Lee Nguyen’s journey from Plano to Vietnam to MLS stardom


By ZAC CRAIN, Front Burner



I remember first noticing Lee Nguyen a few years ago, when ESPN Magazine ran an infographic listing the highest-paid athletes in every country. Nguyen was the highest-paid athlete in Vietnam, and the note next to his name mentioned he was from here. Through a mutual friend, we ended up talking on the phone, and I had planned on doing a story expanding on what it was like for him to be a star in Vietnam. But shortly after that, he came back to the United States. Which is where this story picks up.







Lee Nguyen’s journey from Plano to Vietnam to MLS stardom




New England Revolution professional soccer player Lee Nguyen attend a Budweiser World Cup viewing party At Boston’s Paradise Rock Club on June 16, 2014 in Boston, MA. (Photo by Paul Marotta/Getty Images)


Lee Nguyen could do almost anything he wanted on the field in Vietnam. But getting to the bus after the game was another story.


The scene looks something like this: He exits the locker room following a game in the Vietnamese Super League, and bedlam ensues. He can’t go around the wall of fans assembled there to adore him, he has to go right through it.

Read the full article HERE.

A thrillseeker’s guide to Vietnam


From Lonely Planet



Dense jungles, brooding mountains, endless waterways, towering cliffs, hairpin bends: the potential for adrenalin-fuelled adventure is limitless in Vietnam. Whether you prefer to scale the heights of jagged peaks or plumb the depths of coral reefs, Vietnam will deliver something special. Heck, just being here is one long adventure, but these experiences will take it to a whole new level.







A thrillseeker’s guide to Vietnam




Halong Bay (Lonely Planet)


Kayak Halong Bay


Use paddle power to explore this incredible forest of karsts that jut out of the South China Sea like stone sentinels. Kayaks go where other boats cannot, such as into hidden caves and secret lagoons, and will reveal to you the very best of the bay.


Conquer Mount Fansipan


OK, so it’s not Mt Everest, but at 3143m, it is the highest peak in the country. Meet some of the minority peoples on the trek before tackling the elements to arrive on the roof of Vietnam.


Motorbike through the deep north


Saddle up for the ride of a lifetime in the mountains of Vietnam’s deep north. The roads are absolute rollercoasters, the scenery is simply stunning.


Cycle the Mekong Delta


Forget about those newfangled engines and pedal through the back roads of the Mekong Delta – a patchwork of emerald greens. Stick to the roads less travelled or jump on the odd boat or two for the full Mekong experience.

Read the full article HERE.

Chống tham nhũng, sống chết không thành vấn đề!


Bùi Tín
(Blog VOA)


“Trong cuộc chiến đấu chống tham nhũng, sống hay chết và danh lợi là hoàn toàn vô nghĩa đối với tôi,” đó là tuyên bố của Chủ Tịch Nước kiêm Tổng Bí Thư Ðảng Cộng Sản Trung Quốc Tập Cận Bình trong cuộc họp Bộ Chính Trị tháng 6, 2014 vừa qua (theo Weibo và Bưu Ðiện Hoa Nam ngày 20 tháng 7).

Ngay sau cuộc họp này là công bố chính thức việc điều tra đối với nguyên Ủy Viên Thường Vụ Bộ Chính Trị Chu Vĩnh Khang, đã về hưu từ cuối năm 2012, khi đang là chủ tịch Ủy ban Chính Trị – Pháp Luật của Trung Ương Ðảng, phụ trách về pháp luật và chính quyền. Ông Chu Vĩnh Khang từ đó là một “nguyên lão đồng chí,” theo cách gọi tôn trọng của Ðảng Cộng Sản Trung Quốc đối với các bậc công thần của chế độ.

Theo hệ thống tổ chức của Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, Ban Thường Vụ Bộ Chính Trị là cơ quan lãnh đạo cao nhất giữa các kỳ đại hội. Xưa nay các ủy viên Thường Vụ Bộ Chính Trị được coi là bất khả xâm phạm. Nhất là khi đã về hưu rồi là yên chí hạ cánh an toàn.

Việc khởi đầu cuộc điều tra ông Chu Vĩnh Khang là một quyết định rất hệ trọng vì trong quá khứ ông Chu từng cầm đầu tập đoàn dầu khí quốc gia đầy thế lực, sau đó lại là bộ trưởng công an trong 8 năm, rồi là chủ tịch Ủy Ban Chính-Pháp nhiều quyền thế.

Vụ án Chu Vĩnh Khang nổ ra sau khi vụ án Bạc Hy Lai, ủy viên Bộ Chính Trị, Bí Thư Thành Ủy Trùng Khánh, diễn ra từ đầu năm 2012 dẫn đến bản án tử hình của Cốc Khai Lai, vợ Bạc Hy Lai, và bản án tù chung thân cho chính Bạc Hy Lai. Nay được biết ngày 19 tháng 3, 2012 Chu đã ngầm huy động một lực lượng cảnh sát định làm đảo chính lật đổ Chính Quyền Hồ Cẩm Ðào – Ôn Gia Bảo, nhưng đã bị Quân Ðoàn Phòng Vệ Số 38 phá gọn trước khi khởi sự. Bạc Hy Lai từng gắn bó với Chu Vĩnh Khang, với tham vọng sẽ được chọn thay Hồ Cẩm Ðào lên vị trí cao nhất.

Cuộc ra tay của Tập Cận Bình quyết sống mái với Chu Vĩnh Khang ngoài ý chí chống tham nhũng còn mang tính phục thù, theo dư luận ở Hồng Kông. Từ khi lên đảm nhận chức vụ cao nhất trong đảng và bộ máy nhà nước, Tập Cận Bình luôn nhắc đến phương châm “diệt từ hổ đến ruồi,” từ bày siêu hổ hung dữ nhất đến ô lại tàn bạo cấp thấp nhất. Cho đến nay hồ sơ của Chu Vĩnh Khang đã dày cộp.

Bộ máy của Ủy Ban Kỷ Luật-Thanh Tra có cả một đội quân tinh nhuệ giàu kinh nghiệm về điều tra, hỏi cung, thu thập chứng cứ. Mỗi đối tượng điều tra như Chu Vĩnh Khang được mở ra rất rộng, từ anh, chị, em ruột, các con trai, con dâu, con gái, con rể, đến bạn học, kẻ giao du, cùng chơi bài, đánh bạc, chơi thể thao, cho đến người tình, vợ hờ, bạn gái, cả đến những người phục vụ như thư ký, văn phòng, người bảo vệ, người nấu ăn, lái xe, phục vụ khách sạn, nhà nghỉ.

Hàng trăm viên chức từng làm việc ở tập đoàn dầu khí, hay các thứ trưởng, cục vụ trưởng cục vụ phó, nhân viên văn phòng, chuyên viên thư ký, kế toán khi Chu Vĩnh Khang làm bộ trưởng Công An cũng được mời đến khai báo, trình bày. Các láng giềng ở quanh nhà ở cũng được hỏi han. Hơn 400 trong số 2 ngàn người bị điều tra đã bị bắt giữ, quản thúc, chờ ngày ra tòa. Trong đó có 2 nguyên ủy viên Thường Vụ Bộ Chính Trị là Giả Khánh Lâm và Tăng Khánh Hồng, các nguyên ủy viên Quân Ủy Trung Ương Tướng Tứ Tài Hậu, Thứ Trưởng Công An Lý Ðông Sinh, Chủ Nhiệm Ủy Ban Quản Lý Tài Sản Nhà Nước Tưởng Khiết Mẫn, Phó Chủ Tịch Tập Ðoàn Dầu Khí Vương Vĩnh Xuân.

Với ý định rõ rệt là đánh tham nhũng đến nơi đến chốn, Chính Quyền Tập Cận Bình-Lý Khắc Cường đã quyết định sung công ngay mọi tài sản của mỗi bị cáo về tội tham nhũng. Các tài sản chưa được chứng minh rõ là tham nhũng nhưng cũng chưa được chứng minh là chính đáng, vẫn cứ bị ưu tiên niêm phong, sung công cho đến khi được chứng minh là chính đáng mới được trả lại. Tổng giá trị số tài sản chìm và nổi đã sung công liên quan đến vụ án Chu Vĩnh Khang và đồng bọn ước tính 80 tỷ US$.

Vẫn chưa hết. dư luận ở Bắc Kinh hé lộ rằng đây chưa phải là vụ án lớn cuối cùng. Ngụ ý rằng hết “siêu hổ” sẽ đến rồng. Các blogger tự do ở Thượng Hải công khai nói đến Giang Trạch Dân. Từ khi lên ngôi số 1 của Trung Quốc, ông Tập Cận Bình đã giữ một khoảng cách với họ Giang. Việc Tăng Khánh Hồng và Giả Khánh Lâm bị điều tra là một đòn mạnh giáng vào Giang vì họ là đệ tử ruột của Giang. Ðầu tháng 8 vừa qua cả một đoàn hàng trăm chuyên viên điều tra được Ủy Ban Kỷ Luật và Thanh Tra phái xuống Thượng Hải, vốn là vương quốc của họ Giang. Báo chí được nói đến những việc làm quá đáng đối với Pháp Luân Công, phê phán cả hệ thống công an khi Chu Vĩnh Khang làm bộ trưởng và khi Giang Trạch Dân làm tổng bí thư kiêm chủ tịch nước đã buông lỏng, còn nuông chiều cho công an đàn áp nhũng nhiễu nhân dân ra sao. Tập Cận Bình đã có 2 chủ trương lớn được lòng dân là đóng cửa các trại cải tạo trên toàn quốc, đồng thời chủ trương hệ thống tư pháp phải thực thi luật pháp, chỉ tuân theo luật pháp mà thôi, được coi là tách ra khỏi nền cai trị thô bạo của Giang Trạch Dân.

Dư luận Trung Quốc cho rằng Tập Cận bình sẽ giải quyết vụ án Chu Vĩnh Khang trước, để tránh một đòn đánh phủ đầu của cánh Giang Trạch Dân dù rằng vây cánh ông này đã bị tước đi một mảng lớn. Trong tháng 10 trong cuộc họp Trung Ương IV có thể Tập Cận Bình sẽ thay 2 ủy viên Thường Vụ Bộ Chính Trị Lưu Vân Sơn, phụ trách tuyên huấn, và Trương Ðức Giang, chủ tịch Quốc Hội, không thật nhất trí với mình. Tập Cận Bình sẽ đưa Thượng Tướng Lưu Nguyên, con trai Lưu Thiếu Kỳ, vào chức phó chủ tịch Quân Ủy Trung Ương, người có chung đường lối chống tham nhũng mạnh mẽ bằng việc làm và thượng tôn pháp luật.

Việt Nam hãy nhìn sang Trung Quốc để so sánh. Chống tham nhũng, chết bỏ, sống hay chết không thành vấn đề. Họ giải thể hết các trại cải tạo là trại giam tra hình tàn ác. Họ thu hồi quy công biết bao tài sản bất minh để trả lại công quỹ.

Ở Việt Nam, Ủy Ban Chống Tham Nhũng vẫn cứ quyết tâm …liệt, tê liệt gần như triệt để. Các trại cải tạo vẫn đông nghẹt người. Luật pháp vẫn chỉ làm vì, khi các phiên tòa công khai vẫn đóng chặt cửa, luật sư không được cãi theo luật. Công an vẫn tha hồ hành dân, đánh dân, giết dân. Quan chức các cấp vẫn đua nhau ăn bẩn, ăn gian, chỉ cần một chữ ký là có vài miếng đất, vài nền nhà, vài dự án, vài tỷ đồng, có khi là mỏ ngoại tệ từ 2 vòi ODA và FDI.

Việt Nam Cộng Sản hay làm theo Trung Quốc. Vậy thì ai sẽ là đồ đệ tự nguyện của Tập Cận Bình, quyết giương cao lá cờ chống tham nhũng theo phương châm “diệt từ siêu hổ đến ruồi nhặng,” dám xắn tay áo dẹp loạn kiêu binh “công an” từ cao nhất đến cơ sở? Có như thế mới hy vọng giải quyết được những bất công xã hội, chênh lệch giàu nghèo ngày càng khủng khiếp khiến toàn xã hội cũng như từng người dân không ai còn có thể chịu nổi.

