Lạm quyền trong việc trưng thu tài sản người dân


Giám Sát Viên Andrew Ðỗ
Ðịa Hạt 1, Orange County

LTS. Giám Sát Viên Andrew Ðỗ vừa viết một bài báo bằng tiếng Anh, “Redevelopment revival threatens land-grab abuses,” đăng trên nhật báo The Orange County Register hôm Chủ Nhật, 24 Tháng Năm, phản đối Dự Luật AB 2, do Dân Biểu Luis Alejo (Dân Chủ-Ðịa Hạt 30) đệ trình, với mục đích trưng thu bất động sản của người dân California để thực hiện các dự án cần thiết cho địa phương. Sau đây là bản dịch Việt Ngữ của bài viết này.

Trong thập niên qua, một liên minh giữa cánh hữu, tả và trung dung được hình thành để bảo vệ quyền tư hữu.

Khi Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đồng ý với quyết định của thành phố New London ở miền Ðông Hoa Kỳ, cho phép trưng thu bảy căn nhà và giao cho một công ty tư nhân sử dụng để phát triển thành phố, nhiều dư luận quần chúng ngay sau đó đã đòi hỏi có những luật lệ mới nhằm hủy bỏ ảnh hưởng của án lệ 2005 mang tên Kelo v. New London.

Năm 2006, cử tri Orange County đã bỏ phiếu chấp thuận Dự Luật Measure A, ngăn cấm chính quyền sử dụng quyền trưng thu bất động sản (power of eminent domain) để buộc chuyển nhượng bất động sản giữa các tư nhân. Năm 2011, để quân bình ngân sách, Thống Ðốc California Jerry Brown đã hủy bỏ những cơ quan tái phát triển đô thị của các thành phố trong tiểu bang. Những cơ quan này từ trước tới nay vẫn được coi như là một công cụ trưng thu tài sản, nhưng ông Brown muốn sử dụng tài nguyên của các cơ quan nói trên trong việc quân bình ngân sách tiểu bang. Khi Thống Ðốc Brown làm chuyện này, nhiều cử tri trong tiểu bang đã hài lòng vì việc trưng thu tài sản sẽ hết bị lợi dụng.

Hiện tại, những ký ức của vụ kiện Kelo đã phai nhạt và với kinh tế tương đối khá hơn, chính quyền lại hăm hở trở lại lối “ngựa quen đường cũ.” Sacramento lại làm sống lại chương trình tái thiết với một dự luật mới được Quốc Hội thông qua. Dự Luật AB2 do Dân Biểu Luis Alejo đề nghị nhằm làm sống lại những cơ quan tái phát triển đô thị tại những thành phố nghèo qua một tên khác, đó là “cơ quan tái thiết cộng đồng” (Revitalization Authorities), thay vì khu vực tái thiết (Redevelopment Zone). Với những cơ quan mới này, cử tri vẫn không có bất cứ những bảo vệ nào để tránh việc chính quyền lạm dụng quyền trưng thu bất động sản của người dân, như trường hợp xảy ra cho nạn nhân là bà Kelo. (Án lệ Kelo v. New London xảy ra khi bà Susette Kelo, chủ nhân một căn nhà tại New London, bị thua kiện và bị trưng thu căn nhà cho chương trình phát triển, nhưng sau đó chương trình này không bao giờ được thực hiện).

Dự Luật AB 2 đã được thông qua hồi đầu tháng này, và trên danh nghĩa để tái thiết hạ tầng cơ sở, xây dựng các khu gia cư rẻ tiền, và làm sống lại nền kinh tế những cơ quan này có quyền hạn ban hành các trái phiếu của thành phố, cung cấp các chương trình cho vay với lãi suất nhẹ và dùng quyền tái thiết để trưng thu bất động sản của cư dân thành phố.

Dự luật này chắc chắn tạo nỗi kinh hoàng cho chủ nhân của các bất động sản. Tổ Chức Liên Minh Bảo Vệ Quyền Tư Hữu California đã cảnh báo Dự Luật AB 2 sẽ làm sống lại “quyền lực trưng thu bất động sản mà người dân không thể kềm chế được.”

Nếu Dự Luật AB 2 này trở thành luật, chính quyền địa phương sẽ có công cụ trưng thu các doanh nghiệp nhỏ do các gia đình làm chủ, hoặc ngay cả những nơi thờ phượng.

Các bất động sản của tư nhân có thể bị tước đoạt để giao cho những đại công ty phát triển.

Việc lạm dụng quyền tước đoạt tài sản không phải chỉ là những bóng ma ám ảnh người dân tôn trọng tự do. Theo Tổ Chức Công Lý, có hơn 10,000 bất động sản đã bị đe dọa hay bị tước đoạt giao cho các công ty xây cất từ năm 1998 đến 2002. Vào thời điểm của án lệ Kelo, nhiều tiểu thương tại San Diego đã là nạn nhân cho các dự án để xây khách sạn mà sau đó đã không bao giờ được xây cất.

Ông Ahmad Mesdaq, một tiểu thương di dân, giải thích, những năm sau khi cửa tiệm bán cigar của ông tại San Diego bị tước đoạt bằng đặc quyền trưng thu tài sản của thành phố, “Tôi bị mất tất cả cho chương trình tái thiết đô thị. Ðiều đáng kể là giấc mơ Mỹ trong tôi đã bị xe hủ lô giựt sập nhường chỗ cho một doanh nghiệp khác có thể xây một khách sạn trên đất của tôi là một điều không thể tượng được, và là một sự nhục nhã cho tôi.”

Và cũng là một điều mỉa mai khi những người ủng hộ Dự Luật AB 2 này đã biện hộ dự luật là một phương thức trợ giúp cho các cộng đồng nghèo khó. Nhưng chúng ta phải tự hỏi, làm sao một cộng đồng nghèo khó có thể trở nên trù phú một khi mà quyền sở hữu bất động sản, một trong những tài sản có giá trị nhất trong đời sống, bị chuyển ra khỏi thành phố?

Một thẩm phán Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ, bà Sandra O’Connor, người đã bỏ phiếu chống lại án lệ Kelo phát biểu: “Những người hưởng lợi phần lớn là những người với nhiều thất lợi về ảnh hưởng và quyền lực chính trị như những đại công ty và các nhà thầu xây cất. Và nay thì chánh phủ có được quyền chuyển đổi bất động sản từ những người có ít tài nguyên đến cho những người đã có quá nhiều.”

Trên nguyên tắc, Dự Luật AB 2 là một sự sai lầm trong việc sử dụng đặc quyền trưng thu tài sản từ một người này giao cho một người khác, bất kể là lợi ích kinh tế to lớn như thế nào. Trên thực tế, AB 2 chỉ là những lời hứa hẹn hão huyền về sự tăng trưởng lợi ích kinh tế vì việc tái thiết đô thị ít khi thành tựu. Ðiều này đã chứng tỏ qua thực tế của thành phố New London, thuộc tiểu bang Connecticut, nơi xảy ra vụ án Kelo.

Nhà đầu tư đã bị phá sản sau cuộc khủng hoảng tài chánh năm 2008. Ðại công ty dược phẩm Pfizer đã dọn ra khỏi thành phố này một năm sau đó, kéo theo hàng ngàn công ăn việc làm. Thay vì được lợi lộc, thành phố đã bỏ ra hàng triệu đô la để khai thác các bất động sản hiện vẫn còn nằm trơ trọi. Những căn nhà này đã bị trưng thu nhưng kết quả không mang lại một lợi ích gì.

Khủng hoảng thuyền nhân Đông Nam Á vì trốn đói nghèo

UKHIYA, Bangladesh (AP)Trong vụ khủng hoảng thuyền nhân ở Đông Nam Á người ta chỉ chú ý nhiều đến di dân Rohingya/Miến Điện nhưng thật ra phân nửa chuyện này là từ dân Bangladesh.










Một số thuyền nhân bị bắt khi tàu của họ lạc vào bờ biển Cox’s Bazar cách Dhaka, Bangladesh, khoảng 200 dặm về phía Nam, ngồi chờ cảnh sát thẩm vấn. (Hình: AP/A.M. Ahad)


Theo phủ Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc UNHCR trong số hơn 3,000 thuyền nhân đến Malaysia, Indonesia và Thái Lan tháng này một nửa là dân Bangladesh.


Với GDP bình quân  đầu người $1,000 một năm và hầu hết dân chúng chỉ kiếm được $1 mỗi ngày, tình trạng đói nghèo đã khiến người dân Bangladesh muốn đi tìm một cuộc sống khá hơn ở nước ngoài nhưng cuối cùng đã trở thành nạn nhân của bọn buôn người.


Họ dễ dàng nghe theo lời dụ dỗ lừa gạt của các tổ chức buôn người. Bọn này quảng cáo có tầu lớn chở người ra nước ngoài trên đó có chỗ ăn nằm thoải mái, lương thực dư thừa và chỉ khoảng một tuần lễ là tới bến Malaysia. Ở đó mọi người dễ dàng tìm được việc làm lương khá, đủ tiền gởi về nước cho gia đình,….


Thực tế di dân bị đưa lên những chiếc tàu hôi hám nhồi nhét chật cứng, ăn uống chỉ đủ sống trong nhiều tuần lễ lênh đênh trên biển. Khi tới được đất liền họ bị đầy vào rừng không biết đường đi đâu, có nơi không phải Malaysia như hứa hẹn mà có thể là Indonesia, Thái Lan hay Miến Điện.


Nếu không bị bắt lại hoặc gặp nạn đắm tàu hay lang thang nhiều tháng đói khát trên biển, các thuyền nhân sẽ chỉ có nơi tạm trú trong những lều bên bờ biển hay rừng hoang và khi cảnh sát phát hiện có thể bị bắt đưa về nhà tù hay bán lại cho những nhóm buôn lậu người khác. Một số họ trở thành công nhân nô lệ làm công việc đánh cá hay khai thác lâm sản và nếu không chết chỉ được giải thoát sau nhiều tháng nếu gặp may mắn.


Các giới chức phụ trách về tị nạn và di dân tin rằng chỉ có thể chấm dứt vụ khủng hoảng thuyền nhân ở Đông Nam Á bằng sự diệt trừ các tổ chức buôn người, và chính quyền phải tìm cách cải thiện được cuộc sống để dân chúng không liều mạng bỏ đi. (HC)

Nghi can phá hoại chùa Hương Tích bị quản chế 5 năm

SANTA ANA, California (NV) Nghi can phá hoại chùa Hương Tích, Santa Ana, vừa bị tòa tuyên án hôm Thứ Ba, theo đó bà bị quản chế trong năm năm, theo hồ sơ tòa án.


Bà Phạm Thu Trang. (Hình: Sở Cảnh Sát Santa Ana)

Bà Phạm Thu Trang bị tố cáo nhiều lần ném chai và xả rác vào chùa Hương Tích, tọa lạc trên đường số 5, gây thiệt hại một số tượng Phật hồi cuối năm ngoái, và bị hệ thống video an ninh của chùa thu được.

Hôm 13 Tháng Giêng, cảnh sát Costa Mesa thông báo cho cảnh sát Santa Ana là họ bắt được bà Trang, 45 tuổi, đang bị truy nã vì những tố cáo trên.

Theo cảnh sát, một nhân viên làm việc tại tiệm thuốc CVS trên đường Harbor ở Costa Mesa nhận diện được phụ nữ này nhờ có xem tin tức trên truyền hình.

Ngay lập tức, nhân viên an ninh này coi lại bản tin trên điện thoại di động để nhận diện nghi can, rồi báo cho cảnh sát đến bắt.

Khi cảnh sát đến nơi, họ thẩm vấn nghi can và bà Trang xác nhận bà chính là người trong băng video của bản tin.

Bà cũng cho cảnh sát biết bà không có vấn đề gì với đạo Phật.

Cảnh sát tin rằng, nghi can có vấn đề cá nhân gì đó với một người quen của chùa Hương Tích.

Bà Phạm Thu Trang sau đó được giao cho cảnh sát Santa Ana và bị truy tố tội phá hoại nơi thờ phượng, một tội hình.

Ngay sau khi sự việc xảy ra, vị tu sĩ trụ trì chùa cho biết, chùa không muốn bà Trang bị tù, mà chỉ muốn biết rõ ai là người gây thiệt hại cho chùa. (Ð.D.)

Úc bị chỉ trích vì từ chối cho 46 thuyền nhân Việt Nam tị nạn


CANBERRA (NV) .-
Nước Úc bị đả kích vì đã giam giữ 46 thuyền nhân người Việt Nam trên biển, bí mật thẩm vấn họ ngay trên tàu rồi trục xuất về nước trên một tàu vận tải quân sự.









Chính phủ Úc cho tàu vận tải HMAS Choules chở 46 thuyền nhân Việt Nam hồi hương. (Hình: AAP)


Bộ trưởng Bộ Di Trú của nước Úc, ông Michael Pezzullo, trình bày như vậy trong cuộc điều trần ở Thượng Viện hôm Thứ Hai 25 tháng Năm, 2015 vừa qua. Cơ quan Di Trú Liên Hiệp Quốc cũng như Giáo phận Công giáo tại Sydney đả kích hành động như thế và cho điều đó có thể đã vi phạm các chuẩn mực quốc tế.


