Thiên tai hay nhân tai
Mọi người đều sống dưới nguồn
Everybody Lives Downstream
(World Water Day, 22 tháng 3,1999)
Ngô Thế Vinh
Hãy gọi đúng tên
Cho tới năm 2000, khi nói Cửu Long Cạn Dòng, nhiều người vẫn xem đó như một phát biểu “nghịch lý” nhất là năm đó có lụt lớn ở Miền Tây. Một vị tu sĩ đang tất bật lo việc cứu trợ đã phát biểu: “Đang lũ lụt ngập trời với nhà trôi người chết mà lại nói tới Cửu Long Cạn Dòng là thế nào?”
Nhưng nếu hiểu rằng lũ và hạn/tương ứng với mùa mưa và mùa khô là chu kỳ tự nhiên đã có từ hàng ngàn năm trên dòng Mekong và các vùng châu thổ, và cho đến nay thì mức độ ngày càng trầm trọng và gay gắt hơn. Chúng ta không thể né tránh đổ lỗi hết cho “thiên tai” mà cần có can đảm “gọi cho đúng tên.”
Không thể không kể tới những yếu tố “nhân tai” – do chính con người gây ra qua suốt quá trình phát triển không bền vững và có tính tự hủy (unsustainaible & self destructive development) từ nhiều thập niên qua, đã làm gẫy đổ sự cân bằng của cả một hệ sinh thái vốn phức tạp nhưng cũng hết sức mong manh của con sông Mekong.
Chuỗi những tai ương do chính con người gây ra đó là: (1) Phá hủy tự sát những khu rừng mưa/rainforest trong toàn lưu vực sông Mekong; những khu rừng mưa này có tác dụng như những tấm bọt biển khổng lồ giữ nước trong mùa mưa, xả nước trong mùa khô với chức năng thiên nhiên điều hòa lưu lượng nước của dòng sông trong suốt hai mùa khô lũ; thì nay không còn nữa; (2) Xây các con đập thủy điện không chỉ trên dòng chính mà ngay trên khắp các phụ lưu sông Mekong, và đáng kể nhất là chuỗi những con đập bậc thềm Vân Nam của Trung Quốc. Hồ chứa các con đập ấy không những chỉ giữ nước mà còn ngăn chặn phù sa như một dưỡng chất xuống vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL); nguồn thủy điện cũng đưa tới kỹ nghệ hóa, đô thị hóa với trút đổ các chất phế thải xuống sông gây ô nhiễm nguồn nước sông Mekong; (3) Còn phải kể tới kế hoạch Trung Quốc cho nổ mìn phá các ghềnh thác khai thông lòng sông Mekong để mở thủy lộ từ Vân Nam xuống xa tới Vạn Tượng, Trung Quốc đã làm biến dạng toàn dòng chảy, gây xói lở trầm trọng các khu ven sông; (4) Cộng thêm với những sai lầm về các kế hoạch thủy lợi tự phát ngay nơi ĐBSCL như be bờ ngăn đập rồi tới nạn “cát tặc” ngày đêm nạo vét lòng sông…

Nhà nông học Võ Tòng Xuân trên cánh đồng lúa thuộc quận Gia Rai, ĐBSCL bị khô cháy vì nhiễm mặn. (Hình: tư liệu Võ Tòng Xuân)
Với hậu quả nhãn tiền sẽ là: (1) nếu lũ lụt thì sẽ rất lớn và bất thường ngay mùa mưa với sức tàn phá lớn, và nghiêm trọng hơn nếu có thêm hiện tượng El Nina cộng thêm vào. (2) nếu hạn hán sẽ rất gay gắt trong suốt mùa khô và nạn ngập mặn ngày càng lấn sâu vào trong đất liền. Riêng năm nay 2016, có thêm hiện tượng El Nino – khiến chúng ta phải chứng kiến một đại hạn nơi ĐBSCL như chưa từng có từ 100 năm nay.
Như vậy thảm họa nơi ĐBSCL chủ yếu do một chuỗi các nguyên nhân “nhân tai”; nay thêm các yếu tố thiên nhiên El Nino, biến đổi khí hậu, nước biển dâng do hâm nóng toàn cầu… là phần “thiên tai” cộng thêm vào. Không dám gọi đúng tên, cứ đổ hết cho thiên tai là một thái độ chối bỏ nguy hiểm như của các giới chức Việt Nam hiện nay.