Trời nóng, chữa cháy Bắc California gặp khó khăn

SAN FRANCISCO (AP) – Lính cứu hỏa vật lộn với trận lửa rừng khổng lồ đe dọa hằng ngàn ngôi nhà, hôm Thứ Hai lại phải đối đầu với thời tiết nóng hơn và gió giật từng cơn, sau một cuối tuần có tiến triển tốt nhờ trời mát và ướt át.

Chữa cháy tại Eldorado National Forest, California. (Hình: AP Photo/Brendan Rice)

Tính đến Thứ Hai, trận cháy ở Ðông Sacramento đã thiêu hủy hết 137 dặm vuông, tức tăng thêm 9 dặm vuông so với ngày trước.

Ông Ryan Lubben, phát ngôn viên sở cứu hỏa nói, sự thay đổi khí hậu có thể làm gia tăng hoạt động của lửa.

Hơn 5,000 lính cứu hỏa, gồm một số tăng viện từ Alaska và Florida, đã chế ngự được từ 10% đến 17% ngọn lửa vào hôm Chủ Nhật.

Ông Lubben nói thêm, “Mưa phùn lớn giúp cho lính cứu hỏa nhiều vô kể.”

Trận lửa rừng nằm cách Sacramento 60 dặm về hướng Ðông khởi sự vào hôm 13 Tháng Chín, gây đe dọa cho 12,000 ngôi nhà.

Con số sơ khởi đưa ra hôm Chủ Nhật cho thấy lửa đã thiêu hủy 10 căn nhà và 22 nhà phụ ở khu vực White Meadows thuộc Pollock Pines.

Chừng 100 người di tản được phép trở lại nhà nhưng 2,700 người khác vẫn còn phải tuân theo lệnh tiếp tục lánh nạn.

Một người đàn ông tên Wayne Allen Huntsman, 37 tuổi, không nhận tội đốt rừng trong phiên tòa hôm Thứ Sáu, và hiện đang còn bị giam tại El Dorado County Jail với số tiền tại ngoại được định là $10 triệu. (TP)

Sinh con trên xa lộ ở Nam California

ANAHEIM, California (AP) – Người lính TQLC Bolivar Vilchez một phen kinh hoàng khi phải giúp vợ đẻ ngay bên mé xa lộ ở Nam California.

Bà Sandra Vilchez, 29 tuổi, cư dân của Riverside County đang trên đường đi xuống nhà mẹ vào sáng sớm Thứ Bảy thì vừa lúc hạ sinh bé gái Savannah.

Ngày sinh nở của bà Sandra đúng ra là vào 26 Tháng Chín, vì bà đã từng ba lần sinh đúng kỳ hạn nên lần này bà cũng không lo sẽ sinh sớm.

Nhưng sau khi rời nhà không lâu thì bà bắt đầu thấy co thắt ở bụng dưới và rồi chuyển bụng rất nhanh.

Người lính 17 năm quân vụ liền lập tức tấp chiếc Chevy Tahoe vào lề xa lộ, vừa lúc bà Vilchez vỡ nước ối.

Nhờ có sự giúp đỡ của nhân viên cứu hỏa ở đầu dây bên kia, bé Savannah chào đời lúc 4 giờ 21 sáng, nặng 11 lbs 6 ounce, và cao 22 inch.

Lính cứu hỏa đến ngay sau đó và giúp cắt sợi nhau.

Ðại Úy Shane Sherwood thuộc sở cứu hỏa Orange County cho biết việc sinh sản trên đường xảy ra thường hơn người ta tưởng. Tháng Mười năm ngoái cũng có một phụ nữ sinh con trên một xa lộ khác trong khu vực.

Lính cứu hỏa được huấn luyện đỡ đẻ hằng năm. Ông Sherwood nói ông từng đỡ đẻ ba lần trong thời gian 20 năm công vụ, một trên xa lộ và hai lần tại nhà. (TP)

Police Brutality in Vietnam


By Helen Clark, Asia Sentinel



Just at an inconvenient time when Vietnam is seeking a pact with the United States for the supply of weapons, an inconvenient and exhaustive report on police brutality and “public insecurity” in Vietnam released by the New York-based Human Rights Watch has brought to light “extensive” abuses in the judiciary system.







Police Brutality in Vietnam




The white mice. (Asia Sentinel)


The report alleges at least 24 deaths in police custody between 2010 and 2014 and innumerable beatings. For 14 of the deaths, the authorities have admitted culpability; the other 10 were put down to illness or suicide. Human Rights Watch says this is the first major survey of its kind, though the organization did not speak directly with those harmed for fear of further repercussions.


US Sens. John McCain and Sheldon Whitehouse in August said they would push the US Congress to lift the ban on the sale of lethal weapons to the Southeast Asian nation. Other human rights campaigners are expected to put pressure on both the US and Vietnam to try to force Hanoi to clean up its act as far as treatment of both dissidents and common citizens. Publicity over the Human Rights Watch report should help their case.


Much information in the report came from state-supervised media, though the report notes that journalists and newspapers face issues due to the sensitive nature of the subject.


The Hanoi regime is regularly attacked for its poor human rights record. Since Myanmar has liberalized, some foreign commentators have suggested that Vietnam is now the worst in the region for human rights.


Most often when human rights are discussed or brought up during, say, an official US visit, the focus is freedom of speech, the arrests of dissidents and freedom of information. Mentioned only in passing if at all are many other rights, for example the right to not be beaten to death by the police for a minor infraction such as riding pillion on a scooter with no helmet.


Police corruption, brutality and inefficiency are a tedious, sometimes costly or even bloody, fact for the majority of Vietnamese citizens. The 2013 US State Department report on human rights reads: “Specific human rights abuses included continued police mistreatment of suspects… including the use of lethal force as well as austere prison conditions… Political influence, endemic corruption, and inefficiency continued to distort the judicial system significantly.”


Bloggers and dissidents often raise such issues. However their concerns are often secondary to their imprisonment for outsiders condemning the regime’s rights record. Former Communist Party member Vi Duc Hoi from northern Lang Son province wrote a fictionalized account of the arrest, then the beating and death of 21-year-old Nguyen Van Khuong in Bac Giang province outside Hanoi in 2010. It was not a rash act of dissent; local media had widely covered the young man’s death and there had been a large protest during his funeral procession. For this and other infractions Hoi received an eight year sentence, later commuted to five.


Khuong’s was not the only death which made headlines in Vietnam’s mainstream press and sparked outrage. In 2011 53-year-old Trinh Xuan Tung was involved in an altercation at the large Giap Bat bus station in Hanoi after police tried to fine his motorbike taxi driver for allowing his passenger to remove his helmet.


A scuffle quickly turned serious and Tung, identified by Agence France-Presse as a seller of songbirds, complained of paralysis when his daughter who visited him in custody; Tung died eight days later. The daughter, Trinh Kim Tien, protested and hung banners outside the family shop to protest her father’s innocence and later carried her protest online. . 


The US State Department reported nine deaths in custody for the previous year alone. In most cases if policemen are actually t prosecuted it is not for murder, a capital offense, but for lesser charges, and they receive relatively brief sentences.


Another political rights issue which has concerned bloggers and citizens alike – and at times top-level members of the government – has been land grabs and evictions. In early 2012 a fish farmer Doan Van Vuon repulsed the legion of police who stormed his land to evict him and his family with homemade firearms.


There were over 100 police and while Vuon and family members did eventually face trial (firearms are very much frowned upon in Vietnam) it highlighted the land grabs and corruption in the country and that the police force could, and would, enforce illegal grabs at the expense of ordinary citizens.


The public overwhelmingly supported Vuon,unsettling the government enough that Prime Minister Nguyen Tan Dung ordered an enquiry, which eventually did uncover large irregularities in the land case. A number of local officials were punished, but Vuon was not compensated for  the fish stocks looted under police supervision or the family home they razed.


In another land protest outside Hanoi a few months later, 1,000 villagers faced off against some 3,000 members of the canh sat co dong, or mobile police, known for their dark olive uniforms, riot gear and AK47s. Footage quickly made it to YouTube and provoked similar outrage. The government suggested that the whole event had been staged by “hostile forces” (a go-to descriptive) which would suggest that democracy activists have access to significantly more resources and better actors than the state’s official film body.


These two cases at least feature men who are recognizably representatives of the state, even if they remain largely unaccountable. Often young men not officially employed by the state (and sometimes not employed much at all), a kind of ‘village militia’, are used to intimidate farmers who won’t give up land or to break up protests over land or factory wages.


In August this year the government did go some way to changing things. HRW and other rights organizations have cautiously welcomed Circular 28, issued by the Ministry of Public Security and titled “Regulating the Conduct of Criminal investigations by the People’s Public Security.” It’s regarded as an improvement but is still somewhat piecemeal, with some holes or irregularities (such as classifying suspects as criminals). It prohibits “obtaining coerced statements… or using corporal punishment”.


One expert source who spoke with Asia Sentinel on conditions of absolute anonymity said, “When young people are arrested for actual crimes, torture is standard. Police ‘soften up’ the accused with beatings, and all police stations keep electric weapons to terrify prisoners and make people confess — even if they have done nothing wrong.”


However the source also noted that despite widespread violence, Hanoi has shown some political will to improve the situation, although it is “high levels of government” who wish to see reform.


While in a hierarchical political system such as Vietnam’s orders from the top can travel down quickly, their implementation at the bottom levels, especially outside major cities, can take time. It is often, as HRW has noted, the lowest-level commune police who are the perpetrators and who also need the most training.


Vietnam’s citizens share a pervasive dread of attracting the attention of its police. Political dissidents run particular risks, of course, but virtually anyone who steps out of line is vulnerable. Stories of police shakedowns and brutality circulate widely, and in recent years have surfaced frequently in the state-supervised media and become endemic in blogs and social media posts.


The government has already condemned the report via the ministry of Foreign Affairs in the English-language, state media. This is no surprise; a report by the UN Special Rapporteur on religious freedom he other month received the same treatment. However stiffer penalties are being handed down and one police chief received a 17-year sentence whilst his inferiors were all given six to 12 years.


The vice chairman of the Vietnam Bar Association Truong Trong Nghia told a hearing by the parliamentary Justice Commission, “Torture still exists; [investigators] treat suspects like their enemies rather than their equals. Wrongful verdicts, threats and torture pose critical threats to the regime itself. The [victims’] descendants will hold us responsible.”


Will the HRW report make a difference? The expert source thinks so: “They (the government) will be very unhappy with the report, but they will pay attention.”

Không có tự do thì không có sáng tạo

Lê Diễn Ðức

Người ta hay nói dân tộc Việt Nam cần cù, sáng tạo, nhưng tôi e rằng chỉ đúng cho vế đầu. Lĩnh vực sáng tạo cần xem xét lại, bởi vì nói như thế là không đầy đủ. Sự sáng tạo phụ thuộc vào môi trường sống.

Không có tự do, con người không thể có sáng tạo.

Tư chất của người Việt thông minh, điều này đúng, và nếu được sống trong một xã hội lành mạnh thì họ rất sáng tạo. Rất nhiều người Việt ở Mỹ và các nước phương Tây đạt được những thành tựu cao trong khoa học, thương mại, chính trị – nói lên điều đó.

Từ 40 năm nay đất nước Việt Nam bị cai quản bởi chế độ Cộng Sản, một hệ thống chính trị với giáo lý khuôn mẫu lỗi thời, với nền kinh tế bị định hướng “xã hội chủ nghĩa” lạc điệu không giống ai, và một nền giáo dục nhồi sọ, dối trá, thủ tiêu quyền tự do tư tưởng và tự do cá nhân. Tất cả những điều này đã làm triệt tiêu đầu óc sáng tạo của con người. Ðó là tất yếu.

Ngày 13 tháng 9 năm 2014, Ngân Hàng Phát Triển Châu Á (ADB) và tổ chức nghiên cứu Economist Intelligence Unit (EIU) công bố báo cáo Chỉ Số Năng Suất Sáng Tạo (CPI) của 22 nền kinh tế Châu Á, bổ sung thêm Mỹ và Phần Lan (nhằm mục đích so sánh).

Khả năng sáng tạo của các nước được xác định bằng chỉ số CPI dựa trên “Ðầu vào” và “Ðầu ra.” “Ðầu vào” được tính theo 3 nhóm lớn: mức độ sáng tạo, động cơ sáng tạo và độ thuận lợi của môi trường cho sáng tạo. “Ðầu ra” được cân nhắc trên các tiêu chí truyền thống, như số bằng sáng chế, và các tiêu chí nhằm tạo ra tri thức.