Theo bản tin AP tường thuật cuộc điều trần của ông Pezzullo, các cuộc thẩm vấn thanh lọc ngay trên tàu ngoài biển của viên chức biên phòng nước Úc với từ thuyền nhân chỉ kéo dài khoảng 40 phút khi tàu của họ bị Hải quân Úc chận giữ trên biển ngày 20 tháng 3, 2015 vừa qua.


Ông nói rằng không một thuyền nhân nào đáp ứng các tiêu chuẩn để được hưởng quy chế tị nạn tại nước Úc như quy định của Liên Hiệp Quốc. Trong số 46 người đó có cả phụ nữ và trẻ em. Theo ông Pezzullo, phía nhà cầm quyền Việt Nam đã bảo đảm với Úc là khi họ bị trả về sẽ không bị trừng trị vì đã vượt biên trái phép.


Cho tới nay, người ta không biết họ là những ai, xuất phát từ đâu và hiện đang ở đâu, liệu họ có bị ngược đãi gì không. Sau một thời gian bị giữ trên biển gần một tháng, ngày 18 tháng 4, 2015, chính phủ Úc chở họ về Việt Nam trên chiếc tàu vận tải quân sự HMAS Choules và giao họ lại cho nhà cầm quyền Việt Nam ở Vũng Tàu.


Tháng trước, sau khi vụ việc xảy ra, Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc đã bày tỏ sự quan ngại khi hay tin các thuyền nhân Việt Nam đã bị thanh lọc ngay trên biển, cho rằng có thể họ đã không được cứu xét khách quan.


Những năm sau này, chính phủ Úc kiểm soát chặt chẽ các vùng biển và siết chặt các quy định về di dân từ nước ngoài, đặc biệt là các tàu chở di dân từ bất cứ đâu tới. Tất cả đều không được cho tạm lên bờ mà được đưa tới đảo Christmas, một hòn đảo ở thật xa, hoặc nhốt trong các dãy lều ở cơ sở thuê ở đảo quốc Papua Guinea.


“Chận bắt các người đi tị nạn ngay ở trên biển và từ chối cho họ thông qua tiến trình thanh lọc di dân đúng tiêu chuẩn, nước Úc đang có nguy cơ vi phạm các cam kết quốc tế. Và quan trọng hơn, trả họ về nguyên quán có thể còn có nguy hiểm hơn cho họ.” Ông Oliver White, trưởng văn phòng chính sách của Sở Dịch Vụ Tị Nạn của Dòng Tên, giáo hội Công giáo nước Úc, tuyên bố trong một bản tin báo chí về chuyện 46 thuyền nhân Việt Nam bị trục xuất.


Theo Công ước Quốc tế về Quyền Tị Nạn mà nước Úc cũng là một thành viên cam kết tôn trọng, một trong những điểm mấu chốt của quy chế là những ai chạy trốn các sự đàn áp, trốn chạy chiến tranh hoặc bị tra tấn và đi tìm nơi sống an toàn ở một quốc gia khác thì nước này không được xua đuổi. (TN)

7 giới chức FIFA bị bắt vì bị tố cáo tham nhũng, rửa tiền

ZURICH, Thụy Sĩ (NV)Bảy giới chức lãnh đạo của Liên Ðoàn Bóng Ðá Thế Giới (FIFA) vừa bị cảnh sát Thụy Sĩ bắt hôm Thứ Tư, 27 Tháng Năm, vì bị tố cáo tham nhũng và rửa tiền liên quan đến hai giải World Cup 2018 và World Cup 2022, theo tin hãng thông tấn AP.

Các giới chức công lực Thụy Sĩ thực hiện vụ bắt này theo yêu cầu của Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ, sau khi cơ quan này cho biết có bằng chứng cho thấy tình trạng “tham nhũng tràn lan, có hệ thống, và sâu rộng” trong tổ chức thể thao lớn nhất thế giới này.


Trong hình là 6 quan chức cao cấp của FIFA bị khởi tố vì tham nhũng, trong đó có Phó Chủ Tịch Jeffrey Webb. (Hình: AP/Photo)

Cũng theo yêu cầu trên, Thụy Sĩ sẽ dẫn độ những người bị bắt sang Hoa Kỳ.

Sự việc xảy ra khi các giới chức FIFA họp tại một khách sạn sang trọng Baur au Lac ở Zurich để chuẩn bị cho cuộc bỏ phiếu, mà theo đó, ông Sepp Blatter sẽ được bầu làm chủ tịch FIFA lần thứ năm liên tiếp.

Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ cho hay, có tổng cộng 14 người bị điều tra, trong đó có cả ông Blatter, nhưng ông lại không nằm trong số người bị bắt hôm Thứ Tư.

Ngoài ra, FBI cũng khám xét văn phòng Liên Đoàn Bóng Đá Trung Mỹ (CONCACAF) mang đi một số hồ sơ và máy điện toán để điều tra.

Trong một cuộc họp báo sau đó, đại diện FIFA nói rằng cuộc bỏ phiếu bầu chủ tịch, dự trù diễn ra vào ngày Thứ Sáu, sẽ không thay đổi với việc đương kim Chủ Tịch Sepp Blatter sẽ tranh cử.

FIFA cũng loại bỏ khả năng sẽ có việc bỏ phiếu lại nơi được chọn làm địa điểm tổ chức giải World Cup, với Nga được chọn tổ chức năm 2018 và Qatar năm 2022.

Văn phòng công tố Thụy Sĩ cho hay trong bản thông cáo gửi tới báo chí rằng họ tịch thu “các dữ kiện điện tử và tài liệu” tại trụ sở FIFA trong khuôn khổ cuộc điều tra. Cảnh sát Thụy Sĩ nói rằng họ sẽ thẩm vấn 10 giới chức trong ủy ban điều hành FIFA từng tham dự cuộc bỏ phiếu chọn địa điểm tổ chức World Cup hồi Tháng Mười Hai, 2010.

Cuộc điều tra ở Thụy Sĩ nhắm vào “những người tình nghi có liên hệ đến hành động phi pháp và rửa tiền,” tạo sự nghi ngờ về tính công minh của cuộc bỏ phiếu.

“FIFA hoàn toàn hợp tác với cuộc điều tra và hỗ trợ việc thu thập chứng cớ trong việc này,” theo bản thông cáo của FIFA gửi tới báo chí.

Bộ Tư Pháp Mỹ nói rằng hai đương kim phó chủ tịch FIFA ở trong số những người bị bắt và bị truy tố. Ðó là ông Jeffrey Webb ở Cayman Islands và Eugenio Figueredo của Uruguay. Những người khác là Eduardo Li ở Costa Rica, Julio Rocha ở Nicaragua, Costas Takkas ở Anh, Rafael Esquivel ở Venezuela và Jose Maria Marin ở Brazil.

Tất cả bảy người này đều có liên hệ đến các liên đoàn bóng đá khu vực ở Bắc và Nam Mỹ.

Nếu bị kết tội, họ có thể lãnh bản án 20 năm tù.

Bộ trưởng Tư Pháp Mỹ, bà Loretta E. Lynch, cho hay cáo trạng nói rằng có tình trạng tham nhũng tràn lan, có hệ thống và sâu rộng ở ngoại quốc cũng như ở ngay tại Mỹ và kéo dài ít nhất hai thế hệ lãnh đạo qua, từng lạm dụng vị trí của mình để nhận nhiều triệu đô la tiền hối lộ.


Bà Loretta Lynch đến buổi họp báo hôm Thứ Tư ở Brooklyn, New York, công bố vụ truy tố một số viên chức FIFA. (Hình: AP/Mark Lennihan)

Phía Thụy Sĩ cho hay cuộc điều tra của họ riêng rẽ với cuộc điều tra ở Mỹ nhưng giới chức hai bên cộng tác với nhau.

Những chuyện tai tiếng về tham nhũng ở FIFA đã được nói đến từ lâu, nhưng nay là lần đầu tiên bị đưa ra trước pháp luật. Trước kia những cuộc điều tra chỉ được tiến hành và giải quyết trong phạm vi nội bộ.

Thể thao là một trong những ngành kinh doanh quan trọng và kiếm lời nhiêu nhất trên thế giới hiện nay. FIFA thu về hàng tỉ đô la qua việc tổ chức các giải thi đấu bóng đá quốc tế, World Cup và nhiều giải khu vực khác, với tiền bán vé, thầu bản quyền truyền hình, quảng cáo và bảo trợ của các đại công ty.

Trong hai giải World Cup gần đây, 2010 ở Nam Phi và 2014 ở Brazil, mỗi giải đều có trên 3 tỉ người trên khắp thế giới theo dõi qua truyền hình và là sự kiện thể thao lớn nhất cũng như có giá trị cao nhất về quảng cáo thương mại.

Tiền lời của FIFA về World Cup 2014 khoảng $2.6 tỉ. Tiền bán vé vào sân dự khán các trận đấu, tổng cộng $527 triệu thật ra chỉ là một phần nhỏ trong thu nhập. Theo CNN 11 triệu vé được đặt mua, nhưng khả năng ghế ngồi ở các sân có giới hạn, và vé có để bán chỉ dưới 1/3 con số ấy. Do đại đa số khán giả chỉ có thể xem qua truyền hình, tiền bán bản quyền truyền hình là phần thu nhập lớn nhát, $2.4 tỉ. Các đại công ty bảo trợ cho World Cup, có hợp đồng trong nhiều năm, bao gồm Addidas, Coca-Cola, Hyundai, Visa và Gazprom.

Tuy nhiên, chi tiêu của FIFA cũng không phải là ít, bao gồm chi phí tổ chức, tiền trả cho các đội tuyển và tiền thưởng, cùng hàng tỉ đô la yểm trợ cho các quốc gia đứng tổ chức xây dựng hạ tầng cơ sở như sân bóng, hệ thống đường giao thông. FIFA cũng chi một khoản tiền lớn cho việc phát triển môn thể thao bóng đá ở nhiều quốc gia.

Mỗi năm FIFA trả lương khoảng $88 triệu cho số nhân sự khổng lồ làm việc thường trực trong đó $40 triệu cho 13 viên chức cao cấp nhất. Tiền lương của Chủ Tịch Sepp Blatter và những giới chức quan trọng khác không được tiết lộ.

Trong cuộc bầu cử chức chủ tịch FIFA sắp tới, đối thủ duy nhất của ông Blatter là ông hoàng Ali bin al-Hussein của vương quốc Jordan. Ông hoàng này tuyên bố FIFA cần có một ban lãnh đạo hoàn toàn mới.

Bà Loretta Lynch, bộ trưởng Tư Pháp Hoa Kỳ, nói rằng cuộc bầu cử ấy không có liên quan gì tới thời điểm các công tố viên quyết định truy tố một số viên chức FIFA. Trong cuộc họp báo ở New York, bà cho biết các điều tra viên tìm ra $110 triệu tiền hối lộ liên hệ với giải Copa America sẽ được tổ chức lần đầu tiên tại Mỹ năm 2016.

Theo lời bà, đây chỉ là một phần của tình trạng tham nhũng tràn lan, có hệ thống, và sâu rộng xảy ra trong tổ chức điều hành môn thể thao bóng đá trên toàn thế giới này. Hai Liên Ðoàn Bóng Ðá Bắc Mỹ/vùng biển Caribbean (CONCACAF) và Nam Mỹ (CONMEBOL) đều dính dáng vào chuyện này.

Sau vụ này, Liên Ðoàn Bóng Ðá Brazil đưa ra tuyên bố “hoàn toàn ủng hộ mọi hình thức điều tra” về tham nhũng, và tái xác nhận “cam kết ủng hộ công lý và sự trong sáng.”

Trong số bảy người bị bắt ở Zurich có ông Jose Maria Marin, chủ tịch Liên Ðoàn Bóng Ðá Brazil.

Bộ Tư Pháp Costa Rica cho biết sẽ mở cuộc điều tra về ông Eduardo Li.

Uruguay không bình luận gì về việc phó chủ tịch liên đoàn bóng đá nước họ, ông Eugenio Figueredo, bị bắt.

Nhưng một viên chức Liên Ðoàn Bóng Ðá Venezuela nói với hãng thông tấn xã AP rằng ông tin rằng Rafael Esquivel vô tội.

Bộ Tư Pháp Thụy Sĩ cho biết chỉ có một trong số bảy người bị bắt đồng ý để dẫn độ về Mỹ và người này, danh tánh không công bố, sẽ được giao cho nhà chức trách Mỹ ngay. Thụy Sĩ cũng cho biết Hoa Kỳ có thời hạn 40 ngày để tống đạt yêu cầu chính thức dẫn độ sáu người kia,

Bộ Trưởng Tư Pháp Loretta Lynch nói rằng tham nhũng và hối lộ đã làm hoen ố FIFA từ ít nhất 24 năm, từ 1991, và liên quan đến các quốc gia, tổ chức, công ty.

