Nhớ về đồng đội cũ


Bảo Tuấn


Tôi là một quân nhân hiện dịch. Tôi yêu quân đội và chọn quân đội làm binh nghiệp. Tôi gia nhập quân đội lúc tuổi đời còn rất trẻ. Tôi rời xa bạn bè, mái trường, thầy cô rất sớm nên học vấn chẳng bằng ai. Tôi là người hiếu động, thích không khí sôi động nơi chiến trường. Công việc an nhàn ở văn phòng, bộ tham mưu không thích hợp với tôi. Thuở còn bé, tôi thích xem phim chiến tranh. Ước ao khi lớn lên sẽ là một tướng lãnh anh hùng, điều khiển ba quân ngoài mặt trận. Thần tượng của tôi lúc ấy là Vua Quang Trung Nguyễn Huệ, Hoàng đế Nã Phá Luân. Nã Phá Luân vốn là sĩ quan Pháo Binh lúc trẻ sau này trở thành một danh tướng làm rúng động cả trời Âu.

Giữa năm 1960, sau khi tốt nghiệp khóa Pháo Binh Trung Cấp ở trường Pháo Binh và Hỏa Tiễn Hoa Kỳ (Fort Sill- Oklahoma), một lần nữa tôi được thuyên chuyển ra miền Trung! Hầu hết người miền Nam như tôi rất ngại ra Trung, vì ở đó không tìm đâu ra ánh đèn màu ở các vũ trường hay các phòng trà ca nhạc về đêm. Tôi bất hạnh sinh ra trong một gia đình nghèo, thuộc loại “bần cố nông,” vả lại cũng không phải là một thanh niên ham vui, bay bướm, nên tôi bất cần các chuyện lặt vặt đó.

Vả lại tôi nghĩ đã là một quân nhân, nhất là một quân nhân hiện dịch như tôi, thì bổn phận chính là phục vụ cho quân đội, còn địa phương là vấn đề thứ yếu.

Tôi được điều động về đơn vị Pháo Dã Chiến, đồn trú nơi địa danh lịch sử, Cổ Thành Quảng Trị. Tôi nhấn mạnh đến từ “lịch sử,” vì nơi đó chúng ta và Cộng Sản đã đổ biết bao máu xương trong hai lần lấn chiếm và tái chiếm khiến Cỗ Thành Quảng Trị hoang tàn, không còn hình dạng như xưa, đầy rẫy hố bom, đạn! Và từ đó, địa danh Cỗ Thành Quảng Trị đã đi vào lịch sử. Nơi đó cũng là lịch sử của đời tôi, vì ngày thành hôn năm 1961, vợ chồng tôi thết đãi tiệc cưới cho các sĩ quan trong đơn vị, nơi câu lạc bộ sĩ quan cũng tại địa danh này.

Tôi sinh ra thuộc “cung” khổ cho nên những cuộc hành quân nào nguy hiểm và vất vả, tôi đều được chỉ định đảm trách. Thuở ấy tôi mới lập gia đình, bỏ vợ mới cưới đi hành quân hoài, để nàng ngủ một mình, sợ ma! Tội nghiệp đêm đêm nàng phải nhờ cháu bé con của sĩ quan trong cư xá qua nhà ngủ chung cho đỡ cô đơn! Ðôi lúc cũng bực, nhưng kỷ luật nghiêm minh của quân đội đã ấn định rõ “thi hành trước, khiếu nại sau.” Nhiều khi tôi cũng tự an ủi, mình được cấp chỉ huy tín nhiệm là một vinh dự được giao cho những công tác khó khăn, nhưng tội nghiệp cho các thuộc cấp của tôi, họ cũng khổ lây theo tôi.

Suốt cuộc đời binh nghiệp, trải dài hơn 20 năm chiến đấu không ngừng, tôi đã nhiều lần đối diện với cái chết. Cái chết đến đột ngột với các chiến binh ngoài mặt trận. Sự sống và sự chết chỉ cách nhau một tích tắc đồng hồ, may thì thoát, không may thì vĩnh viễn nằm xuống trở về với cát bụi!

Tôi xin lược kể ra đây vài trường hợp thoát chết mà tôi đã đối diện.


* * * *



Thoạt đầu, tôi được đề cử làm Pháo Ðội Trưởng một Pháo Ðội tác xạ đại bác 105 ly. Thời gian đó, Pháo Binh QLVNCH chưa phát triển. Mỗi Sư Ðoàn Bộ Binh có một Tiểu Ðoàn Pháo Binh đại bác 105 ly và một Tiểu Ðoàn Súng Cối 106 ly cơ hữu. Mỗi Pháo Ðội tác xạ 105 ly có 4 khẩu đại bác. Nhiệm vụ chiến thuật của Pháo Ðội tôi lúc ấy là yểm trợ trực tiếp cho Trung Ðoàn 3 Sư Ðoàn 1 Bộ Binh. Thời gian ấy Trung Ðoàn 3 BB đang hành quân tại thung lũng Ashau – Alưới. Thung lũng này nằm dưới chân dãy Trường Sơn sát biên giới Lào. Thung lũng này là con đường xâm nhập thuận tiện nhất của quân Cộng Sản từ Bắc vào Nam.

