Trump nới lỏng thuế nhập cảng xe hơi

WASHINGTON, DC (NV) – Tổng Thống Donald Trump hôm Thứ Ba, 29 Tháng Tư, ký sắc lệnh và tuyên bố nới lỏng thuế nhập cảng xe hơi, theo CNN.

Đây là lần mới nhất Tổng Thống Trump bất ngờ thay đổi chính sách thuế quan, vốn được ông liên tục thay đổi thời gian qua, làm cho doanh nghiệp vất vả cập nhật.

Xe hơi bày bán tại cửa hàng Honda ở Houston, Texas, hôm 7 Tháng Tư. (Hình minh họa: Ronaldo Schemidt/AFP via Getty Images)

Xe hơi nhập cảng Mỹ sẽ tiếp tục bị đánh thuế 25%, và phụ tùng xe hơi sẽ bị đánh thuế 25% từ ngày 3 Tháng Năm, như Tổng Thống Trump từng công bố. Nhưng nay, có vài điểm mới.

Theo sắc lệnh và tuyên bố hôm Thứ Ba, hãng sản xuất xe hơi nội địa nhưng nhập cảng phụ tùng sẽ được hoàn thuế, nhiều nhất là 3.75% giá trị chiếc xe sản xuất ở Mỹ. Mức hoàn thuế tối đa sẽ giảm còn 2.5% trong năm thứ nhì và hoàn toàn kết thúc từ sau đó.

Ngoài ra, hãng xe cũng không bị đánh thuế nhiều lần cho những thứ liên quan tới xe hơi. Chẳng hạn, có thể họ chỉ bị đánh thuế 25% cho món phụ tùng xe hơi nào đó nhưng không bị đánh thuế thêm 25% cho thép và nhôm dùng trong món phụ tùng đó.

Xe hơi chứa 85% phụ tùng tuân thủ thỏa thuận thương mại tự do Mỹ-Mexico-Canada và sản xuất ở Mỹ sẽ không bị đánh thuế.

Tổng Thống Trump quyết định nới lỏng thuế nhập cảng xe hơi sau khi hàng loạt tổng giám đốc hãng xe gọi điện thoại cho ông, ba giới chức Tòa Bạch Ốc biết những cuộc gọi đó nói với CNN. “Tổng thống muốn duy trì tính linh động,” một trong ba giới chức này cho CNN hay.

Hôm Thứ Ba, những giới chức cao cấp Bộ Thương Mại, có xem trước sắc lệnh mới của Tổng Thống Trump, cho phóng viên hay các tổng giám đốc đó than phiền với ông Trump rằng thuế quan cao sẽ làm hại sản xuất và mướn người lao động ở Mỹ.

Mấy tuần qua, kỹ nghệ xe hơi cố gắng vận động Tổng Thống Trump nới lỏng thuế nhập cảng xe hơi. Họ cho hay thuế quan của ông vừa làm người Mỹ tốn thêm nhiều tiền vừa làm xáo trộn hệ thống cung ứng của họ.

Tuần trước, một liên minh hãng xe Mỹ và quốc tế viết thư gửi chính quyền Tổng Thống Trump đề nghị nới lỏng thuế quan, tương tự việc miễn thuế chip điện tử và hàng điện tử đang được áp dụng.

“Chúng tôi biết ơn Tổng Thống Trump ủng hộ kỹ nghệ xe hơi Mỹ cũng như hàng triệu người Mỹ đang phụ thuộc vào chúng tôi,” bà Mary Barra, tổng giám đốc hãng General Motors, ra tuyên bố cho hay hôm Thứ Hai. (Th.Long) [qd]

Hơn 1/3 gia đình ở Orange County chật vật trang trải nhu cầu thiết yếu

ORANGE COUNTY, California (NV) – Ít nhất 34% gia đình ở Orange County hiện đang chật vật trang trải nhu cầu thiết yếu, theo bản phúc trình mới được tổ chức bất vụ lợi United Way California (UWC) công bố hôm Thứ Ba, 29 Tháng Tư, nhật báo The Orange County Register đưa tin.

Bản phúc trình “Tiêu Chuẩn Chi Phí Thực Sự” vượt ra khỏi tiêu chuẩn nghèo đói của liên bang và tiểu bang, và tập trung vào chi phí nhà ở, thực phẩm, khám chữa bệnh, gửi con, đi lại và nhu cầu thiết yếu khác để tính chi phí sinh sống “thực sự,” giới chức UWC cho hay.

Khách mua trứng trong chợ ở San Anselmo, California, hôm 11 Tháng Tư. (Hình minh họa: Justin Sullivan/Getty Images)

Tiểu bang California coi gia đình bốn người lợi tức $39,000 trở xuống một năm là nghèo đói, còn tiêu chuẩn của liên bang là $32,000. Nhưng dựa trên lương tối thiểu $15.50 và chi phí cho nhu cầu thiết yếu của từng gia đình, giới chức UWC ước tính “tiêu chuẩn chi phí thực sự” ở Orange County là $127,888.

Bản phúc trình còn bao gồm nhiều chi tiết đáng chú ý khác như:

-41% gia đình ở Orange County tốn hơn 30% lợi tức cho nhà ở.

-52% gia đình ở Orange County có con dưới 6 tuổi đều không đạt “tiêu chuẩn chi phí thực sự.”

-Hơn một nửa gia đình gốc Latino làm không đủ sống.

-Cứ 10 gia đình không có bằng trung học hoặc tương đương thì hơn bảy gia đình không đạt “tiêu chuẩn chi phí thực sự,” trong khi tỉ lệ này ở gia đình có bằng trung học là 54% và gia đình có bằng đại học là 20%.

“Hiện nay, nhiều gia đình buộc phải lựa chọn rất khó khăn, như không gửi con đi nhà trẻ, hoãn chữa bệnh hoặc nhịn ăn,” ông Pete Manzo, chủ tịch kiêm tổng giám đốc UWC, cho hay trong thông báo của tổ chức này. “Giới lãnh đạo California phải đưa ra chính sách hỗ trợ gia đình thuộc tầng lớp lao động, bắt đầu bằng cách mở rộng ưu đãi thuế, cho cư dân California tham gia chương trình hỗ trợ lợi tức nhiều hơn, và gia tăng giúp đỡ người thuê nhà.”

Thời gian qua, California có vài điểm tích cực, như lương tối thiểu tăng và tỉ lệ thất nghiệp giảm, nhưng không đủ giúp đỡ nhiều gia đình dưới “tiêu chuẩn chi phí thực sự.”

Ông Andrew Fahmy, giới chức United Way Orange County, lưu ý lợi tức của người dân hiện nay tăng, nhưng không kịp chi phí sinh sống. Từ năm 2021 tới 2023, lợi tức trung bình của gia đình bốn người ở Orange County tăng $12,000, nhưng chi phí sinh sống tăng $18,000, theo ông Fahmy.

“Người dân kiếm được nhiều tiền hơn là tốt, và lương tối thiểu tăng cũng có ích, nhưng chi phí sinh sống ơ Orange County tăng nhanh hơn một chút, nên nhiều người vẫn không theo kịp,” ông Fahmy cho hay. (Th.Long) [qd]

Từ tị nạn đến lãnh đạo Fortune 500: Andrew Phong Võ và 2 cơ sở ‘Vo Family’ tại đại học UT Austin

Triều Giang

AUSTIN, Texas (NV) – “Vào những ngày cuối Tháng Tư, 1975, Sài Gòn chìm trong tiếng pháo kích, nhiều nơi bốc cháy, khói đen bốc cao ngút trời, tiếng còi hú của xe cứu thương vang lên không ngớt. Người dân từ các tỉnh miền Trung ùn ùn đổ về Sài Gòn. Đại gia đình chúng tôi đứng trước quyết định sinh tử: Đi hay ở?”

Từ trái, ông Võ Phượng Đằng, bà Mỹ Lệ Võ, Tiến Sĩ Sonia Feigenbaum (phó viện trưởng UT Austin), và ông Andrew Phong Võ trong ngày khai trương “Vo Family Lobby.” (Hình: Facebook Andrew Phong Vo)

Bà Mỹ Lệ Võ, hiệu trưởng trường Montessori, tọa lạc ngay trung tâm Houston, tâm sự và nói tiếp: “Biết rằng ở lại khó có thể sống yên, mọi người quyết tâm tìm đường ra đi. Nhưng đi bằng cách nào? Giữa cảnh hỗn loạn, may thay, ông Cao Xuân Vệ, thông gia, dành cho gia đình được hai vé máy bay. Gia đình có hơn 20 người – ai đi, ai ở?” 

“50 năm mà còn như mới hôm qua” 

“Lúc ấy, anh Võ Phượng Đằng, chồng tôi, và tôi đã có con trai đầu lòng, cháu Phong, mới 17 tháng tuổi. Chị Ngọc Trương, vợ Bác Sĩ Hiếu Trương, cũng đang mang thai. Cuối cùng, mẹ tôi quyết định, hai vé được dành cho tôi cùng cháu Phong và chị Ngọc, ưu tiên phụ nữ và trẻ em.

Chúng tôi gian nan lắm mới vào được phi trường Tân Sơn Nhất. Biển người chen lấn hỗn loạn, tiếng đạn pháo kích vẫn dội về. Người chết, người bị thương la liệt quanh mình. Trên chiếc máy bay đã tháo hết ghế, chúng tôi ngồi bệt dưới sàn, giữa không khí ngột ngạt, lo âu. Cháu Phong ôm chặt tôi, ánh mắt sợ hãi nhưng không khóc. Sau nhiều giờ bay, chúng tôi đáp xuống đảo Guam.

Đến Tháng Bảy, mới nhận được tin gia đình đã rời Việt Nam bằng tàu Long Hồ và cập bến Subic Bay. Bốn tháng sau, đại gia đình đoàn tụ tại trại tị nạn Camp Pendleton, California. Cả nhà ôm nhau khóc, vì mọi người tưởng như người thân mình đã mất đi, nay lại tìm thấy.

Sau đó, chúng tôi được bảo lãnh đến Cooper, một thị trấn nhỏ ở Texas với khoảng 2,500 dân. Nhà thờ và giáo dân ở đây đã đùm bọc, hỗ trợ chúng tôi. Ba gia đình chúng tôi, gồm 11 người, sống chen chúc trong một căn hộ. Tuy chật chội, nhưng đầy đủ tiện nghi, nhờ tấm lòng quảng đại của cộng đồng.

Anh Đằng vừa đi học lại ngành kiến trúc vừa đi làm, tôi đi học thêm một số tín chỉ và hoàn tất bằng cử nhân giáo dục dựa trên nền tảng bằng cấp trước đó tại Pháp. Cuộc sống tạm ổn nhưng rất buồn vì không có người Việt Nam quanh mình.

Năm 1978, chúng tôi chuyển về Houston, nơi có cộng đồng Việt Nam đông đảo. Tôi xin dạy tại một trường Montessori của một bà hiệu trưởng gốc Do Thái và đi học thêm để lấy bằng cao học giáo dục. Anh Đằng làm việc tại Sở Thương Mại. Gia đình Bác Sĩ Hiếu của chị Ngọc thì chuyển về Dallas.

Đó là câu chuyện tị nạn và hành trình lập nghiệp trên đất Mỹ của chúng tôi – 50 năm mà còn như mới hôm qua,” bà Mỹ Lệ Võ tâm sự đầy xúc động tại ngôi trường ngay trung tâm Houston, nơi suốt hơn 30 năm qua đã chào đón hàng trăm em học sinh từ 3 tháng tuổi đến lớp Tám mỗi năm.

Hai tòa nhà tại đại học UT Austin mang tên “The Vo Family” 

Bà chia sẻ với chúng tôi nhân dịp có mặt tại đại học University of Texas, Austin, tham dự lễ đặt tên “Vo Family Lobby” của tòa nhà Texas Global, địa chỉ 2400 Nueces St., Austin, Texas, lúc 5 giờ chiều 11 Tháng Tư, 2025. Đây là tòa nhà dành riêng để đón tiếp sinh viên quốc tế.

Trong niềm xúc động, bà Mỹ Lệ không giấu được niềm tự hào: “Sau bao gian khó, nay con cháu đã thành danh, đem vinh quang về cho gia đình và cộng đồng Việt Nam.”

Điều đáng nói, đây không phải là công trình duy nhất. Trước đó, vào năm 2020, hội trường tiếp đón tân sinh viên của đại học UT Austin cũng đã được vinh danh mang tên “Vo Family Auditorium.”

“Vo Family Lobby” trong Texas Global của đại học UT Austin. (Hình: Facebook Andrew Phong Vo)

Học vấn xuất sắc, tài năng lãnh đạo vượt trội 

Điều gì khiến một ngôi trường danh tiếng như đại học UT Austin – với chương trình MBA toàn thời gian xếp hạng 16/133, và chương trình MBA bán thời gian xếp hạng 6/241 toàn nước Mỹ – hai lần đặt tên Vo Family cho những công trình trọng yếu của trường?

Cậu bé hoảng sợ từng ôm chặt mẹ trên chuyến bay cuối rời Việt Nam năm ấy, nay chính là Andrew Phong Võ, giám đốc nhân sự (CHRO) cho các thị trường tăng trưởng, và là đối tác của tập đoàn tư vấn toàn cầu Accenture (Fortune 500).

Ông phụ trách chiến lược phát triển nhân tài tại các khu vực Á Châu-Thái Bình Dương, Phi Châu, Trung Đông, và Mỹ Châu La Tinh, hỗ trợ hơn 300,000 nhân viên tại hơn 20 quốc gia. Ngoài ra, ông còn lãnh đạo bộ phận chiến lược và tư vấn khu vực Đông Nam Á. Gia đình ông gồm vợ là bà Sophie Võ và hai người con, sau nhiều năm công tác tại Singapore, vừa chuyển sang Abu Dhabi, thủ đô và là thành phố đông dân thứ hai của Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất (UAE), sau Dubai để nhận nhiệm vụ mới.

Tấm lòng vì cộng đồng và lòng nhân ái 

Ngay từ khi còn là sinh viên tại McCombs School of Business, đại học UT Austin, ông Andrew đã sáng lập tổ chức Texas Iron Spikes năm 1994, tạo cơ hội cho sinh viên tham gia các hoạt động thiện nguyện như giúp đỡ trẻ em nghèo đi học, hay tổ chức Thế Vận Hội bóng chày dành cho người khuyết tật.

Với học lực xuất sắc và tài lãnh đạo nổi bật, ông được bầu chọn là sinh viên trẻ xuất sắc toàn tiểu bang Texas trước tuổi 40, năm 2022 được chọn vào “Hall of Fame” của đại học kinh doanh Mc. Combs.

Sau khi ra trường, ông và bà Sophie Võ còn thành lập quỹ học bổng toàn phần cho sinh viên kinh doanh ưu tú. Suốt 30 năm qua, ông gắn bó với Accenture, giúp hàng ngàn sinh viên tìm được việc làm phù hợp với khả năng.

Ông đặc biệt quan tâm hỗ trợ sinh viên gốc Á, vì nhận thấy còn ít người vươn tới các vị trí lãnh đạo cấp cao.

Ông thường chia sẻ: “Mỗi người trong chúng ta đều mang sứ mệnh khuyến khích và bồi dưỡng nhân tài để xây dựng tương lai đất nước.”

Ông Andrew Phong Võ (phải) và cha mẹ trong ngày khai trương “Vo Family Lobby.” (Hình: Facebook Andrew Phong Vo)

Sinh ra để lãnh đạo 

Bà Mỹ Lệ nhớ lại: “Andrew Phong lúc nhỏ rất hiếu động. Từ khi còn học Mẫu Giáo tại trường Montessori, cháu luôn dẫn đầu trong mọi hoạt động, được bạn bè yêu quý nhờ tính cách vui vẻ, sáng tạo và hào phóng. Tình bạn thuở thiếu thời ấy, đến nay vẫn bền chặt.”

Trong bài phát biểu tại buổi lễ vinh danh, ông Andrew Phong Võ đã khiến cử tọa bật cười nhiều lần với lối nói chuyện dí dỏm. Nhưng đến phần cuối, giọng ông nghẹn ngào khi nhắc đến công lao to lớn của cha mẹ: “Năm mươi năm qua, tôi chứng kiến cha mẹ mình từ hai bàn tay trắng, xây dựng sự nghiệp, lập nên trường Montessori đào tạo bao thế hệ trẻ em, huấn luyện giáo viên, trả ơn cho nước Mỹ bằng cách hỗ trợ US Marine Corps, Hội Hồng Thập Tự và cộng đồng người Việt tại Texas. Cha mẹ tôi đã làm tất cả – và còn làm gương cho chúng tôi nên người.”

Niềm tự hào cho sinh viên Việt Nam tại UT Austin 

Bài phát biểu của bà Mỹ Lệ và bà Ngọc Trương, vợ Bác Sĩ Hiếu, dù ngắn gọn, cũng nhiều lần bị ngắt quãng vì xúc động. Những giọt nước mắt của họ là lời cảm tạ sâu sắc nhất cho hành trình đầy hy sinh, giờ đã được đền đáp xứng đáng.

Buổi lễ kết thúc khoảng 7 giờ tối cùng ngày. Quan khách ra về trong ánh nắng dịu nhẹ của ngày cuối Xuân. Và mai đây, khi những sinh viên Việt Nam từ khắp bốn phương đến UT Austin, chắc hẳn họ sẽ ngạc nhiên, thích thú, và tự hào khi tìm hiểu câu chuyện đằng sau cái tên “The Vo Family.” [đ.d.]

Những ngôi sao lạc thời – Thơ Nguyễn Vĩnh Tiến

Nguyễn Vĩnh Tiến

Những ngôi sao lạc thời 

Đừng vội tắt nhé, những ngôi sao lạc thời. (Tranh: Đinh Trường Chinh)

Đừng vội tắt nhé, những ngôi sao lạc thời
Bạn thích người yêu người,
hoặc yêu thương cỏ cây, động vật
Không phải thời này đâu

Bạn không thích dao, súng, và đánh nhau
Không phải thời này đâu!
Bạn không thích bạo chúa và khoe giàu
Cũng không phải thời này…

Vậy là bạn phải trôi, hoặc bay
Có vẻ như bạn mong một thế giới lý tưởng
Nơi yêu hay thương bồng bềnh như cơn say
Không phân biệt, và tâm không bị lưu đày

Vậy chắc chắn là bạn nhầm thời rồi
Bởi sinh tồn này Phật bảo là bể khổ
Hãy tưởng tượng một vì sao đang bơi?
Trong đại dương u mê và nhăng nhố

Hãy hô hấp như một vì sao lạc thời
Hoặc sống như không có thời nào cả
Ra ngoài đi, chạm vào hoa lá
Chúng cũng đang lạc thời đấy thôi…

Đừng vội tắt nhé
Những vì sao đang trôi …
“Những Ngôi Sao Lạc Thời”

Phim nhiều tập ‘Miami Vice’ nổi tiếng trong thập niên 1980 được làm lại

HOLLYWOOD, California (NV) – Hãng Universal Pictures vừa công bố chuyển thể phim nhiều tập “Miami Vice” từng rất nổi tiếng trong thập niên 1980 thành phiên bản điện ảnh, dự trù ra mắt khán giả vào mùa Hè 2026.