Thảm họa từ phương Bắc
Bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ 21, Trung Quốc đã hoàn tất 6 con đập Vân Nam, trong đó có hai con đập lớn nhất: Nọa Trác Độ (Nuozhadu) 5,850 MW và Tiểu Loan (Xiaowan) 4,200 MW, về tổng thể Bắc Kinh hầu như đã hoàn thành kế hoạch thủy điện của họ trên suốt nửa chiều dài con sông Lancang là tên Trung Quốc của sông MeKong. Và theo Fred Pearce, ĐH Yale thì con sông Mekong nay đã trở thành tháp nước và là nhà máy điện của Trung Quốc. Philip Hirsch, giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Sông Mekong thuộc đại học Sydney nhận định: “Hai con đập khổng lồ Nọa Trác Độ và Tiểu Loan sẽ ảnh hưởng trên suốt dòng chảy của con sông Mekong xuống tới tận ĐBSCL.” Chỉ với 6 con đập dòng chính hoàn tất, Trung Quốc đã đạt được công suất 15,150 MW – nghĩa là hơn một nửa toàn công suất tiềm năng thủy điện của con sông Lan Thương. Với 8 dự án đập còn lại, và có thể sẽ còn thêm nhiều dự án mới nữa, và Trung Quốc sẽ dễ dàng dứt điểm sớm trong vòng mấy thập niên đầu Thế kỷ 21.
Chúng ta không thể chỉ dựa vào một con số 16% lượng nước sông Mekong đổ xuống từ Trung Quốc, để bảo rằng ảnh hưởng chuỗi đập Vân Nam là không đáng kể. Xây chuỗi đập Vân Nam Trung Quốc đã khởi đầu phá hủy sự cân bằng bền vững của toàn hệ sinh thái trong lưu vực sông Mekong, chỉ nguyên dung lượng các hồ chứa Vân Nam ngoài khả năng giữ lại hơn 30 tỷ mét khối nước mà còn chặn lại một trữ lượng rất lớn phù sa xuống tới ĐBSCL. Thiếu nước, thiếu phù sa lại thêm ngập mặn với nước biển dâng, cả một vùng đất phì nhiêu ĐBSCL cái nôi của nền Văn Minh Miệt Vườn có tương lai trở thành một vùng đất chết do sa mạc hóa.
Điều đáng lo ngại nhất hiện nay là Việt Nam đã mất cảnh giác và thiếu chuẩn bị trong cuộc chiến môi sinh “không tuyên chiến” của Trung Quốc. Lời kêu gọi xin Trung Quốc xả nước từ hồ chứa Vân Nam để cứu hạn cho ĐBSCL đã nói lên một tình thế “bị động” của Việt Nam; lẽ ra giới lãnh đạo phải tiên liệu từ nhiều năm trước. Nay lại thêm 9 dự án đập dòng chính hạ lưu của Lào và 2 của Cambodia sẽ khiến bài toán cứu nguy ĐBSCL khó khăn và phức tạp hơn nhiều mà Việt Nam thì chưa có một chiến lược để đối phó.

Thảm cảnh vô vọng của người nông dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng đang ngồi trước một thửa ruộng nứt nẻ vì khô hạn. (Hình: VnExpress: 3 tháng 11, 2016)
Bước sai lầm chiến lược của Việt Nam
Ủy Ban Sông Mekong (MR Committee) được Liên Hiệp Quốc thành lập từ 1957, nhưng mọi dự án phát triển hầu như bị tê liệt do cuộc Chiến Tranh Việt Nam. Sau 1975, bước vào thời bình, con sông Mekong trở lại là mục tiêu khai thác của các quốc gia trong Lưu Vực. Nhu cầu phục hồi một tổ chức điều hợp liên quốc gia tương tự như Ủy Ban Sông Mekong trước đây là cần thiết. Ngày 5 tháng 4 năm 1995, bốn nước hội viên gốc thuộc Lưu Vực Dưới Sông Mekong đã họp tại Chiang Rai, Bắc Thái, để cùng ký kết một “Hiệp Ước Hợp Tác Phát Triển Bền Vững Hạ Lưu Sông Mekong” và đổi sang một tên mới là Ủy Hội Sông Mekong (MR Commission). Đại diện cho Việt Nam đặt bút ký vào Hiệp Định Mekong 1995 là Ngoại Trưởng Nguyễn Mạnh Cầm với chấp nhận một thay đổi cơ bản trong Hiệp Ước mới – thay vì như trước đây, mỗi hội viên trong Ủy Ban Sông Mekong (1957) có quyền phủ quyết (veto power) bất cứ một dự án nào bị coi là có ảnh hưởng tác hại tới dòng chính sông Mekong. Nay theo nội quy mới (1995) không một một quốc gia nào có quyền phủ quyết. Phát biểu trong Hội Nghị Mekong 1999 tại Nam California, người viết đã nhận định đây là khởi điểm một bước sai lầm chiến lược của Việt Nam, vì là một quốc gia ở vị trí cuối nguồn.