Liên Ðoàn Bóng Ðá Âu Châu (UEFA) tổ chức một phiên họp khẩn cấp ngày Thứ Tư ở Warsaw, Ba Lan, dưới sự chủ tọa của Chủ Tịch Michel Platini để thảo luận về đề nghị hoãn cuộc bầu cử ngày Thứ Sáu. Ban lãnh đạo UEFA trước đây vẫn ủng hộ ông hoàng Ali bin al-Hussein mặc dầu đương kim Chủ Tịch Sepp Blatter có nhiều ưu thế tái đắc cử.

FIFA cũng cho biết sẽ không có việc bỏ phiếu lại trong việc chọn địa điểm tổ chức World Cup 2018 và World Cup 2022. Một giới chức cao cấp bóng đá Nga nói rằng nước mình hoạt động đúng luật khi được chấp thuận làm nơi tổ chức World Cup 2018. Bộ Trưởng Thể Thao Vitalo Mutko tuyên bố Nga tán thành cuộc điều tra của Thụy Sĩ và sẽ chuẩn bị để trình bày đầy đủ mọi việc.

Như đã đề cập ở trên, dư luận từ lâu không ngạc nhiên về những chuyện mờ ám trong FIFA. Nhưng điều bất ngờ là Hoa Kỳ, nước mà bóng đá chưa phải là môn thể thao hàng đầu, đưa vụ này ra trước công lý. Người ta tin rằng trong những ngày tới sẽ còn thêm nhiều sự kiện mới khác được phơi bày. (V.Giang, HC)

Mưa, lụt ở Texas: Nhiều tang thương và mất mát


HOUSTON (NV)- Kỳ nghỉ lễ Memorial Day của người dân Texas đã trở thành ác mộng khi trong hai ngày 25 và 26 tháng 5, Texas đã chìm trong nước lụt khi trận mưa được coi là lớn nhất trong vòng 35 năm qua đổ xuống.


Theo nhật báo Houston Chronicle, hôm Thứ Tư, ngày 27 tháng 5, mưa tiếp tục ở các khu vực Texas . Một số nơi nước đã bắt đầu rút, các con đường xa lộ đã mở cửa trở lại. Tuy nhiên, trận lụt đã để lại nhiều tang thương và mất mát.









Xe cộ bị mắc kẹt trên xa lộ 288 ở Houston hôm thứ ba, ngày 26 tháng 5, năm 2015. (Ảnh: Aaron M. Sprecher/ AFP/ Getty Images)


Trận lụt đã phá huỷ hàng trăm ngôi nhà, càn quét các cầu đường và xa lộ cũng như làm hơn 2,000 chiếc xe di chuyển trên đường bị kẹt nhiều giờ đồng hồ. Ngoài ra, có nhiều người thiệt mạng trong trận lụt “lịch sử” này.


Giới hữu chức trách Houston đưa ra thông cáo cho biết tổng số người chết ở Houston do trận lụt đã nâng lên 6 người khi thi thể người thứ 6 của một người đàn ông gốc Mexico 31 tuổi đã được tìm thấy vào sáng sớm hôm Thứ Tư trong chiếc xe hơi đậu tại xa lộ 59 và phía tây Loop South.


Như vậy, với 6 người chết ở Houston, tổng số người chết ở Texas được cập nhật là 13 người. Số liệu người chết ở tiểu bang này có thể sẽ tăng thêm khi mà còn rất nhiều người đang mất tích.


Trận mưa lụt đã giáng một đòn nặng vào các hãng hàng không ở Texas, khiến các đường bay bị tắc nghẽn. Tại các phi trường ở Dallas và Houston, nơi được coi là bận rộn ở Mỹ, đã có hơn 200 chuyến bay đã bị huỷ hôm 27 tháng Năm vì lo ngại mưa to sẽ tiếp tục ở các khu vực, theo Reuter.









Các bản chỉ đường bị đổ nghiêng ngả tại downtown Houston. (Ảnh: Pat Sullivan/ AP Photo)


Cũng tại Dallas, cảnh sát ra thông cáo sơ tán những người dân đang sinh sống tại các khu vực gần con đập, nơi có nguy cơ sẽ bị phá vỡ do nước lụt dâng lên nhanh. Ở con đập Padera, cách khoảng 25 miles phía tây nam Dallas, nước đã lên đến đỉnh, buộc giới hữu trách phải khẩn cấp kêu gọi các cư dân ở vùng đất thấp di chuyển đến những vùng cao hơn.


Theo chương trình nghiên cứu về biến đổi khí hậu toàn cầu của Liên Bang Hoa Kỳ, loại mưa bão đang diễn ra ở Texas hiện nay xảy ra mỗi 20 năm 1 lần, và có xu hướng sẽ mạnh hơn ở các tiểu bang ở giữa nước Mỹ.


Vùng Cypress Creek sẽ tiếp tục bị ngập lụt ở một số nơi như Sharp Road, Hufmeister Road và Stubner-Airline Road sáng sớm hôm Thứ Tư và dự báo sẽ còn nâng cao, theo thông báo của Đài Khí Tượng Quốc Gia cho biết.


Ngoài ra, cũng theo Reuter, ngập lụt vẫn được cảnh báo sẽ tiếp tục cho đến chiều hôm Thứ Tư tại các quận Harris, Fort Bend và Montgomery. (N.A)

Disobeying orders, diplomat risked everything for love

Hà Giang/Người Việt



Among the thousands of April 1975 stories, perhaps the most unusual one is that of a U.S. diplomat who disobeyed his superiors’ orders, throwing all caution to the wind, to fly to Vietnam in the final days of the war to help evacuate his wife’s family.


This is the story of David Brown, who was working at the U.S. Embassy in Tokyo at the time. Brown flew to Saigon in the last days of April to find a way to take his wife’s family out of Vietnam, even though he was prohibited to do so by both the U.S. Embassy in Tokyo and the U.S. Embassy in Saigon.


Tuyet and David Brown did not expect they would be sharing this story 40 years later. And the memory is something truly magical. Events that were deeply buried come rolling back with just a simple reminder.


***


On the night of April 27, 1975, only after he was seated among the members of his wife’s family on the plane, did David Brown dare to believe that he was safely leaving Vietnam. Thinking of his wife, Tuyet, anxiously awaiting news in Yokohama, he took out a pen and paper and started to write vigorously, trying to record everything that happened since they parted at Tokyo’s Haneda Airport.


“Now, if I can find that 16-page manuscript, maybe I’ll see that some details of what I am recalling are incorrect. But there are also things that you will never forget,” he began.


Soon after David and his fiancée, Tuyet, were married in Saigon in June 1969, the U.S. State Department transferred him from Vietnam to Washington. From Washington, he was sent to Japan. Such transfers are routine for American foreign service officers. In early 1975, David and Tuyet were attending Japanese language school in Yokohama, and their first child was less than a year old, the situation in Vietnam became increasingly tense.









Tuyet Le Brown, (left) with her father (right) and five siblings in Tokyo, where her husband David Brown was stationed. This photo was taken outside the Imperial Palace. (Photo courtesy of David  and Tuyet Brown)


Tuning in the news from TV stations in Japan, they witnessed the defeat of the South Vietnamese army in different regions. Although letters from Tuyet’s family in Saigon conveyed her parents’ belief that the crisis would pass and Vietnam would stabilize, Tuyet and David knew that the information they had was more accurate. While watching the news at the dinner table one evening, they glanced at each other and realized the heart-wrenching and appalling truth: Saigon was falling into Communist hands.


“By mid-April, my wife and I were feverish with worry for her family,” David recalled. “Through a friend who worked at the U.S. Embassy in Tokyo, we learned that after a period of hesitation, the U.S. government was now seeking ways to bring families of the U.S. government employees and Vietnamese whose lives were considered to be at risk, out of Vietnam out as quickly as possible.”


From Tokyo to Saigon


The young couple feared that because Tuyet had married a U.S. Embassy political officer, her family in Vietnam would be in danger when the Communists took power. They worried also that her parents would not be financially able to arrange their evacuation in time.


“Tuyet yearned to return to Saigon to bring her parents, sisters and brothers out of Vietnam,” David said. “Her parents had written that they might not leave the country. They had only asked that we try to help her brothers and sisters evacuate.”


The two decided that David should be the one to go back. It would be hard for Tuyet to leave their infant daughter, and David would be better able to manage matters in Saigon.


Returning to Saigon then wasn’t a simple matter, however.


Continuing the story, Tuyet recalled that in the preceding weeks, David had many times been in touch with responsible people at the U.S. Embassy in Saigon and the State Department in Washington. He’d volunteered to go to Saigon to assist with the evacuation. He argued that as a fluent Vietnamese speaker, he could be especially useful there.


 “No,” came the official reply. “You are absolutely not to go to Vietnam.”


The State Department assured him that “your wife’s family is on the list of people who are to be evacuated.”


Superior officers at the U.S. Embassy in Tokyo ordered David “not to do anything reckless.” He was told not to even think of returning to Vietnam at a time when the U.S. government was making every effort to bring people out of that country. The young couple discussed the situation from every angle.


At last they decided. David bought a ticket for a one-way journey to Saigon. On the morning of April 23, 1975, disregarding the order of both embassies, they parted at Haneda Airport with brave and tender words. David recalled changing planes in Hong Kong.


“The Air Vietnam flight to Saigon was nearly empty. It was dusk when it landed at Tan Son Nhat. I found a taxi to take me into the city, where I hoped I’d find a place to sleep.”


Twice, David learned that the friends he sought had already been evacuated. Then, just before the curfew hour, he found Charlie Coulter at the latter’s apartment. It was a lucky meeting, because Coulter was one of those who were helping to evacuate Vietnamese from Saigon. It was a stealthy business, operating in defiance of U.S. Ambassador Graham Martin’s order.


“The truth was,” David said, “that Ambassador Martin knew that this ‘underground railroad’ was operating very actively. He pretended not to be aware so as to sustain the morale of the South Vietnamese leaders.”


Last Nights in Saigon


David recalled that he hardly slept at all during that first night in Saigon. He and Coulter rose early to go to the embassy’s refugee operations command center. It was in a house not far away in District 3. When they arrived, another friend of David’s, Lacy Wright, was busy issuing letters authorizing the evacuation to the United States of people on a long list. Other embassy staff, mostly Vietnamese, would take the letters to the people on the list, and instruct them that they would be picked up at a certain secret meeting place at a certain time.


Once he clearly understood this procedure, David resolved to find a Vietnamese friend whom he could ask to help him get in touch with Tuyet’s family. Someone pointed out a number of the motorbikes parked outside on the lawn.


“You can use one for as long as you need it,” the person said, explaining that they belonged to people who’d already been evacuated. With this encouragement, David took a motorbike and headed for Phu Nhuan. After a bit of searching, he found Sự, a friend who’d worked with David in the 3rd Corps area eight years earlier. Sự had been a best man when David and Tuyet married.


“Even though Sự and I had a close relationship,” David said, “asking him for help at a time when he himself was really busy trying to arrange for his own family to leave Saigon was a bit much, I thought. However, Sự immediately agreed to deliver a letter to Tuyet’s parents at their flat in the An Quang apartment block.”


As David paused for a drink of water, Tuyet continued their story:


“Before David left Japan, I’d told him that under no circumstances should he himself go to find my parents. If he’d shown up there, but my parents continued to insist that they would not leave Vietnam, and if their neighbors at An Quang knew they had close ties to an American, it would surely have been dangerous for them afterward.”


“I had given David a letter,” Tuyet explained. “I asked him to guard it carefully. I wrote in the letter that David had come back to Vietnam to help those in the family who wished to evacuate, that they should prepare to go immediately, for there was no more time to hesitate! The letter said that after Saigon fell, life in Vietnam would be very difficult for everyone who had a close connection to Americans, like my family. The letter also entreated my father to allow my brothers and sisters to go, if he and my mother were determined to stay in Vietnam.”









The family of Tuyet Le Brown in San Francisco, California after they resettled in 1978. (Photo courtesy of David and Tuyet Brown)



A few hours after his friend left to deliver Tuyet’s letter on the afternoon of April 24, Tuyet’s older sister, Lien, came to find David at the embassy evacuation command center. She was in something of a panic, David recalled. Her father and mother had agreed to evacuate, Lien said. The whole family would go except for their grandmother. Having delivered this news, Lien hesitantly asked David if it might be possible for him also to arrange for her husband’s family to leave with them.


Of course, there was only one answer David could give in that circumstance. Lien updated him on her situation: The airbase at Phu Cat in Binh Dinh province, where her husband was stationed, had been captured at the end of March. Her husband Thao was missing. Lien with her two toddlers had, with a great deal of difficulties, found their way, together with her husband’s family, from Danang to Saigon.


“Lien said that she’d come to meet me because her husband’s family had not found any way to leave Vietnam. And so, instead of asking for 12 letters of permission for family members to travel to the U.S., I needed to ask for 20!”