Trong bảng xếp hạng này, Việt Nam đứng thứ 16 trên 24 nước. Khả năng sáng tạo được đánh giá chỉ ở mức trung bình, với cả “Ðầu vào” và “Ðầu ra” đứng ở nửa cuối danh sách. Tính riêng khu vực Ðông Nam Á, Việt Nam xếp thứ 6, sau Lào, Singapore, Indonesia, Malaysia và Thái Lan. [1]

ADB nhận xét Việt Nam dù hơn 90% dân số biết chữ, hệ thống trường lớp và chương trình học của Việt Nam được đánh giá đã lỗi thời.

Trong bảng Top 500 trường Ðại học trên thế giới, không có trường nào của Việt Nam lọt vào mặc dù trong những năm gần đây, hàng trăm trường đại học được mở ra áo ạt, bất chấp cơ sở hạ tầng và đội ngũ giáo viên.Tuy nhiên hệ thống này đã cho ra lò hàng ngàn tiến sĩ mỗi năm. Chưa có nước nào trên thế giới mà học vị tiến sĩ đi kèm với tên họ nhiều như quan chức Việt Nam trên mặt báo chí. Thói sĩ hão, háo danh – căn bệnh của sự dốt nát và tự ti, đã dẫn đến hiện tượng bất thường ấy.

Chỉ số CPI tập trung vào “hiệu suất,” đo cách thức các nền kinh tế chuyển yếu tố “Ðầu vào” (kỹ năng, cơ sở vật chất) thành “Ðầu ra” (số bằng sáng chế, ấn bản khoa học).

Theo số liệu nghiên cứu hàng năm trên thế giới có khoảng 80 vạn bài báo khoa học được ghi nhận, và 100 nghìn phát minh sáng chế được cấp bằng. Về dân số Việt Nam xếp hàng thứ 13, nhưng số lượng công bố khoa học của nước ta khoảng 700 bài (khoảng 1/1000 ) và số lượng bằng phát minh sáng chế chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Bằng sáng chế ở đây được hiểu là bằng sáng chế Mỹ (US patent) bởi uy tín của nó. Thống kê cho thấy, trong 5 năm gần đây nhất 2006-2010, Việt Nam chỉ có 5 bằng sáng chế, đứng chót bảng trong các nước thuộc khu vực Ðông Nam Á. [2]

Theo ADB, Việt Nam còn gặp nhiều thách thức trong việc cung cấp nhân lực, các kỹ năng của lao động trong ngành dịch vụ, IT và tài chính – ngân hàng cũng còn thiếu.

Trong hai thập niên qua, Việt Nam đã thu hút được đầu tư nước ngoài FDI đáng kể nhờ thị trường mới mở và nhân công lao động rẻ. Công nhân Việt Nam cần mẫn, khéo tay, chỉ cần được đào tạo, huấn luyện một thời gian ngắn họ có thể đảm đương các khâu của dây chuyền sản xuất công nghiệp, như một thứ robot sống. Tiền lương chỉ hơn 100 USD/tháng, làm việc cật lực, ăn ở trong điều kiện khổ cực và không được đình công, bãi công, là những ưu thế của Việt Nam mà các ông chủ tư bản mặc sức khai thác.

Tuy nhiên,nhìn chung, lao động thiếu chuyên môn, chưa được đào tạo, các kỹ năng được trang bị không phù hợp với đòi hỏi của thị trường và nhiều lao động phải đào tạo lại& Ðây là một trong những lý do khiến năng suất lao động của người Việt Nam ở mức thấp nhất Châu Á, chỉ bằng 1/5 lao động Malaysia và 1/15 lao động Singapore. [3]

Về lĩnh vực xuất khẩu, Việt Nam chẳng có gì đáng nói về công nghệ, hầu như chỉ xuất khẩu tài nguyên thô. Gạo và cà phê là những mặt hàng đứng nhất nhì thế giới, nhưng cũng chỉ về số lượng, chủ yếu xuất qua Trung Quốc và theo các chương trình nhân đạo của Liên Hiệp Quốc.

Hầu hết nông dân Việt Nam vẫn thu hoạch bằng tay hoặc các máy móc thô sơ, phơi phóng cũng thường “phó mặc cho trời” nên phẩm chất sản phẩm sau cùng bị ảnh hưởng khá nhiều. Gạo cấp thấp của Việt Nam thì không thể cạnh tranh với gạo cấp thấp của Ấn Ðộ về giá, còn gạo cấp cao của Việt Nam khó vượt qua gạo cấp cao của Thái Lan về chất lượng.

Tương tự như vậy với cà phê. Cà phê hạt Robusta của Việt Nam chỉ được xem như một thứ vật liệu để các tập đoan cà phê thế giới pha trộn, không thể nào nhảy được vào các thị trường lớn như Mỹ hay Châu Âu, Úc với thương hiệu của mình. Cà phê Trung Nguyên đang khó khăn tìm cách thâm nhập trường Mỹ nhưng cũng bị cạnh tranh gay gắt ngay trên mảnh đất của mình bởi Starbuck Coffee của Mỹ hay Caffe Bene của Hàn Quốc.

Trong năm nay, 10 tháng đầu năm, Việt Nam xuất khẩu điện thoại và linh kiện đạt 5,12 tỷ USD, chỉ sau các nhóm ngành hàng là dệt may (hơn 11,6 tỷ USD), dầu thô (6 tỷ USD) và ngang ngửa với nhóm hàng giày dép các loại (5,19 tỷ USD). Nói Việt Nam đã xuất khẩu sản phẩm công nghệ điện tử là lấy của người làm của ta. Thực tế đó là sản phẩm của Samsung Electronics Việt Nam. Còn các doanh nghiệp Việt Nam chưa sản xuất được cái sạc pin hay ốc vít.

Dưới đầu đề “Việt Nam tiến chậm, các đối thủ bay nhanh” tờ VietNamNet, ngày 07 tháng 9 cho biết, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) vừa công bố Báo cáo Năng lực cạnh tranh Toàn cầu (GCI) 2014-2015.

Năng lực cạnh tranh của các nước Ðông Nam Á tăng khá ấn tượng. Philippines tăng 07 bậc lên vị trí 52; Thái Lan tăng 06 bậc lên vị trí thứ 31; Malaysia tăng 04 bậc lên vị trí 20; Indonesia tăng 04 bậc lên vị trí thứ 34. Trong khi đó, Việt Nam chỉ tăng 02 bậc, lên vị trí 68 (năm ngoái, vị trí 70). Singapore tiếp tục duy trì vị trí á quân trong bảng xếp hạng tổng 144 nước trên toàn thế giới.

Trong khi Campuchia sản xuất được ô tô điều khiển bằng Smartphone, tại Việt Nam nhiều dự án đầu tư của các tập đoàn sản xuất ô tô hàng đầu thế giới phải rời bỏ Việt Nam với lý do họ không thể tìm mua các linh kiện đơn giản như ốc vít, dây điện hay đồ nhựa.

Trên tờ “Ðất Việt” ngày 17 tháng 2 năm 2014, một số độc giả đã thẳng thắn nói:

“Không biết giáo sư ,tiến sĩ của ta nhiều như vậy để đi đâu hết rồi mà chịu thua kém họ vậy? Có ai tự ái vì điều đó không hay thấy họ phát triển mặc họ,còn ta cứ táng tàng.”

“Việt Nam có cả viện hàn lâm, viện hoa học này nọ… Tiến sĩ, kỹ sư của Việt Nam nhiều như nấm, thế mà xe đạp điện vẫn nhập khẩu, nồi cơm điện, bàn ủi vẫn phải lắp ráp từ linh kiện của nước ngoài.”

“Thì là bởi Việt Nam có quá nhiều giáo sư, tiến sĩ, kỹ sư giấy, ăn tục nói phét giỏi, đụng một tí mở miệng ra là cơ sở khoa học này, luận cứ khoa học nọ, ai làm thì gièm pha đố kỵ người ta, còn mình thì chẳng có một cái sản phẩm nào. Bản chất tự ti nhưng thừa đố kỵ. Năng lực thì đừng nói thực tiễn mà ngay cả lý thuyết cũng ú ớ nhưng chém gió thét lác thì thành thần.” [4]

Sức “sáng tạo” của Việt Nam thực chất chỉ nhìn thấy rõ nhất ở sự đua đòi, ăn chơi, sử dụng các sản phẩm của phương Tây. Một giai cấp nhỏ trong xã hội giàu lên nhanh chóng nhờ tham nhũng, đầu cơ bất động sản, buôn lậu, đã tỏ ra rất “sáng tạo” trong việc xài tiền hoang phí, lập dị. Thói huênh hoang, kiêu ngạo cũng cùng lúc phát triển.

Với toàn bộ cấu trúc của một nền kinh tế và hệ thống chính trị giết chết sáng tạo như thế mà ông Nguyễn Tấn Dũng huênh hoang rằng, “Ðến năm 2030, Việt Nam trở thành một nước sản xuất lớn về thiết bị điện tử với công nghệ mới, thông minh và thân thiện với môi trường.”

Cứ nhìn sau 40 năm hòa bình Việt Nam vẫn đang đứng áp chót trong bảng xếp hạng “Good Country Index” của Liên Hiệp Quốc (2014) về sự đóng góp cho nhân loại, thì đủ thấy. Cho nên nhân gian mới mỉa mai:

“Bốn ngàn năm ta vẫn là ta
Từ trong hang đá chui ra
Vươn vai một cái rồi ta chui vào!”

Ghi chú:

[1]: http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/adb-kinh-te-viet-nam-khong-sang-tao-bang-lao-3079095.html13-09-2014
[2]:
http://bee.net.vn/channel/2981/201201/Viet-Nam-co-bao-nhieu-bang-sang-che-My-cong-nhan-1822969
[3]: http://dantri.com.vn/kinh-doanh/nang-suat-lao-dong-cua-15-nguoi-viet-bang-1-nguoi-singapore-939227.htm?mobile=true5-9-2014
[4]:
http://baodatviet.vn/kinh-te/thi-truong/cong-nghiep-oto-viet-nam-thua-kem-cung-vi-tien-sy-giay-3001248/

Low iron intake during pregnancy can increase risk of autism


From The Westside Story



A recent study published in the American Journal of Epidemiology scrutinizes the relationship between low iron uptake during pregnancy and development of autism disorder in the infants. It reveals that low iron uptake can increase the risk of autism by five-folds if the mother’s age is 35 or above or if she is suffering from metabolic disorders such as diabetes, hypertension and obesity.







Low Iron mineral intake during Pregnancy can increase the risk of Autism Spectrum Disorder in infants




Low iron uptake can increase the risk of autism by five-folds if the mother’s age is 35 or above or if she is suffering from metabolic disorders such as diabetes, hypertension and obesity. (The Westside Story)


“The association between lower maternal iron intake and increased autism spectrum disorders risk was strongest during breast feeding”, said Rebecca Schmidt, lead study author and assistant professor in the department of public health sciences at the University of California, Davis.


The study was conducted with mother-child pairs enrolled in the Northern California- based Childhood Autism Risks from Genetics and Environment (CHARGE). Participants included mothers of both autism affected children and with typical development. Researchers examined maternal iron intake among the participants including other nutrition, vitamins during three months prior to through end of the women’s pregnancy and breast feeding. Mothers’ daily iron intake was observed, together with frequency, dosage and the brands they consumed.


It was noted that iron deficiency affects majority of women (about 40-50%) posing threats to their infants.

Read the full articl HERE.

Stress, Vietnamese-style


By Andrew Lam, Huffington Post



At an ultra-chic bar called Nam Kha, a well-dressed woman in her mid-twenties named Tram tells me that she’s “si-tret.” She speaks Vietnamese but switches to English for a word heard often here. There is no equivalent word in her language. The closest you can get is cang thang than kinh–tension of the mind.







Stress, Vietnamese-style




Vietnamese man using cell phone while on motorcycle. (Huffington Post)


Stress is probably the biggest trend to hit Vietnam from America since MTV. At first glance it seems impossible: Vietnam, after all, is a country full of hardworking young people, and rural life is backbreaking for the majority. Generation after generation has known nothing but sweat and toil. But stress is a phenomenon not of simple hard work. It is a kind of symptom associated with young, upwardly mobile urban professionals in peacetime.