Theo tin của trang mạng Variety, ông Joseph Kosinski, đạo diễn của phim “Top Gun: Maverick,” được mời thực hiện dự án lần này. Trong khi đó, phần kịch bản được giao cho nhà biên kịch Dan Gilroy, người từng chấp bút cho hai tác phẩm hành động “Nightcrawler” và “The Bourne Legacy” nổi tiếng trước đây.

Tài tử Don Johnson (trái) và tài tử Philip Michael Thomas tạo nên một “cặp bài trùng” cảnh sát ăn ý trong phim truyền hình “Miami Vice.” (Hình: NBC Network)

Hiện tại, bộ phim chưa công bố dàn diễn viên chính. Nhiều cái tên được khán giả dự đoán các tài tử tên tuổi bao gồm Chris Evans, Michael B. Jordan, Channing Tatum, hay Anthony Mackle là những ứng cử viên sáng giá cho vai diễn.

Tác phẩm được chuyển thể từ phim truyền hình do hai nhà sản xuất Don Johnson và Philip Michael Thomas thực hiện, nói về cuộc sống và công việc của những đặc vụ cảnh sát chìm ở Miami, Florida, thông qua hai nhân vật chính, bao gồm đặc vụ James “Sonny” Crockett, do tài tử Don Johnson đóng, và đặc vụ Ricardo “Rico” Tubbs, do tài tử Philip Michael Thomas thủ vai. Cả hai tạo nên một “cặp bài trùng” cảnh sát không chỉ phá nhiều vụ án gay cấn mà còn đem lại nhiều tiếng cười cho khán giả qua các màn đối thoại hài hước.

Bộ phim được chiếu trên đài truyền hình NBC với năm mùa phim, bắt đầu từ năm 1984 và kết thúc vào năm 1989. “Miami Vice” mang đậm văn hóa New Wave của thập niên 1980, với sự kết hợp giữa nhạc pop và nhạc rock đương đại, đi cùng với hình ảnh thời trang cách điệu đẹp mắt.

Trước đó, một phiên bản điện ảnh đã từng được lên kế hoạch thực hiện vào năm 2016 với sự tham gia của hai nam chính Colin Farrell và Jamie Foxx. Tuy nhiên, bộ phim của đạo diễn Michael Mann lại không mang về doanh thu mong đợi. (N.A) [qd]

Những mẫu xe đáng chú ý tại 2025 New York Auto Show

NEW YORK, New York (NV) – Cuộc triển lãm xe hơi thường niên 2025 New York International Auto Show vừa được tổ chức tại Trung Tâm Hội Nghị Jacob Javits ở Manhattan từ ngày 18 đến ngày 27 Tháng Tư. Cũng như Los Angeles Auto Show bên bờ Tây, đây là sự kiện xe hơi quan trọng vào bậc nhất bên bờ Đông Hoa Kỳ.

Cuộc triển lãm diễn ra trong thời điểm ngành công nghiệp xe hơi đang phải điều chỉnh theo thực tế do chính sách thuế quan liên tục thay đổi của chính quyền Trump, có khả năng đảo lộn kế hoạch của các nhà sản xuất trên toàn thế giới, làm tăng giá những mẫu xe được bán tại Hoa Kỳ.

2026 Kia K4 Hatchback, một mẫu xe đáng chú ý tại 2025 New York International Auto Show. (Hình của nhà sản xuất Kia)

Theo trang mạng tin tức xe hơi cars.usnews.com, các nhà sản xuất xe hơi đã trưng bày tại triển lãm những mẫu xe mới nhất và tuyệt vời của họ. Cùng với những mẫu xe hơi, pickup, SUV, minivan hiện đang có sẵn tại các đại lý trên khắp cả nước, nhiều công ty còn giới thiệu thêm những mẫu xe mới chưa tung ra thị trường.

Sau đây là một số mẫu xe đáng chú ý tại triển lãm xe hơi New York:

  • 2026 Hyundai Palisade:
    Hyundai giới thiệu thế hệ mới của chiếc SUV ba hàng ghế Palisade rất phổ biến tại Mỹ. Kiểu dáng bên ngoài được thiết kế lại, táo bạo và vuông vắn hơn so với mẫu xe năm 2025. Palisade còn có nội thất hoàn toàn mới để phù hợp với vẻ ngoài vuông vắn. Có một cặp màn hình 12.3 inch trên bảng điều khiển. Xe có đế sạc không dây có tính năng khử trùng bằng tia UV. Một tính năng mới đáng chú ý khác là camera hành trình được lắp sẵn, có thể ghi lại những diễn biến khi lái xe, vốn rất quan trọng khi xảy ra đụng xe. Người mua sẽ có nhiều lựa chọn về hệ truyền động: Động cơ V6 vẫn là tiêu chuẩn; tùy chọn là hệ truyền động hybrid có mức tiết kiệm nhiên liệu 30 mpg, tốt hơn nhiều so với hầu hết các mẫu SUV có cùng kích thước với Palisade.

 

  • 2026 Subaru Solterra:
    Subaru cập nhật cho mẫu SUV điện 2026 Solterra với bộ bình điện lớn hơn, giúp xe có phạm vi di chuyển hơn 285 dặm, tăng đáng kể so với 227 dặm của mẫu xe 2025. Bình điện cũng sạc nhanh hơn một chút. Thiết kế kiểu dáng bên ngoài đẹp hơn với “đèn pha cụm sao” mới. Nội thất có bảng điều khiển hoàn toàn mới với màn hình cảm ứng lớn hơn, và hai đế sạc không dây. Phiên bản XT mới có công suất 338 mã lực, có thể tăng tốc 0- 60 mph trong vòng chưa đầy 5 giây.

 

  • Genesis X Gran Equator Concept:
    Kết hợp nét thanh lịch đặc trưng của hãng xe hạng sang Hàn Quốc với phong cách mạnh mẽ của một chiếc SUV địa hình, Genesis X Gran Equator Concept nhắm đến phân khúc xe địa hình hạng sang. Xe có mui dài, nội thất hai tông màu, đèn pha và đèn hậu hai hàng đặc trưng của Genesis, trông rất sang trọng. Xe được trang bị vỏ xe địa hình, dấu hiệu rõ ràng nhất về tính cách phiêu lưu của chiếc xe này. Bảng điều khiển có những màn hình kỹ thuật số nhưng lại giống đồng hồ đo thông thường, trông đẹp mắt.

 

  • 2026 Kia K4 Hatchback:
    Trong khi ngành công nghiệp xe ở Mỹ đã từ bỏ dòng xe nhỏ giá rẻ, Kia khôi phục lại phân khúc này với K4. Tại Triển lãm New York, Kia bổ sung một mẫu xe K4 hatchback mới. Mẫu xe này thừa hưởng tất cả các điểm mạnh của mẫu xe sedan, bao gồm không gian hành khách rộng rãi, hệ thống thông tin giải trí dễ sử dụng, thiết kế cabin cao cấp. K4 hatchback tăng thêm gần 60 feet khối cho không gian chở hành lý. Hệ thống truyền động của K4 hatchback tương tự như mẫu xe sedan; bao gồm cả động cơ tăng áp bốn xi-lanh mạnh mẽ trong mẫu xe GT-Line Turbo.

 

  • 2025 Jeep Wagoneer Overland Special Edition
    Jeep tăng thêm khả năng vượt địa hình cho Wagoneer với Overland Special Edition mới, là phiên bản Wagoneer có nhiều khả năng nhất từng được chế tạo. Xe được trang bị đầy đủ các thiết bị phù hợp với đường mòn như vỏ xe địa hình có gai, tấm chắn trượt, chiều cao gầm xe lên đến 10 inch. Hệ thống quản lý lực kéo Selec-Terrain của Jeep cũng là trang bị tiêu chuẩn, cùng tính năng kiểm soát lên dốc và xuống dốc. Overland Special Edition có thiết kế kiểu dáng bên ngoài nổi bật, có một số điểm nhấn có phong cách riêng, đáng chú ý là mui xe sơn đen các điểm nhấn màu đen như lưới tản nhiệt, đèn pha và huy hiệu. (HD)

Không có hòa giải khi không nhìn thấy nhau

Tiến Sĩ Alex-Thái Đình Võ

LTS: Hòa hợp và hòa giải dân tộc, dù đã 50 năm sau cuộc chiến, vẫn là một vấn đề nhạy cảm và chưa tìm ra lối thoát đối với người Việt Nam. Nhật báo Người Việt xin trân trọng giới thiệu bài viết đóng góp cho đề tài này của Tiến Sĩ Alex-Thái Đình Võ, một sử gia người Mỹ gốc Việt, hiện là giáo sư nghiên cứu tại Trung Tâm Việt Nam và Lưu Trữ của đại học Texas Tech University, Lubbock, Texas. Bài viết không nhất thiết phản ảnh quan điểm của Người Việt. 

Tiến Sĩ Alex-Thái Đình Võ. (Hình: VOA)

Di chứng và sự cần thiết của hòa giải

Chiến tranh, cùng với những hệ lụy sâu xa và các chính sách hậu chiến, không chỉ để lại vết thương trên thân thể con người mà còn khắc sâu trong tâm khảm và ký ức của cả một dân tộc. Những di chứng ấy – đôi khi hiển hiện, đôi khi âm ỉ – đã trở thành căn nguyên của sự chia rẽ, nghi kỵ và hận thù kéo dài giữa con người với nhau, giữa người dân với chính thể, đặc biệt là giữa những bên từng ở hai chiến tuyến.

Năm mươi năm sau chiến tranh, những di chứng của thời chiến và hậu chiến vẫn còn hiện hữu – chưa được hóa giải một cách thấu đáo – tiếp tục góp phần duy trì sự chia rẽ, định kiến, nỗi sợ hãi và kỳ thị giữa người với người, giữa cộng đồng với cộng đồng. Bởi vậy, hòa giải và hòa hợp sau chiến tranh không thể chỉ là khẩu hiệu lặp lại trong các dịp kỷ niệm, mà cần là một quá trình kiên trì, đòi hỏi thời gian, sự mở lòng bao dung để cảm thông, và quan trọng hơn hết, là những hành động cụ thể và chân thành. 

Phân biệt giữa hòa giải và hòa hợp

Hai khái niệm hòa giải và hòa hợp không nên bị đồng nhất hay giản lược thành một tiến trình duy nhất. Hòa giải là bước tiền đề – là hành trình can đảm để nhìn lại, nhận diện và hóa giải những khuất tất, đau thương trong lịch sử. Chỉ khi sự thật được công nhận, ký ức được lắng nghe, và con người được tôn trọng với tất cả chiều sâu của căn tính và trải nghiệm lịch sử – thì mới có thể đặt nền móng cho một sự hòa hợp thực sự.

Hòa hợp là kết quả của tiến trình ấy – khi sự khác biệt không còn là lý do để loại trừ, mà trở thành nền tảng cho một cộng đồng cùng chung sống trong tôn trọng, chấp nhận sự đa dạng đầy sắc thái cũng như phức tạp, và cùng nhau xây dựng một tương lai phong phú hơn. Hòa giải và hòa hợp chỉ có thể bắt rễ khi xuất phát từ sự tự nguyện, sự thấu hiểu, và nỗ lực chung của tất cả các bên liên quan. 

Những trở ngại hiện tại

Cho đến nay, giữa người Việt với nhau, những bước tiến về kinh tế, văn hóa, thậm chí nghệ thuật đã tạo ra những cây cầu – nhưng những cây cầu ấy vẫn chưa thể bắc qua ý thức và vô thức lịch sử. Ở tầng vô thức, vẫn tồn tại sự e dè, mặc cảm, thậm chí sợ hãi – thể hiện qua cách xã hội né tránh những vấn đề “nhạy cảm” trong quá khứ: Từ miền Bắc với cải cách ruộng đất, phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, đến miền Nam trước 1975 với thảm sát Huế, thảm sát Mỹ Lai, hậu quả của chất độc da cam, trại cải tạo, vấn đề lý lịch, các cuộc vượt biên, và cả sự hiện diện gây tranh cãi của những biểu tượng như lá cờ vàng – tất cả đều là những phần ký ức chưa được nhìn nhận một cách đầy đủ và công bằng.

Hòa giải văn hóa – dù mang lại hy vọng – vẫn chưa chạm đến gốc rễ. Những buổi hòa nhạc Trịnh Công Sơn, các triển lãm mỹ thuật thời chiến, những bộ phim về hàn gắn… tuy đã bước đầu mở lối, nhưng nếu không được tiếp tục bằng chính sách, giáo dục, và đối thoại công khai, chúng chỉ dừng ở mức biểu tượng cảm xúc, chưa đủ để tạo ra sự hòa giải bền vững. 

Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, nay là Nghĩa Trang Bình An, thuộc tỉnh Bình Dương, nơi an nghỉ của hàng ngàn binh sĩ VNCH hy sinh trong Cuộc Chiến Việt Nam. (Hình minh họa: Hoang Dinh Nam/AFP via Getty Images)

Tồn tại giữa con người và thể chế

Thực chất, dù không tuyệt đối, nhưng phải công tâm nhìn nhận rằng giữa con người với con người, phần lớn đã có sự hòa giải từ lâu. Ở tận cùng của ký ức và nỗi đau, ai cũng hiểu rằng cuộc chiến ấy là một cuộc tương tàn giữa huynh đệ – giữa những người không may sinh ra ở hai phía vĩ tuyến, giữa những cuộc ra đi và ở lại do hoàn cảnh đẩy đưa. Chính vì thế mới có những đối đầu đầy bi kịch giữa bạn bè, giữa người thân trên chiến trường; mới có cảnh người cha tập kết vào tù thăm đứa con ngụy sau ngày “giải phóng;” mới có những éo le như người vợ của một sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa buộc phải tái hôn với một bộ đội cộng sản để nuôi con khi chồng còn trong trại cải tạo.

Những oan nghiệt đó, theo thời gian, phần nào đã tự được hóa giải – như khi người anh từng tập kết trở về quê trông nom nhà cửa cho đứa em được đi Mỹ. Điều đó cho thấy, rốt cuộc, vấn đề không còn nằm giữa người với người, mà nằm giữa thể chế và con người – cụ thể là ở chỗ, cho đến nay, thể chế ấy vẫn chưa thực sự thể hiện một thiện chí hòa giải một cách chân thành, dù họ hoàn toàn có đủ điều kiện và khả năng để làm điều đó. 

Cách tiếp cận ký ức và loại trừ chính trị

Không thể nói đến hòa giải nếu như một bên vẫn bị phủ định hoàn toàn danh tính, quá khứ và đóng góp lịch sử của mình. Việc vẫn gọi Việt Nam Cộng Hòa là “ngụy quyền,” vẫn tiếp tục tuyên truyền một lịch sử một chiều, vẫn loại trừ các biểu tượng đối lập khỏi không gian công cộng – không phải là điều vô tình, mà là một hệ thống tái sản xuất ký ức có chủ đích.

Tình trạng này không chỉ là sản phẩm của một ý thức hệ, mà còn ăn sâu vào văn hóa chính trị quyền lực – nơi mà sự chính danh được xây dựng trên sự loại trừ thay vì cộng hưởng. Việc chính quyền Việt Nam có thể dễ dàng hòa giải với các cường quốc như Mỹ hay Trung Quốc vì lý do kinh tế và địa chính trị, nhưng lại chưa thể mở lòng với chính những người anh em cùng một dân tộc, phản ánh một sự lựa chọn có tính toán trong cách tiếp cận ký ức – nơi lợi ích dường như vẫn được đặt lên trên sự thấu hiểu và phẩm giá con người, với giả định rằng đó mới là điều mang lại lợi ích lâu dài.

Khi phải sống và đối diện với thực tại của những toan tính như thế – cùng với ảnh hưởng kéo dài của chủ nghĩa thực dân và Chiến Tranh Lạnh lên các chia rẽ ý thức hệ và vùng miền – sự phân cực trong xã hội Việt Nam càng trở nên sâu sắc, không chỉ giữa người Việt với nhau, mà còn giữa con người và thể chế mà họ từng hoặc đang thuộc về. Người Việt, dù già hay trẻ, dù sống trong nước hay hải ngoại, nhiều khi bị buộc phải lựa chọn giữa hai cực đối lập, thay vì được quyền tồn tại trong sự dung hòa của đa dạng và phức tạp – vốn là bản chất thật sự của lịch sử và con người. 

Một thương phế binh VNCH tại Sài Gòn, người bị mất một phần thân thể trong Cuộc Chiến Việt Nam. (Hình minh họa: GXĐMHCG)

Những bước nhỏ đến hòa giải

Con đường dẫn đến hòa giải không có lối tắt. Đó không thể là một cuộc “đại nhảy vọt,” bởi vì hòa giải và hòa hợp không thể đạt được bằng cách gạt bỏ quá khứ, phủ nhận nỗi đau hay những mất mát của người khác bằng những ngôn từ mang tính ngoại giao chính trị như “khép lại quá khứ, hướng đến tương lai.” Cũng không thể chỉ chờ cho thế hệ từng trực tiếp chịu tổn thương “ra đi” rồi mới bắt đầu tiến trình ấy – bởi vì không ai có thể hòa giải với một khoảng trống.

Vì vậy, dù hòa giải không thể vội vã, nhưng càng không thể trì hoãn. Điều kiện tiên quyết phải là thành ý và lòng bao dung – từ cả hai phía – để nhìn nhận sự tồn tại, nỗi đau, và giá trị lịch sử của nhau. Từ đó, các bước đi cụ thể có thể được thực hiện theo hai tầng nỗ lực: Vĩ mô và vi mô.

