấy nhu cầu nay có thể đã yếu đi vì chi phí mua nhà nay tăng lên.

Con số hồ sơ chờ ký bán là một cách đo lường việc mua bán nhà trong tương lai.

Một thỏa thuận mua bán nhà thường mất một đến hai tháng mới hoàn tất sau khi giao kèo được ký.

Việc mức lãi suất mua nhà tăng cũng có thể khiến các chủ nhà hiện nay ngần ngại không muốn bán vì sẽ phải mua nhà mới với lãi suất cao hơn. (V.Giang)

54,000 di dân ở Đức nhận tiền để trở về nước năm 2016

BERLIN, Đức (AP) – Chính phủ Đức chấp thuận cung cấp tài chánh cho hơn 54,000 di dân để họ trở về quê nhà trong năm nay, theo giới hữu trách hôm Thứ Tư, mở đường cho sự gia tăng lớn lao của việc tự nguyện hồi hương.

Đức muốn tăng số người hồi hương sau khi bị bác đơn xin tị nạn trong số 890,000 người đến quốc gia này hồi năm ngoái.

Phát ngôn viên Bộ Nội Vụ, ông Harald Neymanns, nói rằng chính phủ đã chấp thuận chi ra 21.5 triệu euro (khoảng $22.5 triệu) năm nay để gửi trả những người bị bác đơn xin tị nạn về nguyên quán.

Khoảng 35,000 người phải rời khỏi Đức đã tự ra đi trong năm 2015, ông cho hay.

Ông cũng nói rằng hai con số của năm 2015 và 2016 không thể so sánh với nhau vì con số người rời trong năm 2016 hiện chưa được xác định rõ ràng.

Ông Neymanns nhấn mạnh rằng Bộ Trưởng Nội Vụ Thomas de Maiziere luôn nói rằng “tự nguyện hồi hương vẫn tốt hơn là phải trục xuất.”

Tính đến cuối Tháng Mười Một, có 23,750 người bị buộc trục xuất khỏi Đức.

Thành phần tự nguyện hồi hương đông đảo nhất trong năm nay là người từ Albania, với con số 15,749.

Ngoài ra, còn có 5,754 người từ Serbia, 5,373 người từ Iraq, 5,130 từ Kosovo, 4,310 từ Macedonia, và 3,242 từ Afghanistan. (V.Giang)

Bùi Bảo Trúc tài hoa và lận đận

Chàng nhìn theo cái lưng của người bạn trẻ khi cánh cửa buồng khép lại.

Chàng rơi vào một sự im lặng hoàn toàn. Khép nhẹ cặp mắt nghe râm ran thân thể, những lóng xương như đang rên rỉ quanh mình.

Hãy gõ cửa, đêm nay ta trở lại
Cánh cửa ơi có còn nhớ nhau không?

Cánh cửa không nhớ chàng nhưng chàng nhớ cánh cửa. Hôm nay bỗng dưng cả ngôi nhà thân yêu trên quê cũ hiện về trong trí nhớ chàng. Nơi chàng sống đời trai trẻ cùng với những đứa con bé bỏng. Nơi chàng đêm đêm trở về rón rén lên từng bậc cầu thang, nghe tiếng con thở, ngửi được cả mùi thân quen của chúng bay ra.

Vòng trở lại là chiếc cầu thang gỗ
Ta vẫn thường rón rén tối về khuya
Ở trên gác, nơi các con ta ngủ
Mấy chục năm rồi, mùi chúng vẫn đâu đây

Căn nhà mà nhắm mắt lại chàng cũng nhớ chỗ nào là kệ sách, chỗ nào để cái ghế, kê cái bàn viết, mà đêm đêm chàng hay thức dậy viết lăng nhăng. Rồi căn bếp, bể nước mưa, cái máng nước, cây trứng cá và những mảng đêm. Chao ôi cái đêm cuối cùng đó, chàng nhớ, mình nằm ngó lên trần nhà nước mắt rưng rưng, nghĩ tới việc bỏ đi:

Đêm còn tối trên tàn cây trứng cá
Ta phải đi, buổi sáng sắp lên
Căn nhà cũ sẽ bỗng đầy người lạ
Đường sá xác xơ, thành phố cũng thay tên.