Pháo Ðội tôi được chia đôi: 2 khẩu đóng ở Ashau và 2 khẩu đóng ở Alưới. Khoảng cách giữa Ashau và Alưới quá xa, không yểm trợ hỗ tương được cho nhau, cho nên Bộ Tư Lệnh SÐ 1 thiết lập một căn cứ phụ, nhỏ hơn nằm ở giữa. Ðó là căn cứ Tà Bạt. Căn cứ này được yểm trợ bởi một khẩu pháo 25 pounder – loại pháo cỗ của Pháp để lại trước khi rút về nước. Như thế cả ba căn cứ đều có pháo binh hiện diện, có thể yểm trợ hỗ tương lẫn nhau.

Hè năm 1962, thời tiết thuận tiện, ít mưa và ít sương mù nên BTL Sư Ðoàn mở cuộc hành quân ở vùng Cokawa. Ðịa danh này nằm ở Bắc Alưới. Vì Trung Ðoàn 3 BB án ngữ tại thung lũng Ashau – Alưới nên địch không hoạt động được, đành phải rút lên Cokawa để thiết lập mật khu.

Trung Ðoàn 3 BB đảm nhiệm hành quân càn quét mật khu này và di chuyển toàn bộ BCH lên sát vùng hành quân để dễ chỉ huy. Tại căn cứ Ashau lúc bấy giờ tôi là người có cấp bậc cao nhất, dù là pháo thủ, tôi cũng bị Ðại Tá Ðỗ Cao Trí lúc bấy giờ là Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh, chỉ định làm Chỉ Huy Trưởng căn cứ! Dưới quyền tôi lúc bấy giờ ngoài quân số của bán Pháo Ðội tác xạ còn có quân số của 1 Ðại Ðội Trọng Pháo Trung Ðoàn 3 BB, 1 Trung Ðội Bộ Binh phụ trách canh gác và giữ an ninh phi trường, 1 Tiểu Ðội Bộ Binh hàng ngày hoạt động bên ngoài để phát hiện sự hiện diện của địch. Tình hình tổng quát tại Ashau lúc ấy cũng không căng thẳng lắm, chỉ có hoạt động du kích lẻ tẻ. Thỉnh thoảng, BTL/ SÐ biệt phái cho tôi một phi cơ L.19 để sử dụng bay quan sát khu vực chung quanh căn cứ để phát hiện hoạt động địch.

Vào những dịp thuận tiện, tôi cũng đi thăm các anh em pháo thủ bên Alưới và Tà Bạt, kiểm soát huấn luyện và trao dồi kỹ thuật. Một hôm tôi theo chuyến bay tiếp tế Caribou – loại phi cơ có khả năng đáp và cất cánh trên phi đạo ngắn – để thanh tra anh em bên căn cứ Tà Bạt.

Tà Bạt cách Ashau trong tầm pháo 105 ly, chừng 5 phút bay. Khi đến vùng trời Tà Bạt, phi cơ lượn vài vòng để xem hướng gió. Trong khi phi công cho hạ thấp cao độ chuẩn bị đáp thì một chú du kích hay thượng cộng nào đó tác xạ một phát vu vơ nhắm vào phi cơ. Hậu quả của phát đạn đó lại gây một tai họa. Thay vì phi công giảm bớt tốc độ và cao độ, điều khiển phi cơ đáp từ đầu phi đạo, phi công lại liều lĩnh đáp ở giữa phi đạo! Vì lẽ căn cứ nhỏ, phi đạo ngắn, Caribou không làm sao dừng lại ở cuối phi đạo được. Kết quả phi cơ đâm thẳng vào mép rừng cuối phi đạo, bốc cháy! Phi công trưởng và phụ tử nạn.

Tôi với tính cẩn thận khi lên phi cơ đã gài nịt an toàn, chỉ bị shock trặc xương sống và sây sát hai tay, kịp thoát ra ngoài, vô sự!

Lần thứ hai gặp nạn cũng trên một chuyến bay hành quân. Ðầu Xuân 1971, trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh vào Hạ Lào, Trung Ðoàn 1 và Trung Ðoàn 3/ SÐ1BB được lệnh tấn công song hành.
Trung Ðoàn 1 BB thiết lập căn cứ Hỏa Lực Alpha cách biên giới Lào khoảng 20 cây số và Trung Ðoàn 3 BB thiết lập căn cứ hỏa lực Delta xa hơn, nằm giữa Tchepone và Khe Sanh. Mục tiêu của Sư Ðoàn là sử dụng các đơn vị cơ hữu luân phiên (alternate) tiến công chiếm cho được Tchepone là mục tiêu tối hậu.

Những ngày đầu của cuộc hành quân, địch chưa tập trung kịp nên lực lượng ta đã phá vỡ nhiều căn cứ hậu cần và ống dẫn dầu của địch, thu nhiều chiến lợi phẩm.
Sau đó thì Tiểu Ðoàn 2/3 Sư Ðoàn 1 BB do Thiếu Tá Hoàng Mão chỉ huy chạm địch nặng, gần như bị bao vây, đạn dược gần hết! Xin cần nói thêm là trong cuộc hành quân này, lực lượng bộ chiến Hoa Kỳ không tham dự, cũng không có cố vấn Mỹ đi theo do lệnh cấm của Ngũ Giác Ðài. Mỹ chỉ yểm trợ trên không như tiếp tế, tản thương, trực thăng vận, yểm trợ tiếp cận với những phi vụ từ Ðệ Thất Hạm Ðội và phi vụ chiến lược B.52 theo yêu cầu.

Hôm đó tôi bay trên trực thăng chỉ huy C+C (Command and Control) với Ðại Tá Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 3 BB, tìm cách cứu TÐ 2/3 ra khỏi vùng hành quân. Phi công trực thăng là Không Ðoàn Trưởng Không Ðoàn Trực Thăng Hoa Kỳ.