David continued that he had gone to the embassy evacuation team to ask if the extra eight relatives might go too. “It’s not a problem, we can take care of it,” said the officers working on the evacuation. They told him that two vans would pick up all the relatives at a certain place and time.


“I emphasized to Lien,” David said, “that no one was allowed more than one small suitcase, so everyone should use that space to carry things that could not be replaced in the U.S., for example, personal papers and photographs.”


After everything was arranged, David passed a couple of hours wandering the streets he knew well, thinking sadly of the changes that were sure to come. Saigon traffic seemed no different; the sidewalks were still zx full of pedestrians as ever. There was no sign of panic.


“Perhaps I knew of the hopelessness of the situation better than most of the people in the city,” David said. “But it is also possible that they were resigned to whatever was going to happen, as long as this endless war would be over.”


The pickup went smoothly at about noon on April 25.


“We were crammed into two vans with darkened windows. Our hearts were pounding when the vans halted at the Tan Son Nhut Airport gate, but after a perfunctory inspection, we were allowed to enter a big, fenced compound.


“We were taken to an eight-lane bowling alley in the US military advisory compound,” David continued. “It was already two-thirds full with refugees wearing worried expressions. (Ferdinand) Marcos, the Philippines president, had just issued an order forbidding the U.S. to evacuate people to Clark Field and Subic Bay. The airlift was halted until new destinations could be arranged. That night, we all slept right on a lane of the bowling alley.”


“The next morning, April 26, nothing had changed. To kill time, some of us found a way to unstop the overburdened toilets. Most people rested uneasily, however. It was as though time had stopped. At last, in the afternoon, the line began to move. They called the number of our group at about 9 p.m. The temporary evacuation permits were collected. My American passport was examined carefully, and then we were led out to buses that took us out to the flight line.”


“The hour to leave Vietnam had come.”


Leaving Vietnam


The airport was totally dark except that in the distance, a group of vans was delivering passengers and baggage to a brightly lit Boeing 747 with Air France markings. People whispered together that the 747 was evacuating President Thieu and South Vietnam’s gold reserves. Many years later, the rumor that many tons of gold left with Thieu turned out to be untrue.


A bit further off, a four engine C-141 waited. Its rear door was wide open. The plane was empty; every seat had been removed. David’s family climbed up into the belly of the plane together with about 200 other refugees.


“We were seated in rows about 20 abreast, and told to hold tightly to straps that crossed the floor of the airplane. Some airmen checked that everyone was seated properly, and then seated themselves on either side of the open cargo door. Just a few moments later, with all the lights extinguished, the C-141 taxied out to the runway. Tuyet’s little sister Tung, 14, and her youngest brother, Phuong, only 9, were on either side of me, each tightly gripping an arm.


And then the plane took off, climbing as steeply and as rapidly as possible to avoid becoming a tasty target for the North Vietnamese soldiers that might be digging in outside the airport.”


An hour later, when he could no longer bear sitting cross-legged on the deck of the C-141, David stood up and exercised his prerogative as the only blue-eyed passenger. An airman told him that the plane was headed for Guam.


“He gave me a nice place to sit, and I took out my pen and started a letter to Tuyet, relating all the details of what had happened since we parted at Haneda a few days earlier.”


On the morning of April 27, the airplane that evacuated David and his wife’s family from Vietnam landed at Anderson Air Force Base in Guam, the place from where the B-52 bombers had flown countless missions over Vietnam’s jungles. More waiting followed. A few hours later, David was allowed to make a phone call. When the phone rang at his little house in Yokohama — choked with emotion himself — he heard Tuyet’s happy sobs.


That afternoon, David and Tuyet’s family members were moved to the Orote Point camp, where a forest of tents was being erected. That’s where just a few days later, the refugees learned that Saigon had fallen.


Meanwhile, the U.S. government had issued orders for David to fly to Tokyo, bringing along Tuyet’s parents and her siblings under 21. Including David, that was eight people, while the rest of Tuyet’s family was taken to Camp Pendleton in Southern California. The little house in Yokohama was totally, warmly full.


As the airplane approached Tokyo, David at last had time to reflect on his disobedience. By ignoring orders not to go to Vietnam, surely he would be severely reprimanded. But, as it turned out, both officially and personally, the staff of the embassy from James Hodgson, ambassador to Japan, on down greeted him warmly and gave their full support.


“To this day, I can never forget the friendly gestures, the expressions of kindness from my co-workers and their families during those turbulent days,” David confided. “After I completed my Japanese culture and language training — and I have to admit that it was a struggle to finish all the requirements — Tuyet and I traveled with her family members to the U.S. to be reunited in San Francisco with those who had gone ahead. That was where everyone began their life as a refugee in the USA.”


And with that, the story of the evacuation of Tuyet Brown’s family ends.


————–


To contact the writer: [email protected]

Woman gets probation for vandalizing Buddhist statue


Sean Emery/OC Register


A Santa Ana woman who vandalized a statue at a local Buddhist temple more than a half-dozen times was sentenced to probation.








Surveillance video shows Pham tossing a bottle at temple statue. (Photo: Courtesy Santa Ana Police Department)


Trang Thu Pham,45, was caught on surveillance video vandalizing a large statue of Buddha at the Huong Tich Buddhist Temple in Santa Ana. The statue, which stands more than 6 feet tall, was targeted at least eight times from Dec. 16 to Jan. 6. In the footage, Pham can be seen throwing objects like beer bottles at the statue.








News coverage led cops to Trang Thu Pham. (Photo: Courtesy Santa Ana Police Department)


A vigilant security officer from Costa Mesa recognized her from pictures and video footage that police released to the media and notified authorities.

Pham said she didn’t have a personal vendetta against the Buddhist religion but was driven to vandalism through conflict with a person associated with the temple.

To read more, click here:
http://www.ocregister.com/articles/statue-663148-pham-buddhist.html

U.S. gives FIFA a “red card” and indicts over 14 soccer officials

Michael E. Miller and Fred Barbash/Washington Post


14 world soccer figures, including officials of FIFA were indicted on 47 counts including bribery, money laundering, racketeering and fraud. Four of those accused, including two sports marketing companies, have already pleaded guilty and are likely to be cooperating.








U.S. Attorney General Loretta Lynch announces an indictment against nine FIFAofficials and five corporate executives for racketeering, conspiracy and corruption. (Photo: Mark Lennihan/AP)


FIFA is the French abbreviation for the international Federation of Football Associations, the global governing body for soccer. U.S Attorney General Loretta Lynch claimed that bribery and corruption had dogged football’s world governing body at the highest levels for at least 24 years.








This is a combo of six file photos of the soccer officials involved in the US Justice Department of investigation into corruption at FIFA. (Photo: AP Photo/File)


Roceedings against unidentified individuals on suspicion of mismanagement and money laundering related to the awarding of rights to host the 2018 World Cup in Russia and the 2022 World Cup in Qatar.

But FIFA said those awards to Qatar and Russia would not be reconsidered. Corruption has long been rumored among FIFA officials but no charges have been brought up until now.

The soccer officials charged are Eduardo Li, Jeffrey Webb, Eugenio Figueredo, Jack Warner, Julio Rocha, Costas Takkas, Rafael Esquivel, Jose Maria Marin and Nicolas Leoz.


To read more, click here:
http://www.washingtonpost.com/news/morning-mix/wp/2015/05/27/top-fifa-officials-arrested-in-international-soccer-corruption-investigation-according-to-reports/

Cướp vào nhà, trói người, phá két sắt cướp tiền tỷ

CAO BẰNG (NV) Giữa ban ngày ở thành phố, toán cướp táo tợn đã đột nhập vào nhà dân, bắt trói những người trong nhà rồi đục két cướp tiền như chốn không người.








Ngôi nhà xảy ra vụ cướp táo tợn. (Hình: Dân Trí)


Dân Trí dẫn tin từ công an thành phố Cao Bằng cho biết, vào khoảng 8 giờ 30 sáng 26 tháng 5, tại đường Lý Tự Trọng, phường Hợp Giang, đã xảy ra một vụ cướp táo tợn. Kẻ cướp đã đột nhập nhà dân, trói chủ nhà, phá két sắt cướp đi số tài sản giá trị lớn.


Vào thời điểm trên, người dân sống quanh khu vực này nhìn thấy trước cửa số nhà 43 một chiếc xe Wave cũ dựng ở cửa, khoảng một tiếng sau thì nghe tiếng bà Nguyễn Thị Ngân, chủ nhà kêu cứu. Khi hàng xóm chạy sang phát hiện bà Ngân cùng người giúp việc đang bị trói và cho biết gia đình vừa bị cướp đột nhập, nhờ người dân gọi điện báo công an.


Tại hiện trường, chiếc két sắt đã bị phá bằng máy khò gió đá. Bọn cướp đã lấy đi toàn bộ tài sản trong két mà theo anh Phạm Văn Diện, con trai bà Ngân cho biết: “Trị giá số tài sản bị cướp khoảng hơn 1 tỷ đồng.” Khi xảy ra vụ cướp, vợ chồng anh Diện đi làm vắng chỉ còn bà Ngân (mẹ anh) và đứa con nhỏ của vợ chồng anh ở nhà cùng một người giúp việc.


Theo lời khai của nạn nhân và hình ảnh từ camera an ninh của nhà hàng Thu Tường ở gần nhà bà Ngân ghi lại, tại hiện trường xảy ra vụ việc có sự xuất hiện của 2 kẻ lạ mặt đi trên xe máy Wave màu xanh đen, đội mũ bảo hiểm và bịt mặt. Hiện công an thành phố Cao Bằng đang tổ chức khám nghiệm hiện trường để điều tra, làm rõ vụ việc. (Tr.N)

Sở Giáo Dục Quảng Nam ăn chặn tiền của học sinh và giáo viên

QUẢNG NAM (NV) Ðược khen thưởng vì có thành tích tốt nhưng hàng loạt trung tâm giáo dục và hướng nghiệp cùng nhiều học sinh chỉ nhận được giấy khen, còn tiền thì… kiện mới có.


Theo VNExpress, ngày 27 tháng 5, ông Trương Quang Thạnh, nguyên giám đốc Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên và Hướng Nghiệp huyện Núi Thành, cho biết sau khi lên Sở Giáo Dục và Ðào Tạo Quảng Nam nhận số tiền thưởng 500,000 đồng, ông đã chia cho 5 giáo viên đang làm việc tại trung tâm.








Các thủ khoa đại học 2012 của tỉnh Quảng Nam. (Hình: Báo Quảng Nam)


Tương tự, ông Ðặng Trung Phương, giám đốc Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên huyện Ðiện Bàn và ông Võ Văn Ba, giám đốc Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên Hội An, cũng xác nhận, cách đây vài ngày nhân viên kế toán của sở gọi điện mời vào nhận tiền thưởng năm học 2011-2012.


Theo ông Thạnh, ông về hưu được một năm nhưng cách đây vài ngày mới nhận được điện thoại từ nhân viên thủ quỹ của Phòng Tài Chính-Kế Hoạch của Sở Giáo Dục mời lên nhận tiền thưởng.


Theo giải thích của sở, đây là số tiền thưởng dành cho trung tâm vì hoàn thành tốt nhiệm vụ trong năm học 2011-2012. Số tiền này đáng lẽ được kèm theo giấy khen, nhưng trong năm đó trung tâm của ông Thạnh chỉ nhận được giấy khen, còn số tiền thì bị “thất lạc.”


Trước đó, hàng trăm học sinh giỏi của tỉnh cũng bị nhà trường và Sở Giáo Dục “treo” tiền thưởng trong nhiều năm liền. Theo đó, từ năm 2010 đến 2013, trường trung học phổ thông chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm, thành phố Tam Kỳ có 182 học sinh được nhận phần thưởng qua các kỳ thi cấp tỉnh, quốc gia với số tiền 77 triệu đồng nhưng không em nào được nhận.


Thế nhưng tin cho hay, đến đầu năm 2015 khi nhiều phụ huynh tố cáo với công an, thì thủ quỹ của trường này mới nhờ giáo viên chủ nhiệm cũ của từng em liên hệ để chi trả. Song do phần lớn các em đã đi học xa, nên hiện nay một số học sinh được giải vẫn chưa nhận được tiền. Hiện công an Quảng Nam đang điều tra. (Tr.N)

Hải quân Việt Nam- Philippines uống bia, hát karaoke ở Trường Sa


MANILA (NV) .-
Lính hải quân Việt Nam và hải quân Philippines cùng nhau uống bia, đấu thể thao, hát karaoke trong một dịp “giao lưu” tại Trường Sa vào hôm Thứ Tư, 27 tháng 5, 2015.









Lính Philippines và Việt Nam kéo co trong ngày “giao lưu” giữa lực lượng hải quân hai nước trấn giữ trên đảo Song Tử Tây  ngày 8/6/2014. (Hình: Infonet)


Đây là lần thứ hai lực lượng hải quân của hai nước trấn giữ tại khu vực quần đảo Trường Sa họp mặt có tính thân hữu dù hai nước đều tuyên bố chủ quyền chồng lấn tại khu vực quần đảo Trường Sa.