Chàng bây giờ nằm đây, ngó ra ngoài cửa sổ, nhìn chút nắng yếu ớt bên ngoài. Cô đơn hoàn toàn phủ chụp lấy chàng. Trong nỗi cô đơn này chàng có sự tự do để đầu óc mình tưởng tượng, mình trở về quá khứ, về con phố ngoài kia.

Hãy tưởng tượng lại đi trên đường cũ
Những lề đường đá lát lá me non
Thời trốn học lang thang trên vỉa phố
Sách trong tay, mộng ước chất đầy hồn

Chàng bỗng nhớ tới tất cả những người thân yêu đã đi qua đời chàng, những đứa con, những người tình, những người bạn. Họ bỏ chàng đi đâu hết rồi. Chàng tự trách mình: “Ta phụ người hay người đã phụ ta.”

Hãy tưởng tượng buổi chiều ra ngồi quán
Bạn cũ tới đầy, đủ mặt cố tri
Dăm ba đứa biệt tăm trong thời loạn
Đã trở về cùng khật khưỡng vài ly

Rồi chàng thầm thì ao ước:

Và tưởng tượng vừa tan cơn mộng dữ
Bạn bè xưa, người tình cũ về đây
Căn gác nhỏ của một thời sách vở
Vẫn còn nguyên, cơn ác mộng xa bay.

Người đàn ông đang trong cơn vật vã với tử sinh, tác giả của những câu thơ nhẹ nhàng tràn ngập cảm xúc đó, chính là Bùi Bảo Trúc.

Bùi Bảo Trúc, một đời người với chữ nghĩa. Ở nơi nào anh tới, có truyền thanh, truyền hình, báo chí là có anh cộng tác. Những bài viết của anh được độc giả ưa chuộng tìm đọc nhiều nhất dưới tựa đề “Thư Gửi Bạn Ta” Anh viết rất sâu sắc, thông thái, chua chát với đời sống, cười cợt với con người, mắng mỏ kẻ ác, chế diễu Cộng Sản trong suốt bao nhiêu thập niên tung hoành trên báo giấy rồi đến những trang mạng. Chưa có ai viết như anh. Chưa có ai mỗi khi viết, gửi vào bài viết những lầu thông kim cổ như anh. Văn Học Tây Phương, Đông Phương anh thu thập và nhớ rất nhiều.

Bất cứ lúc nào anh cũng có thể mang ra chứng minh trong những bài viết của mình. Độc giả thích thú theo dõi những bài anh viết.

Nhà văn Mai Thảo thủa còn sinh tiền, mỗi khi mở tờ báo ra, tìm bài của Bùi Bảo Trúc đọc trước tiên.

Bùi Bảo Trúc có một đời sống nhiều thay đổi, anh như ngựa chạy đường trường, không dừng vó lâu được. Cũng có thể anh là một con ngựa chướng, cần một “Nài” giỏi mà anh chưa may mắn gặp, nên cuối đời của anh không được vui.

Chúng ta đọc Thơ anh, đọc những bài viết cho “Thư Gửi Bạn Ta” Chúng ta dễ dàng nhận ra lòng thù ghét Cộng Sản của anh, nhận ra tình yêu quê hương, yêu đất nước Việt Nam của anh.

Anh gửi tình yêu đó vào những câu thơ trong bài Xa Nhà Đọc Thơ Hạ Tri Chương

Tưởng tượng mai về khu Ngã Sáu
Chiều ra đầu ngõ đứng trông xe
Có người quen hỏi: “Lâu không gặp?”
Đáp khẽ: “Đi xa mới trở về.”

Cũng hệt như Hồi Hương Ngẫu Thư (*)
Tóc xanh giờ đã bạc như tơ
Tiếng quê nghe vẫn đầy âm cũ
Mà cũng lạ tai câu trẻ thơ

Ô hay, tiền bối Hạ Tri Chương
Tiền bối xa quê thuở Thịnh Đường
Sao thơ hệt chuyện bây giờ nhỉ
Thuở ấy mà sao cũng não lòng

Tôi cũng như ông, đời biệt xứ
Trẻ ra đi, già vẫn tha hương
Mấy chục năm buồn trên xứ lạ
Tôi đọc thơ ông nát cả hồn.