Ðến khu vực TÐ 2/3 BB, chúng tôi yêu cầu ở dưới đánh dấu vị trí. Khói màu vàng được nhận thấy từ trực thăng của chúng tôi. Phi công trưởng dọ dẫm thăm dò cho hạ thấp cao độ, lướt nhẹ trên vị trí khói vàng. Trên trực thăng nhìn xuống, tôi thấy nhiều quả đạn súng cối nổ gần vị trí đánh dấu đồng thời một loạt AK cũng bắn theo trực thăng. Tôi nghe rõ tiếng đạn lướt qua ngang đầu và phi công điều khiển trực thăng vọt nhanh lên cao, lấy lại cao độ. Rồi thì đèn báo động đỏ trên trực thăng chớp liên hồi, báo hiệu hệ thống cánh quạt bị trúng đạn, trực thăng sắp rớt.

Phi công khẩn cấp rời vùng hành quân, đồng thời báo cáo về Khe Sanh. Nơi đây liền gửi toán tiếp cứu (rescue) thuộc Ðại Ðội Hắc Báo với thang dây, kẹp theo sát chúng tôi. Còn ở bên này biên giới Lào, trực thăng phải đáp khẩn cấp bất chấp hiểm nguy! Rồi một trực thăng khác đến kịp thời, thay thế chiếc hỏng. Chúng tôi lại tiếp tục bay, tìm cách để trực thăng vận cứu nguy cho TÐ 2/3 BB. Cuối cùng thì TÐ 2/3 BB dưới tài chỉ huy xuất sắc của Thiếu Tá Hoàng Mão cũng thoát được vòng vây, di chuyển bộ về căn cứ hỏa lực Delta. Ông ta là niên đệ cùng trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt (khóa 20?) với tôi.

Trên đây là hai lần tôi may mắn thoát chết, thoát trong đường tơ kẽ tóc. Và trong cuộc đời binh nghiệp của tôi, tôi cũng chứng kiến những cái chết đau lòng của anh em thuộc cấp, những người không may mắn như tôi, đã vĩnh viễn nằm xuống vì chính nghĩa Quốc Gia. Tôi xin kể lại dưới đây những trường hợp mà tôi còn nhớ rõ.


* * * * *


Ba Lòng là một quận lỵ nằm trong thung lũng dưới chân dãy Trường Sơn. Ðất phì nhiêu dân cư thưa thớt, nhưng Ba Lòng là một vị trí chiến lược. Nếu không chiếm giữ Ba Lòng, thì từ đây địch sẽ thiết lập căn cứ địa, gây bất ổn cho Quảng Trị và Ðông Hà. Vì là một vùng xa xôi, hiểm trở, nên có thời các chiến sĩ Ðại Việt đã thiết lập chiến khu nơi này để chống lại chính quyền Ngô Ðình Diệm.

Trước đó, quận lỵ Ba Lòng đã hai lần bị địch tràn ngập và cả hai lần Pháo Ðội tôi được trực thăng vận vào yểm trợ cho lực lượng giải tỏa. Vì không có đường giao thông và thuở ấy chưa có trực thăng Chinook – loại trực thăng khổng lồ có khả năng câu được cả đại bác 155 ly – nên trực thăng vận Pháo Binh lúc ấy rất nhiêu khê phiền phức! Một khẩu pháo được tháo rời thành 5 bộ phận: nòng, liên hệ đàn hồi, giàn súng (gun assembly), 2 bánh, 2 càng. Từng bộ phận được câu bằng trực thăng “quả chuối” H.21, đến vị trí hành quân mới ráp lại.

Ba Lòng nằm ở vị trí không tiếp viện bằng đường bộ được, ngoài tầm yểm trợ pháo binh nên BTL/SÐ quyết định thiết lập một căn cứ quân sự tại đây. Lúc ấy thì dân chúng không còn một ai, một số thì về Quảng Trị, một số thì về Cam Lộ, Ðông Hà sinh sống.

Căn cứ được thiết lập theo hình tam giác để dễ yểm trợ lẫn nhau. Pháo Ðội của tôi được tách ra hai khẩu yểm trợ cho một Tiểu Ðoàn BB trong thời gian thiết lập căn cứ.

Thiếu Úy Nguyễn Văn Tố, Khóa 8 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức, chỉ huy hai khẩu trên. Thời gian đó không có chức vụ Trung Ðội Trưởng. Trường hợp Pháo Ðội chia đôi như vậy, thì Pháo Ðội Trưởng chỉ huy hai khẩu và Sĩ Quan Tác Xạ phụ trách hai khẩu. Vì là một vị trí “yết hầu” gây trở ngại, ngăn cản địch, không cho địch mở rộng hoạt động xuống đồng bằng Quảng Trị và Ðông Hà nên địch quyết định nhổ cái gai ấy với bất cứ giá nào.

Căn cứ được thiết lập gần xong thì địch mở cuộc tấn công, một cuộc tấn công được thiết kế và phối hợp rất tỉ mỉ. Ðịch dùng một bộ phận tấn công cầm chân Ðại Ðội tiền đồn cách căn cứ khoảng một cây số, không cho tiếp viện, một bộ phận khác tấn công quấy rối vị trí Pháo Ðội 155 ly đóng ở vị trí hành quân Bao Căng để bịt pháo. Lực lượng tấn công chính vào Ba Lòng là lực lượng đặc công tinh nhuệ.