Ở cấp độ vĩ mô, tiến trình hòa giải cần bắt đầu từ việc nhìn lại cách chúng ta kể về lịch sử – tức là một sự nhìn nhận trung thực không chỉ về chính mình mà cả phía bên kia. Việc cải cách giáo dục lịch sử, chấm dứt mô hình kể chuyện một chiều, sẽ mở đường đưa những phần bị loại trừ trở lại như thành tố không thể thiếu của dòng chảy dân tộc.

Một quốc gia thực sự trưởng thành là quốc gia có dũng khí đối diện với ký ức – kể cả những phần tối tăm nhất. Làm được điều đó, quốc gia ấy không chỉ trưởng thành mà còn mạnh mẽ, vì đã biết mở lòng đón nhận những con người và ký ức từng bị gạt ra bên lề.

Trong tinh thần ấy, việc tổ chức các diễn đàn tự do đối thoại quốc gia, nơi những người từng ở hai bên chiến tuyến có thể lắng nghe và lên tiếng, sẽ góp phần chữa lành vết thương. Cùng với đó là các nỗ lực phục hồi danh dự cho những nhân vật từng bị loại trừ – thông qua bảo tàng, bia tưởng niệm, hay ấn phẩm mang tính giáo dục.

Một chính sách tiếp nhận và nâng đỡ công bằng, đầy nhân ái đối với những người – dù đã khuất hay vẫn sống lây lất vì di chứng chiến tranh – là bước đi ý nghĩa. Những nỗ lực tìm kiếm hài cốt, trùng tu mộ phần, hỗ trợ tài chính và y tế, nên được thực hiện với cùng một tấm lòng như dành cho tử sĩ và thương binh của chính thể hiện tại. Bởi vì họ – bất kể từng thuộc về bên nào – vẫn luôn là một phần không thể tách rời của cộng đồng dân tộc.

Ngoài việc hướng tới hòa giải với những yếu tố lịch sử giữa bên được gọi là thắng cuộc và bên thua cuộc, thì một yêu cầu cấp thiết và thực tế hơn hiện nay chính là tiến trình hòa giải giữa thể chế và người dân – không chỉ với đồng bào ở hải ngoại mà cả với đồng bào trong nước.

Một nền hòa giải thực sự đòi hỏi chính quyền cần chủ động nhìn nhận, tôn trọng, và từng bước thực hiện các giá trị về tự do và quyền công dân. Đặc biệt, cần tạo dựng môi trường công bằng, trong đó người dân có quyền tự do bày tỏ nguyện vọng, tham gia đóng góp ý kiến và xây dựng chính sách quốc gia.

Chỉ bằng cách đó, tinh thần đoàn kết dân tộc mới có thể thực sự được khơi dậy, và mọi người dân – bất kể quá khứ hay vị trí địa lý – mới có thể cùng chung tay vun đắp cho một tương lai chung, vững mạnh và bao dung hơn cho đất nước.

Ở cấp độ vĩ mô, những hành động nhỏ từ cộng đồng và cá nhân cũng vô cùng quan trọng. Các sáng kiến văn hóa xã hội từ trong và ngoài nước cần được khuyến khích như những nỗ lực phục hồi ký ức bị lãng quên. Việc tạo ra không gian kể chuyện và lắng nghe – từ bảo tàng, nghệ thuật, podcast, đến phỏng vấn – sẽ giúp người Việt các thế hệ chia sẻ trải nghiệm của mình. Đồng thời, đầu tư vào giáo dục và hỗ trợ tâm lý cho thế hệ trẻ là điều cấp thiết để các em hiểu rằng lịch sử không chỉ là thắng thua, mà là câu chuyện của con người – với đầy đủ tổn thương, giằng xé, và phẩm giá. 

Kết luận

Năm mươi năm sau chiến tranh, hòa giải và hòa hợp không thể tiếp tục là những lời nói êm tai hay khẩu hiệu vang vọng trong lễ kỷ niệm. Đã đến lúc chúng phải trở thành hành động – cụ thể, chân thành và có ý nghĩa – để ký ức thôi là gánh nặng, mà trở thành nền tảng cho một tương lai chung.

Muốn hòa hợp, phải hòa giải. Muốn hòa giải, phải hóa giải. Muốn hóa giải, phải nhìn nhau như những con người mang ký ức, nỗi đau và ước mơ. Không có hòa giải nào diễn ra khi một bên tiếp tục phủ định sự hiện diện và giá trị của bên kia, dù trong quá khứ hay hiện tại. Nhưng nếu bắt đầu từ lòng trắc ẩn, từ những cuộc đối thoại chân thành và chính sách mang tính chữa lành – thì hòa hợp không phải là điều viển vông, mà là một tương lai khả dĩ. [đ.d.]

Bí ẩn cuối cùng của Cuộc Chiến Việt Nam

Nguyễn Tiến Hưng

Ngay sau cuộc rút quân khỏi Pleiku (15 Tháng Hai, 1975), ông Bửu Viên, phụ tá tổng trưởng Quốc Phòng VNCH, nói với chúng tôi: “Trung Cộng muốn đưa quân tràn qua biên giới Việt Nam để đánh lạc hướng và cầm chân quân đội Bắc Việt, nhằm ngăn chận cuộc tổng tấn công vào miền Nam.”

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (phải) và Phó Tổng Thống Trần Văn Hương trong tấm hình chụp vào Tháng Mười Một, 1972. Ông Hương sau này làm tổng thống sau khi ông Thiệu từ chức trong những ngày cuối của Cuộc Chiến Việt Nam. (Hình minh họa: AFP via Getty Images)

Ít lâu sau, tôi lại được nghe Ngoại Trưởng Vương Văn Bắc xác nhận: “Trung Cộng có liên lạc và đề nghị một kế hoạch tiếp cứu VNCH, nhưng Tổng Thống Thiệu thẳng thừng từ chối.”

Thời điểm ấy, chúng tôi coi đây là chuyện hoang đường. Trung Quốc từng yểm trợ Bắc Việt từ bao nhiêu năm, sao nay lại muốn ngăn cản chiến thắng? Thêm vào đó, lập trường cứng rắn chống Trung Quốc của Tổng Thống Thiệu đã thể hiện rõ ràng trong hải chiến Hoàng Sa 1974 – khiến chúng tôi càng tin việc đó khó có thể xảy ra, cho nên đã quên không hỏi thẳng Tổng Thống Thiệu. Chỉ có một lần tại London, Anh, tôi có hỏi sơ qua rằng người nào của Trung Quốc đã liên lạc với ông Bắc, thì ông Thiệu nói: “Lãnh sự của Trung Cộng ở Hồng Kông.”

Nhưng ngày nay, với những bằng chứng mới, chúng tôi có thể xác nhận câu chuyện này hoàn toàn có thật, được chi tiết trong cuốn sách “Bức Tử VNCH – Kissinger và 8 Thủ Đoạn Nham Hiểm” (2024).

Hai bí mật lớn cuối cuộc chiến 

Sau 15 năm chiến đấu vai kề vai với quân đội Bắc Việt (1960-1975) cuối cùng thì Mặt Trận Giải Phóng (MTGP) lại muốn thương thuyết thẳng với Mỹ và VNCH.

Trung Quốc thực sự muốn can thiệp để ngăn chận chiến thắng của Bắc Việt.

MTGP tìm cách điều đình riêng với Hoa Kỳ và VNCH 

Về việc MTGP – với sự hỗ trợ của Trung Quốc – muốn tách rời khỏi Hà Nội để điều đình thẳng với Mỹ thì trong hồ sơ của Đại Sứ Graham Martin trao cho chúng tôi – gồm trên 20 mật điện giữa Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn và Bộ Ngoại Giao ở Washington, DC vào Tháng Tư, 1975, có hai công điện của Ngoại Trưởng Henry Kissinger cùng ngày 25 Tháng Tư, 1975 gửi ông Martin nói đến việc ông Phạm Văn Ba, đại diện MTGP tại Paris, cho biết họ muốn liên lạc trực tiếp với Hoa Kỳ và nhờ Pháp sắp xếp một cuộc gặp gỡ.

Công điện thứ nhất, ngày 25 Tháng Tư, 1975:

“Tòa Đại Sứ Pháp đã thông báo cho chúng tôi vào chiều ngày 24 Tháng Tư rằng MTGP tiếp tục nói với Pháp họ muốn thiết lập liên lạc trực tiếp với Hoa Kỳ. Người Pháp lưu ý rằng lời phát biểu này là tiếp theo một phát biểu tương tự trong cuộc trao đổi với ngoại trưởng (Pháp) như đã báo cáo trước đây. Họ đã coi sự việc này như một lời yêu cầu để người Pháp sắp xếp một cuộc gặp gỡ với chúng ta.” – Kissinger.

Công điện thứ hai trong cùng ngày 25 Tháng Tư, 1975:

“Tòa Đại Sứ Pháp thông báo cho chúng tôi về trao đổi ngày 25 Tháng Tư giữa ông Phạm Văn Ba, đại diện MTGP, và ông Quai D’Orsay, quyền giám đốc phụ trách các vấn đề Á Châu của Bộ Ngoại Giao Pháp.Ông Ba nói ông muốn mọi người hiểu rằng MTGP coi một công thức chính trị có thể chấp nhận được, đó là đặt Tướng (Dương Văn) Minh làm quốc trưởng, với điều kiện ông ấy phải thành lập một chính phủ với tinh thần hòa giải dân tộc.”

“Báo cáo của Pháp nói ông Ba đã xác nhận rằng Hoa Kỳ nên giải quyết vấn đề Nam Việt Nam với MTGP chứ không phải với Hà Nội. Về phần mình, MTGP sẵn sàng để mở cuộc đối thoại.” (Tâm Tư Tổng Thống Thiệu, trang 578-579).

Về điểm này thì Trung Tướng Trần Văn Đôn, cựu phó thủ tướng kiêm tổng trưởng Quốc Phòng, cũng xác nhận với chúng tôi là MTGP đã liên lạc với ông ở Paris và ở Sài Gòn về ý muốn điều đình thẳng với chính phủ VNCH. Mục đích là để thành lập một miền Nam trung lập chứ không hội nhập với miền Bắc.

Trung Quốc đề nghị nhảy vào tiếp cứu 

Ngày nay chúng tôi đã có được bằng chứng rõ ràng về việc Trung Quốc đề nghị với VNCH cho phép nhảy vào để đánh chận cuộc tổng tấn công mùa Xuân 1975 khi quân đội Bắc Việt đang tiến nhanh vào Sài Gòn, nhưng lãnh đạo VNCH đã dứt khoát từ chối.

Trước hết là câu chuyện của một nhân chứng còn sống. Đó là Đại Tá Không Quân Nguyễn Quốc Hưng (hiện ở Salem, Portland). Ông kể lại cho chúng tôi – với ghi chú của mình trong cuốn nhật ký “AGENDA 1975” mà ông còn giữ được. Đại Tá Hưng là cựu phụ tá tham mưu phó hành quân, Bộ Tư Lệnh Không Quân VNCH.

Sau đây là một trang của cuốn “AGENDA 1975” mà ông Hưng đã lục lọi tìm lại được, có ghi ngắn gọn những sự kiện vào ngày Thứ Bảy, 26 Tháng Tư, 1975, chỉ bốn ngày trước khi quân đội Bắc Việt tiến vào Sài Gòn.

Ông nói “Mấy dòng sau đây là do tôi vội vàng ghi lén tại chỗ:”

Và chi tiết trang nhật ký là như sau:

“Hồi 9 giờ 15 phút sáng ngày 26 Tháng Tư, 1975 tôi bay chiếc A-37 đánh ở Bắc Long Thành vì nơi đây đang bị pháo kích nặng, và đã trở về an toàn (vô sự). Trung Tướng (Nguyễn Cao) Kỳ gọi và nói anh và Cử đến đây gặp tôi ngay. Cử là Nguyễn Văn Cử, cựu phi công (người đã đảo chính Tổng Thống Ngô Đình Diệm năm 1962 nhưng không thành), lúc đó là dân biểu.

Lúc 10 giờ 10 phút thì tôi và Cử tới họp mật với ông Kỳ ở câu lạc bộ Không Quân Huỳnh Hữu Bạc, Tân Sơn Nhất. Vừa bắt đầu họp thì có một chiếc trực thăng UH-1 đáp xuống phía sau câu lạc bộ do phi công Mỹ lái và ba người Tàu mặc quần áo dân sự đi với một thông dịch viên. Cử hỏi nhỏ ông Kỳ: ‘Tại sao tụi nó đi máy bay Mỹ?’ Ông Kỳ nói: ‘Ba thằng tướng Trung Cộng này được Đại Sứ Martin sắp xếp để đến và yêu cầu tôi gặp.’

Sau khi chào hỏi và nói mấy câu xã giao, tướng Trung Quốc, qua thông dịch viên, hỏi: ‘Các ông có cần và đồng ý để chúng tôi cho hai sư đoàn đã sẵn sàng ở Bắc Lạng Sơn tràn qua đánh tập hậu quân đội Bắc Việt không?’

Lúc 10 giờ 20 phút, ông Kỳ trả lời vắn gọn: ‘Thắng trận hay bại trận là quyền định đoạt của Nam Việt và Bắc Việt Nam chúng tôi, xin mời các ông rời nơi đây ngay.’

Ba tướng Trung Quốc nhìn nhau ngỡ ngàng, một tướng lắc đầu, rồi họ chào ‘good bye’ và lên trực thăng.

Ông Kỳ quay sang nói với Cử và tôi: ‘Không thể cõng rắn độc để cắn chết gà nhà được.’ Rồi ông còn thêm: ‘Tổng Thống Thiệu đã từ chối chúng nó trước rồi. Bây giờ cứ tiếp tục.’

Nghe vậy, Cử mặt tái mét. Sau buổi họp, tôi hỏi tại sao thì Cử nói ‘moi’ xanh mặt vì sợ tụi Tàu tức giận sẽ ập xuống đánh luôn cả mình.’”

Ông Hưng thêm: “Khi tôi hỏi tại sao Trung Quốc lại muốn đánh chận quân đội Bắc Việt thì ông Kỳ nói: ‘Chúng nó đã biết Lê Duẩn theo Liên Xô rồi.’”

Bìa cuốn sổ tay của Đại Tá Không Quân Nguyễn Quốc Hưng. (Hình: Nguyễn Tiến Hưng cung cấp)

Những thông tin khác

Gần đây lại có thêm những thông tin về câu chuyện này. Những trích dẫn sau đây là từ bài khảo luận của tác giả George Jay Veith với tựa đề: “China and the Fall of South Vietnam: the Last Great Secret of the Vietnam War” đăng trên mạng của Wilson Center, Washington, DC, ngày 22 Tháng Chín, 2022: wilsoncenter.org/blog-post/china-and-fall-south-vietnam-last-great-secret-vietnam-war.

Thông tin của ông Veith dựa trên hơn một thập niên phỏng vấn và trao đổi email với Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Phong trước khi ông qua đời vào Tháng Bảy, 2017. Ông Phong từng là phó trưởng phái đoàn VNCH trong suốt thời gian đàm phán với phái đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) tại Paris từ năm 1968 đến năm 1975.

Sau đây là một số chi tiết:

1972 – Theo ông Phong thì vào đầu năm “Trung Quốc đã chuyển đến ông nhiều thông điệp để tìm cách thiết lập một cuộc đối thoại với Tổng Thống Thiệu, nhưng ông Thiệu đã không trả lời.” Chúng tôi cho rằng những thông điệp này đã trùng hợp với cuộc “Tấn Công Lễ Phục Sinh” (Easter Offensive), miền Bắc gọi là “Chiến Dịch Xuân-Hè,” bắt đầu từ ngày 30 Tháng Ba, 1972 và kết thúc ngày 22 Tháng Mười, 1972 sau “Mùa Hè Đỏ Lửa.”

1974 – “Sau trận Hoàng Sa (ngày 19 Tháng Giêng, 1974), khi trả tù binh VNCH về nước, Trung Quốc đề nghị mở một cuộc họp giữa hai bên, nhưng VNCH không trả lời. Vào mùa Hè năm đó, Trung Quốc lại nhờ người nói chuyện lần nữa với chính phủ VNCH, nhưng người này lại trình bày với Đại Sứ Graham Martin của Mỹ, và ông Martin giữ im lặng luôn.”

Qua kinh nghiệm làm việc gần gũi với ông Martin trong thời gian từ 1974 tới 1975 về vấn đề viện trợ và biết được tâm tư tuyệt vọng của ông trước sự lạnh nhạt, phản bội của Washington, chúng tôi cho rằng ông Martin đã không im lặng, và đã bí mật cho ông Thiệu biết, vì thấy nguy cơ sụp đổ của VNCH ngay trước mắt. Ông là viên chức cao cấp Mỹ duy nhất còn hết lòng ủng hộ VNCH sau Hiệp Định Paris, một phần có thể vì con ông, cậu Glenn, đã lái trực thăng và tử trận tại Bình Thuận ngày 23 Tháng Mười Một, 1965.

Trước khi ra đi về nơi chín suối (13 Tháng Ba, 1990) ông Martin còn nói với chúng tôi: “Một ngày nào tôi sẽ nói lời cuối cùng về Kissinger” (như được ghi lại trong cuốn “Khi Đồng Minh Tháo Chạy”).

ThángTư, 1975 – “Sau khi Tổng Thống Thiệu từ chức và Phó Tổng Thống Trần Văn Hương nhận chức ngày 21 Tháng Tư, 1975, Trung Quốc lại cử đại diện đến gặp và đề nghị tiếp viện cho VNCH, nhưng ông Hương từ chối. Ông nói với giới thân cận: “Cho Trung Cộng vào, chiến cuộc tiếp diễn trên lãnh thổ ta, ngay cả nếu chiến thắng thì khi nào mới đuổi Trung Cộng ra được…”

Khi ông Hương chuyển quyền cho Đại Tướng Dương Văn Minh thì “vài ngày sau, ông Phong gặp cựu Trung Tướng Trần Văn Đôn (bạn của ông Minh) và một đại diện của Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam (MTGP) để thảo luận về khả năng thành lập một chính phủ liên hiệp…ông Phong thông báo một cách tế nhị với giới chức MTGP rằng Pháp và các nước khác sẽ giúp đỡ chính phủ mới…”

Trung Quốc muốn đưa hai sư đoàn dù nhảy xuống Biên Hòa để tiếp cứu 

Theo ông Phong thì “Trung Quốc rất muốn MTGP nắm quyền thông qua công thức chính phủ liên hiệp do Pháp đề nghị với Tướng Minh để ngăn chặn Bắc Việt đơn phương tiếp quản miền Nam. Sau khi một liên minh như vậy được thành lập, ông Minh sẽ đưa ra lời kêu gọi để yểm trợ. Người Pháp sẽ đáp lại bằng một ‘lực lượng quốc tế’ vào Nam Việt Nam để bảo vệ chính phủ mới. ‘Sức mạnh’ ban đầu để bảo vệ, như ông Phong gọi, sẽ là ‘hai sư đoàn dù Trung Quốc nhảy xuống Biên Hòa.’”