Khối hợp tác Lancang-Mekong “made in China”
Trung Quốc mới đây cho thành lập khối Hợp Tác Lancang-Mekong(Lancang-Mekong Cooperation tháng 11, 2015), một cơ chế bao gồm 6 nước cùng sử dụng sông Mekong, nhiều người vội lạc quan cho rằng đó có thể là một phương tiện tốt để buộc Trung Quốc quan tâm nhiều hơn đến lợi ích của các nước ở hạ nguồn. Mối lạc quan đó có thể đúng có thể không.
Nhưng cần nhận thức rõ một điều: từ 1995, Trung Quốc đã có “hậu ý” khi chọn đứng ngoài Ủy Hội Sông Mekong chỉ gồm 4 nước hạ lưu: Thái Lan, Lào, Cambodia, Việt Nam; tới nay với 6 con đập dòng chính Vân Nam hoàn tất, về tổng thể Trung Quốc đã hoàn tất kế hoạch thủy điện trên khúc sông Lancang-Mekong 2,200 km của họ. Nay nếu có mở ra thêm khối Hợp Tác Lancang-Mekong thì đó cũng chỉ là một bước chiến lược của Trung Quốc, tạo cho mình một hình ảnh hữu nghị nhưng thực tế là nhằm tăng cường thêm ảnh hưởng đưa tới khống chế toàn bộ Lưu Vực Sông Mekong. Trung Quốc sẵn có khả năng kỹ thuật, có nguồn tài chánh hầu như vô hạn, Bắc Kinh thừa sức để gạt ảnh hưởng của Hoa Kỳ và Nhật Bản ra khỏi Lưu Vực Sông Mekong, cũng như họ đã đánh sập thế thượng phong của Đệ Thất Hạm đội Hoa Kỳ trên Biển Đông bằng các đảo chiếm của Việt Nam rồi mở rộng xây dựng các căn cứ quân sự trên đó.
Tương lai Khối Hợp Tác Lancang-Mekong ra sao, vẫn tùy thuộc vào thiện chí rất đáng ngờ của nước lớn Trung Quốc. Những ai từng theo dõi cách hành xử của Trung Quốc với các quốc gia láng giềng trong bao năm nay, cũng nhận thấy là Bắc Kinh chưa hề có một hồ sơ theo dõi tốt (Good track records).
Việt Nam đến tham dự khối Hợp Tác Lancang-Mekong của Trung Quốc, nhưng lại chưa sẵn sàng có một chiến lược trên bàn cờ Mekong. Để có được một chiến lược như vậy, cần phải vận dụng tiềm năng “chất xám” của các chuyên gia trong và ngoài nước và quan trọng hơn nữa là làm sao vận động được một mẫu số chung đoàn kết của 5 quốc gia hạ nguồn sông Mekong. Thiếu một “Tinh thần Sông Mekong” như hiện nay, vẫn cái cảnh “đồng sàng dị mộng,” lại thêm ác ý như từ bao giờ, Trung Quốc luôn luôn chia để trị, thì khối Hợp tác Lancang-Mekong chỉ là chiếc dù tạo thêm ảnh hưởng quyền lực của Trung Quốc trên mỗi quốc gia hạ nguồn.

Biển Hồ: Mùa khô 2,500 km2 (trái), mùa mưa 12,000 km2 (phải). Biển Hồ nay thoi thóp, không còn co giãn với hai mùa mưa nắng và đang cạn dần. (Hình: Tom Fawthrop)
Nếu Trung Quốc có thực tâm, Việt Nam phải đòi hỏi Bắc Kinh đi đến một Hiệp Ước Lancang-Mekong (Lancang-Mekong Treaty) theo đó mỗi quốc gia thành viên phải được tôn trọng và đối xử bình đẳng, có thể xem đây như một Ủy Hội Sông Mekong mở rộng bao gồm thêm Trung Quốc và Miến Điện.