Mặc dù chung quanh căn cứ có rào mìn phòng thủ nhưng địch điều nghiên, biết rõ cách thức đặt mìn của Công Binh. Thông thường giữa các dãy mìn đều có khe hở (gap) ở mỗi góc cạnh. Ðịch cho đặc công điều nghiên kỹ cách bố trí phòng thủ vào những đêm trước cuộc tấn công. Vào thời điểm tấn công, lợi dụng sương mù và đêm tối vùng rừng núi ban đêm, chúng cho toán đặc công kinh nghiệm bò sát, len lỏi vào khe hở (gap) bãi mìn, tên đi trước kéo theo một băng vải trắng đánh dấu lối xâm nhập, các tên đi sau cứ lần mò hàng một theo tên đi trước. Ðến khi toán đầu xâm nhập vào được căn cứ thì chúng dùng lựu đạn và bộc phá, hiệu quả hơn là vũ khí cá nhân.

Khi lính gác phát hiện được một số địch đã lọt vào căn cứ, Thiếu Úy Tố liền rời Ðài Tác Xạ, chạy từ khẩu đội này đến khẩu đội kia thúc đẩy các khẩu đội tác xạ cận phòng với yếu tố nạp 1, thỏi nổ 1.5 giây. Vì trách nhiệm và quá hăng say với nhiệm vụ, không ngại hiểm nguy, Thiếu Úy Tố bị một tên đặc công sát hại trên bờ giao thông hào!

Gần sáng, không thắng được, địch rút lui, để lại một số chết trong căn cứ, một số trong bãi mìn, chết hàng một vì đạn đại liên bắn xâu táo, và nhiều vết máu với băng cứu thương vì đạn pháo binh cận phòng.

Sáng hôm đó tôi theo trực thăng tản thương, đem một số nhân viên lên để chấn chỉnh lại Trung Ðội. Nhân viên tác xạ khiêng xác Thiếu úy Tố trên cáng tản thương ra trực thăng để chuyển về hậu cứ ở La Vang. Tôi ra dấu anh em dừng lại, ngậm ngùi nhìn thân xác lạnh của anh, trìu mến vuốt má anh lần cuối.

Phải chi anh ở trong đài tác xạ lúc bị tấn công thì anh đã không chết!

Ba hôm sau tôi trở về Huế dự lễ truy thăng cho anh. Ðám tang nào mà không có nước mắt? Ngoài nước mắt sụt sùi của người vợ trẻ, tôi cảm thương cho đứa con gái của anh. Mặt cháu bé kháu khỉnh, đôi mắt tròn, đầu đội khăn tang, ngơ ngác vì số người đông đúc trong lễ truy thăng. Cháu sinh ra hơn tuần thì Tố theo Trung Ðội lên Ba Lòng. Chắc Tố cũng không có dịp hôn con nhiều trước khi xa con.

Ôi chiến tranh! Chiến tranh đã cướp đi biết bao thanh niên ưu tú, đã biến biết bao người đàn bà thành quả phụ và bao trẻ thơ bỗng dưng mồ côi cha! Tôi không nén được xúc động quay mặt đi chỗ khác, nước mắt lưng tròng trong lúc thượng cấp làm lễ truy thăng Trung Úy cho anh.


* * * *



Căn cứ Gio Linh nằm trên đồi cao so với địa thế chung quanh. Trên đài quan sát Gio Linh, bằng ống nhòm ta cũng nhìn thấy rõ Cầu Hiền Lương bắc ngang sông Bến Hải. Về phía Tây là đồi Cồn Thiên nằm ở phía bắc quân lỵ Cam Lộ. Trên đỉnh đồi này cũng có đài quan sát pháo binh để theo dõi địch bên kia sông Bến Hải. Nơi đây cũng xảy ra những trận chiến đẫm máu giữa Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ và quân Cộng Sản sau này.

Thiếu Úy Nguyễn Văn Hòe thuộc Khóa 7 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức thuyên chuyển về Tiểu Ðoàn 1 Pháo Binh và làm Sĩ Quan Tác Xạ cho Pháo Ðội tôi. Ðược một thời gian thì tôi được thăng cấp Ðại Úy sau cuộc đảo chánh 1 tháng 11, 1963, sau hơn 7 năm ở cấp bậc Trung Úy thực thụ. Và cũng từ ngày ấy, tôi rời chức vụ Pháo Ðội Trưởng để giữ chức vụ cao hơn.

Không ai biết rõ lai lịch của anh Hòe. Nghe phong thanh cha anh chết lúc anh còn bé, mẹ anh tái giá và không còn liên lạc với anh. Anh nhờ bà con bên nội nuôi ăn học cho đến khi khôn lớn, do đó anh không được hưởng tình mẫu tử! Như tôi trình bày ở phần trên, khi Pháo Ðội tách ra làm đôi thì Sĩ Quan Tác Xạ cũng là Trung Ðội Trưởng và Hòe lúc đó chỉ huy Trung Ðội Pháo Binh đóng ở Gio Linh.

Trong thời gian đơn vị đồn trú ở La Vang, anh có quen một cô nữ sinh trường Trung Học Nguyễn Hoàng ở thành phố Quảng Trị. Quen nhau một thời gian thì anh xin phép cưới.

Trong ngày hợp hôn của anh, mẹ và bên cha anh không ai có mặt. Anh nhờ vợ chồng tôi thay mặt họ nhà trai làm chủ hôn. Thật là một lễ cưới đơn giản trong thời chiến. Chú rể không có được một bộ đồ suit, chỉ có một áo sơ mi trắng với một cà vạt không lòe loẹt, phai màu! Một đám cưới không có dâu phụ, rể phụ! Và như trong bài thơ “Màu Tím Hoa Sim” của Hữu Loan, có câu “cưới nhau xong là đi,” rất trùng hợp với đám cưới của anh.