Bắc Kinh yêu cầu phải cần bốn ngày để sắp xếp quân đội của họ và đưa họ đến căn cứ không quân. Ông Phong giải thích như sau:

“Bắc Kinh không thể trực tiếp đứng ra làm công việc này, nhưng họ cho mọi người biết rằng họ (muốn) để cho người Pháp lãnh trách nhiệm này! Vì chính trị quốc tế, Bắc Kinh không thể trắng trợn can thiệp quân sự vào miền Nam Việt Nam. Pháp cần phải kêu gọi một ít quốc gia tham gia vào ‘lực lượng quốc tế’ – với Pháp đóng vai trò mũi nhọn – để Bắc Kinh có thể can thiệp.” (Chúng tôi xin mở ngoặc nơi đây để nhắc lại rằng trong chín quốc gia ký vào bản Hiệp Định Quốc Tế ngày 2 Tháng Ba, 1973 “để bảo đảm hòa bình Việt Nam” có cả Pháp và Trung Quốc).

“Có một số câu hỏi mà Bắc Kinh phải đối mặt vào lúc đó: Bao nhiêu quân sẽ được đưa vào và sẽ ở lại miền Nam bao lâu? Trung Quốc hứa rằng họ sẽ ở lại một thời gian cần thiết, nhưng họ nghĩ rằng từ ba đến sáu tháng là thời gian tối đa họ có thể tham chiến… vì họ không muốn bị buộc tội chiếm đóng miền Nam Việt Nam bằng quân sự.”

Ngoài ông Phong, “Pháp còn đề nghị với tân Tổng Thống Minh cùng một thông điệp giống như với ông Phong – qua trung gian Tướng Paul Vanuxem của Pháp đã về hưu.“Nhưng sau khi suy nghĩ, ông Minh đã từ chối.” Ông Vanuxem cũng là người quen biết ông Thiệu từ lúc còn chiến đấu ở ngoài Bắc (trước 1954) và sau này đôi khi có lui tới Sài Gòn để thăm ông.

Một trang nhật ký của Đại Tá Không Quân Nguyễn Quốc Hưng. (Hình: Nguyễn Tiến Hưng cung cấp)

Vì sao Trung Quốc muốn ngăn Bắc Việt? 

Thoạt nghe thì thấy là mâu thuẫn. Trung Quốc từng hết lòng viện trợ Bắc Việt. Tại sao đến 1975 lại muốn ra tay ngăn chiến thắng của Hà Nội?

Ngược dòng lịch sử,  có thể giải thích nghịch lý với những sự kiện sau đây:

-Trung Quốc là nước đầu tiên công nhận chính phủ VNDCCH (ngày 18 Tháng Giêng, 1950). Kể từ đó, Bắc Kinh nhất mực yểm trợ Hà Nội chống Pháp (1946-1954).

-Tới ngày 7 Tháng Năm, 1954, Hà Nội chiến thắng Pháp tại trận Điện Biên Phủ. Sau đó, tại Hội Nghị Geneva, Trung Quốc bắt đầu chuyển hướng, từ yểm trợ chiến đấu đến giảm thiểu kết quả của chiến thắng.

Và đây là cái nghịch lý đầu tiên.

Câu chuyện là như thế này:

-Tại Hội Nghị Geneva: Vào cuối Tháng Sáu, 1954, giữa lúc cuộc thương thuyết về Đông Dương trở nên căng thẳng, phái đoàn Mỹ báo cáo về Washington rằng Trung Quốc đã làm áp lực với Việt Minh để chấp nhận giải pháp hai giai đoạn, giai đoạn đầu là quân sự, tức là ngưng chiến, rồi mới tới giai đoạn thứ hai là chính trị, tổng tuyển cử.

Theo ông Jean Chauvel, trưởng phái đoàn Pháp tại hội nghị, “ông Chu Ân Lai đã có lập trường hoàn toàn mới, đó là công nhận có hai chính phủ ở Việt Nam. Và đây là lần đầu tiên ông Chu công nhận chính phủ Miền Nam là một chính phủ hợp pháp.”

Sau đó, tân thủ tướng Pháp, ông Mendes France, lại yêu cầu ông Chu áp lực với Hà Nội để sớm đi tới một hiệp định, và ông Chu đồng ý giúp (như chúng tôi đã ghi lại trong cuốn “Khi Đồng Minh Nhảy Vào,” trang 177).

Kết quả của Hội Nghị Geneva năm 1954 là giải pháp chia đôi nước Việt Nam ở vĩ tuyến 17. Đó là một giải pháp đã được Trung Quốc áp lực Bắc Việt phải chấp nhận, vì lúc ấy miền Bắc – thừa thắng xông lên – muốn tiếp tục chiến đấu. Điều này làm cho phái đoàn VNDCCH cùng nhiều thành phần kháng chiến ở miền Nam rất bất mãn.

-Cuối thập niên 1950, lại có một biến chuyển mới: đó là sự chia rẽ giữa hai đồng minh lớn nhất của VNDCCH: Tình hữu nghị Trung Quốc-Liên Xô bị rạn nứt. Sự rạn nứt lên tuyệt đỉnh vào lúc có những giao tranh đẫm máu giữa hai quốc gia này tại sông Ussuri năm 1969. Liên Xô đã tính đến tấn công Trung Quốc bằng nguyên tử (xem “Tâm Tư TT Thiệu,” Chương 24). Xung đột này đặt Hà Nội vào cái thế phải “đu giây,” và có thể đã thấy Hà Nội không hoàn toàn đứng về phía mình.

-Tháng Bảy, 1971, Tổng Thống Richard Nixon tuyên bố sẽ viếng thăm Trung Quốc vào đầu năm 1972 sau 20 năm thù nghịch. Ông cũng tiết lộ rằng ông Kissinger đã bí mật đi Bắc Kinh để sắp xếp chuyến đi này. Hà Nội (và Sài Gòn) bỡ ngỡ, lo ngại là Mỹ và Trung Quốc sắp xích lại gần nhau. Thấy vậy Bắc Việt phản ứng.

-Tháng Mười Một, 1971, Thủ Tướng Phạm Văn Đồng của Bắc Việt đi Bắc Kinh gặp Chủ Tịch Mao Trạch Đông. Trong một buổi họp rất căng thẳng, ông Đồng kiến nghị ông Mao đừng gặp ông Nixon. Ông Mao nói “chính những thắng lợi của Bắc Việt khiến ông Nixon phải tới Trung Quốc.” Rồi ông trích dẫn một câu tục ngữ: “Nếu cán chổi của ta ngắn quá, không thể với tới con nhện ở trên cánh tủ cao kia, thì ta nên để nó nằm yên tại chỗ.” Lời ông Mao nhắn nhủ đã rõ ràng. Đó là Hà Nội không nên đi tìm một sự toàn thắng ở miền Nam. Rồi ông nói thêm: “Vì cái chổi của Trung Quốc rất ngắn nên chúng tôi đã phải để ông Tưởng Giới Thạch ở lại Đài Loan. Cũng vậy, vì Việt Nam chỉ có một cái chổi ngắn, vậy đồng chí nên để ông Thiệu ở lại.” Ông Đồng, lúc đó đang trong cái khí thế “chống Mỹ cứu nước,” đáp lại: “Xin lỗi chủ tịch, nhưng cán chổi của Việt Nam chúng tôi đủ dài rồi…” (xem cuốn “The Palace File,” trang 54).

-Tháng Ba, 1972, bốn tháng sau chuyến đi của ông Đồng, Bắc Việt hành động ngược lại với lời khuyên của ông Mao và tung ra cuộc tấn công “Easter Offensive” ngày 30 Tháng Ba, 1972 như đề cập ở trên. Bắc Việt sử dụng tới trên 200 xe tăng T-54 của Liên Xô, dẫn đến “Mùa Hè Đỏ Lửa.” Như vậy là Trung Quốc đã thấy rõ Hà Nội đang cần và đã ngả về phía Liên Xô rồi.

-Tháng Năm, 1973, sau Hiệp Định Paris, như chính ông Kissinger viết lại trong cuốn “Years of Upheavals,” trang 302: “Tới Tháng Năm, 1973 thì Hà Nội đưa thêm được 30,000 quân vào miền Nam quả ngả Lào, cộng với 30,000 tấn thiết bị quân sự hạng nặng và xe tải, cùng với 400 xe tăng (T-54), 300 khẩu đại pháo, và thiết lập được một hệ thống phòng không (với hỏa tiễn SAM).” Tất cả là từ viện trợ của Liên Xô.

-Tháng Mười Hai, 1974, ngay trước trận Phước Long, Tướng Viktor Kulikov, tổng tham mưu trưởng quân đội Liên Xô, tới Hà Nội (ngày 22 Tháng Mười Hai, 1974) để thẩm định tình hình (lấy cớ là nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập Quân Đội Nhân Dân Việt Nam). Sau chuyến đi, Liên Xô tăng viện gấp bốn lần cho Bắc Việt.

Và Bắc Việt đã thực sự ngả hẳn về Liên Xô ở thời điểm đó. Đây chính là điểm mà Tướng Kỳ nói với ông Cử và ông Hưng như đề cập ở trên.

Tại sao như vậy? Đó là vì sách lược của Bắc Kinh đối với Việt Nam vẫn nhất quán từ thập niên 1950 cho tới 1975. Đó là Trung Quốc chỉ muốn loại Mỹ  khỏi Việt Nam, nhưng không muốn Hà Nội toàn thắng và làm bá chủ Đông Dương, có thể liên kết với Liên Xô để ngăn chận Trung Quốc bành trướng ở phía Nam, cửa ngõ của Đông Nam Á.

Kết luận 

Tiếp theo Tổng Thống Thiệu, cả cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ, rồi Tổng Thống Trần Văn Hương cùng Tổng Thống Dương Văn Minh, hai tổng thống cuối cùng của VNCH, dù chỉ tại vị có mấy ngày, không ai bảo ai, đều nhanh chóng và dứt khoát gạt bỏ cái giải pháp cho Trung Quốc vào cứu nguy, dù trong tình cảnh “thập tử nhất sinh.”

Nội trong bốn ngày trước khi xe tăng Bắc Việt tiến vào Dinh Độc Lập, cả hai đề nghị rõ ràng của Trung Quốc, (1) Đưa hai sư đoàn bộ binh tràn qua Lạng Sơn đánh tập hậu từ phía Bắc và (2) cho hai sư đoàn dù nhảy xuống Biên Hòa đánh bọc từ phía Nam, đều bị từ chối.

Như vậy, chúng ta có thể kết luận rằng cả ba nhà lãnh đạo cuối cùng của VNCH đã chọn thà bại trận còn hơn là để cho Trung Quốc nhảy vào.

Trong phút sinh tử, lòng tự tôn dân tộc vẫn thắng thế. Văng vẳng đâu đây, vẫn còn câu nói của Trần Bình Trọng: “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc.” [đ.d.]

Trung Quốc ‘sẽ không quỳ gối’ trong thương chiến với Mỹ

BẮC KINH, Trung Quốc (NV) – Trung Quốc hôm Thứ Ba, 29 Tháng Tư, tung ra video tuyên truyền, trong đó, họ tuyên bố “sẽ không quỳ gối” trong cuộc chiến thuế quan với Mỹ, theo New York Post.

Trong video được Bộ Ngoại Giao Trung Quốc đăng lên mạng xã hội X và được dư luận viên của nước này lan truyền rộng rãi, chính quyền Bắc Kinh cũng cố gắng kêu gọi thế giới đoàn kết chống lại Mỹ.

Quốc kỳ Trung Quốc (trái) và quốc kỳ Mỹ bay bên ngoài công ty kỹ thuật ở Bắc Kinh hôm 17 Tháng Tư. (Hình minh họa: Pedro Pardo/AFP via Getty Images)

Trung Quốc cáo buộc chính quyền Tổng Thống Donald Trump của Mỹ dùng chiến thuật uy hiếp, đồng thời khẳng định Bắc Kinh sẽ không thương lượng, bất chấp ông Trump đánh thuế nhập cảng nặng đối với hàng Trung Quốc.

“Trung Quốc sẽ không lùi bước để tiếng nói của kẻ yếu được lắng nghe,” giọng đọc bằng tiếng Anh cho hay trong video, dường như ít nhất được AI (trí tuệ nhân tạo) làm một phần.

“Khi tất cả quốc gia còn lại của thế giới đoàn kết với nhau, Mỹ chỉ là con thuyền nhỏ bị mắc cạn.

“Phải có người nào đó bước lên, tay cầm đuốc, phá tan sương mù và chiếu sáng con đường phía trước.

“Cúi đầu trước kẻ ăn hiếp thì giống như uống thuốc độc để giải khát,” theo video của Trung Quốc.

Video tuyên truyền này ví cuộc chiến thuế quan giữa các quốc gia là “cái bẫy chết người của tâm bão,” đồng thời lập luận rằng “Mỹ không đại diện cả thế giới.”

“Mỹ khuấy động cơn bão thuế quan toàn cầu và cố ý nhắm vào Trung Quốc, chơi trò tạm hoãn 90 ngày đối với các quốc gia khác, buộc họ phải hạn chế thương mại. Đối với Trung Quốc, đây giống như cái bẫy chết người của tâm bão,” theo video.

“Trung Quốc sẽ không quỳ gối, vì chúng tôi biết rằng tự vệ thì mới có thể giữ cho sự hợp tác tồn tại, còn nhượng bộ thì mất hết.

“Lịch sử từng chứng tỏ nhượng bộ sẽ không được nương tay – quỳ gối chỉ càng bị ăn hiếp,” video tiếp.

“Vì Trung Quốc, vì thế giới, chúng ta phải đứng dậy tiếp tục chiến đấu.”

Video tuyên truyền này là lần mới nhất Trung Quốc phản ứng với cuộc chiến thương mại nổ ra khi Tổng Thống Trump nâng thuế nhập cảng đối hàng Trung Quốc lên 145%.

Trung Quốc nhanh chóng áp thuế 125% lên hàng Mỹ để trả đũa. (Th.Long) [qd]

Nhớ lại thương thuyền Việt Nam Thương Tín 1 của 50 năm trước

Trần Hậu Khánh
(cựu sĩ quan cơ khí hàng hải, cựu nhân viên tuần duyên Canada)

Thấm thoát đã 50 năm từ khi di tản với tàu Việt Nam Thương Tín 1 (VNTT 1) ngày 30 Tháng Tư, 1975, tôi vẫn không quên những kỷ niệm của một thời trai trẻ đã từng là một sĩ quan cơ khí thương thuyền phục vụ trên chiếc tàu viễn dương đầu tiên của miền Nam Việt Nam trước năm 1975.

Thương thuyền Việt Nam Thương Tín 1 năm 1973. (Hình: Trần Hậu Khánh cung cấp)

Nhân dịp 50 năm định cư tại Canada, tôi xin góp bài viết này như một hồi ký về cuộc hành trình di tản của thương thuyền VNTT1 từ Sài Gòn. Người viết sẽ nêu lên những dữ kiện và dữ liệu còn nhớ đến hay còn lưu giữ liên quan đến VNTT1 trước và sau chuyến di tản lịch sử này. Những ghi nhận trong bài này có thể làm khơi dậy nhiều ký ức vui buồn của nhân viên thủy thủ đoàn từng phục vụ trên tàu, của những cá nhân quản trị văn phòng của công ty, và của những người di tản theo tàu ngày 30 Tháng Tư, 1975.

Những dữ kiện quá khứ trong bài viết, nếu có thiếu chính xác hay thiếu sót chi tiết, vì thời gian khá lâu, tôi mong quý vị thông cảm và tôi sẵn sàng đón nhận những ý kiến bổ sung, nếu cần, từ người đọc có liên quan đến VNTT1.

Thương thuyền Việt Nam Thương Tín 1 

Chiếc tàu được mua lại năm 1968 từ nước Pháp, là sở hữu của Công Ty Quốc Doanh Việt Nam Hàng Hải (Vietnam Marine Lines Co, Inc), chi nhánh của Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam Thương Tín.

Hải trình di chuyển chiếc tàu về miền Nam Việt Nam khởi hành từ Marseille, chạy ngang qua Tunisia, Morocco, Cap de Bonne Espérance, và Malaysia trước khi về đến Sài Gòn. Công Ty Việt Nam Hàng Hải (VNHH) tọa lạc ở số 16/22 đường Tôn Thất Đạm, Sài Gòn, tổng giám đốc là ông Dương Liên, giám đốc kỹ thuật là ông Phùng Lương Ngọc và cũng là giám đốc trường Việt Nam Hàng Hải (École de Navigation Maritime Vietnamienne), giám đốc thương mại là ông Lê Minh Đức và cũng là giáo sư trường Việt Nam Hàng Hải.

VNTT1 do công ty Fincantieri đóng tại Ý năm 1956, dài 148 mét, rộng 19 mét, vận tốc 14 hải lý, trọng tải 10,965-12,000 tấn. Tàu được trang bị một chân vịt, một máy chính 2 thì FIAT 757, và ba máy phát điện. Hải trình thường xuyên của VNTT1 là khởi hành từ Sài Gòn đến Philippines, ghé qua những hải cảng như Manila, Ilo Ilo, Pulau Pandan, Tolong, San Fernando, để lấy hàng mía đường xuất cảng sang Hoa Kỳ.

Từ Hoa Kỳ, VNTT1 thường ghé qua những bến cảng như New York, Baltimore, Norfolk, Jacksonville, New Orleans, Galveston, Corpus Christi, để nhận hàng như gạo, lúa mì, bắp hột để chở về Việt Nam. Những chuyến hải hành như thế có thể kéo dài từ bốn đến năm tháng mới trở lại Sài Gòn. Ngoài những chuyến tàu đến Philippines và Hoa Kỳ, VNTT1 cũng có lần ghé những cảng miền Trung như Qui Nhơn, Nha Trang, Đà Nẵng để dỡ hàng gạo chở ra từ Sài Gòn.