Hôm nay người đàn ông tài hoa và lận đận đó đã từ giã quá khứ của mình, từ giã những bài Thơ, những bài tạp ghi để đi về một chốn xa xôi nào đó, nhưng anh vẫn chưa về lại được cố hương một lần như lòng anh mong mỏi.

tmt – 12/17/2016
(Tất cả thơ trong bài của BBT)

Như một lời cám ơn

Gắng tìm lại một bài đã viết khá lâu của ký mục gia Bùi Bảo Trúc trong số những bài báo tôi còn lưu giữ, nhưng không hiểu nó lạc đâu mất rồi. Nếu không lầm thì đó là bài thơ “Bác ơi” của Tố Hữu mà ông đã sửa, và được in trong trang A3 của nhật báo Người Việt, vào khoảng giữa thập niên 1980.

Và có lẽ từ bài thơ tếu táo nhưng rất cay độc đó đã dẫn tôi theo ông, đọc ông đọc ròng rã mấy chục năm nay, khởi đi từ những “Lá Thư Hoa Thịnh Đốn” được ký tắt bằng ba chữ BBT mà có lần ông tự trào là “Bún Bò Thiu.”

Với tôi, nhà báo Bùi Bảo Trúc là một trong những người gián tiếp bồi bổ kiến thức cho tôi. Tôi học được từ nơi ông rất nhiều điều, bởi ông là người rất uyên thâm trong rất nhiều lĩnh vực, nhiều đề tài khác nhau. Có thể dẫn chứng bằng những bài báo ông viết về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, bằng sự am tường rất rành rọt các loại tàu bay tàu bò khác nhau, hoặc từ những hiểu biết về thế giới loài vật… Ông như một quyển Bách Khoa Toàn Thư sống, cứ “đến” với ông là mọi chuyện dường như được thông suốt, được tường tận ngay.

Không những ông viết đều đều mỗi ngày một bài báo cho mục Lá Thư Hoa Thịnh Đốn, sau này là Thư Gửi Bạn Ta, mà khi ông làm việc cho Little Saigon Radio, cho Hồn Việt TV, thì với những chương trình do ông phụ trách như Ngày Này Năm Xưa, Anh Ngữ Trong Đời Sống, Chào Hoàng Hôn đều rất lý thú và bổ ích. Mỗi lần vì lý do nào đó mà tôi bỏ sót hay không xem/nghe được ông, tôi thấy tiếc ghê gớm.

Tôi rất thích lối viết, cách nói chuyện của ông. Vừa khệnh khạng ngang tàng, vừa dí dỏm bỡn cợt, nhưng dường như lúc nào cũng có nụ cười hóm hỉnh theo sau. Điều đó có thể thấy rất rõ trong những Sớ Táo Quân ông viết hàng năm trong các số báo Xuân. Phải nói ông là bậc thầy về đề tài này, vì từ khi tôi ra hải ngoại tới nay, tôi chưa thấy ai qua mặt ông nổi về cách “dàn dựng” để cho các Táo trình sớ lên Ngọc Hoàng Thượng Đế mỗi khi Xuân về Tết đến.

Kinh nghiệm của ông là “khi viết sớ tránh lê thê lượm thượm. Nên nhớ Sớ Táo Quân không phải là bản tổng kết cuối năm. Chỉ nên lược lấy vài ba sự kiện quan trọng, và nhất là phải làm sao cho vui nhộn là ăn tiền.”

Học được bài học quý giá đó, tôi tập tễnh dự thi viết Sớ Táo Quân cho Hồn Việt TV. Và phần thưởng tinh thần mà tôi nhận được là câu khích lệ trong một lá thư ban tổ chức gửi cho tôi “… riêng thầy Bùi Bảo Trúc thì thích Sớ Táo Quân của Anh nhất, đủ mọi điều kiện vui nhộn, dí dỏm. Tiếc là Thầy Bùi Bảo Trúc bận quá, không có trong Ban Giám Khảo.”