One is “si-tret,” therefore, like Huy Phan, thirty-two, an ad executive for Tien Phong publishing company, an association of lifestyle magazines. This evening at the Nam Kha bar he has lost his voice after talking nonstop for four hours with clients, models, and photographers on his expensive cell phone. “It’s always like this,” Huy complains. “It’s my day off, but I never stop working. I’m terribly si-tret.”


Vietnam’s upwardly mobile urban young are given to multitasking these days. Next to Huy, Tram is talking on one phone, ordering a drink, conversing with another friend, and, yes, text messaging on another cell phone–all at once. “I have a headache almost every night,” Tram complains. “I never had this kind of headache until I got my new job.” Her new job: overseeing dozens of young saleswomen in a cosmetic company.


Huy and Tram are quick to acknowledge that they are a privileged group with opportunities unavailable to previous generations in communist Vietnam. Just a generation ago more or less everyone had to stand in line to buy rice, and moving from city to city was a prohibitively complex task that required navigating Vietnam’s heavy bureaucracy. These days, young twenty- and thirty-somethings like Huy vacation regularly in Thailand and Singapore. Huy has traveled twice to the United States. Tram flies to Thailand every few months to “de-si-tret” herself. How? “I go shopping,” she laughs.


The owner of Nam Kha, on the other hand, says he’s not si-tret. Duc Phan, thirty-two, one of three partners who own a growing conglomerate of silk stores, restaurants, and resorts in Vietnam, is gentle and calm. He tells me his secret. “I have very good managers,” he says, smiling and patting the shoulder of a handsome young man standing next to him. “They si-tret on my behalf.”


Vietnam is a heated economy, in Asia second only to China in terms of growth. Tourism, too, is increasing. Bob Bannerman, who works for the U.S. consulate in Saigon, says that he sees a shift toward more economic and political transparency here in the last few years. “More and more foreigners are coming in to invest,” says Bannerman. “Vietnam wants to be taken seriously now, and there are many smart young people doing amazing things here.”

Read the full article HERE.

Meet the woman bringing fashion from South Asia to the world stage


By ALLY BETKER, Vogue



“Fashion is a tool not just to experiment with our identities, it can also be used to make a difference in this world,” says Sana Rezwan, founder of Indelust.com. Rezwan started building the e-commerce site in the wake of the 2013 Rana Plaza factory disaster in Bangladesh, with the goal of bringing ethically sourced fashion and home goods from emerging designers on the Indian Subcontinent to a global audience. “It’s not really about this Bollywood, brightly colored, ostentatious fashion culture anymore,” says Rezwan. “There’s an almost Scandinavian feel to this emerging sensibility of using old techniques and applying them in contemporary ways. Every product we curate not only has a positive social impact, but there’s also a level of design that falls under the Indelust aesthetic.”







Meet the woman bringing sustainable fashion from South Asia to the world stage




Sana Rezwan (Vogue)


 


Read the full article HERE.

Cột tay lính bằng luật

Nguyễn-Xuân Nghĩa

Sư đoàn luật sư trong nhiễu âm của nước Mỹ

Trong nhiễu âm của Chính Quyền Barack Obama về chiến lược đối phó với tổ chức khủng bố xưng danh “Nhà nước Hồi Giáo” (hay IS, ISIS, ISIL) người Việt ta bỗng lãnh một cái tát muộn. Mục “Hoa Kỳ nhìn từ bên ngoài” nói về cái tát đó rồi mới trở về tiếng cãi cọ như trong trại gà của ban tham mưu Obama.

***

Thứ Tư 17 vừa qua, giám đốc Tình Báo Quốc Gia Hoa Kỳ là James Clapper công bố phúc trình về “Chiến lược Tình Báo Quốc Gia.” Dịp này viên chức cầm đầu 16 bộ phận an ninh tình báo Mỹ – kể cả CIA, FBI và nhiều đơn vị quân báo hay nội an – trả lời nhà báo phỏng vấn. Và tự thú vài chuyện động trời: 1) “Chúng ta lỡ đánh giá thấp ý chí chiến đấu của IS, 2) như đánh giá thấp Việt Cộng, và 3) Bắc Việt, và 4) đánh giá quá cao ý chí của miền Nam Việt Nam.”

Trong một câu ngắn mà nói bốn điều sai thì chỉ có thể làm tham mưu cho một người như Obama.

Thứ nhất là phân biệt Việt Cộng với Bắc Việt, vốn là thực thể thống nhất. Thứ hai là nói về ý chí chiến đấu của Hà Nội mà quên sức yểm trợ ồ ạt của liên bang Xô Viết và Trung Cộng. Thứ ba là coi thường ý chí chiến đấu của quân lực miền Nam, một quân đội bị Hoa Kỳ xẻ ngang gọt dọc từ sau 1965 để tiến hành chiến tranh theo kiểu Mỹ mà vẫn bền chí chiến đấu cho tới khi Mỹ nhụt chí, rồi bị cột tay trao trọn gói cho đối thủ vào năm 1975.

Năm đó James Clapper là sĩ quan cao cấp của Không Quân Hoa Kỳ nên không thể không biết về cuộc chiến Việt Nam. Mà nay vẫn nói nhảm để chạy tội cho nước Mỹ về hồ sơ Việt Nam, nhân tiện nhục mạ một đồng minh đã bị bức tử!

Bây giờ trở lại chiến lược chống IS của Chính Quyền Obama như một sân nuôi gà vịt.

***

Chiến Lược Obama không chỉ thiếu nhất quán mạch lạc mà còn ồn ào phát ra nhiều tín hiệu mâu thuẫn vì vậy mới bị gọi là nhiễu âm. Hãy bắt đầu từ viên tư lệnh Trại Gà Obama, huê dạng như chú gà sống thiến.

Ba tháng sau khi gọi lực lượng IS này là “đội banh tay mơ” Junior Varsity, tổng thống Mỹ mới công nhận mối nguy của IS cho quyền lợi Hoa Kỳ. Rồi ỏn ẻn cho biết là chưa có chiến lược gì để đối phó. Năm tuần sau khi ù ù cạc cạc bên trong rồi Obama mới nói đến quyết tâm tiêu diệt đối thủ, bằng cách phân giải thành từng bài toán “có thể xử lý được.” Sau đó mới là bài diễn văn hùng hồn hôm mùng 10 Tháng Chín về một chiến lược làm mọi người hiểu sao cũng được nên… chẳng hiểu gì cả.

Trừ một việc là nhất quyết không thả các đơn vị tác chiến vào trận địa (No boots on the ground).

Sau khi tổng thống Mỹ mô tả cách xử trí với mối nguy IS – mô tả chứ chưa phải là chiến lược – ban tham mưu của ông mới ào ạt xuất quân.

Ðầu tiên là Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Suzan Rice từ nách chuồng gà te te ra điểm xuyết cho Chiến Lược Obama trên hệ thống CNN vào ngày 11: “Tôi chẳng biết rằng ông nên gọi đó là một cuộc chiến hay một chiến dịch chống khủng bố kéo dài. Riêng tôi thì cho rằng đấy là một chiến dịch chống khủng bố cần nhiều thời gian.” Xin nhấn mạnh giúp độc giả: “cuộc chiến” (war) có khác với “chiến dịch chống khủng bố (counter-terrorism campaign). Nhân đó ta phân biệt thêm với “chống nổi dậy” (counter-insurgency). Hình như là có khác với “chiến tranh.”

Rồi suốt một tuần thì Ngoại Trưởng John Kerry tả xung hữu đột để phân bua rằng, “Một chiến dịch không tập tại Iraq chưa thể là một cuộc chiến…. Nhưng nếu có ai hiểu rằng chúng ta đang có chiến tranh với tổ chức ISIL thì cũng được.”

Khi bị báo chí vặn hỏi, hôm 12, Tùy viên báo chí của tổng thống là Josh Earnest lập luận rằng chiến dịch quân sự chống ISIS có cơ sở pháp lý là “được Quốc Hội cho phép dùng vũ lực chống tổ chức al-Qaeda và chế độ Saddam Hussein.” Vòng qua đó rồi, Earnest mới xác định rằng, “Hoa Kỳ đang có chiến tranh với ISIL.” Phát ngôn viên Bộ Quốc Phòng là Phó Ðề Ðốc John Kerby mới chỉnh nhẹ Tùy Viên Báo Chí, rằng, “Ðây không là cuộc chiến như Chiến Tranh Iraq năm 2002. Nhưng xin quý vị đừng lầm, chúng ta đang lâm chiến với ISIL như đã và đang lâm chiến với al-Qaeda và các chi nhánh.”

Nếu quý độc giả có ù tai về mấy cấp biện bạch ấy thì xin đừng tuyệt vọng.

Trước khi trù hoạch ra chiến lược chống tổ chức nhà nước Hồi Giáo IS, ban tham mưu của tổng thống Mỹ đã ồn ào tranh cãi về mục tiêu hay định nghĩa của việc dụng binh. Có là chiến tranh hay chăng? Ngần ấy cách giải trình đều cho thấy Mỹ đang thực tế lâm chiến với tổ chức IS, nhưng vì tổng thống nói trước là sẽ không có lính lâm chiến, nên Hoa Kỳ có tranh mà chưa có chiến.

Trong vụ tranh cãi này, giới kaki nghĩ sao về vai trò của một quân lực thuộc loại tối tân và tinh nhuệ nhất vì tác chiến nhiều nhất từ hơn 70 năm nay?

Từ các đại tướng đương nhiệm – như Tổng Tham Mưu Trưởng Martin Dempsey đến Tham Mưu Trưởng Lục Quân Raymond Ordierno – tới các tướng dày công hãn mã vừa hồi hưu như James Mattis, người ta thấy ra khác biệt quan điểm với ban tham mưu của tổng thống: 1) không nên lâm trận mà tự giới hạn trước là chỉ oanh kích và không cho binh lính lâm chiến; 2) nếu 1,600 lính Mỹ đang huấn luyện quân đội Iraq mà phải tiếp tay truy lùng quân khủng bố IS thì nên cho phép, dù có thể gọi đó là tác chiến; 3) chứ nếu nói mãi rằng Hoa Kỳ không thả quân vào trận địa thì sẽ tự chui vào bẫy…

Khi các tướng lãnh nêu ý kiến như vậy và chờ lệnh tổng thống thì từ Tòa Bạch Cung đã có lời điều chỉnh, và dư luận còn được biết thêm rằng chính phủ tổng thống sẽ chọn từng mục tiêu không tập cho các đơn vị thi hành.

Tổng kết lại thì Chiến Lược Obama là chuyện quân hồi vua phèng, ông nói gà bà nói vịt, và quy vào định nghĩa “chiến tranh,” quyền lâm chiến, quy cách tác chiến và thể thức giao tranh. Trật một cái là binh lính có thể vi phạm luật lệ.

Tại sao lại khổ như vậy? Câu trả lời là… “Tại vì…. cuộc chiến Việt Nam!”

***

Sau trận thảm bại Việt Nam, Ðảng Dân Chủ, truyền thông và các nhà luật học trên tháp ngà hết tin vào tổng thống hay ngũ giác đài về chuyện chiến hòa và về thể thức ra quân. Từ đấy về sau, họ muốn là mọi quyết định từ chiến lược đến chiến thuật đều phải có hợp pháp.

Ði sâu xuống dưới là loại câu hỏi thế nào là khủng bố, là tù binh, tòa án nào sẽ xử các hung thủ đã bị bắt, trò “trấn nước” có phải là tra tấn không? Vân vân…

Hậu quả, Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ nay có dưới trướng một vạn luật sư, đủ quân số cho một sư đoàn có nhiệm vụ thanh lọc lại mọi tính toán quân sự theo tiêu chuẩn “hợp pháp.” Quân chủng đó mới chỉ đạo kế sách cho quân đội đệ trình tổng tư lệnh trong Tòa Bạch Cung duyệt xét.