Thủy thủ đoàn của tàu từ 42 đến 45 nhân viên, gồm 14 sĩ quan, trong đó có thuyền trưởng, cơ khí trưởng, sĩ quan boong tàu và máy, sĩ quan vô tuyến, và hai sĩ quan học viên. Thủy thủ gồm có cai pont, cai máy 1 và 2, thợ điện 1 và 2, Timoniers, Matelots, người giữ kho, thợ mộc, chấm dầu, phục dịch máy, đầu bếp 1 và 2, phụ bếp, người giữ kho thực phẩm, thư ký, và phục vụ bàn.

Tôi và ông bạn cùng khóa Bùi Hữu Hoàng được nhận làm sĩ quan học viên từ đầu năm 1971, vốn liếng tiếng Pháp có giới hạn, không như các sĩ quan đàn anh khóa trước, chân ướt, chân ráo, bỡ ngỡ trong lối làm việc, nên thấy gì cũng mới, cũng lạ! Tuy nhiên, tiếp tục học hỏi và thực hành những sinh hoạt và điều lệ của tàu, nên chúng tôi cũng đã được trao cho chức vụ sĩ quan theo như khả năng và kinh nghiệm đạt được.

Chuyến hải hành cuối cùng trước ngày 30 Tháng Tư, 1975 

VNTT1 khởi hành từ Sài Gòn ngày 22 Tháng Hai, 1975 đi Philippines để chở đường đến Osaka và Hakata (Nhật). Từ Hakata, theo dự định, tàu sẽ chạy xuống Úc để lấy sữa bột và dỡ hàng ở Peru. Trên đường xuống Úc, thuyền trưởng Võ Kiết Triệu yêu cầu công ty cho VNTT1 trở về Việt Nam vì tình hình sôi động ở miền Trung và cũng mong thủy thủ đoàn có dịp về đoàn tụ với gia đình trong lúc dao động này. Mãi đến hai ngày sau khi yêu cầu, vào lúc chuẩn bị đón hoa tiêu để dẫn tàu vào cảng Sydney, Úc, VNTT1 nhận được chỉ thị từ công ty là phải trở về Sài Gòn gấp!

Đó là ngày 10 Tháng Tư, 1975. Ngày 17 Tháng Tư, VNTT1 về đến Sài Gòn, neo trên sông Sài Gòn, và cột vào hai phao nổi bên ngoài Kho 5 và cảng Khánh Hội.

Chuyến di tản lịch sử ngày 30 Tháng Tư, 1975 

Ngày 29 Tháng Tư là ngày trực của tôi. Sài Gòn bị giới nghiêm 24/24 vì tối 28 phi trường Tân Sơn Nhất bị dội bom. Chiều tối 29, chúng tôi chứng kiến cảnh trực thăng trên bầu trời Sài Gòn bốc người từ Tòa Đại Sứ Mỹ, hàng ngàn người tụ tập và lao xao ở bờ sông Bạch Đằng, nơi mà các tàu buôn còn đậu ở đó. Đêm 29 rạng sáng 30, đoàn tàu Hải Quân lù lù di chuyển trên sông Sài Gòn ra Vũng Tàu. Tám giờ sáng ngày 30, thuyền trưởng Võ Kiết Triệu, sĩ quan phụ tá 2 Bùi Hữu Hoàng, cơ khí trưởng Phùng Văn Gạt, và cai Nguyễn Văn Sa mướn chiếc thuyền nhỏ từ cầu tàu Nguyễn Huệ ra tàu VNTT1, cùng với nhân viên đang trực, các sĩ quan và thủy thủ lập tức điều động tàu từ phao số 1 vào cập bến Kho 5.

Tàu vừa cập vào bến an toàn, thuyền trưởng và một số sĩ quan và thủy thủ lập tức rời khỏi tàu để về nhà rước vợ con. Trong khi đó, những gia đình có liên hệ với con tàu VNTT1 đang chờ sẵn ở Kho 5 cùng với số người may mắn đã vào được bên trong cổng số 5 hối hả lên tàu. Trong khi chờ đợi gia đình thuyền trưởng và những người khác trở lại tàu, một số quân nhân trên tàu hối thúc và áp lực thủy thủ đoàn phải rời bến gấp, sau khi nghe lệnh đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh lúc 10 giờ sáng. Lúc này tình hình bắt đầu hỗn loạn, người người chen lấn nhau lên tàu. Thuyền Trưởng Nguyễn Nhứt Thống ra lệnh rời Kho 5 để ra đi! Lúc ấy là 10 giờ 30 phút sáng.

VNTT1 ngậm ngùi phải rời bến, đành bỏ lại Thuyền Trưởng Triệu cùng gia đình, và một số nhân viên thủy thủ đoàn đã không vào được Kho 5 đúng lúc.

Vừa qua khỏi cầu Tân Thuận thì bị B40, hoặc mìn, và súng cối nổ tứ tung từ bến Thủ Thiêm. Trái đạn pháo đó làm lủng vỏ tàu một lỗ khoảng 1 mét bên hông, dưới mặt nước. Miểng đạn xuyên qua, vào phòng máy, cắt đứt ống dẫn dầu của tay lái. Tàu nghiêng qua một bên vì nước tràn vào và bắt đầu lủi vào bờ vì tay lái bị tê liệt! Anh Bùi Hữu Hoàng nghĩ ngay đến hệ thống “Gyro Autopilot.” Lập tức tàu được đánh trở lui ở mức tối đa, rồi hối hả tiến tới trước.

Trước khi đến Nhà Bè, VNTT1 bị pháo kích lần thứ hai cũng từ phía bên trái, có quả nổ trên boong tàu cắt đứt dây cáp của cần trục, có quả rớt xuống nước, nhưng không có tổn thương nhân mạng. Mới vừa qua khỏi Nhà Bè, gần Cát Lái, VNTT1 lại bị tấn công lần thứ ba bằng súng cối (hay đại liên) bắn thẳng vào tàu, ở hành lang bên trái phía trước của boong chính, nơi mà một số hành khách đang ẩn núp. Lần tấn công này làm cho nhà văn Chu Tử và một em bé tử thương và 20 người khác bị thương.

Trần Hậu Khánh (trái) và Bùi Hữu Hoàng trên thương thuyền Việt Nam Thương Tín 1. (Hình: Trần Hậu Khánh cung cấp)

Với công suất máy được sử dụng tối đa và với một vận tốc kỷ lục, VNTT1 ra được khỏi sông Sài Gòn, vượt qua khỏi Vũng Tàu. Ôi! VNTT1 và hành khách đã thoát được hiểm nguy! Trên đường tiến về Hạm Đội 7 ngoài hải phận quốc tế, một buổi lễ thủy táng đơn sơ cho hai nạn nhân tử thương đã diễn ra với sự hiện diện của thủy thủ đoàn và hành khách trên tàu. Vĩnh biệt nhà văn Chu Tử!

Dựa vào báo cáo của thuyền trưởng về tình trạng của VNTT1, điều kiện an toàn của tàu và hành khách, số người bị thương và số lượng hành khách, Hạm Đội 7 chỉ thị VNTT1 trực chỉ Subic Bay, Philippines. Lúc 10 giờ sáng 3 Tháng Năm, 1975, VNTT1 đến Subic Bay. Số người bị thương được đưa lên trại điều trị. Nhân viên của Hải Quân Mỹ lên tàu tiếp xúc thủy thủ đoàn, quan sát thực trạng trên tàu, giám định điều kiện an toàn, tạm thời sửa chữa lỗ hổng của vỏ tàu, tiếp tế thực phẩm cần thiết và chỉ thị VNTT1 tiếp tục hành trình đến đảo Guam.

VNTT1 đến bến đậu cuối cùng 

Tàu đến Guam và cập bến lúc 4 giờ chiều 9 Tháng Năm, 1975, sau chín ngày rời Sài Gòn. Khoảng 750 hành khách rời tàu để nhập trại tị nạn ASAN theo hướng dẫn của nhân viên chức trách của trại. Trong số hành khách này có ông L.T.L., tổng giám đốc ngân hàng VNTT, ông Đ.C., giám đốc ngân hàng VNTT, ông C.K.N., cựu bộ trưởng Bộ Kinh Tế, ông N.H.C., dân biểu Quốc Hội, một thẩm phán, hai hoa tiêu tàu biển, hai bác sĩ, và nữ ca sĩ P.H.T. (ca sĩ mà trước năm 1975 tôi hay đến nhà hàng Bồng Lai để xem cô trình diễn). Tất cả còn lại là quân cán chính các cấp của VNCH trong số có năm đại tá.

Trong số thủy thủ đoàn di tản, có ông sĩ quan radio Dương Khắc Hổ và gia đình, ông Quách Văn Gòn, thợ điện 2, tự nguyện rời tàu để vào trại tị nạn ASAN. Ông Hổ và gia đình có ý định định cư ở Pháp, ông Gòn nói với chúng tôi là muốn trở về Việt Nam để gặp lại vợ con. Tôi tin là ông Gòn trở về Việt Nam trên tàu VNTT1 vào Tháng Mười, 1975.

Sau khi hành khách tị nạn rời tàu, VNTT1 được phép ra neo ở vịnh Apra. Thủy thủ đoàn cùng hai vị tổng giám đốc và giám đốc của công ty Việt Nam Hàng Hải và gia đình được phép cư ngụ trên tàu thay vì nhập trại tị nạn ASAN.

Ở Guam, ban quản trị của Việt Nam Hàng Hải cũng mướn Văn Phòng Luật Arriola & Cushnie đại diện cho công ty để bảo vệ nhân sự và sở hữu chủ hiện hữu của VNTT1. Theo yêu cầu của ban quản trị, Arriola & Cushnie còn liên lạc với những đại lý ở ngoại quốc của Việt Nam Hàng Hải, chẳng hạn như đại lý tàu biển ở New York, New Orleans, Houston, để xử lý những trương mục tài chánh còn lại liên quan đến hoạt động của VNTT1 trước ngày 30 Tháng Tư, 1975. Số tiền nhận được từ những trương mục đó là để trang trải cho những chi phí của VNTT1 và để trả lương bổng của nhân viên các cấp cho những tháng gìn giữ con tàu ở đảo Guam.

VNTT1 là chiếc tàu đầu tiên đến Guam. Những ngày sau đó, có tàu Tân Nam Việt đến ngày 15 Tháng Năm, 1975, tàu Trường Hải và HQ 500 đến ngày 22 Tháng Năm, tàu Đồng Nai và tàu Đại Dương đến ngày 23 Tháng Năm.

Ngày 12 Tháng Bảy, tất cả chúng tôi được lệnh rời tàu để lên nhập trại ASAN. Lúc rời tàu, cảm xúc của tôi thật buồn, vì biết rằng mình sẽ không còn gắn liền với VNTT1 nữa!!!

Lương bổng của thủy thủ đoàn

VNTT1 tuy neo ở vịnh Apra, nhưng thủy thủ đoàn vẫn phải có trách nhiệm bảo vệ tài sản của Việt Nam Hàng Hải. Các hệ thống của tàu đều hoạt động bình thường để cung cấp điện, nước, vệ sinh cho mọi sinh hoạt cần thiết trên tàu. Bởi thế, chúng tôi được trả lương bổng đầy đủ cho Tháng Tư, Tháng Năm, và Tháng Sáu.

Riêng tôi, lương Tháng Tư 240,000 đồng Việt Nam, lương Tháng Năm và Tháng Sáu là 300,000 đồng/tháng (vì lúc này lên quyền sĩ quan cơ khí phó), cộng với “tiền phụ cấp nghỉ phép hàng năm” 280,000 đồng, tổng cộng là 1,120,000 đồng. Ngày 28 Tháng Sáu, 1975, tôi nhận được một ngân phiếu $1,483 từ hối suất $1 = 755 đồng Việt Nam.

Chúng tôi ra đi không mang theo vàng, bạc gì ngoài gánh nặng của nỗi buồn. Số tiền này như một hành trang giúp sức cho những ngày tháng đầu nơi đất mới. Tôi vẫn nghĩ, không biết Việt Nam Hàng Hải có bao nhiêu tiền trong trương mục ở những đại lý ngoại quốc, nhưng ít ra ông tổng giám đốc cũng tỏ ra công minh và quan tâm đến việc trả lương bổng cho nhân viên hiện diện.

Ghi tên hành khách di tản trên trên thương thuyền Việt Nam Thương Tín 1 ngày 3 Tháng Năm, 1975. (Hình: Trần Hậu Khánh cung cấp)

Thông tư nội bộ

Ngày 11 Tháng Bảy, 1975, trước ngày rời tàu để nhập trại ASAN, ông Dương Liên phân phát một “thông tư nội bộ” cho nhân viên trên tàu. Chính yếu của thông tư này là “về việc trao VNTT 1 cho chính phủ Hoa Kỳ tạm gìn giữ.” Trong thông tư có những thông tin và yếu tố như sau:

-Ông đã ở lại với thủy thủ đoàn để “duy trì sự kiểm soát và quyền sở hữu của công ty và chiếc tàu trong khi chờ đợi chỉ thị cần thiết của Hội Đồng Quản Trị.”

-Với tư cách là tổng giám đốc và là một thành viên Hội Đồng Quản Trị duy nhất ở Guam, ông Dương Liên “không thể làm gì hơn là phải quyết định trao chiếc tàu thân yêu của chúng ta cho chính phủ Hoa Kỳ gìn giữ hộ kể từ ngày 11 Tháng Bảy, 1975, cho tới khi có một giải pháp hợp pháp,” qua sự đảm nhiệm của Văn Phòng Luật Arriola & Cushnie tại Guam.

-Vậy, trong trường hợp sau này, chính phủ Hoa Kỳ, vì một lý do nào đó, quyết định bán chiếc tàu, quyền lợi của anh em cần được chứng minh và thông báo đầy đủ cho văn phòng luật đại diện.

Thông tư của ông Dương Liên nêu lên sự minh bạch của vấn đề. Tôi cảm nhận sự hiểu biết, tính trách nhiệm, cách quản trị và giải pháp hợp lý của ông liên quan đến quyết định nêu trên trong một trạng huống rất đặc biệt.

Số phận của VNTT 1 

Thế là chúng tôi từ giã VNTT 1 để nhập trại tị nạn ở Guam ngày 12 Tháng Bảy, 1975 mang theo một ưu tư là số phận của con tàu sẽ đi về đâu dưới sự gìn giữ của Hoa Kỳ.

Sau hơn một tháng, ông Dương Liên, ông Nguyễn Nhứt Thống, và tôi nhận được một lá thư từ văn phòng luật cho biết là một đô đốc Hải Quân Mỹ của vùng đặc nhiệm Guam và đoàn tùy tùng đã lên tàu VNTT1. Họ kiểm tra và thử nghiệm rất kỹ tất cả các hệ thống của tàu và xác nhận VNTT1 đủ điều kiện và an toàn để vận hành trên biển. Luật sư cũng tiết lộ lý do mà vị đô đốc lên tàu liên quan đến việc dùng tàu chở số người tị nạn trở về Việt Nam.

Ngày 16 Tháng Mười, 1975, chính phủ Hoa Kỳ thực thi ý định nêu trên. VNTT1 đưa 1,600 người tị nạn từ Guam trở về Việt Nam an toàn dưới sự điều khiển của các cựu sĩ quan Hải Quân miền Nam Việt Nam.

Một mối tình di tản

 Trên đường từ Subic Bay đến Guam, ông bạn Hoàng lúc đó là thuyền phó nên ông ngon lành lắm, đã gán cho tôi một cô gái cùng di tản với gia đình anh chị của cô. “Tao thấy có con nhỏ kia với hai đứa nhỏ nằm la liệt bên ngoài, mày cho nó tá túc trong phòng mày đi, tội nghiệp,” Hoàng rỉ tai tôi. Thế là cô gái và hai bé vào phòng tôi “tá túc.” Cô gái có giọng Bắc, nhỏ nhắn, cặp mắt long lanh, mái tóc xõa bờ vai, có nụ cười và đôi má duyên dáng. Tôi và cô ở chung phòng, nằm chung giường, có những nụ hôn, có cầm tay nhau, có cảm xúc luân lưu…, nhưng tôn trọng và cảm thông nhau ở thời điểm mà tuổi trẻ chưa thấy được ngày mai.

Ngày 9 Tháng Năm, 1975, khi tàu cập bến Guam, cô và gia đình theo đoàn người tị nạn rời tàu, nhập trại. Tôi vì bận rộn với công việc của một sĩ quan, nên khi về lại phòng thì cô và hai đứa bé đã rời tàu. Cô có để lại cho tôi một thư ngắn: “Anh Khánh, em muốn ở lại để dọn đồ giùm anh, nhưng không được, em phải theo gia đình nhập trại. Ngày mai rời tàu, anh nhớ lên tìm em, (HTP),” và một tấm hình của cô ngồi trên bãi cát biển, mặc chiếc áo dài đen, quần dài trắng, đội mũ rộng vành. Phía sau tấm hình, cô ghi “htp… VNTT Fri. 09/5 1975.” Vậy là cô biết tiếng Anh nên cô ghi “Fri.” Tấm hình và lời nhắn của HTP vẫn còn trong quyển album của tôi đem theo. Cô có một nụ cười thật dễ thương.

Tôi đã quên cô bao nhiêu tuổi, học ở đâu, nhưng nhớ cô là một hướng đạo sinh ở Sài Gòn. Cô chỉ tôi cách xoa tay, xoa mặt, cách hít thở để giảm lo lắng. Tình cờ tôi thấy hình HTP trên tờ báo địa phương The Sunday News, trang 22, số ra ngày 1 Tháng Sáu, 1975, chụp chung với đám đông trong sinh hoạt nối kết với nhóm Hướng Đạo ở Guam. Tôi có nhắn tin tìm cô, nhưng không nhận được hồi âm. Khi chúng tôi nhập trại, thì cô và gia đình đã bay xa đến khung trời nào rồi. Kể từ đó, tôi không còn hy vọng gì gặp lại cô nữa. Vậy mà, cho đến 50 năm sau, những kỷ vật và kỷ niệm của chuyện tình di tản này vẫn còn được nhớ đến.

Vịnh Asan, nơi thương thuyền Việt Nam Thương Tín 1 cập bến hồi năm 1975. (Hình: Justin Sullivan/Getty Images)

“Cuốn Theo Chiều Gió”

 Thế là định mệnh đưa đẩy tôi đến tận Canada, nơi mà chúng tôi chưa bao giờ đặt chân đến, chỉ biết đó là một quốc gia rộng lớn, bác ái, hòa bình, theo thể chế trung lập và ngập đầy tuyết trắng!