Riêng những bài ông viết về Mẹ lại là những bài tôi say mê nhất. Chiếc khăn quàng lụa của Mẹ ông đến thăm, khi ra về bỏ quên, hay mùi phấn, mùi nước hoa đã được ông kể lại rất tài tình, “Hơn một năm, mà mùi nước hoa mẹ tôi dùng vẫn còn mơ hồ thoang thoảng trong những thớ lụa. Cái mùi mẹ tôi dùng đã bao nhiêu lâu nay, mùi Coco Chanel, vẫn còn nguyên một cách kỳ lạ. Chiếc khăn lúc vắt trên vai, lúc trùm mái tóc, mùi mẹ tôi, mùi tay, mùi tóc… tìm kỹ chắc cũng còn nguyên trong đó.” Sao mà nó đằm thắm, nó dịu dàng, đọc mà cứ ngỡ ông đang viết chung cho các người Mẹ, để rồi tôi lại thừ người nhớ về má của tôi.

Viết để tưởng nhớ về ông thì không biết phải viết bao nhiêu cho đủ, cho vừa. Nay Ông đã đi xa. Tất cả đã vạn sự giai hưu. Nhưng di sản ông để lại là cả một khối kiến thức đồ sộ, mà tôi là một trong những người đang thừa hưởng.

Xin chân thành gửi đến ông một lời cám ơn trang trọng nhất, và xin được thắp một nén hương lòng để tiễn ông đi.

Bùi Bảo Trúc: Tâm, Tài và Tật

Ba tuần trước ngày nhắm mắt, anh Trúc gọi điện thoại nói, “cậu Thái ghé qua Little Saigon Radio lấy 300 tiền mặt và chuyển về Việt Nam biếu các con bà Cấn Thị Thêu giùm tôi.”

Sau khi nhận được thư hồi báo của gia đình bà Thêu, tôi chuyển bằng email [email protected] của anh nhưng không thấy anh trả lời. Gọi anh ba lần cũng chỉ nghe lời nhắn trên máy.

Vậy là lần nói chuyện đó là lần cuối cùng tôi nghe được giọng anh, vẫn ấm tuy có hơi yếu. Và đó cũng là lần chót tôi nhận tiền của anh để gửi giúp những người lâm vào hoàn cảnh nghiệt ngã tại Việt Nam.

Ngày Việt Khang ra tù, anh nói trên làn sóng Little Saigon Radio về người nhạc sĩ can trường này và nhắn ai muốn góp tay giúp Việt Khang thì cứ ghé tòa soạn báo Người Việt giao cho tôi, “bảo đảm quà sẽ tới tận tay người nhận.” Nhiều người tin anh, mến anh đã đến và tôi đã làm tròn ước muốn của anh.

Một lần, buổi sáng sớm năm 2008, tôi vừa dứt chương trình Chào Bình Minh của Little Saigon Radio, ra ngoài sân “liều một đám” tức “làm một điếu” thì cô thư ký của đài bước ra nói, nhiều thính giả gọi vào kiếm tôi để nhờ gửi tiền cho một phụ nữ bị chết đuối ở Quảng Bình. Tôi chẳng biết ất giáp gì, nhưng ngay sau đó thì hiểu ngay. Chả là anh Trúc nói trên đài qua cuốn băng thâu trước về hoàn cảnh của một người đàn bà vì lao ra sông chống chọi với dòng nước lũ cuồn cuộn để cứu hai nữ sinh chới với sắp chìm. Hai nữ sinh sống sót, người thiệt mạng chính là tấm lòng quên mình giúp người này. Báo chí trong nước chụp tấm ảnh người chồng cùng 7 đứa con nheo nhóc, có đứa con phải bế trên tay, ngồi bên bờ sông đón con đò đưa xác mẹ vào bờ. Anh Trúc nói anh nhờ tôi chuyển $300 cho gia đình người xấu số và kêu gọi mọi người cùng tiếp tay. Chỉ trong vòng chưa đầy 3 ngày, số tiền do nhiều người đến cho tổng cộng lên đến gần $14,000. Tôi phải liên lạc với hai người bạn của Hội Quảng Bình sống ở California và nhân chuyến họ về thăm quê nhà cầm theo số tiền lớn nói trên đem về tận tay cho người chồng và 7 đứa con. Tôi còn cẩn thận dặn nhớ quay phim để khi hai anh trở lại Mỹ, tôi chiếu tại phòng sinh hoạt để cho những người có tâm giúp đỡ biết tôi đã hoàn tất nhiệm vụ được ủy thác.