Lần họp mặt năm nay diễn ra tại đảo Song Tử Đông (tên quốc tế là Northeast  Cay) hiện đang do Philippines trấn giữ. Lần họp năm ngoái ngày 8 thang 6, 2014 diễn ra tại đảo Song Tử Tây (Southwest Cay) do Việt Nam trấn giữ. Hai đảo chỉ cách nhau chưa tới 3km.


“Đó là cuộc giao lưu để gây dựng lòng tin giữa lực lượng hải quân hai nước”. Phó đô đốc Alexander Lopez, tư lệnh lực lượng Hải quân Philippines khu vực Trường Sa nói với hãng thông tấn AFP. “Sự giao tiếp giữa người với người như thế này có chủ đích mang đến tình bạn và sự hiểu biết.”


Theo các hãng thông tấn AFP và Reuters, một tàu chở quân của Việt Nam đưa 60 lính và sĩ quan hải quân CSVN tới “giao lưu” với khoảng 100 lính và sĩ quan hải quân Philippines đóng ở đảo Song Tử Đông ngày 27 tháng 5, 2015 gồm cả kéo co, đấu bóng chuyền, bóng đá, hát karaoke, uống bia. 


Đảo Song Tử Đông chỉ cách bãi đá ngầm Su Bi nay đang được Trung Quốc bồi đắp thành đảo nhân tạo khoảng 70km. Cả Việt Nam và Philippines đều phản đối hành động ngang ngược thay đổi nguyên trạng khu vực Trường Sa đang là điểm nóng tranh chấp giữa nhiều nước trong khu vực, đặc biệt là giữa Việt Nam, Philippines với Trung Quốc.


Tuần trước, Hoa Kỳ cho tàu chiến và máy bay P-8 Poseidon tuần tra khu vực quanh các đảo nhân tạo mà Trung Quốc đang gấp rút biến thành các căn cứ quân sự lớn trên biển. Hải quân Trung Quốc ra lệnh xua đuổi nhưng các tàu và phi cơ của Hoa Kỳ vẫn đi trên hành trình mà họ nói trong vùng biển và không phận quốc tế.


Tờ Hoàn Cầu Thời Báo, phó bản anh ngữ của tờ Nhân Dân Nhật Báo tại Bắc Kinh đe dọa rằng nếu Mỹ không thay đổi cách hành sử thì chiến tranh giữa hai nước khó tránh. Trước đó, phi cơ tuần thám của Philippines bay ở khu vực này cũng đã bị lực lượng Trung Quốc quấy rối và đe dọa.


Ngày 20 tháng 4, 2015 vừa qua, báo South China Morning Post cho hay Tổng Thống Philippines, ông Benigno Aquino, loan báo rằng chính Hà Nội, chứ không phải Manila, là bên đã đưa ra đề nghị thành lập một đối tác chiến lược mới, mà hai nước đang thương thuyết để chống lại ‘các hoạt động cải tạo đất và xây đảo nhân tạo quy mô của Trung Quốc trong Biển Đông’.


Sau một số cuộc họp cấp cao giữa hai bên, một đường dây điện thoại nóng đã được thiết lập để thông tin lẫn nhau về các hoạt động ở khu vực, gồm cả việc giúp đỡ ngư dân hai nước gặp nạn trên biển. Nguồn tin quân sự Philippines nói rằng hai bên đang xúc tiến các cuộc đàm phán về tập trận chung hải quân trên biển. Phía Việt Nam, theo AFP, một viên chức quốc phòng nói rằng “phía Philippines có nêu ý kiến như thế thời gian trước đây nhưng chưa có gì được ấn định”. (TN)

Lâm Ðồng: Hàng trăm tiểu thương phản đối dời chợ

LÂM ÐỒNG (NV)Hàng trăm tiểu thương bãi thị kéo nhau đến trụ sở huyện phản đối việc di dời chợ Di Linh cũ, buộc chủ tịch huyện phải tổ chức cho tiểu thương và chủ đầu tư chợ mới đối thoại.








Các tiểu thương tập trung phản đối dời chợ Di Linh cũ. (Hình: Tuổi Trẻ)


Báo Tuổi Trẻ đưa tin, ngày 26 tháng 5, khoảng 100 tiểu thương chợ Di Linh cũ, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Ðồng, kéo tới trụ sở huyện bãi thị không đồng tình thời gian di dời chợ cũ sang chợ mới cách đó khoảng 500 mét.


Theo ông Nguyễn Văn Sơn (51 tuổi) tiểu thương bán mỹ phẩm cho biết, năm 2005 và 2006, chợ Di Linh liên tiếp cháy lớn, hầu hết tiểu thương bị thiệt hại nặng. Năm 2010, huyện Di Linh có chủ trương xây chợ mới và hiện ngôi chợ này đã sắp hoàn thành.


Tuy nhiên, ngày 25 tháng 5, lãnh đạo huyện và chủ đầu tư chợ mới là công ty Long Việt ra thông báo thời gian đóng cửa chợ cũ đột ngột khiến các tiểu thương không kịp trở tay.


“Giá thuê kiốt, quầy sạp tại chợ mới quá cao, chúng tôi lại vay ngân hàng cả trăm triệu đồng để duy trì kinh doanh trong hai đợt cháy chợ nên không còn đủ tiền mua quầy, kiốt tại chợ mới,” ông Sơn nói.


Theo ông Dương Ngọc Vũ, (55 tuổi), bán giày dép thì, với giá quầy sạp ở vị trí 2 mặt tiền là 244.6 triệu/mét vuông và thuê trong vòng 50 năm, số tiền để thuê 10m2 xấp xỉ gần 2.5 tỷ đồng là quá cao. Việc công ty bán và lấy vốn trong vòng 2 tháng, không phân kỳ trả vốn, giãn thời gian khiến nhiều tiểu thương không kham nổi.


Nhằm giảm dư luận và xoa dịu tiểu thương, ông Trần Ðình Sỹ, chủ tịch huyện Di Linh, thông báo ngày 29 tháng 5, huyện sẽ tổ chức đối thoại giữa tiểu thương và chủ đầu tư để giải quyết vấn đề về giá, thời gian di dời chợ cũ. (Tr.N)

Nam Hàn, Mỹ, Nhật cùng thảo luận nguyên tử Bắc Hàn

SEOUL, Nam Hàn (AFP)Các đặc sứ Nam Hàn, Nhật và Mỹ gặp nhau tại Seoul hôm Thứ Tư để tìm cách tái lập cuộc thương thảo sáu bên nhằm giải quyết vấn đề nguyên tử của Bắc Hàn.


Nỗ lực này diễn ra trong khi chính quyền Bình Nhưỡng liên tục loan báo các tiến triển trong việc chế tạo võ khí tối tân của họ, gần đây nhất là công bố khả năng chế đầu đạn nguyên tử đặt trên hỏa tiễn tầm xa.








Ðặc Sứ Nam Hàn Hwang Joon-kook. (Hình: AP/Photo)


Ðặc sứ Nam Hàn Hwang Joon-kook, cho hay cuộc thảo luận hôm Thứ Tư xảy ra đúng lúc vì đang có “tình trạng căng thẳng và không rõ ràng” ở Bắc Hàn.


“Chúng ta đang phải đối diện với sự tiếp tục phát triển võ khí nguyên tử và hỏa tiễn của Bắc Hàn,” ông Hwang cho hay trước khi gặp ông Sung Kim, đặc sứ Mỹ về chính sách đối với Bắc Hàn, và Junichi Ihara, đặc sứ Nhật.


Tuần qua Bắc Hàn công bố các hình ảnh nói rằng đã phóng được hỏa tiễn từ tàu ngầm (SLBM). Tuy nhiên, các chuyên gia võ khí quốc tế cho rằng đây là sự phóng đại và Bắc Hàn vẫn còn cần nhiều năm mới đạt được khả năng này.


Trong khi đó, các câu hỏi về sự ổn định trong khả năng lãnh đạo của Kim Chính Vân lại được đưa ra sau khi tình báo Nam Hàn cho biết bộ trưởng quốc phòng của Bắc Hàn vừa bị thanh trừng và nhiều phần bị xử tử.


Sau cuộc họp hôm Thứ Tư ở Seoul, các đặc sứ Mỹ và Nam Hàn sẽ sang Bắc Kinh để họp với Ðặc Sứ Trung Quốc Wu Dawei.


Hiện đang có nhiều áp lực đối với cộng đồng quốc tế là phải tìm một giải pháp mới với Bắc Hàn, vốn vẫn tiếp tục chương trình nghiên cứu và chế tạo võ khí nguyên tử và hỏa tiễn dù rằng có nhiều biện pháp trừng phạt của Liên Hiệp Quốc và bị cô lập ngoại giao. (V.Giang)

Cảnh sát Los Angeles giết người bỏ trốn, bị bắt ở Mexico

MEXICO CITY, Mexico (AP)Một cảnh sát viên Los Angeles giết người do cãi cọ ở quán rượu rồi sau đó bỏ trốn, đã bị bắt hôm Thứ Ba ở vùng Bắc Mexico, theo giới hữu trách.


Henry Solis, 27 tuổi, bị lực lượng an ninh ở Ciudad Juarez, nhìn sang thành phố El Paso, tiểu bang Texas, bắt giữ.








Nghi can Henry Solis. (Hình: AP/Photo)


Bộ trưởng Tư Pháp tiểu bang Chihuahua cho hay đây là nhờ sự cộng tác, trao đổi tin tức với giới chức Mỹ cũng như các tin tình báo địa phương.


“Henry Solis sẽ bị giữ tại cơ quan di trú Mexico để chờ bị dẫn độ về Mỹ,” nguồn tin này cho hay.


Solis bị truy lùng trong vụ nổ súng làm thiệt mạng Salome Rodriguez, 23 tuổi, bên ngoài một quán rượu ở thành phố Pomona, tiểu bang California hôm 13 Tháng Ba. Các điều tra viên cho hay hai bên có xích mích bên trong quán.


Cha của Solis sau đó bị bắt và bị truy tố trước tòa án liên bang ở El Paso về tội nói dối với nhân viên FBI để giúp con mình trốn sang Mexico.


Theo báo cáo của FBI, vào ngày xảy ra vụ nổ súng Solis gọi cho cha của mình và ngay sau đó người cha vội vã rời nhà.


Khi bị FBI thẩm vấn, ông Victor Solis nói con trai mình cho hay có 5 ngày nghỉ nên muốn đi El Paso, cách đó khoảng 1,000 km.


Ông Victor Solis nói lái xe đưa con tới El Paso, thả ở trạm xe buýt rồi đi về.


Ông nói sau đó sang Mexico một mình, nhưng hình ảnh từ máy thu hình an ninh cho thấy hai cha con cùng vượt biên giới sang Mexico.


Một giải thưởng trị giá $25,000 đã được đưa ra cho ai cung cấp tin tức đưa đến việc bắt giữ Henry Solis. (V.Giang)

Thơ Quán Niệm Lục Tổ Huệ Năng


Viên Linh


Do một sự tình cờ, khoảng hai năm đầu sau 1975 ở vùng Tam Biên thủ đô, trong hộp thư của tôi có một cuốn sách về Lục Tổ Huệ Năng (638-713), có người đã dùng tôi làm trạm chuyển thư, nhờ chuyển cuốn sách cho một người mộ đạo hay lui tới chùa Giác Hoàng trên đường 16 th N.W. Washington, D.C., lúc ấy do hai ông Thích Giác Ðức và Thích Thanh Ðạm trụ trì, tôi làm thư ký tòa soạn tờ Ðuốc Tuệ của Công Ðồng Phật Giáo địa phương. Cuốn sách quá hấp dẫn, thuật lại cuộc trốn chạy về Nam của nhà tu miền Lĩnh Nam vừa được Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn trao cho Y, Bát chưởng môn, phía sau là mấy ác tăng đang rượt đuổi, quyết chiếm lại báu vật truyền thừa, và diệt cho được kẻ hôm trước đã dám làm một bài kệ áp đảo Thần Tú, ngôi sao sáng của Thiền Môn phương Bắc.








Nhục thân Lục tổ Huệ Năng tại chùa Hoa Nam ở Quảng Ðông. (Ảnh trên nhiều mạng lưới Phật học)


Bài kệ của Huệ Năng:

Bồ đề bản vô thụ,
Minh kính diệc phi đài
Bản lai vô nhất vật,
Hà xứ nhá trần ai?


Bồ đề vốn không cây,
Gương sáng nào phải đài
Xưa rày không một vật,
Bụi dính làm sao đây?


Bài kệ của Thần Tú:
Thân thị Bồ đề thụ,
Tâm như minh cảnh đài,
Thời thời cần phất thức,
Vật sử nhạ trần ai.


(Nghĩa là Thân như cây bồ đề, Tâm tựa đài gương sáng, Luôn luôn cần lau chùi, Ðừng để dính bụi trần. Huệ Năng không đọc được chữ Hán, đã phải nhờ bạn tăng đọc và sau đó, nhờ viết bài kệ của mình bên bài kệ của Thần Tú, một cao tăng của Hoàng Nhẫn.)