Lên tới cấp này, quan điểm của dân chuyên nghiệp lại qua hai cái lọc: Bộ Tư Pháp và Ban Tham Mưu An Ninh của phủ tổng thống. Ðến Tổng Thống Obama thì còn thêm cái lọc thứ tư, dàn cố vấn chính trị từng phất cờ tranh cửa năm xưa và nay đã lên quan. Dù chỉ biết cầm súng nước, đám thầy dùi ấy có biệt tài đón gió để khuyên tổng thống lấy những quyết định an toàn nhất về chính trị cho…Obama.

Còn thắng bại của quốc gia, hay tử sinh của binh lính, là chuyện không đáng kể.

Vì thế, khi truy đuổi kẻ thù, việc binh lính có được quyền đạp đất không mới là chuyện chỉ có tại nước Mỹ.

Các đồng minh nghĩ sao về việc sát cánh với Hoa Kỳ để chống khủng bố? Hèn gì, họ né!

Higher education must focus on flexibility


From University World News



‘Does the higher education system in Vietnam address the demands of the nation and people within the global age?’ The answers to this crucial question are developed and discussed in a new book, Higher Education in Vietnam: Flexibility, mobility and practicality in the global knowledge economy, published as part of the Palgrave Series on Studies in Global Higher Education.







Higher Education in Vietnam: Flexibility, mobility and practicality in the global knowledge economy




Higher Education in Vietnam: Flexibility, mobility and practicality in the global knowledge economy. Image from (Book Depository)


The weakest education sectors in Vietnam at present are higher education, vocational education and training and university research.


Yet in the age of the global knowledge economy, these sectors should play the central role in human capacity building, providing knowledge and skills essential to the independent development of the country. Education, training and research are integral to national development and global modernisation.


At the same time, they should ensure a modernisation with Vietnamese characteristics and draw on the nation’s traditional strengths.


Challenges


‘Doi Moi’ is a flexible and practical response of the Vietnamese government to the challenges of national development, releasing the talents of families, communities and corporations to build the national economy in the common interest and hastening the process of technological change and economic modernisation.


But is there a corresponding capacity for production, innovation and response in the education sector?


Unless it is deeply reformed, the education system will not do this. Education and research are public goods. Their effects go beyond the context of education and affect personal, social, cultural, political and economic life.


When the quality of education, learning, knowledge and research in Vietnam are lifted, then the environment in which everybody lives will be transformed.


Although there is a good tradition of teaching in Vietnam and a strong commitment to education in many families, and these factors contribute to a relatively strong national performance in the 2012 PISA comparison of school student achievement (OECD, 2013), there are problems in basic schooling in Vietnam.


The education system is less strong at the levels of upper secondary education than basic education. And it is weaker still in higher and vocational education, where much training is not relevant to the needs of the economy and scientific research and social research of genuine world standard are minimal, even in the country’s leading universities.


There are widespread concerns that the higher education sector is out of tune with the demands of the market economy, the society and the globalised world.


Many of the beliefs underpinning the higher education curriculum are rigid and outdated, isolated from education reforms in other countries and the international currents of knowledge, new technologies and the needs of the country itself. The development of soft skills and the attributes of students are not given sufficient emphasis.


Graduate employability is a concern facing graduates, universities and policy-makers as well as the entire society. More than 162,000 university graduates are unemployed at present, according to the International Labour Organization.


Work-integrated learning as part of both the formal and informal curriculum is minimal. Many students are not provided with the opportunity to gain relevant work experience in their field of study.


Institutions of higher education are often inefficiently governed and trapped in red tape. At every level, education is top-down and bedevilled by a burdensome hierarchy: this is tradition without flexibility.


It is common practice that students are used to studying without much critical reflection and without learning knowledge that is challenging. Most students find it hard to think creatively or to respond flexibly to emerging challenges.


Underfunding


Universities and colleges are severely under-funded, not just compared to richer countries but also compared to other emerging nations for whom education has been a larger priority for national government in recent years than it has been in Vietnam.


Professionals working in tertiary education are not sufficiently paid. We cannot expect them to be the great teachers and creative, practical researchers we want them to be – and we know they could be – until they are free to give all their time to the work and until it is no longer necessary for them to work in extra paid jobs in order to make enough for their families to live on.


Vietnam follows the Soviet model of higher education under which universities and research institutions are treated as separate bodies. This model is increasingly inadequate to meet the scientific, economic and social needs of countries today.


Universities are more than just teaching and training institutions. They are supposed to produce knowledge that helps develop the nation, especially in a knowledge economy, which the countries of the whole world are moving towards, including Vietnam.


Both Vietnam’s national tradition and modern challenges emphasise the need for flexibility, practicality and mobility as core national virtues.


Therefore, the book argues for a system of higher education and tertiary training that enables the development of flexible, practical and mobile citizens; one that is also founded in a flexible, practical and mobile view of knowledge; so as to best equip Vietnam for the challenges of an ever-changing world.


Flexibility


Many of today’s higher education students will change jobs frequently during their lifetime and some will move between very different industries, sectors and roles.


In the market-oriented economy, amid Vietnam’s changing social and employment structures, new professions, hybridised professions or transformed professions are always emerging.


The challenges of modernisation and economic development in the global setting require flexibility and adaptability; and people trained in specific occupations often find themselves working in new areas after graduation.


At the same time deep specialist knowledge, and the capacity to acquire complex contents and new skills for contextual use, can be equally important. It is essential that government, universities and industry together ensure that sufficient specialists are trained in fields important for the functioning of economy and society.


Flexibility in education is about people and their capacity to learn to flexibly and adaptively work on their own behalf. This requires the progressive transformation of classrooms at all levels in Vietnam into learner-centred environments that help students develop their skills, especially soft skills, and attributes rather than just their content knowledge.


Teachers should be nurturers of not only creative thinking but also the humanistic development of students.


It is vital that the tertiary education system prepares students not only for the solely instrumental purpose of participating in the labour market but also for the social goal of contributing to the community – while at the same time fulfilling their personal aspirations.


The best tertiary education structure for Vietnam is one that nurtures the development of flexible students who are capable of being socially, regionally and transnationally mobile, and who develop multiple identities – while at the same time these students not only cherish their personal agency but also retain and evolve their Vietnamese heritage.


As higher education advances in Vietnam, institutions in education must further develop their capacity for self-organisation, progressively moving away from top-down and line-managed structures towards local organisations responding directly to their immediate environment and to the agency of stakeholders within those organisations – even while working within the framework of national policies and objectives.


Systems and structures should be especially flexible and responsive to changing needs. What really matters is the goals that they address and the people they serve.


There is nothing sacred, fixed or unmovable about structures and processes of government, management and institutional education. Structures, rules and processes should change over time in response to need.


However, this is a new way of doing things and not everyone is ready. To build capacity in flexible local management the country will need to develop and implement extensive training programmes.

Read the full article HERE.

Catherine Andree Tifaine Đỗ

Film review: ‘Flapping in the Middle of Nowhere’


By GUY LODGE, Variety



A gauchely translated English title does little justice to the refined sensuality and sly strangeness of “Flapping in the Middle of Nowhere,” an immediately distinctive feature-length debut for Vietnamese femme helmer Diep Hoang Nguyen. Though it’s steeped in a rich, particular cultural and spiritual milieu, there’s a universal feminist resonance to this story of a pregnant teen whose plans for an abortion are repeatedly obstructed by financial and romantic complications. Formally daring, politically probing and several tropical fever dreams removed from “Juno,” Diep’s unique take on a girl-in-trouble narrative made a strong critical impression at Venice and should continue to spread its wings on the international festival circuit. That mealy mouthful of a title, however, may be an apt description of its commercial prospects.







Film review: ‘Flapping in the Middle of Nowhere’




Screenshot from ‘Flapping in the Middle of Nowhere’ (Variety)


Leading Vietnamese auteur Tran Anh Hung is credited as a “special consultant” on “Flapping in the Middle of Nowhere,” and it’s not hard to imagine his own 1993 debut, “The Scent of Green Papaya,” as a formative influence on Diep. Her film is a comparably delicate examination of class and carnal coming-of-age, though its more bristly eroticism, lashed with sour humor, clearly points to the passing of a generation — while Diep, in turn, is preoccupied with the heightened, liberated sexual awareness of her country’s youth. Yet it’s a freedom that clashes harshly with the economic strictures curtailing the options and ambitions of 17-year-old protagonist Huyen (Thuy Anh Nguyen) and her contemporaries; the titular metaphor likens them to birds caught in mid-air.


Huyen has at least flown some distance, having left her rural village to pursue a college education in the Vietnamese capital of Hanoi. That her roommate Linh (Thanh Duy Pham Tran, resembling a spiky blend of ladyboy and Miley Cyrus) is a transgender hustler already points to the expansion of her sensibilities. Her own lovelife is less adventurous: Her deadbeat b.f., Tung (Hoang Ha), is a low-earning, debt-riddled municipal worker and amateur cockfighter who is less than delighted when Huyen announces that she’s pregnant with his child. They agree to pool their resources for an abortion, though shortly before the date of the operation, he takes off with the necessary funds. Desperate for cash, Huyen follows Linh into escort work and strikes up a tenderly obsessive bond with wealthy, pregnancy-fixated client Hoang (Bao Son Tran).

Read the full article HERE.

Tâm bút Võ Phiến, qua ‘Bắt trẻ đồng xanh’ (tiếp theo kỳ trước)


Du Tử Lê


Với tôi, ngoài nỗ lực đẩy dòng văn chương tiền chiến đi tới cùng đường của nó ở hai khía cạnh: Rọi lớn và đi thấu tới phía khuất lấp của những sự kiện đặc thù, tiêu biểu cho sinh hoạt xã hội thuộc đời đại của mình, và đào sâu khía cạnh tâm lý nhân vật… thì, Võ Phiến là một trong vài nhà văn lớn của miền Nam, giai đoạn 1954-1975, khi ông quyết liệt nêu cao lý tưởng dùng văn chương, tranh đấu cho những quyền làm người căn bản, như quyền: Tự do tư tưởng. Tự do tín ngưỡng. Tự do yêu thương. Duy trì nền móng gia đình…Vốn là những quyền tự do căn bản mà chủ nghĩa Cộng Sản chẳng những phủ nhận mà, còn thẳng tay xóa bỏ.








Nhà văn Võ Phiến tháng 8, 2014. (Hình: dutule.com)


Ðể có một cái nhìn mang tính phác họa toàn cảnh, sinh hoạt 20 năm văn chương miền Nam, trong giai đoạn vừa kể, tôi trộm nghĩ, ở thời điểm đó, sinh hoạt văn học miền Nam có thể tạm chia thành 3 khuynh hướng chính, sau đây:

– Khuynh hướng thứ nhất, là khuynh hướng nỗ lực đi tìm cái mới cho văn chương, đứng ngoài mọi biến động xã hội, lịch sử. Khuynh hướng này được nhiều nhà văn miền Nam thời đó, hưởng ứng, xiển dương. Như thể đó là nhiệm vụ hoặc vai trò cao cả mà nhà văn, sau giai đoạn văn chương tiền chiến, được “vinh hạnh” nhận lãnh.

-Khuynh hướng thứ hai, là khuynh hướng “nhập cuộc.” Khuynh hướng này chẻ thành hai nhánh.

– Nhánh “nhập cuộc” thứ nhất, chủ trương lên án chế độ miền Nam. Ðược gọi vắn tắt là “phản chiến”hay, “thiên tả.” Ðặc điểm của khuynh hướng này là tuy lên án chiến tranh, nhưng chỉ “kết tội” chế độ miền Nam mà, không nhắc nhở gì tới “tội trạng” quyết tâm “giải phóng” miền Nam do chính quyền Cộng Sản Hà Nội chủ trương.

Sự thực, theo tôi, khuynh hướng này giống như một phong trào, tạo thành bởi những văn nghệ sĩ tự cho mình là thành phần trí thức, hay bị mặc cảm thuộc thành phần…kém trí thức… Nên đã hăng say tự khoác cho mình chiếc áo “thiên tả,” hầu có được nhãn hiệu “trí thức cấp tiến”! Ðó là một món hàng tinh thần, mang tính “thời thượng” rất “ăn khách” thuở đó, ở nhiều nơi trên thế giới.

– Nhánh “nhập cuộc” thứ hai, minh thị quan điểm ca ngợi những hy sinh xương máu của người lính VNCH, trong nhiệm vụ bảo vệ tự do cho miền Nam.