Điểm qua tình hình hiện nay: Thủ Tướng Hunsen gần như hậu thuẫn vô điều kiện chính sách của Trung Quốc, Lào thì bất chấp mọi khuyến cáo vẫn từng bước thực hiện xây 9 con đập dòng chính Mekong (hiện có hai con đập Xayaburi và Don Sahong đang xây), Thái Lan thì vẫn không ngừng lấy nước từ sông Mekong cung cấp cho các vùng khô hạn của họ, Miến Điện thì không phải là yếu tố quan trọng khi chỉ tiếp cận một khúc sông Mekong nơi vùng Tam Giác Vàng; riêng Việt Nam gần như bị động và thiếu chuẩn bị về đầu tư “chất xám” và có thể nói là Việt Nam chưa có “một chiến lược trên bàn cờ Mekong” khi tham dự vào khối Hợp Tác Lancang-Mekong.
Điều cần làm ngay
Cần cấp thiết di chuyển Ủy Ban Mekong Việt Nam từ 23 Phố Hàng Tre Hà Nội về ĐBSCL, để cùng thăng trầm với “vận nước” của vùng châu thổ, cùng bắt tay với đại học Cần Thơ hình thành ngay một Phân Khoa Mekong như một “ngọn hải đăng trí tuệ,” một “think tank” giúp cho các phái đoàn Việt Nam có một Lộ Trình (Roadmap), một hồ sơ Mekong mang tính chiến lược, có cơ sở pháp lý để khi họ tới một dự những Hội Nghị Thượng Đỉnh Mekong. “Mekong Delta SOS” phải là một ưu tiên số một trong nghị trình của Hội Đồng Chánh Phủ, của Quốc Hội và cả của Bộ Chính Trị. Một thảm họa đại hạn nơi ĐBSCL, do một cuộc chiến tranh môi sinh “không tuyên chiến” của Trung Quốc, nếu cần phải đưa ra trước diễn đàn của Liên Hiệp Quốc.
Tiếng nói cư dân ĐBSCL
Khi nhìn chung vào 5 nước hạ nguồn sông Mekong, có thể có ngay nhận xét: Tiếng nói của các cộng đồng dân sự Việt Nam về vấn đề sông Mekong được kể là rất hiếm; người ta luôn được nghe những tiếng nói của cư dân Bắc Thái Lan, người dân Lào rồi ngay cả dân Cambodia tuy dưới quyền cai trị với bàn tay sắt của Hunsen, họ cũng vẫn có tiếng nói. Cũng dễ hiểu, đa số nông dân ĐBSCL bị thiếu học với một nền giáo dục thấp hơn cả Tây Nguyên, lại thêm bị bưng bít thông tin thì làm sao bảo họ có tiếng nói ngoài thái độ cam chịu. Rồi tới các tổ chức NGO, chế độ chính trị hiện nay chưa chấp nhận quy chế NGO cho các tổ chức dân sự được hoạt động hợp pháp mặc dù họ có trình độ và kiến thức. Tiếng nói của những “tổ chức được gọi là NGOs” thì luôn luôn luôn bị kiểm soát bởi nhà nước, và với những định hướng thiển cận như hiện nay đã làm triệt tiêu mọi thăng hoa của sáng kiến từ các nguồn trí tuệ. Nhưng dẫu sao, quan sát từ bên ngoài, đã thấy ánh sáng nơi cuối đường hầm, đang có những nỗ lực tích cực từ trong nước để hình thành những cộng đồng dân sự xã hội để có tiếng nói nhưng dĩ nhiên với có một cái giá phải trả cho những bước tiên phong ấy.
Việt Nam không hề thiếu chất xám trí tuệ nhưng giới khoa học và chuyên gia thì không có phương tiện, không có tự do hoạt động và ngay trong môi trường đại học thì cũng bị tước đoạt quyền tự trị. Có thể đi tới một kết luận “Dân chủ và môi sinh” phải là một “bộ đôi” không thể tách rời (Inseparable Duo).




