Trong các huyền thoại tu tập ở phương Ðông, huyền thoại Huệ Năng thế kỷ thứ bảy đáng kể là đặc sắc nhất, đó là một cuộc đấu trí kỳ tuyệt trong bối cảnh vẻ ngoài là một ngôi chùa Ðông Thiên, huyện Huỳnh Mai, rộng lớn uy nghi, nơi hơn 700 tăng sĩ sinh hoạt, kẻ đốn cây chặt củi, người giã gạo xay lúa, ở bậc cao nhất xung quanh phương trượng trước tượng Phật đèn nhang thanh tịnh thì thầy trò hỏi sách, làm thơ, khai kinh, giải kệ, nói đến cứu cánh giải thoát cao viễn, ý nghĩa đắc đạo, đạt đạo của lòng Từ, và trong đó có những con người thực sự không ai có thể ngờ, với lòng sân si nhân thế không khác gì nhân thế dưới kia, trong bể khổ. Từ đó đến nay, không biết bao nhiêu truyền tích kể đi kể lại huyền thoại này. Tóm tắt ít dòng thì Huệ Năng vốn họ Lư, người Lĩnh Nam, đã tự tìm đến ngôi chùa lớn thôn Huỳnh Mai của Hoàng Nhẫn xin vào học Phật, dù không biết đọc hay viết chữ Hán. Trong cuộc đối đáp ban đầu với vị đại sư trụ trì, tăng sĩ tu học đã ngoài hai mươi tuổi, đã nói ra được ý mình một cách triệt để, nên được thu nhận.

– Khi Huệ Năng ra mắt sư trụ trì chùa Ðông Thiên, sư hỏi đại ý “người từ đâu đến, muốn cầu xin việc gì?” Huệ Năng trả lời không cầu xin việc gì cả, “chỉ xin làm Phật.” Sư hạch rằng người xứ Lĩnh Nam man di thì làm Phật thế nào được? Câu trả lời của Huệ Năng đã khiến sư Hoàng Nhẫn đổi ý: “Con người Nam Bắc tuy có khác nhau, nhưng Phật tính không có Nam Bắc. Thân đại sư với thân Huệ Năng có khác nhau, nhưng Phật tính không có gì khác biệt.” Huệ Năng được nhận vào chùa Ðông Thiên, nhưng suốt tám tháng chỉ được sai đi chặt củi, giã gạo, cho đến khi làm bài kệ áp đảo được Thần Tú, và ngay đêm đó được Ngũ Tổ trao Y Bát, nhưng ngài cũng bảo hãy rời chùa ngay kẻo mất mạng; ngôi thứ danh vọng trong chốn chùa chiền đang ngùn ngụt sát khí.

– Cuộc rượt đuổi có cả trăm người tham dự; Huệ Năng theo đường sông chạy về phương Nam, thực tế là không chạy thoát. Trong đám cao tăng có một tướng lãnh là Huệ Minh đã bắt được Lục Tổ, nhưng sau cuộc đối đáp, Huệ Minh giác ngộ, xin làm đồ đệ Lục Tổ, và để Lục Tổ tiếp tục trở về cố hương, khai sáng dòng Thiền phương Nam.

– Lục Tổ Huệ Năng lập chùa trong vùng sơn khê non xanh nước biếc, dòng suối trong veo rào rạt còn chảy mãi trong muôn vạn đời người, đó là dòng Tào Khê ở Tân Châu. Nhiều người trong chúng ta còn nhớ câu ca dao “Tào Khê nước chảy hãy còn trơ trơ.”


Nhiều đêm mộng thấy Tân Châu
Ðêm qua mơ đến dưới lầu cố sơn
Lầu nghiêng mái nẻo sông buồn
Cỗ chuông không tiếng kêu dồn tử âm.


Chuông kêu tiếng bạn thầm thầm
Tiếng muông ngất ngất tiếng cầm mong manh
Tiếng nhân quỷ tiếng thần linh
Tiếng loài dương thú loanh quanh phố phường.
Mười người chín mất quê hương
Dắt nhau hơ hãi trên đường tử vong
Về đâu nhân loại như rừng
Bốn chân trên đất một hồn ngoài ta.
(Viên Linh, Giòng Ðục, Thủy Mộ Quan, tr. 104, 1982)


Nhớ Lục Tổ Huệ Năng cũng là nhớ câu thành ngữ “Nam Ðốn Bắc Tiệm:” Thiền Tôn phương Nam chủ trương người ta tu Phật, giác ngộ Phật nếu có cơ duyên, chỉ một cái chớp nhoáng là giác ngộ, thành thử chúng ta đọc sách Phật, hay gặp câu “thoát nhiên giác ngộ.” Còn Thiền Tôn Trung Hoa chủ trương phải tu tập kiên trì, từ từ, tiềm tiệm, lâu sau mới có cơ giác ngộ. Chính từ chủ trương của Lục Tổ Huệ Năng mà có sự khác biệt trên. “Huệ Năng chủ trương phép tu ‘đốn ngộ,’ nghĩa là giác ngộ, nhanh, tức khắc, bằng cách chỉ thẳng vào tâm người, nhận thức được chân tính vốn sáng suốt, vắng lặng mà thành Phật, chứ không phải qua lập luận dài dòng, dùi mài văn tự trong thời gian dài. Phái Thiền Ðốn Ngộ không những phát triển ở Trung Hoa mà nó còn chia thành nhiều chi nhánh, du nhập vào các nước khác như Nhật, Triều Tiên và Việt Nam.” (1)

– Hoài niệm Huệ Năng cũng là nhớ đó là “vị tổ cuối cùng được truyền Y Bát. Từ Huệ Năng trở đi, chỉ truyền pháp chứ không truyền Y Bát nữa. Tục truyền Y (cái áo của nhà sư) và Bát (cái bát ăn) đó là của chính Phật Thích Ca và do Bồ Ðề Ðạt Ma đem từ Ấn Ðộ sang. Ðến đời mình, Huệ Năng cho rằng hai báu vật là Y và Bát của Phật không nên truyền cho ai nữa, vì dễ trở thành vật tranh chấp và kích thích lòng tham danh lợi của những kẻ tuy thân đi tu mà lòng chưa thoát cảnh trần tục.” (1)

– Hoài niệm Huệ Năng là nhớ rằng câu kinh mà ngài vừa nghe qua đã đốn ngộ (thoát nhiên giác ngộ) là câu “Ưng vô sở trú nhi sinh kỳ tâm” trong Kinh Kim Cương. Giải nghĩa được câu này “đúng như con người mình hiểu” không phải là dễ. Có thể hiểu từng lúc khác nhau, mà cũng có thể biết mà không hiểu hay ngược lại. Tâm rõ ràng là tâm thức. Tâm thức chết là bỏ đi, vứt đi. Nghe người ta nói mà gật đầu ầm ừ là tâm thức chết. Vút đi. Vậy thế nào là tâm thức sống? Ðó là tâm thức vận hành không trụ vào đâu cả, vào cái gì cả. Vô sở trú là không trú vào cái gì cả. Khi nào tâm ta không trú ở đâu cả thì tâm thức ta mới sinh, mới sống. Trong Bảo Ðàn Kinh, cuốn kinh căn bản cho những người tìm học Lục Tổ, nói rõ lắm về sự quán không, không quán, không ở đâu, không chú trọng cái gì nhất định.


Ðêm mơ thấy Huệ Năng về Nam

Mưa thôi tầm tã lúc ban mai
Nắng hửng ngoài khung cửa gọi người
Cóc chết ba năm về núi cũ
Thuyền đi kiếp trước thấy đâu đây.


Mang mang sóng vỗ bờ sông Hậu
Vần vũ mây lùa góc núi Tây (2)
Người chết thành ma, ma hóa mị (3)
Ta sinh tần thủy, trụ thiên nhai.


Chợt thấy đêm qua trời Ngũ Lĩnh
Bóng người gom củi đốt thang cây (4)
Ngồi không thành Phật, thôi đi nhé
Bơi với kình ngư vượt hải đài.


Thắp lửa trong tâm về thạch động
Gặp ta đối vách tưởng là ai.
Mới hay mưa đã thôi tầm tã
Nắng hửng trong hang đá đợi người.


(Viết trong mùa Phật Ðản, 30.4.2015)




Chú thích:

1. Lục Tổ Ðại Sư, Từ Ðiển Phật Học Việt Nam, Thích Minh Châu, kỳ in 1991, Hà Nội.
2. Vùng Cửu Long Thất Sơn và Tây Ninh.
3. Theo Bồ Tùng Linh trong Liêu Trai.
4. Giàn cây hỏa táng. 

Rúng động đường dây sex tour ‘đi khách’ giá $20,000 bị bắt

SÀI GÒN (NV) – Từ việc bắt quả tang 2 cặp mua bán dâm tại khách sạn ở Quảng Ninh, công an đã phá đường dây “sex tour” có giá bán dâm lên đến $20,000, gây chấn động dư luận tại Việt Nam.

Truyền thông Việt Nam loan tin, ngày 27 tháng 5, cơ quan cảnh sát điều tra, Bộ Công An đã tiến hành lệnh bắt khẩn cấp Ðoàn Ngọc Minh (25 tuổi) ở phường 7, quận 5, thành phố Sài Gòn để điều tra về tội “môi giới mại dâm.”

Tờ Người Lao Ðộng cho hay, ông Minh là một mắt xích quan trọng trong đường dây mại dâm cao cấp liên quan đến nhiều người mẫu, người đẹp trong các cuộc thi sắc đẹp tại Hà Nội, Sài Gòn và Quảng Ninh vừa bị Cục Cảnh Sát Ðiều Tra Tội Phạm về Trật Tự Xã Hội triệt phá.

Trước đó, vào tối ngày 25 tháng 5, tại khách sạn Hạ Long Plaza, tỉnh Quảng Ninh, công an đã bắt quả tang 2 cặp nam-nữ đang “hành lạc” tại phòng 805 và 817. Cùng thời điểm này, công an đã bắt giữ “má mì” Trần Ðức Thùy Liên (30 tuổi), trú phường Hiệp Thành, quận 12, thành phố Sài Gòn, khi đang chờ nhận tiền của khách mua dâm tại sảnh khách sạn và ông Huỳnh Xuân Hùng, tức Hà, (39 tuổi) ở quận Gò Vấp, thành phố Sài Gòn.

Tin cho hay, bà Liên, ông Minh và ông Hùng là những người cầm đầu trong đường dây môi giới chuyên tổ chức các chuyến “sex tour” cho các đại gia.

Gái mại dâm trong đường dây này là người mẫu đã đoạt giải tại các cuộc thi sắc đẹp và những “hàng nhái” các diễn viên, “hot girl” đang đình đám ở Việt Nam, với giá “đi tour” từ $1,000 đến $20,000.

Bước đầu, công an xác định, bà Liên và ông Minh đã môi giới để cô Huỳnh Thị T.L. (25 tuổi), quê ở An Giang, hiện đang tạm trú phường 7, quận 5, thành phố Sài Gòn, bán dâm với giá $7,000/ngày.

T.L đã được bà Liên mua vé máy bay và đi cùng từ Sài Gòn ra Quảng Ninh để “đi khách “ với số tiền $14,000/2 ngày.

Ngoài ra, tại phòng 817 của khách sạn Hạ Long Plaza, cơ quan chức năng phát hiện gái bán dâm là L.T.T. (29 tuổi), quê ở Quảng Ninh, là người đã từng đoạt giải Á khôi của trường Sân Khấu Ðiện Ảnh được 2 “má mì” Liên-Minh móc nối đưa xuống Quảng Ninh để bán dâm.

Ngoài các người mẫu bán dâm, dư luận chung hiện rất quan tâm những đại gia mua dâm là ai? Làm gì?… bởi theo người dân không người bình thường Việt Nam nào lại bỏ ra những đồng tiền lương thiện đáng “một gia tài” để mua dâm như thế.

Hiện cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công An đang tiếp tục điều tra làm rõ. (Tr.N)

Chùa Diệu Quang long trọng tổ chức Ðại Lễ Phật Ðản


Văn Lan/Người Việt

SANTA ANA, California (NV)Chùa Diệu Quang, Santa Ana, vừa long trọng tổ chức Ðại Lễ Phật Ðản Phật Lịch 2559 vào ngày Chủ Nhật, 25 Tháng Năm.

Ðúng 2 giờ, buổi lễ được chính thức bắt đầu. Ðồng hương Phật tử vân tập về chùa thật đông để dự lễ và nghe một thời pháp do Sư Cô Thích Nữ Chúc Hiếu giảng.


Chư tôn đức tăng ni đọc kinh mừng Khánh Ðản. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Sư cô là người từng đi giảng Phật pháp khắp nơi ở Hoa Kỳ và Châu Âu, và hiện là giáo thọ sư của Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ và đang phụ trách giảng dạy Phật Pháp tại đài phát thanh Hương Sen Little Saigon vào lúc 6 giờ chiều Chủ Nhật.