Là nhà văn nặng lòng với tương lai đất nước, dân tộc, nhà văn Võ Phiến không rơi vào một trong ba xu hướng văn chương mang tính thời thượng đó. Ông tách khỏi những dòng cuốn bất cập kể trên.

Ông trở thành nhà văn gần như một mình, đi trên con đường lý tưởng của mình. Giá trị những tác phẩm Võ Phiến viết ra trong giai đoạn này, hoàn toàn đứng trên phương diện ý thức hệ, chứ không phải là những phản ứng thụ động hay, những tranh đấu có tính cách…ngoài da, xức thuốc đỏ!

Do đấy, tôi không chút ngạc nhiên, khi người Cộng Sản miền Bắc đã đánh giá Võ Phiến như một “biệt kích văn nghệ” nguy hiểm hàng đầu!

Mặc dù không phải là nhà văn duy nhất chủ trương tranh đấu (bằng ngòi bút) chống lại lý thuyết, đường lối của chế độ Cộng Sản, vì cùng thời với ông, cũng có một vài nhà văn tố cáo, lên án chủ trương giới hạn mọi quyền sống căn bản của con người. Nhưng hầu hết họ biểu thị quan điểm của mình bằng những ẩn dụ, đôi khi rất khó nhận ra với những người đọc ít chú ý.

Phần Võ Phiến, ngược lại. Với tôi, ông là một trong rất ít nhà văn, công khai quyết liệt chống trả chủ trương triệt tiêu quyền làm người của chủ nghĩa Cộng Sản. (4) Ông cũng là người gần như duy nhất, minh danh tố cáo trước dư luận trong và ngoài nước những âm mưu “trồng người” tinh vi của chế độ Cộng Sản Hà Nội, qua tác phẩm “Bắt trẻ đồng xanh.”

“Bắt trẻ đồng xanh” của Võ Phiến, không phải là một truyện ngắn hay tùy bút. Nó là một tiểu luận. Phần riêng, tôi muốn gọi đó là Tâm Bút Võ Phiến. Bởi vì đó là một tiểu luận đầm đìa xót xa của một nhà văn, thấy trước bi kịch, phân tích từng chi tiết để dẫn tới cảnh báo nghiêm trọng về tương lai của cả một dân tộc.
Tôi nghĩ, đó là tâm-thái của một nhà văn trước những thảm trạng dân tộc, tổ quốc của ông ta.

Tâm Bút “Bắt trẻ đồng xanh” được Võ Phiến viết vào tháng 10 năm 1968. Ðó là thời gian thế giới bắt đầu bàn luận sôi nổi về một cuộc ngưng chiến tại Việt Nam. Ông dùng sự kiện thời sự này để làm một cuộc “rọi đèn” chói gắt nhất vào những mảng khuất lấp của những âm mưu, thủ đoạn của người Cộng Sản, trong quyết tâm thôn tính miền Nam. Mà, người đóng cùng một hai vai: Ðạo diễn và diễn viên, chính là ông Hồ Chí Minh, ngay tự những năm 1954, khi Hiệp Ðịnh Geneva, chia đôi Việt Nam, được khi kết:

Mở vào Tâm Bút của mình, Võ Phiến viết: “Trong bao nhiêu năm trời, chúng ta đã quen với nếp sống chiến tranh đến nỗi hòa bình làm chúng ta bối rối. Nhưng thiết tưởng ngưng chiến không đáng làm chúng ta bận tâm đến thế. Chiến tranh này sắp kết thúc, bằng cách này hay cách khác, hoặc sớm hơn một ít hoặc chậm hơn một ít. Chuyện phải đến rồi sẽ đến, nó xảy đến ra sao dường như cũng đã được trù liệu.” (5)








Nhà văn Võ Phiến 2011 (Hình Dân Huỳnh/Người Việt)


Với bản lĩnh điềm tĩnh tới lạnh lùng (đôi khi mỉa mai, cay nghiệt) tác giả chỉ ra cho độc giả thấy những ngây thơ, thiển cận của giới lãnh đạo, hoặc những người làm chính trị ở miền Nam, nói riêng, phe tự do nói chung, tác giả viết tiếp: “Cái đáng bận tâm là những điều tiếp theo cuộc ngưng chiến ấy.

– Thì các vị lãnh đạo của chúng ta đã tiên liệu rồi: đấu tranh chính trị chứ gì? kinh tế hậu chiến chứ gì?

Ðấu tranh chính trị, nó hiển nhiên quá, nó sờ sờ ra đấy, tưởng như rờ mó được. Nói rằng trong giai đoạn tới ta với Cộng Sản phải đấu tranh chính trị với nhau, nói thế gần như không phải là tiên liệu gì ráo. Ðó là đối phó. Chuyện ấy đến ngay trước mắt rồi, ta buộc lòng phải đối phó tức khắc, thế thôi.

Nhưng nói thế còn là khá. Hầu hết mọi người chỉ chăm vào những cái gần hơn nữa: hàng mấy trăm ký giả mỗi tuần bu đến phòng họp báo của các phái đoàn Hoa Kỳ và Bắc Việt để ghi lấy dăm ba câu tuyên bố loanh quanh, các bình luận gia khét tiếng của báo này báo kia, đài này đài nọ bóp trán suy đoán xem lúc nào thì ngưng oanh tạc dưới vĩ tuyến 19 v.v… Thiên hạ theo dõi ý kiến của họ…”

Trong khi đó, đâu là đường lối hay chiến lược của người Cộng Sản? Trả lời câu hỏi quan trọng này, tác giả “Bắt trẻ đồng xanh” cảnh giác:

Trong lúc ấy nhóm lãnh đạo ở Hà Nội lặng lẽ lo liệu công việc mai sau: tức một cuộc chiến tranh khác. Một cuộc chiến tranh quân sự hẳn hòi. Và họ tiến hành thực hiện chuẩn bị, ngoài sự chú ý của dư luận: các bình luận gia có tiếng, khét hay không khét, gần như không mảy may quan tâm đến chuyện ấy.

Thế mà đó mới là chuyện đáng quan tâm. Thiết tưởng là chuyện đáng quan tâm hơn cả vào lúc này. Bởi vì nếu ta mù tịt về ý định của đối phương trong tương lai thì trong cuộc đối thoại thương thuyết với họ hiện thời ta làm sao biết đặt ra những điều kiện cần thiết?

Cuộc bắn giết sắp tới giữa miền Nam và miền Bắc đã được Cộng Sản xếp đặt từ lúc này, cũng như cuộc bắn giết thê thảm mười năm qua được họ xếp đặt từ trước tháng 7, 1954, trước ngày đình chiến theo Hiệp Ðịnh Genève…” (6)


(Còn tiếp một kỳ)


Chú thích:

(4) Có thể kể nhà văn Nguyễn Mạnh Côn với tác phẩm “Ðem *tâm tình viết lịch sử”…*

(5), (6) Nđd.

Apple: 10 million iPhone 6 and 6 Plus sold


From Associated Press



NEW YORK — Apple says it sold more than 10 million iPhone 6 and 6 Plus models, a record for a new model, in the three days after the phones went on sale.







Apple: 10 million iPhone 6 and 6 Plus sold




In this Sept. 19, 2014 file photo, an Apple store employee arranges a stack of pre-ordered iPhone 6 Plus models, in New York. Apple on Monday, Sept. 22, 2014 said it sold more than 10 million iPhone 6 and 6 Plus models, a record for a new model, in the three days after the phones went on sale. (AP Photo/Julie Jacobson, File)


A year ago, Apple Inc. said it had sold 9 million of the then-new iPhone 5C and 5S models.


The iPhone is available in the U.S., Australia, Canada, France, Germany, Hong Kong, Japan, Puerto Rico, Singapore and the U.K. It will go on sale in 20 more countries on Sept. 26 and others by the end of the year.


CEO Tim Cook said Monday that demand for the phones has exceeded the company’s expectations. Besides larger screens, the new phones offer faster performance and a wireless chip for making credit card payments. The phones start at $199 with a two-year service contact.



Copyright 2014 The Associated Press. All rights reserved. This material may not be published, broadcast, rewritten or redistributed.

Vietnamese immigrant Kim Tran embodies the American dream


By Alyssa Jackson, Wayne Post



Kim Tran nearly died when fleeing from Vietnam when she was 25 years old. Her harrowing escape to Norway for freedom ultimately led her to the United States, a country for which she has endless love and respect.







Vietnamese immigrant Kim Tran embodies the American dream with her salon




Hair and Us moved locations from 1900 Clinton Ave. to 1988 Clinton Ave. Kim Tran cut the ribbon, with help from one of her sons, for the grand re-opening of the business she has owned for 15 years. (Wayne Post)


Tran is the owner of Hair and Us, a salon in Brighton that she has run for 15 years now. She inherited the salon when she bought it from the hair care franchise Fantastic Sams. As a successful business woman and hard worker, Tran is the perfect example of the very American dream that many assume is dead.


Tran fled Vietnam in 1979 due to the problems the country faced following the Vietnam War.


“We left because we were looking for freedom,” she said. “We were hungry for freedom.”


Travelling with her younger brother and sister, the three travelled by boat to Singapore before flying to Norway. On the boat ride, Tran faced emotional traumas.


“You should have seen the water,” she said. “You don’t even know where you are or which way is up because the water meets the sky and it’s all there is. You see the power [of the ocean] and how deep the ocean is. We were praying.”


After arriving in Norway, the siblings stayed for several years. But Tran said she was still “dreaming of America.” So, as a single mother with three children ages 12, 10 and 8, she travelled to the U.S. in 1999.


“Freedom is the most important thing for me,” said Tran. “We’ve gone through a lot so we understand the freedom here in the best way.”


Since moving to the U.S., Tran has worked hard with her business to become successful and to “repay” America for its hospitality. She often had her children travel while they were growing up, she said so they would better appreciate what they had here.


Tran’s eldest child is her daughter, who is now 28 and an RN at a hospital in Geneseo. Her two sons, now 24 and 26, are members of the U.S. Air Force. Tran said she is proud of all her children for working hard and helping others — a show of gratitude towards the U.S.


Although she loves the America, Tran does admit that she misses her parents, who still reside in Vietnam.


“I just miss my mom and dad,” she said. “They raised me and worked hard at their jobs.”


Hair and Us celebrated its grand re-opening on Aug. 26 after Tran had the salon moved from 1900 South Clinton Ave. to 1988 South Clinton Ave. The salon is a family-friendly business that provides hair cuts, coloring and waxing for all ages.


Although walk-ins are welcome at the salon, Tran stressed that appointments will ensure that there is time during their busy days to help everyone who stops by.

Read the full story HERE.

Banh Shop forced to remove ‘communist’ star from logo


From FOX News



Yum! Brands, the fast food conglomerate behind Taco Bell, KFC and Pizza Hut, just debuted its fast-casual Vietnamese eatery in Dallas called the Banh Shop.







Banh Shop forced to remove 'communist' star from Vietnamese restaurant logo




Banh Shop forced to remove ‘communist’ star from Vietnamese restaurant logo (FOX News)


But less than a week after the eatery opened, it was forced to pull its logo that featured a bright red star after Vietnamese-Americans complained that the image was a painful reminder of life under communist rule.


“Think about a German shop that sells bagels, and the logo has a swastika — what would you think?” Thanh Cung, president of the Vietnamese-American Community of Greater Dallas, told The Huffington Post. “That’s exactly what Vietnamese people in the United States feel.”


Bahn Shop, which opened on Sept. 12, is not the first company to use a red star on its logo– (Macy’s and Heineken also use a star), but the restaurant brands itself as Saigon street food.  Saigon was officially renamed to Ho Chi Minh City after the city fell to communists forces in 1975.


Dallas, which has a large population of Vietnamese Americans– many who fled the country fearing government persecution– was chosen as the first location for the new eatery.  Residents were immediately upset by the eatery’s branding, and an online petition was started last Wednesday.

Read the full story HERE.

Linh Mục Trần Công Vang và định mệnh với Tây Nguyên

 

Ngọc Lan/Người Việt

 WESTMINSTER, California (NV) – Chuẩn bị khấn trở thành tu sĩ tại Nha Trang thì biến cố 1975 ập đến. Trong phút chốc, người con Chúa phải rời khỏi làng xóm quê hương trên một chiếc trực thăng từ Hạm Đội 7 Thái Bình Dương đưa tới.