Anh Trúc là vậy đó. Anh có cái TÂM không ngần ngại dang tay giúp những hoàn cảnh khốn khó. Và sở dĩ tiếng nói của anh được hưởng ứng vì nhiều người yêu mến cái TÀI của anh.

Nói về tài thì anh nhiều tài lắm. Anh viết và nói lưu loát cả tiếng mẹ đẻ lẫn Anh Ngữ. Có người nghe anh nói tiếng Anh bèn nhận xét rằng, giá nhắm mắt thì có thể nhầm là một người Anh chính cống đang phát biểu. Thời còn làm phát ngôn viên chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, anh đã dùng ngoại ngữ đối đáp và tạo được sự nể trọng của giới ký giả nước ngoài.

Kiến thức của anh “cực” rộng trong nhiều lãnh vực, thậm chí anh biết rành rẽ cả những chi tiết về trang phục “trong” và “ngoài” của nữ giới. Có lần tôi đùa với anh, rằng đọc mục Thư Gửi Bạn Ta mà anh khởi đầu đăng hàng ngày trên báo Người Việt, khi anh viết về chính trị, anh rõ là một người “thông kim bác cổ;” còn khi anh viết về nữ giới, độc giả cứ ngỡ người viết phải là một phụ nữ lúc thì quý phái, lúc thì đanh đá chua ngoa, lúc thì nhu mì thục nữ. Tôi còn nhớ, có lần nhà văn Mai Thảo lúc sinh thời nói rằng, thú vui của tác giả “Mười Đêm Ngà Ngọc” là mỗi buổi sáng, từ căn hộ sau lưng quán Song Long, lững thững cuốc bộ ra sạp báo trên đường Bolsa mua tờ Người Việt và đọc ngấu nghiến bài mới của Bùi Bảo Trúc trong mục Thư Gửi Bạn Ta.

Nhưng cũng phải nói, anh nhiều tài và cũng lắm TẬT nên bị không ít người ghét, vì anh không kiêng dè, không chấp nhận những giả trá hay thói rởm của người khác, nhất là khi liên quan đến ngôn ngữ. Không biết bao nhiêu lần, anh cay nghiệt nói như vỗ vào mặt người khác – ngay cả trên radio, trên mặt báo. Anh còn bị cả cánh đàn ông và các bà ghét vì anh… đào hoa quá. Thực tình chẳng ngoa, anh cũng gieo rắc buồn phiền cho nhiều người và anh biết điều đó chứ chẳng phải không. “Chữ TÀI liền với chữ TAI một vần,” cụ Tiên Điền Nguyễn Du mấy trăm năm trước đã nói thế rồi cơ mà.