Sư cô nói: “Trước khi sinh Thái Tử Tất Ðạt Ta, Hoàng Hậu Ma Da nằm mộng thấy con voi trắng sáu ngà tượng trưng cho sự dũng mãnh tiến về phía trước, vượt qua bao nhiêu chông gai vẫn luôn tiến về phía trước, và sáu ngà tượng trưng cho lục độ: Bố Thí-Trì Giới-Tinh Tấn-Nhẫn Nhục-Thiền Ðịnh và Trí Tuệ. Voi trắng sáu ngà tượng trưng một vị Bồ Tát đi vào đời dùng pháp lục độ để hóa độ chúng sanh. Trong cuộc đời, nếu muốn học theo hạnh Bồ Tát thì phải ứng dụng Pháp Lục Ðộ. Và muốn học theo hạnh Phật, phải học nói năng như thế nào là hay, và im lặng như thế nào là hay.”

“Một năm chúng ta có một ngày Phật Ðản, chúng ta về đứng trước Ðức Phật đản sanh, đó là đứng trước bản tâm của mình, cần phải tắm gội cho sạch những phiền não trong lòng, cần nhứt là phải tu cái khẩu nghiệp của mình. Nếu tâm không nghĩ điều ác thì đừng nói ra những lời ác để đem niềm vui đến cho người và cho mình,” sư cô nói tiếp, và sau đó hát tặng đại chúng một bài hát có tựa đề “Ðản Sanh,” do chính mình sáng tác.

Kế tiếp là cung thỉnh chư tôn đức tăng ni quang lâm lễ đài. Thành phần tham dự buổi lễ Phật Ðản tại chùa Diệu Quang gồm có một số tu sĩ địa phương và từ Việt Nam sang.

Sau nghi thức khai mạc, phút nhập từ bi quán và Phật Giáo Hành Khúc, Sư Cô Thích Nữ Tịnh Tâm, trụ trì chùa Diệu Quang, đọc diễn văn khai mạc.


Chư tôn đức tăng ni cử hành Lễ Tắm Phật. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Tiếp theo là hợp ca liên khúc “Ca Ngợi Ðức Thế Tôn” và “Mừng Ngày Ðản Sanh” do các huynh đệ đạo tràng Diệu Quang trình diễn.

Tiếp theo, Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Từ, viện chủ chùa Diệu Quang, ban đạo từ.

Sư bà nói: “Khi Ðức Phật thị hiện ra đời, ngài đem ánh sáng trí tuệ, chân lý giác ngộ sáng soi muôn loài. Ngài đã chuyển hóa lòng người để cho sự sống được thăng hoa tươi đẹp. Ngài dạy hãy lấy tình thương, trí tuệ xây dựng cuộc đời bằng lý tưởng giác ngộ chuyển hóa khổ đau hướng về chân, thiện, mỹ, đem lại an lạc hạnh phúc cho gia đình và xã hội.”

“Thế giới chúng con đang đứng trước nhiều nguy cơ, hiểm họa. Văn minh khoa học tiến bộ, những tham vọng của chủ nghĩa bạo hành đang gieo rắc chiến tranh, hận thù và bạo động khắp nơi, ngọn lửa tham tàn đã đốt cháy mọi giá trị cao đẹp của nhân loại. Khấn nguyện Ðức Phật từ bi soi sáng cho kẻ ác rời xa tội lỗi, cho các quốc gia không còn tắm máu con người. Nguyện cầu Phật độ gia hộ cho quê hương Việt Nam và thế giới được tròn đầy niềm tin và hy vọng,” Sư Bà Diệu Từ nói tiếp.

Sư bà nói thêm: “Hôm nay là ngày Ðức Thế Tôn giáng thế, chúng con xin nguyện đem hết thân tâm đền trả bốn ân tam bảo, ân cha mẹ, ân quốc gia và ân thầy tổ. Cầu cho tất cả mọi chư hương linh sớm siêu sanh tịnh cảnh, nguyện cầu Phật pháp được trường tồn, chúng sanh nhân loại được an bình hạnh phúc.”


Vũ điệu Tara Tây Tạng. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Ðể chào đón sự thị hiện của Ðức Thích Ca Mâu Ni, các em Gia Ðình Phật Tử Diệu Quang trình diễn lễ nhạc mừng khánh đản qua tiết mục “Ðức Phật Thị Hiện” và Lễ Dâng Hoa Cúng Dường.

Tiếp theo là vũ điệu “Green Tara,” một vũ điệu truyền thống Tây Tạng, được hai Phật tử Ðồng Hiếu và Tâm Châu trình diễn.

Kế đến là nghi lễ cầu nguyện chính thức bắt đầu. Ban tổ chức cung thỉnh chư tôn đức tăng ni quang lâm lễ đài. Buổi lễ, do Hòa Thượng Tâm Vân làm sám chủ, được tiến hành với nghi thức trang nghiêm.

Chư tôn đức tăng ni và tất cả Phật tử cùng đọc tụng Kinh Mừng Khánh Ðản trong không khí trang nghiêm thanh tịnh.

Sau đó, Lễ Tắm Phật và Lễ Phóng Sanh được long trọng cử hành.

Ban tổ chức mời mọi người dự buổi cơm chay thân mật do chùa khoản đãi và cùng chung vui văn nghệ, với sự góp mặt của Ðạo Tràng Diệu Quang, Gia Ðình Phật Tử Kỳ Viên, và các nghệ sĩ Thanh Kim Mỹ, Vũ Luân, Lê Tín, Triệu Mỹ Ngân, Tuyết Minh, Trần Thái Hòa…

Phật tử dự lễ vô cùng cảm động Sư Bà Diệu Từ lên sân khấu hát tặng đại chúng bài “Như Gió Thoảng” và diễn ngâm một bài thơ.

Sau đó, sư bà nói lời cảm ơn Phật tử gần xa đã góp công sức cho buổi lễ được thành tựu viên mãn, xin hồi hướng công đức này lên Tam Bảo chứng minh, và cầu cho tất cả mọi chúng sanh được an lành dưới bóng từ quang của chư Phật.

Ông David Cameron, Châu Âu và lịch sử


Lê Mạnh Hùng


Thủ Tướng Anh David Cameron, sau phiên họp thượng đỉnh Châu Âu tuần trước, đã phải công nhận trước báo chí rằng quả thật ông không được đón tiếp tại hội nghị một cách thân thiết. Nhưng sự thật còn não nề hơn thế nữa. Trong hội nghị này đòi hỏi mà ông thủ tướng Anh đưa ra, muốn thương thuyết lại các điều kiện gia nhập của Anh trong Liên Hiệp Châu Âu đã bị đón nhận với một hỗn hợp vừa giận dữ vừa không hiểu nổi Anh muốn gì.


Ðòi hỏi của Anh đúng là làm cho các nhà lãnh đạo Châu Âu khác khó chịu. Nhưng thật sự ông Cameron chỉ diễn lại tấn tuồng quan hệ phức tạp của Anh đối với Châu Âu lục địa vốn đã có sẵn từ nhiều thế kỷ trước.


Các cuộc tranh luận tại Anh hiện nay về Châu Âu là một âm hưởng của các cuộc tranh luận xảy ra cách đây gần 300 năm khi Sir Robert Walpole trở thành vị thủ tướng đầu tiên của vương quốc này. Theo Robert Tomb, một sử gia của Viện Ðại Học Cambridge thì Walpole, một đảng viên đảng Tư Do Whig tin rằng Anh phải đóng một “vai trò quan trọng tại Châu Âu” trong khi các đối thủ Bảo Thủ Tories của ông thì cho rằng thế giới bên ngoài chứ không phải Cộng Ðồng Châu Âu mới là sứ mạng của Anh.


Với tư cách là lãnh tụ của những người Bảo Thủ Tories hiện đại, ông Cameron đúng là người thừa kế truyền thống của đảng mình – hoài nghi sự dính líu vào công việc của Châu Âu. Sir Winston Churchill, người lãnh đạo vỹ đại nhất của đảng Bảo Thủ đã từng nói với Tổng Thống Charles de Gaulle của Pháp là nếu phải chọn lựa giữa Châu Âu và “le grand large,” Anh bao giờ cũng lựa chọn cái sau.


Cam kết tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý về Châu Âu là nhượng bộ của ông Cameron cho các thế lực chính trị trong nội bộ đảng ông và trong các nhóm cánh hữu như thuộc đảng UKIP, vốn vẫn tin như những người Tories của thế kỷ thứ 18 rằng Anh Quốc phải nhìn ra thế giới bên ngoài Châu Âu. Global Britain, một trong những tổ chức vận động cho Anh quốc rút ra khỏi Cộng Ðồng Châu Âu biện luận rằng vận mệnh của Anh không còn dính tới Châu Âu nữa bắt đầu từ nhiều thế kỷ trước khi người Anh bắt đầu di dân vượt đại dương định cư tại những vùng đất mới.


Những lý luận như vậy khiến người ta có thể dễ dàng nhận định những người chống Châu Âu là những kẻ phản động hoài niệm một quá khứ không còn nữa. Nhưng phải nói rằng trong lý luận của họ cũng có một chút chân lý rằng Anh quốc cần phải nhìn vượt qua ngoài giới hạn Châu Âu ra thế giới. Mấy năm vừa qua, với những rối loạn tài chánh và tê liệt chính trị không phải là những năm làm Cộng Ðồng Châu Âu tự hào. Những nền kinh tế năng động nhất của thế giới nay nằm ở Châu Á và những canh tân kỹ thuật kích thích nhất thì xảy ra tại Mỹ.


Nhưng những người đòi hỏi Anh rút ra khỏi Cộng Ðồng Châu Âu thật sự là đặt ra một sự lựa chọn vô lý và không cần thiết. Trên thực tế, từ nhiều thế kỷ nay Anh vẫn luôn luôn là một cường quốc của Châu Âu cũng như của thế giới.


Tháng tới nước Anh sẽ tổ chức kỷ niệm năm thứ 200 chiến thắng Waterloo. Một chiến thắng biểu hiệu cái cùng tột của sự tham dự của nước Anh vào các vấn đề của Châu Âu. Ðối với những người chống Châu Âu, chiến thắng này biểu tượng sự chiến thắng của những người Anh yêu độc lập tự do trước một kẻ có tham vọng tập trung hết Châu Âu vào làm một dưới quyền mình, Napoleon. Thế nhưng họ quên rằng Wellington chỉ huy một lực lượng đa quốc chứ không phải một mình Anh và chiến thắng này chỉ đạt được nhờ sự xuất hiện tuy rằng muộn màng của quân Phổ (Ðức quốc hiện nay) tại chiến trường.


Cho đến nay việc xây dựng một liên minh có thể chiến thắng tại Châu Âu không phải là điểm mạnh của ông Cameron. Năm ngoái trong một phòng họp chỉ cách Waterloo vài dặm Anh, ông Cameron đã thất bại nhục nhã trong cố gắng ngăn chặn việc bổ nhiệm ông Jean Claude Juncker làm chủ tịch Ủy Hội Châu Âu. Trong trường hợp này, hy vọng của Anh rằng Ðức sẽ tới giúp như Blucher đã kịp thời tới cứu Wellington đã không trở thành hiện thực.


Nếu ông Cameron tiếp tục thất bại trong những cố gắng của ông để đạt một thỏa thuận mới với Liên Hiệp Châu Âu thì những người muốn Anh rút ra khỏi châu Âu sẽ cảm thấy mạnh bạo hơn. Họ sẽ biện luận rằng Anh vẫn có thể tham gia vào với châu Âu mà không cần phải là thành viên của Liên Hiệp Châu Âu – như Thụy Sỹ và Na Uy đang làm. Và họ có thể nói thêm rằng nếu Anh muốn buôn bán thành công với phần còn lại của thế giới thì cần phải giải phóng ra khỏi những quy định rườm rà bóp nghẹt của Châu Âu.


Cả hai lý luận này thoạt nghe thì có thể đáng tin. Nhưng thật sự chúng rất ư sai lầm. Sự kiện là hầu như trừ Nga ra, tất cả các nước lớn tại Châu Âu nay đều là thành viên của Liên Hiệp Châu Âu. Nếu Anh có rời khỏi Liên Hiệp Châu Âu, giống như Thụy Sĩ hoặc Na Uy, Anh cũng vẫn phải đưa vào trong luật pháp của mình các quy định và chính sách của Châu Âu mà mình không có quyền đóng góp vào việc thiết lập. Cái giá phải trả để có thể tiếp tục tham gia vào thị trường chung Châu Âu sẽ là sự chấp nhận chính những luật lệ và quy định mà các người chống Châu Âu của Anh ước mơ hủy bỏ. Và việc các quy định của Châu Âu bóp nghẹt những cố gắng cạnh tranh của Anh trên thị trường thế giới là một huyền thoại vô căn cứ. Ðức xuất cảng sang Trung Quốc nhiều gấp năm lần Anh.


Ông Cameron chắc hẳn cũng biết những chuyện đó. Khó khăn của ông là làm sao kiềm chế được đảng ông trong lúc tìm cách giữ được chút nào ảnh hưởng của Anh đối với Châu Âu.