Sáng 30 Tháng Tư, 1975, khi mà miền Nam Việt Nam thất thủ, tôi đã bị cuốn theo với làn sóng người cuồn cuộn chen lẫn nhau lên tàu tìm đường vượt biển. Rồi từ đó, trong những cơn gió và làn sóng kế tiếp, tôi bị “Cuốn Theo Chiều Gió” (Gone with The Wind) trôi dạt đến tận Canada, tạo dựng một cuộc sống mới trong suốt 50 năm qua, sau ngày lịch sử đó.

Đã lâu rồi, VNTT1 không còn nữa, những người thủy thủ năm xưa cũng sống phân tán đó đây, người ở hải ngoại, kẻ ở Việt Nam, một số về hưu ở tuổi xế chiều và một số đã qua đời. Số 750 hành khách của ngày 30 Tháng Tư, 1975 cũng phân tán khắp nơi trên thế giới mà tôi không có dịp tiếp xúc, một số khác tình nguyện trở về Việt Nam với con tàu vì hoàn cảnh ly tán của gia đình lúc bấy giờ. Mãi đến hôm nay, người viết mới có cơ hội gởi đến quý vị những dữ kiện mà tôi đã từng trải qua với con tàu này nhiều năm trước Tháng Tư, 1975.

Mến chúc quý vị và các bạn khắp nơi đã từng có liên quan với thương thuyền “VIỆT NAM THƯƠNG TÍN 1” tiếp tục một cuộc sống vui khỏe, hạnh phúc và an lành. [đ.d.]

Trump trao cho Việt Nam hạnh phúc ‘nửa vời’ nhân ngày 30 Tháng Tư

Trump trao cho Việt Nam hạnh phúc ‘nửa vời’ nhân ngày 30 Tháng Tư
Tổng Thống Donald Trump nới lỏng lệnh cấm giới chức ngoại giao Mỹ tham dự lễ 30 Tháng Tư tại Việt Nam, để cho tổng lãnh sự ở Sài Gòn, thay vì đại sứ, tham dự tiếp tân và diễu binh.

Gãi dư luận

Tuấn Khanh

Nhớ hồi ông Đinh La Thăng đang là “chính khách” sáng ngời, đột ngột bị đề nghị kỷ luật và có thể bị mất chức bí thư Sài Gòn sau hội nghị Trung Ương 5, khóa 12 khiến không ít người quan tâm. Vì bởi, ông Thăng là một nhân vật rất ồn ào. Khi ông về nhậm chức tại Sài Gòn, rất nhiều trò trình diễn để lấy lòng người dân Sài Gòn diễn ra, bao gồm tổ chức hàng loạt tờ báo, truyền hình đăng nhanh các lời tuyên bố, liên tục hình ảnh hoạt động của ông… thậm chí còn có cả báo lên tiếng thề nguyện sẽ đồng hành cùng ông Thăng trong cuộc cầm quyền ở thành phố.

Mỗi khi ôn lại những ngày như vậy, mọi thứ đầy rạo rực khởi đầu và cũng đầy bẽ bàng về sau. Tương tự như ông Đoàn Ngọc Hải khi thực hiện cuộc đập phá vỉa hè có đầy đủ bộ sậu đi theo ghi hình, quay video, ghi lại từng cuộc đối thoại như người đang dẫn đầu cho một cuộc cách mạng mới, thì ông Thăng cũng không khác gì với chuyện tổ chức chụp hình dọn cây, nói về Nobel y khoa Việt Nam và Hòn ngọc Viễn Đông.

Bài bản thì chỉ có một, hết sức quen thuộc. Nhưng phải nhìn nhận rằng những cách thức ấy đã day động không biết bao nhiêu tấm lòng con người Sài Gòn đang khao khát muốn nhìn thấy thành phố của mình, đời sống của mình được đổi thay. Chưa bao giờ trên các diễn đàn, người ta nhìn thấy nhiều như vậy các lời ca ngợi, đặt để niềm tin… Đám đông ủng hộ nhanh chóng trở thành một lực lượng quần chúng hết sức rầm rộ. Thậm chí, trên các trang mạng, những ai đặt nghi vấn về sau thường trở thành mục tiêu bị công kích, chửi rủa của những người ủng hộ.

Chỗ ngứa của đám đông đang khao khát trông ngóng cái mới, mệt mỏi chờ đợi những điều tích cực đã được phương thức truyền thông như vậy gãi đúng chỗ. Một loại gãi dư luận.

Khi ông Thăng công bố số điện thoại để mọi người gọi vào góp ý, hiến kế. Rồi sau đó có cả email thì không ít người đã hồi hộp gọi, nhắn, gửi… Chưa có số thống kê nào cho thấy bao nhiêu người tìm đến thành công, và bao nhiêu vẫn mỏi mòn chờ đợi. Khi có tin ông Thăng bị đề nghị kỷ luật và dự báo sẽ ra đi khỏi vị trí, đã có người thú thật là từng tin những lời kêu gọi đó đến mức viết thư hiến kế, mà mọi thứ không hồi báo. Một cảm giác thật khó tả khi tôi đọc được những điều này, pha trộn sự cảm thông, rồi cả buồn chán lẫn đau lòng.

“Tôi nghĩ rằng việc làm bộ có dân chủ, đôi khi còn hiểm ác hơn cả một chế độ độc tài trắng trợn,” (Sometimes I think that a parody of democracy could be more dangerous than a blatant dictatorship), bà Aung San Suu Kyi, lãnh tụ tinh thần của người dân Miến Điện từng nói như vậy.

Không phải đây là lần đầu. Mà từ lâu, cả nước vẫn luôn bị các phong trào gây ngứa trên dư luận, ở mọi các phương diện văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội… rồi thỉnh thoảng vẫn có những đợt gãi dư luận như vậy. Có người tự hài lòng vì qua cơn ngứa, nhưng cũng có người sớm giật mình nhận ra mình tự cào cấu đến tóe máu từ các phong trào ấy. Cuộc sống trở nên điên cuồng với ngứa và gãi.

Trong câu chuyện của ông Thăng, các tờ báo từng tung hô ông ta, giờ đây chính là những tờ báo đăng sớm nhất các tin tức về kỷ luật, bao gồm phân tích về những sai phạm và thất thoát ngàn tỉ từ thời ông ta làm việc ở Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN). Mặc dù chính các tờ báo này đã từng phớt lờ các thông tin đưa được ra trên trang facebook của Osin Huy Đức, với tính dự báo. Các báo lại tiếp tục gãi dư luận, nhưng lần này trở mặt, chọn cách gãi vào cơn ngứa của dân chúng trước nạn tham nhũng của các quan .

Khi còn là bộ trưởng Bộ Giáo Dục, ông Nguyễn Thiện Nhân từng làm cả nước phát cuồng vì gãi đúng chỗ, khiến dư luận rầm rộ về một nền đại học, thi cử, bằng cấp… đầy tươi sáng. Nhưng rồi khi đại dịch đi qua, không ít người nhận ra đó chỉ là những trầy xước trên đời mình, dở khóc dở cười.

Ông Nguyễn Tấn Dũng, khi còn là thủ tướng, cũng đã từng một người có tài gãi dư luận đến tuyệt vời khi khôn khéo đưa ra những câu nói như “tình hữu nghị viển vông,” cũng như là người đầu tiên khi nhắc về lịch sử đã chính thức gọi chế độ miền Nam cũ bằng một cái tên đàng hoàng là Việt Nam Cộng Hòa. Có không ít người tin vào một tương lai hòa hợp, hòa giải từ một minh quân vừa xuất hiện. Nhưng cũng ít ai để ý rằng ông Dũng chính là người đổi tên Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa thành nghĩa trang Bình An, mà mục đích là nhằm tiện lợi và hợp thức hóa việc kiểm soát, lấn đất cũng như có thể giải tỏa trong tương lai mà không bị mắc kẹt với lịch sử.

Cũng nhớ hồi sự kiện 5 bài hát thời VNCH bị cấm cũng vậy. Dư luận ồn ào và ngứa ngáy suốt trong một thời gian dài. Cuối cùng khi thấy các quan chức cấp dưới của mình hoàn toàn đuối lý và lộ sự ngu dốt, các quan trên bộ lập tức gãi dư luận bằng cách trả sự việc lại đời sống bình thường của nó, cũng như đẩy các đợt gãi đến mức không ít người thỏa thuê bằng việc cho đặt vấn đề rằng những người đưa ra lệnh cấm 5 bài hát liệu có khả năng làm việc hay không?

Gãi dư luận vẫn là phương thức của một nền truyền thông bị kiểm soát theo chỉ đạo và kiểm duyệt. Sự kiện đau thương ở Đồng Tâm cho thấy người nông dân cũng học được bài học rất lớn khi quyết từ chối đưa tin cho báo chí nhà nước – tức có gây ngứa cũng không cho gãi, vì có cần gãi dư luận thì cũng phải chọn được mặt, gửi được đúng người.

Chỉ khi nào người dân nhận ra đất nước mình đang tràn ngập những cơn ngứa và gãi dư luận có chủ ý, nhằm điều khiển và mê muội tinh thần con người, mà đích đến mơ hồ và thiếu sự thật, thì lúc đó công dân mới không còn ở tư thế là những bệnh nhân.

Và nếu đất nước cứ bị vây hãm bởi những cơn ngứa, và chỉ được gãi bằng dư luận như một cách đối phó, và thực chất không có, thì tương lai phía trước chỉ toàn là những ổ bệnh vậy.

Cuộc đời 50 năm nhớ lại

Phạm Xuân Thái
(cựu sĩ quan Hải Quân VNCH, hiện sống ở Virginia)

Năm 2025 đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng, 50 năm Việt Cộng xua quân tiến chiếm miền Nam Việt Nam, đã đưa tôi trở về với ký ức của 50 năm về trước. Ngày 30 Tháng Tư, 1975, khoảng 140,000 người Việt tị nạn, trong đó có tôi, lênh đênh trên các con tàu buôn mong manh, trên các chiến hạm của Hải Quân VNCH, và Hạm Đội 7 của Hoa Kỳ để tiến tới vùng biển của Philippines.

Cổng căn cứ Ft. Indiantown Gap, Pennsylvania, nơi từng là trại tị nạn cho người Việt Nam hồi năm 1975. (Hình: Pennsylvania National Guard Public Affairs Office)

Philippines lúc đó không cho đoàn tàu của Hạm Đội VNCH vào cảng, mà chỉ chấp thuận cho tàu của Mỹ vào. Sau những thương thuyết của Mỹ, quốc kỳ của VNCH phải hạ xuống, tên của các chiến hạm Hải Quân VNCH được sơn phết để tẩy xóa những vết tích cũ, cờ Hoa Kỳ được giương lên, và đoàn tàu đã được cập bến Vịnh Subic Bay. Tôi vẫn còn nhớ mãi buổi hạ quốc kỳ VNCH đầy nước mắt này.

Tiếp theo những thủ tục căn bản, chúng tôi mỗi người được cấp phát cho hai bộ quần áo dân sự, được tắm để tẩy sạch bụi trần của cuộc hải trình gian khổ gần 10 ngày từ Vũng Tàu tới Vịnh Subic Bay. Sau đó, chúng tôi được chuyển lên một thương thuyền để tới đảo Guam. Ở Guam, những căn lều vải, trạm xá, nhà ăn, văn phòng làm việc đã được công binh Hoa Kỳ dựng lên để đón tiếp nhóm người tị nạn.

Hằng ngày chúng tôi đứng xếp hàng để lãnh đồ ăn sáng, trưa, tối. Những cơ quan thiện nguyện cũng đã vào trại để giúp đỡ người tị nạn trong nhiều lãnh vực khác nhau. Ở Guam khoảng một tháng, tôi được chuyển qua trại tị nạn Ft. Indiantown Gap, Pennsylvania.

***

Ngày 30 Tháng Sáu, 1975, ban quản trị của khu 6, trại tị nạn Ft. Indiantown Gap gọi tôi lên văn phòng, và cho biết tôi đã được nhà thờ Saint Luke Catholic Church ở McLean, Virginia, bảo trợ. Họ trao cho tôi một vé xe buýt và một phong bì do Hồng Thập Tự tặng, rồi yêu cầu tôi về thu xếp hành lý để sáng mai lên văn phòng lúc 9 giờ sáng. Tại đây, sẽ có người chở tôi ra bến xe buýt đi Washington, DC, và đại diện nhà thờ sẽ đón tôi ở đó.

Tôi bước vội về trại thông báo cùng bạn bè. Ai ai cũng mừng cho tôi, và lo cho thân phận mình, vì trong cảnh tranh tối tranh sáng của cuộc đời, không biết ngày mai sẽ ra sao? Tối hôm đó, một buổi văn nghệ bỏ túi đã được bạn bè tổ chức để tiễn tôi đi, có sự hiện diện của nhạc sĩ Đỗ Đình Phương, Hoàng Quốc Bảo, thi sĩ Du Tử Lê, và một số bạn văn nghệ. Chúng tôi uống trà, cà phê, và ca hát tới gần nửa đêm mới “vãn tuồng.”

Đêm hôm đó, tôi trằn trọc không ngủ được, không biết tương lai mình sẽ đi về đâu nơi xứ lạ quê người? Gia đình còn kẹt lại ở Việt Nam bây giờ như thế nào? Việt Cộng sẽ làm gì những người miền Nam thua cuộc? Cái cảm giác đau đớn của kẻ thất trận và nỗi niềm chia ly làm tôi ray rứt.

Sáng hôm sau, ngày 1 Tháng Bảy, 1975, tôi dậy từ 6 giờ sáng, thu xếp hành lý, bao gồm vài bộ quần áo do trại tị nạn phân phát cho, những giấy tờ quan trọng, vé xe buýt, và phong bì đựng $5 do Hồng Thập Tự tặng để làm lại cuộc đời trên xứ lạ, quê người.

Loay hoay pha ly cà phê buổi sáng, bước ra sau nhà, châm điếu thuốc, ngồi tư lự, lòng nửa vui nửa buồn. Vui vì không còn bị gò bó trong trại tị nạn, buồn vì sắp sửa phải xa bạn bè. Một số bạn đã cùng đi với tôi từ Guam qua Ft. Indiantown Gap, một số khác, tôi tình cờ gặp lại trong trại tị nạn này.

Đúng 8 giờ sáng, bằng hữu đã tụ tập tại trại của tôi, trong số đó có vài bóng hồng.

Tôi ghi vội số điện thoại của người quen, trao cho bạn bè. Hy vọng khi ra khỏi trại, họ sẽ liên lạc, và chúng tôi lại có dịp gặp nhau. Chúng tôi bịn rịn chia tay, những cái bắt tay siết chặt, những lời chúc may mắn. Các cô nghẹn ngào xúc động, nước mắt lưng tròng.

Sau đó, cả nhóm đi cùng tôi lên văn phòng quản trị trại. Tại đây, lại những lời ly biệt, chúc tụng, và những giọt nước mắt. Tôi nhìn từng người bạn, cố thu trọn hình ảnh họ vào tâm khảm. Miệng tôi cười như… mếu.

Xe từ từ chuyển bánh. Tôi quay lại nhìn các bạn lần cuối. Ft. Indiantown Gap xa dần, nhạt nhòa, và… mất hút.

Một người tị nạn Việt Nam ngồi trên giường ngủ đọc thư trong trại tị nạn Ft. Indiantown Gap, Pennsylvania, sau Cuộc Chiến Việt Nam. (Hình minh họa: Library of Congress)

Bà Nancy Urbanczyk và bà Elise Siebentritt, đại diện nhà thờ, đón tôi tại bến xe Greyhound, Washington, DC. Bà Elise cho biết nhà thờ bảo lãnh tôi, và gởi tôi cư ngụ tại nhà bà. Gia đình bà cùng giáo dân nhà thờ sẽ giúp tôi làm quen với đời sống mới và sẽ giúp tôi kiếm việc làm. Khả năng Anh Ngữ của tôi lúc đó thuộc loại ấm ớ, mà hai bà lại nói liên tục để chào mừng và trấn an tôi. Tôi không hiểu nhiều, chỉ nhe răng ra cười, những nụ cười rất ngu ngơ.

Gia đình bà Siebentritt cư ngụ tại thành phố McLean, cách Washington, DC 45 phút lái xe. Bà Elise mở cửa đưa tôi vào nhà, giới thiệu mọi nơi trong căn nhà bảy phòng ngủ của họ. Họ dành cho tôi một căn phòng nhỏ đầy đủ tiện nghi với tủ chứa quần áo rất rộng, chiếc giường trải khăn đẹp đẽ, và phòng tắm riêng với khăn tắm trắng muốt treo sẵn trong phòng. Thêm vào đó, một bàn viết gọn gàng đặt trước cửa sổ nhìn xuống khu vườn đầy bóng mát và hoa cỏ.

Bà Elise cho biết ông Carl Siebentritt là một cựu chiến binh trong Đệ Nhị Thế Chiến, đã góp phần giải phóng Âu Châu khỏi Đức Quốc Xã. Hiện ông là khoa học gia làm việc cho Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ. Bà Elise là y tá, làm việc lâu năm cho một nhà thương trong vùng. Gia đình họ có sáu người con. Con trai trưởng 18 tuổi, vừa tốt nghiệp trung học và sắp vào đại học tại tiểu bang Massachusetts. Con gái kế, 16 tuổi. Tiếp đó là hai cậu con trai 14, 12, và hai cô con gái út 10, và 3 tuổi.

Sau khi giới thiệu về căn nhà và gia đình, bà Elise cho biết trong vài ngày nữa, ngày 4 Tháng Bảy, sẽ có một buổi họp mặt để những người trong nhà thờ có dịp gặp tôi.

Tôi đóng cửa phòng, đặt chiếc xách tay chứa ba bộ quần áo vào tủ. Nằm xoải tay trên chiếc giường nệm êm ấm. Bao ưu tư lo lắng cho số phận tạm lắng xuống, tôi từ từ nhắm mắt tận hưởng giây phút êm đềm, và chìm vào giấc ngủ.

***

Ngày 4 Tháng Bảy, 1975, gia đình ông bà Siebentritt tổ chức buổi tiệc mừng lễ Độc Lập, và cũng để giới thiệu tôi với ban quản trị nhà thờ, cùng một số giáo dân và bằng hữu của họ.