Dự định chỉ đến “trại cấm’ Hồng Kông giúp người Việt tị nạn trong 6 tháng, không ngờ lại kéo dài mãi đến lúc trại này đóng cửa vĩnh viễn, chấm dứt qui chế thuyền nhân.

Dự định chỉ về thăm lại quê hương sau 22 năm lìa xa trước khi quay trở về Mỹ, không ngờ lại là định mệnh níu lòng người linh mục ở cùng mảnh đất ngàn đời đói khổ Tây Nguyên.

Người luôn bị những bất ngờ, những ngẫu nhiên đưa đẩy ra khỏi những “dự định” đó chính là Linh mục Trần Công Vang thuộc Dòng Chúa Cứu Thế. Linh mục Vang hiện đang phụ trách cộng đoàn Miến Điện và dân tộc thiểu số tại nhà thờ St. James Catholic ở Concord, North Carolina.

Quan trọng hơn, Linh mục Trần Công Vang còn là người sáng lập và là hội trưởng Hội Việt Tộc Foundation, chuyên giúp cho đồng bào dân tộc thiểu số tại các tỉnh Gia Lai, Lâm Ðồng, Kontum và Daklak, từ năm 1998.

Linh mục Trần Công Vang tại Tòa Soạn Người Việt. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Con đường trở thành linh mục

“Tôi sinh ra ở Đà Nẵng. Năm 1962 vào chủng viện ở Huế thuộc Dòng Chúa Cứu Thế với ước mơ đơn sơ là được cùng với các cha sống cuộc đời chia sẻ, qua gương sống của họ.” Vị linh mục có giọng nói trầm ấm và nụ cười độ lượng bắt đầu câu chuyện mà ông cho rằng “mắc cỡ một chút khi phải nói về chính mình.”

Vào nhà Dòng khi mới 12 tuổi, ngoài lý do “chân thành” nhất là “rất thích đá banh mà lại thấy các cha đá banh hay quá”, cậu bé Trần Công Vang khi đó thật sự chưa biết gì là lý tưởng, là ước mơ, là phụng sự.

“Thế nhưng sau thời gian sống, tu, học hỏi, mình cảm nhận rằng cuộc đời cho đi của các ngài là điều làm cho mình thêm thiết tha, nhất là khi đất nước của chúng ta có những niềm đau, nhiều buồn hơn vui nên mình muốn đóng góp chút nào đó để cuộc đời hạnh phúc hơn. Đó là lý do mình vô dòng trở lại sau 4 năm ra sống cuộc đời bên ngoài trước khi có sự chọn lựa sống đời tu sĩ trọn đời.” Cha Vang kể.

Tuy nhiên, như đã nói ở trên, “khi chuẩn bị khấn trở thành tu sĩ thì biến cố 75 xảy đến, chuyến máy bay trực thăng từ Hạm Đội 7 Thái Bình Dương vào đưa mình đi trong ngày cuối.”

Ước mơ được làm linh mục để sống cho đời ngỡ đã tan khi đặt chân đến Mỹ, “nhưng dưới bàn tay Chúa hướng dẫn, một năm sau mình vào nhà dòng trở lại, sau một năm chung sức với anh em trong nhà lo vấn đề kinh tế.”

Năm 1983, Linh mục Trần Công Vang chịu chức tại New York và sau đó đến phục vụ tại tiểu bang North Carolina, “khi đó người Việt Nam mình mới hình thành cộng đồng nhỏ thôi, mỗi tuần đều phải đi mượn nhà thờ để làm lễ.”

Mười năm sau, khi có một linh mục khác đến North Carolina để có thể lo cho cộng đồng thì cha Vang quyết định “thử đến Hồng Kông.”

Lý do để vị linh mục này muốn thử đến nơi không ai muốn đến đó là vì “Mình nghe nói ở ‘trại cấm’ Hồng Kong dân của mình đang cần người.”

Ông nói như đang bộc bạch với chính mình, “Đời sống tị nạn của dân mình ở nơi nào cũng vậy, có nhiều niềm đau lắm. Nhất là đồng bào lìa quê hương, ước mơ đến được bến bờ tụ do là điểm tựa cho họ. Nhưng họ bị kẹt lại ở Hồng Kông vì không có được 2 chữ ‘tị nạn.’ Vì thế đời sống thanh lọc thách đố nhiều lắm. Đó là lý do mình muốn qua đó đồng hành cùng đồng bào của chúng ta.”

Dự trù trải nghiệm đời sống cùng người tị nạn trong nửa năm, nhưng “qua đó mới thấy dân tộc mình chịu nhiều thách đố lắm, thiếu cả những linh mục dấn thân. Thế là mình xin nhà dòng cho mình ở lại cho đến cuối đời trại cấm là năm 1997.”

Theo cha Vang, “Bốn năm ở Hồng Kông là những trải nghiệm quý nhất trong đời để qua đó mình thấy yêu quê hương mình hơn bao giờ hết.”

Định mệnh với Tây Nguyên

Kết thúc chặng đường làm việc cùng người tị nạn Việt Nam ở Hồng Kông, trước khi quay trở lại Mỹ, vị chân tu này lại có thêm một quyết định: trở lại Việt Nam, nơi ông “đã lìa bỏ từ năm 1975 trong cơn khủng hoảng bất ngờ, để thăm để thương hơn và biết nhiều hơn.”

Linh mục Vang kể, “Trong lần trở về đó, mình có cơ hội cùng anh em Dòng Chúa Cứu Thế đến với vùng trời Tây Nguyên và đó là cơ hội hay đúng hơn là định mệnh gặp đồng bào mình, để thấy rằng mình không thể nào bỏ rơi họ được.”

Thế là cha Vang “xin nhà Dòng được quay về Việt Nam mỗi năm để đồng hành cùng quê hương của chúng ta, để phục vụ cho đồng bào Tây Nguyên.”

Cảm xúc của lần đầu tiên đến với Tây Nguyên của người con xa quê hơn hai thập kỷ dường như đến giờ vẫn nguyên vẹn trong ông. Ông kể về kỷ niệm lần đầu vào làng, được hỏi có muốn đi thăm ‘làng phong’ của người dân tộc không, ông đã thoáng “ngần ngừ, e ngại.”

“Mình rút bàn tay ra xem có vết thương gì không, vì mình sợ lây.” Một nỗi sợ rất đời, rất người.

Thế nhưng “mình quyết định phó thác cho Chúa. Nghĩ rằng nếu Chúa muốn con đến thì con sẵn sàng. Thế là mình đi vào làng.”

“Vẫn còn nhớ khung cảnh khi đó có một bà mẹ đang ngồi dưới gốc cây xoa đầu đứa con thơ với bàn tay không còn ngón. Mình ngồi xuống bên cạnh, lấy bàn tay mình còn đủ năm ngón xoa lên đầu đứa bé cùng bàn tay người mẹ. Ngay giây phút đó, mình có cảm giác đó là con của mình, là đồng bào của mình.” Cha Vang nhớ lại.

Việt Tộc Foundation bắt đầu từ đó, năm 1998. “Mình quay trở lại đồng hành cùng quê hương của chúng ta.” Linh mục cười hạnh phúc.

Việt Tộc Foundation và chương trình “Nhịp Cầu Yêu Thương”

Linh mục Vang tâm sự, “Ngày xưa khi mình về Việt Nam, về Tây Nguyên, mình còn ngu ngơ lắm, không hiểu nhiều, biết nhiều, thì chính những người dân ở đó dạy cho mình làm thế nào để giúp họ hiệu quả hơn.”

“Trong dòng chúa cứu thế có câu ‘Hãy truyền giáo cho người nghèo và hãy để họ truyền giáo lại cho mình.’ Vì chính họ có những giá trị, có những điều mình học hỏi được, chính họ – những người nghèo nhất vẫn có thể cho đi một cách rất đại độ trong cái nghèo khó của họ, cho với tấm cả tấm lòng và mình phải khiêm tốn nhận ra món quà đó và trân trọng nó với tất cả tâm hồn của chúng ta. Trong tâm tình đó mình đến với nhau như những con người có giá trị riêng.” Hội trưởng Việt Tộc Foundation nói thêm.

Mục tiêu của Việt Tộc Foundation là giáo dục để nâng cao đời sống người dân ở Tây Nguyên.

Ngoài giáo dục, Việt Tộc Foundation còn giúp đỡ người thiểu số Tây Nguyên trong các lãnh vực y tế, phát triển, cứu trợ, huấn nghệ và văn hóa.

Cha Vang chia sẻ, “Đồng bào Tây Nguyên nghèo từ bao nhiêu đời nay rồi. Cái ăn các mặc họ cần lắm, nước uống khẩn thiết lắm, hơn bao giờ hết, nhất là lúc này rừng núi không còn là của họ. Cho nên những chia sẻ của chúng ta từ nước cho tới y tế, những cái nhà cái gạo cái cơm họ đều rất trân quý. Nhưng muốn thay đổi được định mệnh của họ thì học vấn là cái chủ yếu. Đó là điều mà Hội Việt Tộc muốn hướng tới, đưa học vấn trở về làng, từ cấp nhỏ cho đến đại học đến khi ra trường.”

Theo Linh Mục Trần Công Vang, “Tiền không phải là quan trọng nhất, tuy rằng tiền có thể thay đổi cuộc đời. Nhớ ngày mới đến Tây Nguyên hỏi có cám em lớn lên con muốn làm gì thì các em nói lớn lên con chỉ muốn đi chăn bò như cha như mẹ thôi vì đó là công việc của cha của mẹ của ông của bà của tổ tiên để lại khi họ còn rừng còn suối còn sông. Một vài năm gần đây có nhiều cha mẹ nói với mình trong nước mắt ‘con đã bán mảnh đất của tổ tiên để con của con được đến trường vì đó là cơ hội để thay đổi cuộc đời con của con.”

Tâm tình đó liệu mình có làm ngơ chăng?

 

Để góp thêm bàn tay làm thay đổi định mệnh người dân Tây Nguyên, một buổi tiệc mang tên “Nhịp Cầu Yêu Thương” do Hội Việt Tộc Foundation tổ chức sẽ diễn ra vào tối Thứ Sáu, 24 Tháng Mười, tại nhà hàng Mon Cheri, 12821 Harbor Blvd., Ste. D, Garden Grove, CA 92840, nhằm gây quỹ học bổng cho con em đồng bào dân tộc thiểu số tại các tỉnh Gia Lai, Lâm Ðồng, Kontum và Daklak.

Mọi chi tiết xin liên lạc với Kimberly Nguyễn (714) 829-7860 và Kim Trang Bùi (714) 337-8708.