Tranh luận về tự do thương mại


Ba tầng nhận thức khác biệt: kinh tế, thực tế và chính trị





Hùng Tâm


Nước Mỹ đang đàm phán hai hiệp ước tự do thương mại quan trọng nhất với các quốc gia ở hai đại dương lớn nhất địa cầu. Với các nước trong khu vực Thái Bình Dương là Hiệp Ước TPP (Ðối tác Xuyên Thái Bình Dương). Với các nước thuộc khu vực Ðại Tây Dương là Hiệp Ước T-TIP (Transatlantic Trade and Investment Partnership). Sản lượng của các đối tác trong TPP là 37% của toàn cầu, và của các đối tác trong T-TIP là 40%.


Việc đàm phán khởi sự từ lâu (20 vòng hội nghị cho TPP và ba vòng thảo luận cho T-TIP) và gần hoàn tất thì bỗng thành đề tài tranh luận trên chính trường và trong Quốc Hội. Lý do là cơ quan phụ trách – Ðại sứ Thương Mại Hoa Kỳ (US Trade Representative, hay USTR) thuộc Phủ Tổng Thống – cần đạo luật Trade Promotion Authority (TPA) cho phép thương thuyết theo thủ tục nhanh (fast track) để khi hoàn tất thì trình lên Quốc Hội phê chuẩn toàn bộ các điều kiện cam kết với các nước đối tác. Ðạo luật TPA bị Quốc Hội gạt qua một bên từ năm 2012 dù Tổng thống Barack Obama đã nhiều lần yêu cầu tái tục.


Sau hơn một tháng tranh luận và cài đặt nhiều điều kiện tiên quyết, dự luật TPA vừa được Thượng Viện thông qua hôm Thứ Sáu tuần trước. Nhưng trận đánh sắp tới tại Hạ Viện lại còn nhiều khó khăn hơn. Ðược tập trung vào hồ sơ TPP, người ta tranh luận về sự lợi hại cho nước Mỹ của nguyên tắc tự do thương mại.


Tìm hiểu chuyện đó và sau nhiều bài trình bày liên tục trên cột mục này, “Hồ Sơ Người Việt” thấy ra một chuỗi nghịch lý sau đây:


Ða số các kinh tế gia thuộc cả hai khuynh hướng tả hữu, bao cấp hay tự do, đều ủng hộ tự do thương mại, các chính trị gia thì nghi ngờ còn quần chúng Mỹ thì ngả nghiêng, khi thì hoài nghi, khi thì ủng hộ. Và ngày nay, đa số đang ủng hộ. Tại sao lại có sự khác biệt lập trường như vậy?
 
Quan điểm của các kinh tế gia


Giới chuyên gia kinh tế thường có dị biệt quan điểm về nhiều đề tài chuyên môn. Thật ra, may là họ không hoàn toàn thống nhất ý kiến vì phải thử nghiệm sâu xa kỹ lưỡng hơn để tránh sai lầm. Chỉ có trong hệ thống Cộng Sản thì người ta mới có sự nhất trí dẫn tới khủng hoảng và sụp đổ.


Nhưng dù là có chủ trương khác biệt trong nhiều vấn đề chuyên môn, các kinh tế gia đều đồng ý với nhau về lợi ích của nguyên tắc tự do thương mại. Các cuộc khảo sát ý kiến của “dân trong nghề” tại Hoa Kỳ từ những năm 1970, 1990 và gần đây hơn đều cho thấy rằng 90% các chuyên gia kinh tế cùng chia sẻ một quan điểm này. Ðây là ta nói về việc khảo sát ý kiến của các chuyên gia kinh tế đang giảng dạy hay hành nghề chuyên môn của mình, và được coi là thuộc dòng chính lưu – mainstream.


Có một thiểu số thì giữ lập trường cực đoan và viết ra những nhận định nằm ở vùng biên tế, ngoài dòng chính lưu, khi họ là bình luận gia chính trị. Trường hợp “activist” như vậy thật ra không nhiều và chỉ đáng chú ý khi họ là người nổi tiếng vì đã đoạt giải Nobel về kinh tế, như hai giáo sư Joseph Stiglitz và Paul Krugman. Ông Stiglitz thì cảnh báo rằng Hiệp Ước TPP có rủi ro nghiêm trọng vì phục vụ quyền lợi của nhà giàu. Riêng Krugman, xưa kia là chuyên gia về mậu dịch quốc tế, vào năm 1997 còn công nhận rằng sự đồng thuận về lợi ích của tự do thương mại là “gần như toàn cầu,” “almost universal.”


Dĩ nhiên là trong thế giới “hàn lâm” này nếu có người phản bác thì cũng có người ủng hộ. Gần đây nhất là quan điểm của Hội Ðồng Cố Vấn Kinh Tế (Council of Economic Advisors) cho Tổng Thống Barack Obama.


Ðây là một cơ quan trong Phủ Tổng Thống gồm các giáo sư hay chuyên gia kinh tế xuất sắc được tổng thống mời làm cố vấn và vị chủ tịch ngồi trong Nội các phải được Thượng Viện phê chuẩn. Các chủ tịch nổi tiếng của Hội Ðồng CEA này gồm nhiều tên tuổi như Alan Greenspan, Ben Bernanke hay Janet Yellen (đều sẽ là thống đốc Ngân Hàng Trung Ương) hay Joseph Stiglitz, hoặc Christina Romer, Austan Goolsbee, và Laura d’Andrea Tyson. Bà này triệt để ủng hộ tự do thương mại và là chủ tịch thời Tổng Thống Bill Clinton khi ông ký Hiệp Ước Tự Do Thương Mại Bắc Mỹ NAFTA.


Ðầu Tháng Năm, Hội Ðồng CEA công bố một phúc trình chứng minh lợi ích của tự do thương mại cho nước Mỹ (The Economic Benefits of U.S. Trade – May 2015). “Hồ Sơ Người Việt” đã nhắc tới phúc trình này, quý bạn đọc có thể tham khảo trên mạng lưới whitehouse.gov.


Kết luận tạm ở đây là đa số các chuyên gia kinh tế đều chia sẻ một quan điểm là tự do thương mại có lợi cho nước Mỹ, kể cả lợi ích về công ăn việc làm.
 
Nhận thức của quần chúng
 
Giới kinh tế thường nêu một câu hỏi về sự lợi hại của một chánh sách hay biện pháp kinh tế, rằng lợi cho ai và hại cho ai? Vấn đề chìm sâu bên dưới là người ta thường chỉ thấy cái lợi trước mắt, cho thành phần này, mà khó nhìn ra cái hại cho thành phần khác, trong một tương lai xa xăm hơn.


Y như trong phúc trình của Hội Ðồng Cố Vấn Kinh Tế CEA vừa qua, khi các kinh tế gia nêu quan điểm về lợi ích của tự do thương mại, họ phải nghiên cứu và khảo sát sâu rộng về không gian (cho nhiều thành phần dân chúng) lẫn thời gian (trong ngắn hạn và dài hạn). Nhưng điều quan trọng nhất là “người dân nghĩ sao về sự lợi hại đó?” Trong một chế độ độc tài, người dân không có quyền có ý kiến trái ngược với quan điểm chính thức của đảng hay nhà nước. Trong một nền dân chủ như tại Hoa Kỳ, cảm quan hay nhận thức của quần chúng lại là một thực tế chính trị.


Thế thì người dân Mỹ nghĩ sao về tự do thương mại? – Câu trả lời là “người dân Mỹ hay đổi ý.”


Vào cuối thế kỷ trước, trong những năm 1998-1999, chỉ có 32% dân chúng nghĩ rằng việc giao dịch không có hàng rào quan thuế là có lợi, 49% cho là nên có hàng rào (đánh thuế nhập nội) để bảo vệ việc làm của người dân. Còn 19% thì không có ý kiến. Chúng ta không nên quên là vào giai đoạn ấy, kinh tế đang tăng trưởng ngoạn mục và trái bóng chứng khoán của các doanh nghiệp tín học chưa bể trong vụ dot.com.


Ít năm sau, ta lại thấy một quan điểm trái ngược.


Người dân thấy ra lợi và hại của thương mại quốc tế, đa số ủng hộ vì 1) mua hàng rẻ hơn, 2) có nhiều mặt hàng để chọn lựa, 3) và các doanh nghiệp phải sáng tạo để cạnh tranh. Nhưng cũng gần phân nửa tin rằng tự do thương mại gây ra thất nghiệp và lương thấp cho một số người trên thị trường lao động. Tỷ lệ thời đó là 51% ủng hộ, 44% nghi ngờ, và 5% không biết.


Ngày nay, là sau khi Hoa Kỳ bị khủng hoảng tài chánh (2008) và kinh tế đang hồi phục nhưng còn chậm, thì dân Mỹ nghĩ sao?
 
Khảo sát mới nhất
 
Hai cuộc khảo sát ý kiến mới nhất của Viện Gallup và Viện AEI (American Enterprise Institute) cho thấy điều bất ngờ là đa số tới 58% ủng hộ tự do thương mại vì là cơ hội tăng trưởng kinh tế nhờ xuất cảng. Và 33% cho rằng ngoại thương là một đe dọa kinh tế vì hàng nhập cảng.


Ly kỳ hơn vậy, cuộc khảo sát của Gallup còn phân giải câu trả lời của dân Mỹ theo đảng tính. Có 61% những người cho biết rằng mình bỏ phiếu cho đảng Dân Chủ, hoặc xưng danh Ðộc Lập, thì ủng hộ ngoại thương. Ðây là một sự tăng vọt đáng kể so với mấy năm trước khi chỉ có hơn 30% là nghĩ như vậy. Ngược lại, thành phần bỏ phiếu Cộng Hòa vẫn có quan điểm ôn hòa bền bỉ từ nhiều năm qua là chỉ có một đa số nhỏ, quãng 51%, là ủng hộ tự do thương mại.


Nói rộng ra thì đến 65% cho là toàn cầu hóa có lợi, một đà gia tăng đáng kể so với suy tư thời 1998-2000 là 54%. Trong khi đó, chừng 34% vẫn cho rằng đấy là mối hại, dù sao là một sự gia tăng còn đáng kể hơn so với thời trước, khi chỉ có 20% nghĩ như vậy.


Cũng trong cuộc khảo sát của Viện Gallup, ta còn thấy một điều đáng ngạc nhiên hơn. Khi phân giải theo đảng tịch thì ta được biết rằng 75% dân bỏ phiếu bên Dân Chủ thì tin rằng nói chung toàn cầu hóa có lợi cho nước Mỹ. Bên Cộng Hòa chỉ có 62% nghĩ như vậy, và tỷ lệ ủng hộ của phe Ðộc Lập là 59%, đều là đa số, mà thấp hơn.


Xin ghi lại để nhấn mạnh sự kiện này: 75% đảng viên Dân Chủ ủng hộ toàn cầu hóa so với 62% hay 59% của hai thành phần kia.


Vì giới hạn của cột báo, Hồ Sơ Người Việt không đi sâu hơn vào các vấn đề khác. Thí dụ như tổ chức Chicago Council on Global Affairs có hỏi ý dân chúng thì được biết tỷ lệ ủng hộ và chống toàn cầu hóa hiện nay là 65-34%, so với kết quả khảo sát của họ thời 1998-1999 là 54-24%.


Dù chỉ khái quát như vậy, các cuộc thăm dò cho thấy là bên dưới những nhận định của các chuyên gia kinh tế, nhận thức của quần chúng Mỹ đang chuyển: Ða số tin rằng toàn cầu hóa và việc giao dịch tự do với các nước là điều có lợi cho Hoa Kỳ. Họ nghĩ vậy vì thấy rằng có lợi cho bản thân.


Nói cách khác, họ có đồng quan điểm với Tổng Thống Obama và Hội Ðồng Cố Vấn Kinh Tế của ông.


Thế thì tại sao trên chính trường Dân Chủ tại Thượng Viện và Hạ Viện vẫn có nhiều tiếng nói chống dự luật TPA, Hiệp Ước TPP và tranh luận với một tổng thống Dân Chủ? Ðấy là thiểu số activist, nhân danh thành phần này hay thành phần khác đứng lên rào cản để chứng minh rằng họ quan tâm đến quyền lợi của toàn thể dân Mỹ. Thí dụ điển hình nhất là Nghị Sĩ Elizabeth Warren của tiểu bang Massachusetts, nguyên giáo sư Harvard. Từ góc cực tả, bà phản bác và trực tiếp tranh luận với Obama về hai hiệp ước TPP và T-TIP.


Và đây là câu trả lời của tổng thống Hoa Kỳ: “Lý luận của Elizabeth không vượt qua những trắc nghiệm của thực tế, hoàn toàn sai lầm. Bà chỉ là một chính trị gia như mọi người khác.”
 
Kết luận ở đây là gì?
 
Chính trường Mỹ có dấu hiệu lỗi thời khi đi ngược với quan điểm của quần chúng ở dưới.

Tin mới cập nhật