Nhớ năm 1985, cũng vào những ngày cuối Tháng Mười Hai, anh đón tôi tại nhà một người bạn chung ở Virginia. Tôi vừa “chân ướt chân ráo” đến Mỹ, chưa cảm được những giây phút trầm uất của những người vẫn còn khát khao một ngày quay về cố hương như anh Trúc. Trên xe chở tôi về nhà anh, anh đưa cho tôi tấm ảnh chụp tại Trung Tâm Dân Vụ trên đường Tự Do, Sài Gòn, trước 1975. Trong hình, anh Trúc và tôi đứng cạnh nhau, anh cà vạt chỉnh tề, kính trắng trí thức, còn tôi thì mặt non choẹt áo quần học trò. Anh bảo: “Tôi giữ tấm ảnh này 10 năm qua làm kỷ niệm về cậu, vì có tin nói cậu bị chúng nó bắt và chết trong tù.” Đêm tái ngộ anh Trúc, tôi cũng gặp lại một anh bạn vong niên mới chia tay nhau ở Sài Gòn 6 tháng trước khi tôi vượt biên: Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, tác giả “Kẻ Tà Đạo.” Căn nhà anh Trúc đêm đó ấm hẳn lên vì những chuyện xưa chuyện nay. Đột nhiên anh Trúc như chìm vào nỗi buồn riêng của mình. Anh giơ bàn tay trái có một vết sẹo nhỏ li ti khá dài đã mờ nhạt. Anh bảo, anh đang làm cho đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA), công việc vững vàng, chưa một ngày biết cuộc sống khổ sở ra sao trong chế độ Cộng Sản, vậy mà có những lúc anh buồn đến độ đã cầm con dao cứa vào tay mình vì không thiết tha sống nữa, nhưng sau những phút trầm uất như thế, nghĩ đến nhiều bằng hữu đang thoi thóp vật vã bên trong các chấn song sắt nhà tù, anh thấy mình hành xử như thế là không đúng. Nên vẫn sống. Dù vẫn buồn chán.

Những khoảnh khắc buồn chán đó thỉnh thoảng tôi vẫn chợt bắt gặp nơi anh trong hơn 30 năm kể từ cái đêm mùa Đông Virginia năm nào.

Nhiều người nhìn Bùi Bảo Trúc trang phục đỏm dáng, cách ăn cách nói cách cười lúc nào cũng thể hiện một người hạnh phúc, thành đạt, nên có thể không thấy ẩn dấu đâu đó trong giọng cười là những góc khuất u trầm của anh. Một lần, chỉ có hai anh em, anh kể tôi nghe kỷ niệm một buổi chiều buồn ở Sài Gòn trước 1975. Anh bảo, cậu Thái nghĩ xem, tôi làm phát ngôn viên chính phủ, có vợ đẹp con ngoan, có nhà, có xe, có tài xế, có người giúp việc; vậy mà một hôm trên xe do tài xế chở về nhà, tôi nhìn thấy một người lính lái chiếc xe Honda cũ kỹ, phía yên sau, người phụ nữ ngả đầu vào vai anh và hai cánh tay ôm ngang hông chàng. Chao ôi sao họ hạnh phúc dường ấy và “tôi thèm cái hạnh phúc đó đến nỗi toi tóp cả hồn suốt cả đêm!”

Khoảng 2 tháng cuối đời của anh, đến thăm anh tại một nursing home trên đường Garden Grove, nhìn anh gầy yếu, giọng mệt hẳn, anh tâm sự dạo vài tháng gần đây, anh không ăn gì cả, luôn ngất ngưởng cơn say để rồi chìm vào giấc ngủ. Lần trở lại thăm anh, đột nhiên sức sống của anh bừng dậy, anh bảo sẽ tiếp tục chương trình phát thanh trên đài Little Saigon Radio và còn căn dặn tôi khi đặt bút viết điều gì nếu không hiểu cặn kẽ thì phải tra cứu vì chữ nghĩa không phải trò chơi đùa. Lời dặn thể hiện cá tính của anh khi ngồi vào bàn viết. Bài anh viết, từng câu, từng chữ, là sự chọn lựa, cân nhắc, ngay cả những từ ngữ dung tục, sỗ sàng anh mắng những người anh cho là bất xứng. Nhất là đối với chế độ đang cai trị tại quê nhà Việt Nam, anh chửi không tiếc lời bằng những ngôn ngữ thậm tệ. Ngay cả nói cũng thế, chẳng phải tự dưng lời vọt ra khỏi miệng mà anh không cân nhắc trước. Có lần, anh kể tôi nghe thời còn bé, anh gần như bị liệu lưỡi khi nói, nhưng anh cương quyết vượt qua trở ngại này bằng cách tập nói chậm từng câu một; và vì phải nói chậm nên anh có thì giờ chọn câu chữ. Thành ra, anh ít khi nào rút lại lời mắng ai. Hậu quả là anh gây thù và có lúc đã phải chuốc oán.