Tiểu Ðoàn cấp cho anh 7 ngày phép để cưới vợ! Nào có tuần trăng mật gì đâu, chỉ lẩn quẩn trong thành phố Quảng Trị nhỏ bé trong thời gian đó. Hết 7 ngày phép, chưa hưởng hết hương vị ái ân với người vợ mới cưới thì anh trở lại Gio Linh. Tạo hóa quá ác nghiệt! Một tuần sau, căn cứ Gio Linh bị địch tràn ngập! Cũng như Tố, anh chết ở giao thông hào trong lúc thúc đẩy anh em kháng cự cuộc tấn công.

Tội nghiệp người vợ trẻ của anh, mới tháng trước đây còn là cô nữ sinh ngây thơ, bỗng nay trở thành góa phụ!

Thân xác anh được chôn trên đồi La Vang trước ngôi chùa Phật Giáo địa phương. Ngày đưa tiễn thân xác anh ra phần mộ, chỉ có tiếng khóc nức nở của người vợ trẻ mới cưới với sự bùi ngùi của các sĩ quan trong đơn vị. Ngày hợp hôn của anh đơn giản bao nhiêu thì ngày mà thân xác anh ra nghĩa địa cũng đơn giản bấy nhiêu. Không có người thân hay họ hàng bên anh đưa tiễn!

Chiến trận ngày thêm khốc liệt, mộ anh thiếu khói hương, không người thăm viếng. Không biết ngày nay xương cốt anh có còn nguyên dưới huyệt mộ lúc chôn hay cũng bị bom đạn cày nát như Cỗ Thành Quảng Trị. Luôn luôn tôi vẫn nhớ đến anh, thương cho phần số nghiệt ngã của anh và ngậm ngùi gửi đến anh hai chữ “Tiếc Thương.”

Tượng Thương Tiếc trước Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa trước và sau ngày Quốc Hận 30 tháng 4, 1975 đã bị Việt Cộng kéo đổ tiêu hủy.


* * * *


T-bone là một căn cứ hỏa lực kiểu mẫu nằm về phía Tây thành phố Huế, bên trái Quốc Lộ 1, hướng về phương Bắc, khoảng giữa cây số 17 và Huế. Tbone là tên của quân đội Hoa Kỳ đặt cho căn cứ này, vì hình thể của nó trên không nhìn xuống không khác gì lát thịt bò T-bone. Căn cứ có hai Pháo Ðội, một Pháo Ðội 155 ly và một Pháo Ðội 105 ly chiếm vị trí ở hai nhánh triền đồi. Sau này căn cứ được đổi tên Việt với địa danh là An Ðô. Vì là căn cứ kiểu mẫu nên hàng ngày những phái đoàn quan trọng từ Mỹ cũng như từ Sài Gòn ra Huế đều được hướng dẫn đến viếng thăm.

Thời tiết mùa Hè ở miền Trung rất nóng và oi bức, lại thêm cơn gió Lào -bắt nguồn từ Lào thổi qua- gió mạnh từng cơn, cuốn bụi và cát bay mù trời! Vào khoảng thời gian này, ăn cơm toàn trộn chung với cát!

Một buổi chiều sau khi dùng cơm xong, tôi ra đứng trước Ðài Phối Hợp Hỏa Lực đặt cạnh BCH Trung Ðoàn 3 BB vu vơ nhìn về hướng Ashau Alưới, nơi tôi đã từng ở đó một thời gian với núi non trùng điệp.

Bỗng tôi thấy bốn luồng khói xanh nhạt nối đuôi nhau, tiếp theo 4 tiếng nổ khởi hành (depart) của hỏa tiễn ở một đường thông thủy, cách căn cứ khoảng 3 cây số. Ðịch sử dụng hỏa tiễn 122 ly không phải pháo kích chúng tôi mà lại pháo kích về hậu cứ của Trung Ðoàn 3 BB và hậu cứ Tiểu Ðoàn chúng tôi. Phản ứng tự nhiên, tôi chạy vụt qua Pháo Ðội 105 ly, thúc đẩy anh em tác xạ, dập pháo địch. Vì vị trí hỏa tiễn để lộ quá rõ, nên các Khẩu Trưởng Pháo Binh 105 ly và 155 ly tự động chỉ huy trực xạ.

Kinh nghiệm chiến trận có thừa, anh em thi hành trực xạ rất chính xác. Khói súng đại bác bay mù trời, cộng với tiếng nổ khởi hành trực xạ của hai Pháo Ðội gây nên một náo động kinh khủng! Bỗng nhiên tôi thấy một quả súng cối nổ cách Pháo Ðội 105ly chừng 200 thước, sau đó quả thứ hai gần hơn, 100 thước và quả thứ ba sát gần hơn nữa. Nhận định mình đang bị súng cối điều chỉnh, tôi quát to “Vào hầm núp.” Lệnh của tôi không ai nghe được vì quá náo động lúc bấy giờ và quả cối sau cùng rơi ngay vào vị trí khẩu 6-105 ly. Kết quả Khẩu Trưởng và Xạ Thủ chết ngay tại chỗ, số còn lại bị thương. Ðại Úy Ðải (Khóa 8 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức) người nhỏ, thấp, bị một mảnh đạn súng cối xước qua đầu, tôi cao hơn đứng trước ông ấy lại may mắn an toàn!