Từ sáng sớm, mọi người trong gia đình Siebentritt đã sửa soạn nấu nướng, cắt cỏ, tỉa cây, hốt lá, kê bàn ghế ngoài vườn để đón khách. Mới chân ướt chân ráo ra khỏi trại tị nạn được ba ngày, tôi cũng nhào ra góp sức, làm thợ bê, thợ vịn. Khoảng 5 giờ chiều, hơn 100 người đã hiện diện tại khu vườn. Họ mang theo đủ loại thức ăn, bia rượu, trái cây, bánh ngọt. Tay bắt mặt mừng, họ cười nói ỏm tỏi, vui như Tết.

Trước khi nhập tiệc, ông Siebentritt nói vài lời phi lộ chào mừng mọi người. Sau đó ông giới thiệu tôi, một nạn nhân của Chiến Tranh Việt Nam vừa được nhà thờ bảo trợ, tạm cư tại nhà ông. Tôi ngượng ngùng bối rối đứng lên, không biết nói gì, chỉ nở một nụ cười, và cúi đầu chào mọi người. Sau đó, bà Barbara, thay mặt nhà thờ, chào mừng tôi đến được bến bờ tự do. Bà cám ơn gia đình Siebentritt đã cung cấp cho tôi chỗ ăn, chỗ ở, dưới sự bảo trợ của giáo dân nhà thờ.

Bà cho biết ban quản trị nhà thờ đã thu xếp được người lái xe đưa tôi đi học Anh Ngữ buổi tối, đã kiếm cho tôi việc làm dọn dẹp, lau chùi tại một vườn trẻ, và cũng có vài người muốn thuê tôi cắt cỏ, tỉa cây cho họ cuối tuần. Ông Bác Sĩ Larry tình nguyện khám bệnh cho tôi miễn phí, bà Nha Sĩ Linda sẵn sàng chữa răng cho tôi, ông Bill sẽ cho tôi mượn chiếc xe đạp để đi làm cho tới khi tôi lấy được bằng lái xe… Sau đó, họ bắt đầu nhập tiệc. Mọi người vui vẻ xếp hàng, lấy đồ ăn, thức uống. Tiếng cười nói vang vọng không ngớt.

Tôi ngắm nhìn những sinh hoạt của nhóm người này với lòng tri ân và cảm phục. Họ là những người có trái tim nhân ái, giúp đỡ tha nhân vô vị lợi. Họ làm việc cật lực để có được một đời sống tốt đẹp, sẵn sàng mở lòng giúp đỡ người khốn khó, và thoải mái chấp nhận những dị biệt của người khác chủng tộc.

Quốc gia này quả thật đẹp đẽ, thanh bình, phú cường, và đầy tình người.

Tôi tự hứa với lòng mình, sẽ làm việc hết sức mình để trả lại công ơn đất nước đã cưu mang tôi, sẽ góp tay xây dựng và bảo vệ đất nước này, sẽ luôn trau dồi kiến thức để thăng tiến trong xã hội. Và sẽ theo gót những ân nhân của tôi, để giúp đỡ những người kém may mắn hơn tôi trong kiếp nhân sinh này.

“Dù xây chín bậc phù đồ
Không bằng làm phước cứu cho một người”

Nhà thờ Saint Luke Catholic Church ở McLean, Virginia, nơi bảo lãnh ông Phạm Xuân Thái. (Hình minh họa: Facebook Saint Luke Catholic Church)

Cũng như những người Việt tị nạn của thế hệ thứ nhất khác, tôi đã làm việc miệt mài và trau giồi trí tuệ để tìm cách vươn lên trong miền đất mới. Con đường Old Dominion tại vùng McLean, Virginia, gần Great Falls, 50 năm về trước trông thật đìu hiu, hút gió, đầy đồi cao, dốc thẳm. Ngày ngày, có một chàng trai trẻ rong ruổi đạp xe đạp lên đồi, xuống dốc bốn, năm dặm để đi làm những công việc tạp nhạp. Thỉnh thoảng chàng lại huýt sáo líu lo, hoặc hát những bài quân ca vang trời để quên đi những khó nhọc mà chàng chưa bao giờ phải làm ở quê nhà.

Công việc của tôi tại vườn trẻ là một anh lau chùi, dọn dẹp, hút bụi, hốt rác phòng ăn, phòng học, buồng tắm. Và công việc tôi làm cuối tuần ở các gia đình giáo dân là cắt cỏ, tỉa cây, đốn cây, đốn củi, sơn nhà. Tôi không liên lạc với ai, cuộc sống như bị cô lập vì không có xe.

Sau bốn tháng, tôi ký cóp để dành được $700. Tháng Mười Một, 1975, tôi mua chiếc xe hơi đầu tiên giá $450, và bảo hiểm xe $200 một năm. Chiếc xe Volkswagen Beetle, đời 1962 bé nhỏ xinh xinh. Dù hình dáng và nhan sắc em Beetle đã tàn tạ, phai màu theo năm tháng, nhưng đối với tôi, em vẫn đẹp nhất! Tôi say mê và chăm sóc em rất cẩn thận. Tôi tự học thay dầu mỡ, bu-gi, bố thắng, và thỉnh thoảng còn hút bụi, đánh bóng để “điểm phấn tô son” cho em có thể “nở với nhân gian một nụ cười.”

Khi có xe, tôi bắt đầu tìm tòi và ngỏ ý muốn học lớp chuyên viên điện tử tại một công ty huấn nghệ. Nhà thờ đồng ý tiếp tục giúp tôi ở với gia đình Siebentritt cho tới Tháng Mười Hai, 1976 khi tôi tốt nghiệp lớp học này. Tiền học phí, tôi sẽ trả góp khi ra trường. Trong thập niên 1970, ngành điện tử rất thông dụng và dễ kiếm việc ở Mỹ.

Cuối năm 1976, cũng là lúc bắt đầu cuộc sống tự lập của tôi trên nước Mỹ. Sau 20 tháng bỏ nước ra đi, đến một bến bờ xa xôi, hít thở không khí tự do và được sống bình an trong vòng tay nhân ái của những người xa lạ, tôi đã đứng vững chãi trên đôi chân của mình. Tôi ra trường và may mắn kiếm được việc ngay với hãng American Electronic Labs. Họ trả tôi $5/giờ mà mức lương tối thiểu lúc bấy giờ chỉ khoảng $2/giờ. Lương thuở ấy tương đương khoảng $40/giờ ngày hôm nay.

Có việc làm, tôi thuê một apartment tại Arlington và dọn ra khỏi nhà ông bà Siebentritt trong Tháng Mười Hai, 1976. Tôi rất quý gia đình ông bà bảo trợ và ông bà cũng thương mến tôi, coi tôi như một người con nuôi của gia đình. Bao năm qua tôi vẫn đều đặn liên lạc thăm viếng gia đình họ.

Con cái ông bà cũng đã trưởng thành, còn ông bà thì già theo năm tháng và đều qua đời vào năm 2019.

Tưởng cũng nên ghi lại một mẩu chuyện vui khi tôi đi phỏng vấn tại hãng American Electronic Labs. Khi ấy tôi mới quen với nhà tôi, nên đi đâu chúng tôi cũng hay đi với nhau. Hôm được gọi phỏng vấn, tôi vì mới lần đầu tiên đi xin công việc chuyên nghiệp nên quá nhà quê và ấm ớ, đã chở nàng đi cùng. Chúng tôi ngồi chờ ở hành lang của hãng.

Ông quản trị nhân sự ra gặp tôi, và ngạc nhiên khi thấy có bóng hồng ngồi cạnh tôi. Tôi vội vàng giới thiệu, đây là bạn gái tôi. Nếu ông mướn tôi, cô ta sẽ trở thành vợ tôi.

Thánh nhân đãi kẻ khù khờ. Sau khi phỏng vấn, ông ta đã mướn tôi. Và thế là sau đó… tôi có vợ!

Tôi bắt đầu vừa làm việc toàn thời gian với hãng, vừa làm bán thời gian với một hãng điện tử nhỏ gần đó, từ 5 giờ chiều cho tới 9 giờ tối. Tôi làm việc rất cần mẫn, chăm chỉ và nhanh nhẹn. Một năm sau, ông chủ hãng tôi làm bán thời gian giúp tôi khai thuế, và khuyên tôi nên mua nhà để khỏi phải trả nhiều thuế. Tôi nói tôi là dân tị nạn mới qua Mỹ được hai năm, tôi đâu có tiền để mua nhà! Ông nói ông sẽ cho tôi mượn tiền “down payment.” Vậy là ông cho tôi mượn ngay $10,000, số tiền bằng cả một năm lương tôi làm lúc ấy để mua căn nhà đầu tiên tại Springfield, Virginia.

Sang tới năm 1978, tôi thi vào làm việc cho hãng điện toán Burroughs Corporation (hãng lớn thứ hai sau IBM lúc đó). Tôi xin nghỉ làm bán thời gian, trả hết số tiền nợ ông chủ cho mượn, và bắt đầu đi học đại học ngành điện toán vào buổi tối và cuối tuần. Thuở ấy, ngành này còn phôi thai, chỉ có “mainframe” và chưa có PC và Microsoft Windows. Năm 1982, Microsoft mới cùng IBM chế tạo ra PC, và năm 1985 chế tạo ra Microsoft Windows. Tôi may mắn làm việc trong ngành này đúng thời điểm nên cứ thế học hỏi, nghiên cứu và vươn lên.

Tôi trở thành một trong những nhân vật chính của nhóm biến đổi máy đánh chữ của Bộ Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ qua Office Automation với Word Processing, Email, Telecommunications, Systems, và Network trong đầu thập niên 1980. Tôi cũng làm việc 10 năm trong nhóm tiêu chuẩn hóa Systems và Network cho Citigroup, công ty mẹ của Citibank.

Những khu nhà người tị nạn Việt Nam từng ở trong căn cứ Ft. Indiantown Gap, Pennsylvania, hồi năm 1975. (Hình minh họa: Fort Indiantown Gap)

Ngày 30 Tháng Tư năm nay đánh dấu 50 năm ngày tôi xa rời Việt Nam lưu vong nơi xứ người, ký ức lay hiện về dạt dào cảm xúc… Nhìn lại cuộc đời sau 50 năm sống tại quê hương thứ hai này, tôi cảm thấy vui vì đã thực hiện được những điều tự hứa với bản thân trong ngày 4 Tháng Bảy, 1975, tại buổi tiệc tiếp đón tôi tại nhà ông bà Siebentritt.

Lớp người Việt tị nạn đi trước đã hết sức phấn đấu làm việc, học hỏi, và đã đóng góp không nhỏ cho sự hưng thịnh của Hoa Kỳ. Họ đã dồn hết nỗ lực để gầy dựng và hướng dẫn con cái, tạo điều kiện cho thế hệ thứ hai có số vốn kiến thức và khả năng, để cùng tiến bước, sát cánh bên người bản xứ trong mọi lãnh vực.

Ngày hôm nay, thế hệ thứ nhất của người Việt tị nạn đã vào tuổi xế chiều, một số lớn đã vĩnh viễn ra đi. Con cháu của người Việt tị nạn nay đã trưởng thành, đang bước những bước vững chắc đi vào dòng chính. Họ đang tiếp nối truyền thống mà cha anh đã miệt mài gầy dựng, và nhận lãnh trách nhiệm xây dựng đất nước, cộng đồng, làm vẻ vang dân tộc Việt.

Sáng nay, một buổi sáng mùa Xuân ấm áp, tôi ngồi một mình sau vườn, uống ly cà phê, nhìn ngắm hàng cây lá bung ra xanh mướt, muôn hoa nở rộ, bên tiếng chim hót líu lo. Hồi tưởng lại chặng đường dài trải qua trong suốt 50 năm, những kỷ niệm của ngày xưa tràn về, tôi xin đội ơn Chúa, nước Mỹ, và các ân nhân đã cho tôi cơ hội để học hỏi, thăng tiến, và một cuộc sống đầy đủ, bình an ở tuổi về chiều. [đ.d.]

Kiên Giang đồng ý phá 83 hécta rừng đặc dụng ở Phú Quốc làm khu du lịch

KIÊN GIANG, Việt Nam (NV) – Hơn 83 hécta đất rừng đặc dụng ở Phú Quốc được cho “chuyển đổi mục đích” để làm khu du lịch sinh thái cao cấp.

Báo VNExpress cho hay việc chuyển đổi được Hội Đồng Nhân Dân Tỉnh Kiên Giang thông qua trong kỳ họp 33, hôm 28 Tháng Tư.

Nhiều khu rừng đặc dụng ở thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, sẽ biến mất trong tương lai không xa. (Hình: Ngọc Thành/VNExpress)

Theo đó, 83.17 hécta đất rừng đặc dụng tại xã Gành Dầu và Cửa Cạn, thành phố Phú Quốc, sẽ được phá bỏ để thực hiện ba dự án khu du lịch sinh thái Green Hill, Rạch Nhum và Rạch Vẹm.

Cụ thể, gần 72 hécta đất rừng ở xã Gành Dầu sẽ được giao cho công ty Hải An Huy “chuyển đổi” để làm dự án khu du lịch sinh thái Green Hill.

Trong khi đó, hơn 10 hécta đất rừng tại ấp Rạch Vẹm, xã Gành Dầu, được giao cho công ty Cổ Phần Phát Triển Đô Thị và Khu Công Nghiệp Asean thực hiện dự án khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng cao cấp Rạch Vẹm.

Cuối cùng là công ty Thương Mại Du Lịch T.T.C được sử dụng 0.82 hécta đất rừng đặc dụng tại ấp Rạch Vẹm, xã Gành Dầu, để xây dựng khu du lịch sinh thái nhà vườn Rạch Vẹm.

Theo Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Kiên Giang, diện tích đất trên đã “đưa ra ngoài quy hoạch rừng” và được chính phủ ông Phạm Minh Chính phê duyệt.

“Việc đầu tư dự án góp phần hình thành khu phức hợp du lịch sinh thái, kết hợp nghỉ dưỡng cao cấp, qua đó phát triển du lịch thúc đẩy phát triển kinh tế chung của thành phố Phú Quốc,” theo Hội Đồng Nhân Dân Tỉnh Kiên Giang.

Thành phố Phú Quốc sẽ thành đặc khu Phú Quốc trong thời gian tới. (Hình: Duy Nhân/Người Lao Động)

Đảo Phú Quốc rộng khoảng 573 km nằm ở biển Tây Nam, có thế mạnh phát triển du lịch với phong cảnh đẹp, bãi biển dài, nước trong xanh, cách Rạch Giá 120 km về phía Đông, cách Hà Tiên 45 km về phía Tây, gồm phường Dương Đông, phường An Thới và các xã: Hàm Ninh, Dương Tơ, Gành Dầu, Bãi Thơm, Cửa Dương, Cửa Cạn, Thổ Châu.

Năm 2021, Phú Quốc lên thành phố, là thành phố đảo đầu tiên ở Việt Nam.

Cũng tại kỳ họp này, Hội Đồng Nhân Dân Tỉnh Kiên Giang đã biểu quyết thống nhất phương án để ba đảo Phú Quốc, Thổ Châu, Kiên Hải trở thành đặc khu “theo hướng dẫn mới của trung ương.” (Tr.N) [qd]

Bà Quả Phụ Nguyễn Khanh

43 hội đoàn người Mỹ gốc Việt gửi thư cho TT Trump nhân dịp 30 Tháng Tư

WASHINGTON, DC (NV) – Hôm Thứ Ba, 29 Tháng Tư, nhật báo Người Việt nhận được một lá thư do 43 hội đoàn người Mỹ gốc Việt ký tên gửi cho Tổng Thống Donald Trump của Mỹ nhân dịp 30 Tháng Tư.

Chúng tôi xin đăng lại nguyên văn như sau:

Quốc kỳ VNCH phía trước tượng Trần Hưng Đạo trên đường Bolsa, Westminster, trong ngày diễn hành Tết Đinh Dậu 2017. (Hình minh họa: Người Việt)

Ngày 29 Tháng Tư, 2025

Tổng Thống Hoa Kỳ
Tòa Bạch Ốc
1600 Pennsylvania Ave NW
Washington, DC 20500

Kính gửi Tổng Thống Donald Trump,

Tiền thuế của người dân Hoa Kỳ không nên tiếp tục chi trả cho cái gọi là “ngoại giao cây tre” của Hà Nội. Trong cương vị các tổ chức người Mỹ gốc Việt, chúng tôi viết thư này để bày tỏ quan điểm nhân dịp đánh dấu 50 năm Sài Gòn sụp đổ – kết thúc Chiến Tranh Việt Nam, và tương lai quan hệ Mỹ-Việt.

Chúng tôi tin rằng chế độ cộng sản tại Việt Nam tiếp tục lợi dụng mối quan hệ đối tác chiến lược với Hoa Kỳ để đạt được lợi ích kinh tế và ngoại giao – đồng thời vẫn cổ xúy các luận điệu chống Mỹ trên các phương tiện truyền thông do nhà nước kiểm soát, đặc biệt liên quan đến hệ quả của cuộc chiến. Cách tuyên truyền này không chỉ gây tổn thương sâu sắc đến cộng đồng người Mỹ gốc Việt mà còn xúc phạm đến 58,000 quân nhân Hoa Kỳ đã hy sinh vì lý tưởng tự do tại Việt Nam.

Mặc dù quan hệ thương mại với Hoa Kỳ ngày càng phát triển, Việt Nam vẫn bị ràng buộc về kinh tế và chính trị với Trung Quốc. Do những lựa chọn của chế độ Hà Nội, Việt Nam thâm hụt thương mại đáng kể với Trung Quốc trong khi hưởng lợi thặng dư với Hoa Kỳ – cho thấy định hướng kinh tế và chiến lược thực sự của họ. Chúng tôi tin rằng nếu Việt Nam thật tâm muốn trở thành đối tác thương mại đáng tin cậy của Hoa Kỳ, họ cần thể hiện rõ hơn sự độc lập với Trung Quốc.

Chúng tôi ủng hộ quyết định, theo tường thuật của báo chí, là các giới chức Hoa Kỳ không tham dự các chương trình kỷ niệm ngày 30 Tháng Tư của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Việc Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc tham gia diễn binh không chỉ gây xúc phạm nặng nề đối với người Mỹ gốc Việt và cộng đồng người Việt trên khắp thế giới, mà còn là tín hiệu rõ ràng cho thấy Hà Nội vẫn ưu tiên liên minh với Trung Quốc.