Bây giờ với anh, “Thị – phi, thành – bại, chuyển đầu không” yêu-thương-oán thù, quay đầu lại, tất cả không còn nữa. Anh đi rồi. Và chắc đang ngất ngưởng bù khú như bắp rang nơi nào đó với những người bạn thân thiết đã đi trước anh: Võ Phiến, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Ngọc Bích, Phạm Dương Hiển, Đỗ Ngọc Yến, Lê Đình Điểu, Lê Thiệp, Ngô Vương Toại, Nguyễn Minh Diễm, Giang Hữu Tuyên…

Tôi sẽ nhớ đến anh với cách gọi thân tình “cậu Thái” kể từ ngày đầu quen anh ở Sài Gòn năm 1972.

Mỹ tố cáo công dân Trung Quốc đột nhập hệ thống điện toán

NEW YORK, New York (NV) – Ba công dân Trung Quốc vừa bị truy tố tội hình sự ở Mỹ, liên quan tới việc buôn bán các dữ kiện mật của các công ty Mỹ, có được qua việc đột nhập vào hệ thống điện toán của một số tổ hợp luật chuyên về các cuộc mua bán công ty, theo công tố viện Mỹ hôm Thứ Ba.

Ông Iat Hong ở Ma Cao, ông Bo Zheng ở Changsha, Trung Quốc, và ông Chin Hung ở Ma Cao, bị truy tố trước tòa án liên bang ở Manhattan về nhiều tội danh, gồm cả gian lận chứng khoán và tin tặc.

Các công tố viên nói rằng ba người này kiếm được khoảng hơn $4 triệu bằng cách mua cổ phiếu của ít nhất năm công ty, dựa theo tin tức lấy từ các văn phòng luật sư trách nhiệm đại diện cho các công ty này, kể cả thỏa thuận giữa công ty Intel Corp. và Pitney Bowes Inc.

Ông Hong, 26 tuổi, bị bắt hôm Chủ Nhật ở Hồng Kông, trong khi ông Hung, 50 tuổi, và ông Zhen, 30 tuổi, chưa bị bắt, theo công tố viện.

Biện lý liên bang, ông Preet Bharara, nói rằng vụ này nên là lời cảnh tỉnh các tổ hợp luật trên khắp thế giới khi điều hành vấn đề pháp lý cho các vụ mua bán vì họ có các tin tức rất giá trị cho thành phần tin tặc. (V.Giang)

Vietnam Sees 2016 Growth at 6.2 %

Vietnam’s economy is forecast to grow 6.2 percent in 2016, helped by the manufacturing and building boom. The General Statistics Office said Wednesday that this year’s growth rate is below 2015’s rate of 6.7 percent but is still considered a success given unfavorable global trends and a spate of natural and environmental disasters.

30-yr sentence upheld for Vietnam ex-banker

A Hanoi appeal court on Tuesday upheld the verdict of a former banker, who was sentenced in October 2015 to 30 years in prison for her main role in a corruption scandal that caused multimillion-dollar losses to a state-owned bank.

Vietnamese man lives with surgical scissors in abdomen for 18 years

A Vietnamese man demands an explanation from a local hospital after recently discovering that he has been living with a pair of surgical scissors in his abdomen for 18 years.

Removal of a dilapidated bridge causes students to swim to class

Tan Lac district administration hastily removed a decaying suspension bridge without replacement plan which caused student wanting to attend school having to cross the streams.

New York mở lại đường 56, bên ngoài Trump Tower

NEW YORK, New York (NV) – Dưới áp lực của các cơ sở kinh doanh có thương vụ bị giảm sút vì các biện pháp an ninh nghiêm ngặt, Thị Trưởng New York Bill de Blasio đã ra lệnh mở cửa lại đường 56, bên ngoài tòa nhà Trump Tower, báo New York Daily News loan tin.

Theo kế hoạch mới này, việc lưu thông của xe cộ tại đoạn giữa các đường 5 và đường 6 trên đường 56 bắt đầu được mở lại tối Thứ Ba.

Sở Cảnh Sát New York đóng đoạn đường này theo kế hoạch an ninh tại Trump Tower để bảo vệ cho vị tổng thống tân cử, và là nơi ông sống và hay đến làm việc.