Lúc đó tôi mới nhận biết địch dùng hỏa tiễn đặt một nơi, lừa chúng tôi ra phản pháo đoạn dùng súng cối đặt ở một nơi khác pháo kích chúng tôi dễ đạt được kết quả hơn. Phải nhìn nhận địch thành công với mưu chước này.

Sau quả cối rơi ngay vào vị trí khẩu 6 thì địch cũng ngừng pháo kích vì vị trí của chúng cũng bị phát hiện. Anh em khiêng những pháo thủ bị thương vào Ðài Tác Xạ để y tá săn sóc.

Tôi bước qua mình một pháo thủ bị thương đang nằm dài trên nền Ðài Tác Xạ pháo đội, cầm điện thoại định báo cáo về Pháo Binh Sư Ðoàn. Tôi nghe một giọng nói nhỏ nhẹ: “Trung Tá cứu em với!” Tôi quay người lại, quỳ thấp xuống, vỗ nhẹ vào má anh như dỗ dành và an ủi: “Không nặng lắm đâu, đừng sợ, em.” Ðó là Ðính, cấp bậc Hạ Sĩ Nhất, nhắm viên khẩu 6. Dáng người anh vạm vỡ, da sạm đen, bắp thịt rắn chắc, chắc đã trải qua nhiều mưa nắng với đồng ruộng trước khi nhập ngũ. Nhìn bề ngoài cũng đủ biết anh là người có thừa can đảm. Anh bị thương ở bụng, một mảnh súng cối cắt đứt ruột!

Tôi biết anh đau đớn lắm nhưng can đảm chịu đựng, không rên rỉ! Chắc anh cũng linh cảm điều không may sẽ đến với anh, khó thoát khỏi cái chết nên tha thiết khẩn nài: “Trung Tá cứu em với! ”

Trực thăng tản thương đến kịp thời. Ðính và vài người bạn trong khẩu đội được tản thương về Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương trong thành nội Huế. Ðêm đó tôi cầu nguyện cho Ðính thoát khỏi tay tử thần. Sáng hôm sau, tôi chỉ thị cho Sĩ Quan Trợ Y Tiểu Ðoàn vào bệnh viện theo dõi tình trạng của Ðính thì được báo cáo là Ðính đã chết khi chưa đến bệnh viện!

Anh Ðính ơi! Tôi đã giã từ vũ khí trên 33 năm, nay tuổi cũng đã xế chiều, may mắn thoát chết mấy lần, còn sống ở thế giới bên này, còn anh ở thế giới bên kia! Tuy chúng ta ở hai thế giới cách biệt, nhưng hình ảnh của anh trước giờ anh chết và ba tiếng ngắn ngủi “Cứu em với!” vẫn sống mãi trong tim tôi cho đến tận ngày hôm nay. Tôi khẳng định không sợ sai lầm, đó là những lời nói cuối cùng với cấp chỉ huy trực tiếp của anh là tôi trước khi anh vĩnh viễn rời xa thế giới bên này để qua thế giới bên kia. Tôi cảm thương anh, một thuộc cấp của tôi, chỉ nói được vài lời ngắn ngủi trước khi chết với cấp chỉ huy của mình. Anh đâu có dịp nói những lời trăng trối cuối cùng với vợ con anh, với cha mẹ anh, phải không?

Ðời chiến binh sống đó rồi chết đó! Chiến tranh thật ác nghiệt! 


* * * *


Sau cuộc hành quân Lam Sơn 719, lực lượng Sư Ðoàn 1 BB rút về để chỉnh trang.

Thừa dịp đó địch ồ ạt chuyển quân và tiếp liệu phẩm theo đường mòn Hồ Chí Minh xuống thung lũng Ashau Alưới. Gọi là đường mòn chứ ở vào thời điểm này không còn là đường mòn nữa mà là đường đất rộng rãi chạy được hai chiều. Ban đêm từng đoàn convoy với đèn sáng rực thong dong chạy tự do. Pháo Ðài Bay chiến lược B.52 từ căn cứ Utapao (Thái Lan) và Guam hoạt động thưa thớt(?).

Giai đoạn đầu năm 1972, Hoa Kỳ thử nghiệm Việt Nam hóa chiến tranh. Các căn cứ Mỹ ở cận dãy Trường Sơn được rút bỏ. Thung lũng Ashau Alưới bỏ ngỏ. Ðịch gia tăng áp lực phía Tây Huế để chuẩn bị cho chiến dịch Hè 1972. Nhận định tình hình cộng thêm tin tức tình báo chiến thuật, BTL/SÐ 1 BB tổ chức hành quân Lam Sơn 729 để giải tỏa áp lực địch.

Bãi đổ quân trực thăng vận được chọn là Ðộng A Tây. Ðịa điểm này là một núi trọc, cao độ 500 thước, cách lăng vua Minh Mạng về hướng Tây khoảng 20 cây số.
Sáng sớm hôm đó, sau khi họp phối hợp hành quân với lực lượng Hoa Kỳ ở căn cứ hỏa lực Birmingham, tôi, Trung Tá Nguyễn Bùi Quang, Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 3 BB và Trung Tá Cố Vấn Trưởng Trung Ðoàn tiến về trực thăng chỉ huy (C&C) đang chờ để khởi đầu cuộc đổ quân. Chúng tôi lướt nhanh qua toán quân đang đứng chờ trực thăng vận. Thiếu Úy Bằng, Tiền Sát Viên Tiểu Ðoàn, biệt phái cho đơn vị BB và ba pháo thủ trong toán đứng nghiêm chào tôi. Tôi chào trả lại theo quân kỷ và vắn tắt nói, “Cố gắng nhe.” Bằng cũng lễ phép đáp “Dạ.”