Hà Nội và Bắc Kinh đã củng cố thêm mối quan hệ trong chuyến thăm của ông Tập Cận Bình tới Việt Nam đầu tháng này. Hai bên đã ký hàng chục thỏa thuận, bao gồm kế hoạch xây dựng các tuyến đường sắt kết nối chặt chẽ Trung Quốc với Việt Nam. Việc gắn bó với sáng kiến “Vành Đai và Con Đường” của Trung Quốc sẽ là một thảm họa kinh tế và chiến lược đối với người dân Việt Nam. Tuyến đường này cũng sẽ biến Việt Nam thành cửa ngõ phía sau cho Trung Quốc xuất cảng hàng hóa và phá hoại chính sách thương mại của Hoa Kỳ.

Là người Mỹ gốc Việt – nhiều người trong chúng tôi đã chạy trốn chế độ cộng sản và hiện đang đóng góp tích cực cho xã hội Hoa Kỳ – chúng tôi coi dân chủ và nhân quyền là những giá trị thiêng liêng. Chúng tôi tin rằng mối quan hệ vững mạnh giữa Hoa Kỳ và Việt Nam phải được xây dựng không chỉ trên mục tiêu kinh tế chung, mà còn dựa trên sự tôn trọng tự do, phẩm giá con người và xã hội cởi mở.

Thưa tổng thống, chúng tôi biết ngài luôn ủng hộ một nền ngoại giao mạnh mẽ, công bằng và đặt lợi ích nước Mỹ lên hàng đầu. Cộng đồng chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ các chính sách bảo đảm Hoa Kỳ là một quốc gia vững mạnh, được tôn trọng và nguyên tắc trong các mối quan hệ, đặc biệt với những quốc gia vẫn đang phải đấu tranh cho chính những quyền tự do mà chúng ta trân quý.

Trân trọng,

Liên Minh Dân Chủ Việt Nam
Lê Phát Minh, chủ tịch Ban Cố Vấn

Liên Minh Dân Chủ Việt Nam Boston
Trần Huệ An, đại diện

Hội Cựu Tù Nhân Ái Tử Bình Điền Huế
Thái Hòa, hội trưởng

Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Boston
Nguyễn Phúc, hội trưởng

Hội Cựu Sĩ Quan Pháo Binh Houston
Lê Văn Sanh, chủ tịch

Hội Cựu Thiếu Sinh Quân Houston
Lê Học Đức, hội trưởng

Hội Cựu Sĩ Quan Cảnh Sát Quốc Gia
Nguyễn Văn Ngôn, hội trưởng

Khu Hội Ái Hữu Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam Vùng Đông Vịnh
Trần Thạnh, phó chủ tịch

Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Houston
Nguyễn Thực, chủ tịch

Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Stockton, CA
Võ Duy Linh, hội trưởng

Chùa Phật Giáo Việt Nam East Boston
Phạm Lê Rô, đại diện

Phong Trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại Boston
Lại Tư Mỹ, đại diện

Tập Thể Cựu Chiến Sĩ VNCH, Trung Tâm Tây Nam Hoa Kỳ
Richard Bùi Đẹp, trung tâm trưởng

Liên Ủy Ban Chống Cộng Sản và Tay Sai
Phan Kỳ Nhơn, chủ tịch

Tạp Chí Gia Đình
Lê Phước Lâm, giám đốc

Hội Nhân Ái Tình Thương Hawaii
Janet T Kurizaki , hội trưởng

Hội Cao Niên Hawaii
Ann Cathy Clemons, hội trưởng

Học Viện Công Dân
Bs. Nguyễn Phúc Anh Lan

Công Lý Cho Nạn Nhân Formosa
John-Hòa Nguyễn, giám đốc

Hội Đồng Hương Quảng Trị Boston
Phạm Như Tân, đại diện

Little Saigon San Diego
Nguyễn Thế Sử, CEO

Liên Đoàn Không Quân 84 Kỹ Thuật
Lê Tấn Thành, hội trưởng

Hội Thủy Quân Lục Chiến Houston
Lê Hòa Đức, hội trưởng

Hội Đền Hùng San Diego
Trần Văn Hoạch, hội trưởng

Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt San Diego
Nguyễn Văn Lực, hội trưởng

Hội Đồng Hương Thái Bình
Hoàng Soan, hội trưởng

Đài Phát Thanh TNT Boston
Lê Hoàng Hà, giám đốc

Đài Phát Thanh Trực Tiếp TNT
Võ Bình, giám đốc

Đài Phát Thanh TNT Sacramento/Stockton
Ts. Trần Diệu Chân, giám đốc

Đài Phát Thanh TNT San Jose
Ngô Trọng Đức, giám đốc

Đài Phát Thanh TNT San Diego
Trần Trọng Nghĩa, giám đốc

Cộng Đồng Người Việt Tự Do Hawaii
Nguyễn Hoàng, chủ tịch

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Massachusetts
Thân Vĩnh Bảo Toàn Vinnie, chủ tịch

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Ohio
Lê Thế, chủ tịch

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Vùng Washington D.C., Maryland & Virginia.
Hoàng Đức Long, chủ tịch

Vietnamese American Heritage Foundation
Nancy Bùi, chủ tịch

Hội Y Tá Việt Mỹ
Hương Đình, hội trưởng

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston & Vùng Phụ Cận
Nha Sĩ Chu Văn Cương, chủ tịch

Cộng Đồng Việt Nam San Diego
Đặng Kim-Trang, chủ tịch

Trung Tâm Văn Hóa Việt Nam Seattle
Lee Ducly Bùi, giám đốc

Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn Hạt Los Angeles
Nguyễn Long, chủ tịch

Hội Người Việt Cao Niên San Joaquin County, CA
Nguyễn Em, hội trưởng

Đảng Việt Tân
Hoàng Tứ Duy, tổng bí thư. (Đ.D.)

Bị Trung Quốc siết, sầu riêng Việt Nam thất thế với các nước trong khu vực

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Ngay từ đầu mùa, sầu riêng xuất cảng của Việt Nam đã bị Trung Quốc siết chặt việc kiểm dịch, trong khi các đối thủ mới trỗi lên, khiến giá bán giảm mạnh, nông dân lo lắng.

Theo ghi nhận của báo VNExpress hôm 28 Tháng Tư, tại các cửa khẩu phía Bắc Việt Nam, container sầu riêng có thời gian chờ đợi thông quan qua Trung Quốc kéo dài cả tuần do “nước bạn” kiểm tra 100% lô hàng, làm giảm mất phẩm chất.

Thị trường Trung Quốc có nhu cầu lớn về sầu riêng. (Hình: Tiền Phong)

Ông Đoàn Văn Vẹn, tổng giám đốc công ty Anh Thư Đắk Lắk, cho biết từ sau Tết Nguyên Đán đến nay, đơn vị ông chưa thể xuất cảng trở lại do các thủ tục kéo dài, thời gian thông quan lâu. Trong khi đó, các hợp đồng mới từ phía đối tác Trung Quốc rất ít.

Hai tháng đầu năm, xuất cảng sầu riêng Việt sang Trung Quốc sụt mạnh, doanh thu đạt $27 triệu, giảm 83% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi hàng Thái Lan lại tăng vọt từ 37% lên 62.3%.

Ở miền Tây, nông dân phải bán sầu riêng với giá giảm mạnh 30% so với đầu năm và bằng một phần ba giá năm ngoái, hiện chỉ còn 35,000-70,000 đồng ($1.3 tới $2.6) một kg tùy loại.

Theo các doanh nghiệp, nguyên nhân chính là do yêu cầu kiểm tra phẩm chất ngày càng khắt khe từ phía Trung Quốc. Nước này hiện siết chặt kiểm tra dư lượng kim loại nặng và chất vàng O – hóa chất bị cấm sử dụng trong nông sản. Cùng với đó là các cảnh báo về gian lận mã số vùng trồng, vi phạm kiểm dịch thực vật, khiến nhiều doanh nghiệp buộc phải tạm ngưng xuất cảng để hoàn thiện hồ sơ, thủ tục.

“Doanh nghiệp đã tạm dừng thu mua sầu riêng từ nông dân do lo ngại không bảo đảm yêu cầu kiểm dịch. Nhiều vùng trồng chưa cập nhật kịp tiêu chuẩn mới, đặc biệt về dư lượng kim loại nặng và nguồn gốc phân bón,” nữ giám đốc một công ty xuất cảng nông sản ở Tiền Giang cho biết.

Trong khi đó, các đối thủ mới như Lào, Indonesia và Cambodia từng bước hiện diện tại Trung Quốc bằng những bước đi chiến lược.

Chẳng hạn, Lào tham vọng trở thành nhà cung cấp sầu riêng mới cho Trung Quốc, khi Phòng Thương Mại Lào phối hợp với các công ty nước này thành lập Hiệp Hội Doanh Nghiệp Sầu Riêng và Trung Tâm Nghiên Cứu Giống, đồng thời được giao thêm 12,000 hécta để phát triển vùng chuyên canh.

Với sản lượng hơn 1.8 triệu tấn mỗi năm – lớn nhất thế giới – Indonesia đã được Hải Quan Trung Quốc kiểm tra đồn điền, nhà máy đóng gói hồi Tháng Ba vừa qua và đang gấp rút hoàn thiện hậu cần, kiểm dịch.

Tương tự, hồi Tháng Tư vừa qua, Cambodia đã ký nghị định thư với Trung Quốc cho phép xuất cảng sầu riêng – một phần trong 37 thỏa thuận hợp tác mới, mở cánh cửa lớn cho ngành nông nghiệp nước này.

Trước “vòng vây” của các đối thủ mới, cùng sự siết chặt từ phía Trung Quốc, Việt Nam đối diện nhiều áp lực.

Sầu riêng tại nhiều nhà vườn ở miền Tây giá giảm chỉ còn phân nửa so với cùng kỳ năm ngoái. (Hình: Mạnh Khương/VNExpress)

Ông Đặng Phúc Nguyên, tổng thư ký Hiệp Hội Rau Quả Việt Nam, nhìn nhận xuất cảng rau quả nói chung và sầu riêng nói riêng sang Trung Quốc đang chậm lại rõ rệt. Trong quý 1, Trung Quốc chỉ chi hơn nửa tỷ đô cho nông sản Việt Nam, giảm 31% so với cùng kỳ năm ngoái.

Ông Nguyên cho rằng cần sự vào cuộc quyết liệt từ cơ quan hữu trách. Nhà chức trách nên kiểm tra, xử lý nghiêm các cơ sở sản xuất phân bón kém phẩm chất. Riêng nông dân nên chủ động kiểm nghiệm Cadimi ít nhất nửa tháng trước khi thu hoạch để đảm bảo sản phẩm đạt chuẩn…

“Chúng ta cần làm nghiêm túc và bài bản để giữ vững thị phần và duy trì đà tăng trưởng bền vững cho ngành hàng này,” ông Phùng Đức Tiến, thứ trưởng Bộ Nông Nghiệp và Môi Trường, nói cho qua chuyện.

Phản ảnh trên báo VNExpress, độc giả “hihihaha” bất bình: “Một thị trường [Trung Quốc] chưa bao giờ bền vững với nông sản Việt Nam. Lúc thì cho phép nhập cảng vì đạt chuẩn, lúc thì không đạt chuẩn nên không được xuất. Tiêu chuẩn mà cũng sáng nắng chiều mưa.” (Tr.N) [qd]

Ông Michigan mất $5,000, cảnh sát gọi tới nhận nhưng không nghe vì tưởng bị lừa

MONROE, Michigan (NV) – Một ông ở Michigan mất $5,000 tiền mặt và cảnh sát nhiều lần gọi điện thoại kêu ông tới nhận lại tiền, nhưng ban đầu, ông không nghe điện thoại vì tưởng bị lừa.

Trên mạng xã hội hôm Thứ Hai, 28 Tháng Tư, Cảnh Sát Tiểu Bang Michigan (MSP) cho hay một cảnh sát viên MSP ở Monroe lượm được số tiền đó giữa đường hôm Thứ Sáu tuần trước.

Cuối cùng, ông này tới nhận lại $5,000. (Hình minh họa: Storyblocks)

Cảnh sát viên này liên lạc với ngân hàng gần đó và họ xác nhận có khách hàng vừa rút đúng $5,000.

Cảnh sát viên này cố gọi điện thoại cho khách hàng đó nhưng không được.

“Người đó có lẽ làm theo thông báo của chúng tôi về việc cảnh giác với nạn lừa đảo và tin rằng ông đang bị lừa nên cúp điện thoại nhiều lần khi cảnh sát viên này gọi,” MSP viết trên mạng xã hội X.

Cuối cùng, ông tin rằng những cuộc gọi đó không phải lừa đảo và tới nhận lại tiền, theo MSP.

“Dường như sau khi rút tiền, người đó bỏ tiền vào túi quần và chẳng hiểu sao, tiền rớt ra ngoài,” MSP cho biết. (Th.Long) [qd]

Saigon hôm nay rất nắng – Thơ Nguyễn Viện

Nguyễn Viện

Saigon hôm nay rất nắng

Saigon hôm nay rất nắng. (Tranh: Đinh Trường Chinh)

Bàn tay của cô gái làm massage bỗng ngập ngừng trên lưng tôi
những vết bỏng bởi cơn nắng ngày hôm qua có mùi khét
tôi nói đấy chỉ là một ảo ảnh
cũng có thể là một ám thị về nỗi nhớ trên biển năm nào
cái nhìn của em làm tôi bốc cháy

Rồi
bàn tay của cô gái làm massage cho tôi lướt đi như những cơn sóng
lưng đau thắt
tôi nói quả thận của tôi là một nỗi phiền muộn
nhưng cô gái làm massage không thể xoa bóp vào một nơi sâu thẳm như thế
tôi hy vọng sẽ có một cơn mưa để an ủi
nhưng chiều nay rất nắng
vết bỏng trên lưng tôi phồng dộp
tôi nói với cô gái, đừng sợ. đấy chỉ là một ước mơ của tôi thôi.

 


LTS: Nhằm mục đích tạo thêm tình thân ái giữa bạn đọc và tòa soạn, nhật báo Người Việt trân trọng kính mời quý bạn đọc, thân hữu tham gia “Vườn Thơ Người Việt” Bài vở xin gửi về địa chỉ email: [email protected], hoặc “Vườn Thơ Người Việt” 14771 Moran Street, Westminster, CA 92683
(Vì trang báo có giới hạn, toà soạn được quyền quyết định đăng bài cho phù hợp)


 

 

Địa chấn mạnh có thể làm đất đai dọc bờ biển California sập vĩnh viễn

SACRAMENTO, California (NV) – Nếu địa chấn mạnh 7.7 độ Richter trở lên xảy ra dọc đường đứt gãy lớn ở California, đất đai dọc bờ biển tiểu bang này có thể sập vĩnh viễn, khiến cư dân dễ bị lũ lụt nặng nề, khoa học gia cảnh báo, theo OC Patch hôm Thứ Ba, 29 Tháng Tư.

Ngoài ra, động đất mạnh cỡ đó còn có thể làm hàng chục ngàn người thiệt mạng và tàn phá cơ sở hạ tầng cả một vùng rộng lớn.

Bờ biển North Beach được bồi đắp cát hôm 15 Tháng Tám, 2024, ở San Clemente, California. (Hình minh họa: Mario Tama/Getty Images)

Trong cuộc nghiên cứu đăng trên tạp chí khoa học Proceedings of the National Academy of Sciences (PNAS) hôm Thứ Hai tuần này, khoa học gia khuyến cáo giới chức chính quyền tiểu bang và địa phương chuẩn bị ngay từ bây giờ.

Nhóm nghiên cứu cảnh báo nếu địa chấn mạnh 8 độ Richter trở lên xảy ra dọc đường đứt gãy Cascadia Subduction Zone, đất đại ở một số khu vực có thể bị sụt lún bất thình lình. Cascadia Subduction Zone là đường đứt gãy dài từ Bắc California của Mỹ tới tỉnh British Columbia của Canada. Tình trạng sụt lún đó sẽ lập tức làm nước biển ở địa phương dâng lên, làm ngập lụt vùng đất thấp và làm toàn bộ cư dân dọc bờ biển dễ bị lũ lụt nguy hiểm.

Trong cuộc nghiên cứu, khoa học gia đánh giá nếu động đất mạnh từ 7.7 tới 9.2 độ Richter xảy ra dọc Cascadia Subduction Zone, thì tác động sẽ ra sao. Trận động đất mạnh gần đây nhất dọc đường đứt gãy đó xảy ra vào năm 1700.

Nếu địa chấn mạnh xảy ra dọc Cascadia Subduction Zone, đất đai dọc bờ biển từ phía Nam tiểu bang Washington tới Humboldt Bay có thể bị sập từ nửa foot tới 6 foot, theo nhóm nghiên cứu.

Cascadia Subduction Zone có khả năng gây ra động đất rất mạnh có thể nhanh chóng tạo ra sóng thần nếu sự dịch chuyển của mảng kiến tạo (plate) Juan de Fuca bên dưới mảng kiến tạo Bắc Mỹ làm dịch chuyển khối lượng nước khổng lồ.

Trong tình huống đó, “Mực nước biển mà người ta dự trù dâng lên từ nay tới năm 2300 sẽ dâng lên trong vài phút,” bà Tina Dura, trưởng nhóm nghiên cứu và giáo sư địa chất học của đại học Virginia Tech, nói với nhật báo San Francisco Chronicle.

Bà Dura cũng cảnh báo động đất nếu xảy ra dọc đường đứt gãy đó có thể tạo ra sóng thần lớn bằng trận sóng thần khủng khiếp ở Nhật năm 2011 hoặc trận sóng thần làm hàng trăm ngàn người chết ở Sumatra, Indonesia, năm 2004.

Bà Dura xác nhận với báo Chronicle rằng, tới nay, Trung Tâm Khoa Học Động Đất Vùng Cascadia, vốn thuộc Tổ Chức Khoa Học Quốc Gia, vẫn được chính quyền liên bang trợ cấp, thoát được chiến dịch của chính quyền Tổng Thống Donald Trump cắt giảm chi tiêu.

Nhưng bà Dura và đồng nghiệp đang lo lắng về việc cắt giảm nhân sự ở Trung Tâm Cảnh Báo Sóng Thần.

“Đây thảm họa đang chực chờ, mà hiện tại, chúng ta đã không có đủ người để lo,” bà Dura cho hay. (Th.Long) [qd]

Tin mới cập nhật