Liên lạc tác giả: [email protected]

Danh sách Ân Nhân và TPB được cứu trợ


 Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QP/VNCH
(Disabled Veterans and Widows Relief Association)
A Non-Profit Corporation – No. 3141107 EIN: 26-4499492
P.O. Box 25554, Santa Ana, CA 92799
Phone: (714) 539-3545, (714) 371-7967, (714) 590-8534, (714)721-0758
Email:
[email protected]; [email protected]
Website: http://www.camonanhtb.com
Chi phiếu xin đề : Hội H.O. Cứu trợ TPB&QPVNCH


Hải ngoại không quên tình chiến sĩ
Ðồng hương nhớ mãi nghĩa thương binh


Danh sách ân nhân gửi tiền đến hội (tính đến ngày 14 tháng 9, 2014):


Bà Ngụy Khả Khanh, Midway City, CA $100
Trần Khiêm Thương, Riverside, CA $500
Thanh Thạc Nguyễn, San Jose, CA $200
Văn Nguyễn, Seattle, WA $300
Giang T. Tư c/o Tuyên M. Vũ, South Windsor, CT $100
Tư Appliance Repair c/o Phan Kim Anthony, Westminster, CA $100
OB. John Nguyễn, Beaumont, TX $100
Phùng Tống,Garden Grove, CA $100
Phú D. Nguyễn, Gilbert, AZ $100
Anh Trịnh, Cypress, CA $100
Binh Lâm, Escondido, CA $50
Giàu Nguyễn, Hanford, CA $50
Wilcox Farm (Dung Nguyễn ), Vienna, GA $50
Kiệt Ðoàn, Westminster, CA $50
Nguyễn Thị Lựu + Nguyễn Thị Ngọc Hội c/o Luân Văn Nguyễn, Reseda, CA $70
Bình Lê, San Diego, CA $40
Hoàng Quang Ðàm, Salt Lake City, UT $50
Phạm Hoạt, Fountain Valley, CA $20
OB. Binh L. Nguyễn, Plano, TX $20
Tan Nguyễn, Santa Ana, CA $20
 
Danh sách ân nhân đại nhạc hội “Cám ơn anh” kỳ 8:


Hà Trần, Fairfax, VA $100
Tu Trung Trần, Fairfax, VA $100,
Chung Nguyễn (Sơn Bach-Hai Nguyễn ) Lexington, NE $100
Sone Kiêm, El Monte, CA $100
Trương Nguyễn, Elk Grove , CA $100
Khôi Nguyễn, Rockford, IL $100
Thiep Lê, Canoga Park, CA $100
Hiệp Trần, Fernandina Beach, FL $100
Tiết Trần, Newark, CA $100
Tu Phong (An Văn Nguyễn ), Oakland, CA $100
Xuân & Yến Nguyễn, New Britain, PA $100
Xanh Thu Nguyễn, Garden Grove, CA $100
David Lê, Norwood, MA $100
Nguyễn Phan, Orange, CA $100
V.Y.C. Nguyễn (Mai Hoàng Ðặng), Westminster, CA $100
Thăng Trần, Seattle, WA $200
Yến Ðặng, Spokane Valley, WA $200
Chánh Trần, Highlands Ranch, CO $100
Ðinh Trần, Gardena, CA $100
Duarte, CA Võ, Anaheim, CA $200
Nhóm Ði Bộ South Bay (Anne Lưu), Lawndale, CA $160
MB Nails Dương Kim San (Châu Tân T. Nguyễn ), Los Angeles, CA $150
Joe Ðoàn, La Crescenta, CA $100
Tố Quyên Lê, Oakland, CA $100
Lê Kim Hoa (Sang Trần), Westminster, CA $100
Mindy Phạm, Garden Grove, CA $100
Ðức Nguyễn, Santa Ana, CA $100
Anh Schroeder, Honolulu, HI $100
Gia Ðình O. Quỳnh Nguyễn (Thiêm Ðỗ & Thạch Nguyễn ), Anaheim, CA $100
Joseph Kiệt Võ, San Jose, CA, $100
Ðặng Bích Nguyệt, Long Beach, CA $100
John Nguyễn, Santa Ana, CA $100
Tony Lê, N. Hollywood, CA $100
Khoa Nguyễn, Fresno, CA $100
Nguyệt M. Thompson (Lucy’s Hair Nails Salon), Long Beach, CA $100
Binh Nguyễn, San Jose, CA $100
Tuy Nguyễn, Alhambra, CA $100
Chương Ðức Vũ, Westminster, CA $100
Thu Nguyễn, San Jose, CA $100
Ðặng Trần, Snellville, GA $100
Tuyết Thương Lưu, San Diego, CA $100
Tuyên Nguyễn, Raleigh, NC $100
Vân K. Nguyễn, San Diego, CA $200
Hà Nguyễn, Westminster, CA $200
Nam Ngô, San Jose, CA $200
Lan Nguyễn, San Diego, CA $200
Sương Tôn, Fairfax, VA $200
Giang Nguyễn, San Diego, CA $150
Ðốc Thiên Lê, Van Buren, AR $100
Hưng Giáp, Arlington, VA $100
Han Võ, King of Prussia, PA $200
Mai Quang Danh (Ngat Hữu Nguyễn), Ocoee, FL $100
Khoanh Thạch, Philadelphia, PA $100
Cúc Lê, Seattle, WA $100
Minh Lê, Pensacola, FL $100
Diệu Trương, San Jose, CA $100
Cúc Võ, Bridgewater, NJ $100
Trương Quang Lê, Phoenix, AZ $100
Ngọc Bích Nguyễn, Quincy, MA $100
Trang Văn Nguyễn, Jacksonville, FL $100
Hannah Hiếu Phạm, Pfluggerville, TX $100
Khôi Mộng Nguyễn, Irvine, CA $100
Annie Lâm, Elk Grove , CA $100
Yến Trần, San Jose, CA $100
Anh N. Bùi, Neptune, NJ $100
Lâm Nguyễn, Seattle, WA $100
Lập Phạm, Hatfield, PA $100
Ðoàn Văn Tài, Springfield, MA $100
Niệm Nguyễn, Oklahoma City, OK $100
Thiết Nguyễn, Reston, VA $100
Chiêu Bùi, Laguna Hills, CA $100
Harry Trần, Ontario, CA $100
Hồ Hương, Aliso Viejo, CA $100
David Lê, Allentown, PA $100
Ðặng Thủy Tiên, San Jose, CA $100
Thomas Figliulo, Tampa. FL $200
Nhuận Vũ, Santa Ana, CA $150
Trần Bá Lê, Venice, FL $100 (Còn tiếp)
 
Danh sách thương phế binh/vnch đã được giúp đỡ:


Ðinh Văn Quới, Khánh Hòa, Sq:56/404500 HS CLQ. Cụt hai chân.
Võ Ðình Trấp, Khánh Hòa, Sq:50/506405 HS ÐPQ. Cụt hai chân.
Bùi Thị Lam Tiên, Bình Thuận, Sq:090995 XDNT. Cụt hai chân.
Ðổ Thọ, Phú Yên, Sq:41/149980 TrU ÐPQ. Liệt hai chân.
Nguyễn Hồng, Phú Yên, Sq:74/414668 B2 CLQ. Mù mắt trái. gãy tay trái.
Nguyễn Văn Xí, Khánh Hòa, Sq:62/413761 TS BK . Liệt 2 chân.
Phan Tấn Thành, Bình Ðịnh, Sq:205365 HS ÐPQ. Mù 2 mắt.
La Giáp, Bình Thuận, Sq:407246 HS CLQ. Cụt 2 chân.
Lê Ðào, Khánh Hòa, CLQ. Cụt 2 chân.
Trương Tài, Bình Thuận, Sq:53/400980 CLQ. Mù 2 mắt.
Nguyễn Phước, Bình Thuận, Sq:153751 NQ. Cụt 2 tay. Mù 2 mắt.
Trần Nho, Bình Thuận, Sq:60/403574 B1 CLQ. Liệt 2 chân. Cụt tay phải.
Nguyễn Văn Bê, Bình Thuận, Sq:68/405758 TS CLQ. 2 mắt mờ. Liệt chân trái.
Nguyễn Lý, Phú Yên, Sq:43/477840 HS ÐPQ. Mù 2 mắt.
Phạm Văn Ái, Bình Ðịnh, Sq:58/410212 B2 CLQ. Bị thương ở mặt. Gãy 2 chân.
Gia Thịnh, Bình Ðịnh, Sq:59/411044 B2 ÐPQ. Mù 2 mắt.
Nguyễn Ích Trãi, Thừa Thiên. Gãy tay trái. Ðiếc. Mắt phải mù.
Ðỗ Vọng, Thừa Thiên. Mù mắt trái. Mờ mắt phải.
Lê Kim Thất, Thừa Thiên, Sq:NQ/108747. Mù 2 mắt.
Ðặng Bàn, Quảng Trị, Sq:212325. Mù hai mắt.
Ðoàn Thông, Quảng Trị, Sq:212989. Bị thương ở bụng, chân, lưng.
Nguyễn Văn Tiến, Thừa Thiên. Bị thương ở cột sống. Mù mắt trái.
Hồ Duy, Thừa Thiên. Bị thương ở khắp người, câm, điếc.
Phạm Văn Trọng, Thừa Thiên. Bị thương ở chân trái. Liệt chân phải, teo cơ.
Huỳnh Văn An, Thừa Thiên. Bị thương ở mặt. Mù mắt trái. Mắt phải mờ.
Trần Gạch, Thừa Thiên. Bị thương ở bụng, chân phải, mặt. 2 mắt mờ.
Bạch Anh, Thừa Thiên. Bị thương ở đầu. Liệt.
Trần Duyệt, Thừa Thiên. Bị thương ở ngực, tay trái.
Nguyễn Lý, Quảng Trị. Cụt chân trái. Mù mắt phải.
Phan Hậu, Thừa Thiên, Sq:51/442857. Liệt 2 chân.
Trương Văn Khoa, Thừa Thiên. Chấn thương sọ não. Liệt bán thân.
Nguyễn Toại, Huế. Mù 2 mắt. Gãy 2 chân phải. Liệt.
Nguyễn Văn Thi, Quảng Trị. Bị thương ở bụng, cột sống.
Nguyễn Mon, Thừa Thiên. Bị mìn, 2 mắt. mờ, 2 tai điếc.
Huỳnh Bàn, Thừa Thiên. Mắt phải mù, mắt trái mờ.
Nguyễn Thiện Tuấn, Thừa Thiên. Bị thương ở ngực. Gãy tay trái.
Nguyễn Hùng, Thừa Thiên. Cụt tay trái. Mù một mắt.
Ðặng Anh, Quảng Trị. Chấn thương sọ não. Mù mắt trái.
Nguyễn Ðình Bắc, Thừa Thiên. Cụt chân trái. Mù mắt phải.
Lê Ðình Luân, Huế. Liệt chân tay.
Lê Lâu, Quảng Trị. Tàn phế 90%.
Hồ Xây, Thừa Thiên. Cụt chân tay trái.
Nguyễn Văn Phụ, Huế. Cụt 2 chân.
Hoàng Tấn Ðức, Quảng Trị. Cụt 2 chân.
Nguyễn Văn Hải,Quảng Trị. Cụt 2 chân.
Hồ Lệ, Thừa Thiên. Bị thương ở đầu. Tâm thần 80%.
Lê Văn Lời,Quảng Nam, Sq:65/208184 HS. Cụt 2 chân.
Nguyễn Văn Ðức, Ðà Nẵng, Quảng Nam, Sq:219060 B2 CLQ. Tai điếc, mắt mờ.
Võ Tuôi, Quảng Ngãi, Sq:45/813195 ÐPQ. Bị thương ở lưng. Liệt.
Phạm Văn Thông (Ánh), Quảng Nam, Sq:68/210520 B1 CLQ. Cụt chân trái. Liệt chân phải. Nguyễn Văn Quý, Quảng Nam, Sq:52/168.462. Cụt tay phải.
Bùi Phụ Có, Quảng Ngãi, Sq:47/273119 B1 ÐPQ. Cụt tay phải. (Còn tiếp)


Danh sách quả phụ/vnch đã được giúp đỡ:


Nguyễn Thị Hoa, Quảng Ngãi, QP Cố CLQ Nguyễn Xuân Thi Sq:208.488. Tử trận năm 1972. Nguyễn Thị Khánh, An Giang, QP Cố TS1 Bùi Văn Hạnh Sq:62/702.243. Tử trận năm 1969.
Nguyễn Thị Kim Tư, Tây Ninh, QP Cố TS Bùi Thông Sq:60/206.621. Tử trận năm 1968.
Nguyễn Thị Mận, An Giang, QP Cố ThS ÐPQ Trần Văn Nhựt Sq:396.030. Tử trận năm 1975. Nguyễn Thị Mạnh, Vĩnh Long, QP Cố CLQ Huỳnh Văn Chánh. Sq:512.114. Tử trận năm 1971.
Nguyễn Thị Mười, Tiền Giang, QP Cố NQ Phan Văn Hiền Sq:134.948. Tử trận năm 1968.
Nguyễn Thị Ngọ, Thừa Thiên, QP Cố TS1 KB Lê Ðỏ Sq:67/201.925. Tử trận năm 1972.
Nguyễn Thị Tám, Ðồng Nai, QP Cố B2 CLQ Nguyễn Văn Nghĩa Sq:105.158. Tử trận năm 1964. Nguyễn Thị Thết, Vĩnh Long, QP Cố B2 ÐPQ Nguyễn Văn Hùng Sq:210.496. Tử trận 1966. Nguyễn Thị Thời, An Giang, QP Cố NQ Nguyễn Văn Bảy Sq:419.610. Tử trận năm 1970.
Nguyễn Thị Quý, Ðồng Nai, QP Cố NQ Trần Linh Sq:235.651. Tử trận năm 1968. (Còn tiếp)

Tin mới cập nhật