Bằng với tên họ là Lê Văn Bằng, xuất thân khóa 7/68 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức. Anh là người miền Nam, ăn nói nhỏ nhẹ, rất đẹp trai; mà đẹp trai thì thường hay đa tình! Nhiều cô gái đẹp thành phố Huế chết mê chết mệt vì anh. Cũng vì anh mà nhiều cô mất tình bạn vì ghen tị!

Tôi là một người rất nhiều tình cảm nhưng bề ngoài tôi rất khô khan, lạnh lùng. Tôi không bao giờ bắt tay nhân viên dưới quyền kể cả Sĩ Quan Phụ Tá. Tôi quan niệm như vậy để giữ cái “uy” của cấp chỉ huy, để cấp dưới khỏi “giỡn mặt, khó làm việc.” Tôi đối với Bằng cũng không ngoài thông lệ đó, chỉ vắn tắt nhắn nhủ và khuyến khích: “Cố gắng nhé.”

Trực thăng chỉ huy cất cánh trước, rời căn cứ hỏa lực Birmingham. Trực thăng lượn vài vòng trên bãi đổ quân, thỉnh thoảng hạ thấp cao độ để thăm dò. Cũng may, khoảng thời gian đó, địch chưa có hỏa tiễn cầm tay Ðịa Ðối Không SA 7, nên phi công hơi liều.

Ðúng thời điểm ấn định, L.19 phóng một hỏa tiễn khói trắng đánh dấu bãi đổ quân. Rồi từng chiếc, từng chiếc trực thăng vũ trang (gunship) nối tiếp oanh kích bãi đáp bằng hỏa tiễn. Dứt đợt oanh kích của trực thăng vũ trang, tôi liền điều khiển tác xạ tập trung nổ đồng thời (time on target) với Pháo Ðội B cơ hữu đóng ở căn cứ Bastogne và Pháo Ðội 155 ly của Hoa Kỳ đóng ở căn cứ Birmingham. Dứt loạt đạn pháo binh cuối cùng, tiếp theo là từng chiếc trực thăng chuyển quân tuần tự đáp xuống bãi đáp.

Trung Ðội bộ binh đầu đáp an toàn. Bỗng Phi Công Trưởng báo cho chúng tôi biết là “bãi đáp nóng” (hot landing zone) và cuộc chuyển quân tạm dừng. Trên trực thăng chỉ huy nhìn xuống, tôi thấy một chiếc trực thăng thay vì lấy cao độ vòng lại điểm khởi hành như các trực thăng khác, lại lảo đảo như người say, lết sát theo một đường thông thủy, đâm vào sườn núi bốc cháy!

Tôi mục kích sự kiện xảy ra rất rõ ràng, từ đấu đến cuối. Ðau đớn thay, khi biết được trên chiếc trực thăng định mệnh đó có Ðại Ðội Trưởng Bộ Binh và Bằng, Tiền Sát Viên của đơn vị. Tôi sững sờ, tim nhói đau, tự nhiên đôi dòng nước mắt lăn tròn trên má! Nào ai ngờ tôi vừa nói mấy lời vắn tắt với anh cách đây chừng nửa tiếng, thì bây giờ anh đã chết thê thảm, chết không toàn thây!

Trên trực thăng chỉ huy, không ai biết tại sao trực thăng lại lâm nạn như vậy. Giả thuyết có thể là phi công thiếu bình tĩnh, hoảng hốt, cho trực thăng cất cánh khi vòng quay của cách quạt chưa đủ tua (turn) nên trực thăng không thể cất cao lên khỏi mặt đất. Cũng có thể phi công bị thương khi có vài tên địch còn sót lại bắn sẻ nên không còn đủ khả năng điều khiển.

Bằng chết quá đột ngột và tôi là người duy nhất trong đơn vị, cấp chỉ huy trực tiếp mà anh còn nhìn được lần cuối cùng trước khi vĩnh viễn rời bỏ anh em!
Tôi rất ân hận là tại sao khi anh chào tôi, tôi lại không đến siết chặt tay anh dù không biết được là anh sẽ chết. Ðiều này làm tôi ray rứt mãi đến tận hôm nay.
Khoảng một tuần sau khi Bằng chết mất xác, người yêu của Bằng có ra hậu cứ, khẩn khoản xin phép được xem những di sản lặt vặt của Bằng còn để lại, và tìm một di vật để lưu giữ làm kỷ niệm của mối tình đầu.

Tôi bận hành quân, không có mặt ở hậu cứ, nhưng nghe anh em kể lại, nàng xin giữ một áo lót của Bằng. Nàng đưa áo lót lên mặt, hôn khẻ, như để tìm lại hơi hướm của người yêu còn sót lại đâu đây và khóc nức nở.

Thời gian sau, tôi nghe tin nàng rời xứ Huế lên Ðà Lạt và tu ở một tu viện kín nào đó. Tôi không rõ bây giờ nàng có còn giữ kỹ áo lót của Bằng, một kỷ vật của người yêu vắn số để đêm đêm đem ra nhìn, nhớ lại kỷ niệm xưa hay không?