Các cơ sở kinh doanh trên đoạn đường bị đóng từng than phiền rằng những biện pháp an ninh chặt chẽ quá mức khiến người đi bộ khó đến được nơi mua sắm và gây phiền phức cho các xe tải chở hàng. Từ khi có các biện pháp an ninh như vậy, thương vụ của các cơ sở kinh doanh tại đây đã bị giảm sút tới 30%.

Về quyết định mới cho mở lại đường, Thị Trưởng de Blasio nói: “An ninh của cư dân New York và vị tổng thống tân cử là mối quan tâm cao nhất của thành phố. Những thay đổi vừa kể sẽ duy trì được mức độ an ninh đó trong khi cho phép gia tăng lượng người và xe cộ lưu thông trong khu vực nhằm đáp ứng mối quan tâm của giới kinh doanh gần tòa nhà Trump Tower.” (V.P.)

Houston không có chương trình đón Giao Thừa 2017

HOUSTON, Texas (NV) – Chẳng còn bao lâu nữa là tới Giao Thừa Tết Dương Lịch, nhưng thành phố Houston vẫn chưa có sửa soạn gì để mừng năm mới, đài KHOU 11 đưa tin.

Năm ngoái, Houston có tổ chức đón mừng năm mới tại khu hí viện thành phố, nhưng sinh hoạt đó sẽ không diễn ra vào Thứ Bảy này.

Ông Scott Sawyer, cư dân thành phố, phát biểu: “Thiệt kỳ ghê, vì chẳng có lễ lạt gì để đón năm mới tại đô thị lớn hàng thứ tư trong nước.”

Văn Phòng Sinh Hoạt Đặc Biệt của thị trưởng, nhà tổ chức cuộc đón mừng năm mới hồi năm ngoái, cho đài KHOU biết: “Năm nay, Lễ Đón Mừng Năm Mới không nằm trong các dịp lễ lạt nổi bật của thành phố, trong đó gồm cuộc Diễn Hành Ngày Thanksgiving, Lễ Độc Lập Hoa Kỳ, Lễ Hội Texas Tự Do, và Lễ Thắp Sáng Cây Giáng Sinh.”

Thật cũng khó mà nêu được lý do chính tại sao không có lễ đón mừng năm mới tại Houston, nhưng dường như đây là do thiếu ngân khoản tổ chức, do quá cận kề ngày khai mạc Super Bowl, và cũng do thời tiết năm nay không mấy thuận lợi vào thời điểm này. (V.P.)

Trung Quốc nói sẵn sàng thảo luận với Vatican

BẮC KINH, Trung Quốc (AP) – Giới chức đứng đầu về tôn giáo của Trung Quốc mới đây nói rằng Bắc Kinh sẵn sàng có cuộc thảo luận xây dựng với Tòa Thánh Vatican nhưng nhấn mạnh rằng giáo dân Công Giáo “phải giương cao ngọn cờ yêu nước” và hội nhập Công Giáo vào xã hội Trung Quốc.

Ông Wang Zuo’an, người đứng đầu cơ quan đặc trách về tôn giáo của nhà nước Trung Quốc, có lời phát biểu như trên trong cuộc họp của Hội Thánh Thiên Chúa Giáo được sự hỗ trợ của nhà nước Trung Quốc, với thành phần tham dự gồm các giám mục, linh mục và giáo dân Công Giáo, theo nguồn tin từ cơ quan truyền thông nhà nước.

Bắc Kinh khẳng định rằng Hiệp Hội Công Giáo Yêu Nước Trung Quốc, vốn do đảng Cộng Sản Trung Quốc điều khiển, có thẩm quyền bổ nhiệm giám mục, một điều mà Tòa Thánh Vatican nói là chỉ có Đức Giáo Hoàng mới có quyền quyết định.

Đây là một trong những điều gây cản trở nhiều nhất cho việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa Vatican và Trung Quốc.

Tuần qua, Vatican cho hay rất buồn lòng khi thấy sự xuất hiện của một giám mục từng tấn phong mà không có sự chấp thuận của Đức Giáo Hoàng tại buổi lễ tấn phong hai giám mục mới. (V.Giang)

Tin mới cập nhật