Tôi kính trọng sự đau khổ của nàng với mối tình đầu dang dở. Mong nàng chóng quên chuyện tình ngày xưa, chuyện tình buồn của thời con gái. Chúc nàng sớm thực hiện được trọn vẹn ước nguyện, quên hẳn những nghiệt ngã, đắng cay, phong ba bão táp trên cuộc đời ô trọc này, và hiến dâng hết cuộc đời còn lại cho Chúa!


* * * * *


Chiến tranh nào mà không có chết chóc, tang thương! Hậu quả chiến tranh đã để lại biết bao nhiêu người đàn bà bỗng chốc trở thành góa bụa. Chiến tranh đã biến những trẻ thơ bỗng mồ côi cha. Chiến tranh đã để lại những vết thương lòng không sao hàn gắn được của mối tình đầu, để cuối cùng hiến dâng cuộc đời còn lại trong tu viện, dưới bóng thánh giá của giáo đường. Chiến tranh đã cướp mất đi một mạng người biết mình gần kề với cái chết nên khẩn nài trong tuyệt vọng “Cứu em với.”
Những trường hợp trên vẫn ám ảnh tôi cho đến tận ngày hôm nay. Thỉnh thoảng trong cơn ác mộng, tôi vẫn gặp lại hình ảnh của các bạn đồng ngũ ngày xưa đã vĩnh viễn nằm xuống!

Tôi không oán trách những người đã cấm súng giết những người bạn của tôi, vì châm ngôn của một chiến binh khi xung trận là “giết hoặc bị giết”!

Khách quan mà nói thì những người nằm xuống ở bên kia chiến tuyến cũng là những anh hùng, nhưng… rất tiếc, “những anh hùng không cùng lý tưởng.” Các người đã bị lừa gạt quá nhiều, nào cách mạng, nào giải phóng, nào giành độc lập, nào chống đô hộ ngoại bang v.v… những từ ngữ rất kêu.

Sau Thế Chiến Thứ Hai, chế độ thực dân thuộc địa đã lỗi thời. Nhìn vào các nước láng giềng chung quanh như Nam Dương, Mã Lai, Tân Gia Ba, Phi Luật Tân và cả Ấn Ðộ khổng lồ khi Bangladesh và Pakistan chưa tách ra; các quốc gia này có tốn một giọt máu nào đâu mà cũng lần lượt được trao trả độc lập. Thậm chí các hòn đảo tí hon mà sau này tôi mới nghe và biết được, cũng được độc lập nốt.

Thánh Gandhi chỉ tranh đấu ôn hòa, bất bạo động mà nước Anh cũng khiếp sợ, trao trả độc lập cho Ấn.

Thánh người ta thì khôn ngoan, còn “thánh Hồ” (sic) sao lại quá ngu si, bị Cộng Sản quốc tế xúi dại chơi trò “chiến tranh giải phóng.” Hết chiến tranh “chống Pháp” ( sic), rồi lại “chống Mỹ” ( sic), chiến tranh triền miên cho đến năm 1975 mới chấm dứt.

Hậu quả là đất nước hoang tàn, trên 3 triệu người chết ở cả hai miền Nam Bắc; với một nền kinh tế kiệt quệ, dân gần như phải cạp đất mà sống!

Khách quan mà nhận xét, không có Hồ Chí Minh thì Việt Nam cũng độc lập và thống nhất từ lâu, không phải đợi đến năm 1975!

Do đó, tôi kết luận Hồ Chí Minh có tội rất lớn với tổ quốc và nhân dân Việt Nam. Tội của Hồ Chí Minh ngập trời! Khi ông ta đi theo Karl Marx, trong lúc oan hồn của 3 triệu người chết vì chiến tranh chưa kịp kết tội và kéo ông ta xuống địa ngục thì bọn trâu, bò, chó ngựa ở dương gian đã đúc tượng xây lăng ướp xác. Rõ đồ khỉ!

The two poles of destruction from Nuozhadu to Don Sahong

 


 “My heart, soul and brain is now in focus to see how we can stop the madness on the Mekong.”  Tom Fawthrop, Journalist / Producer of the film Killing the Mekong Dam by Dam. 
 







The two poles of destruction from Nuozhadu to Don Sahong the Mekong in the claws of death




Nuozhadu, the largest hydroelectric dam on the Mekong River: The red letters on the left: “The hydroelectric station Nuozhadu of the Huaneng Power International, Ltd.”; the white letters on the right: “Power comes from water – Ability to contain generates great things” (Source: Ying Qiu, International Rivers)


To The Friends of The Mekong
Ngô Thế Vinh



THE CHAIN-REACTION IMPACTS FROM THE DAMS


With the passing of time, the cumulative and irreversible chain-reaction impacts coming from the occluding rivers as well as the 26 mainstream dams  (14 dams in the Mekong Cascades in Yunnan and 12 in the Lower Mekong) on the more than 4,800 kilometer-long Mekong include:


1/ Changes in the natural state of the river prevent its current from maintaining its seasonal “flood pulse” which is of vital importance to the Tonle Sap Lake, the heart that regulates the eco-system of the Mekong River and the Mekong Delta.
2/ Changes in the current’s flow will result in a reduction in the wetland areas and destruction of the vital habitat required by the fish species of the Mekong that in turn will adversely affect the fish source and food security.
3/ The altered current threatens the diversity of the fish population including flagship species that serve as a gauge of the wellbeing of the Mekong’s ecosystem like the Irrawaddy Dolphins and Pla Beuks that are facing the risk of  extinction.
4/ The forests along with the wetlands of the Lower Mekong are classified as key biodiversity zones therefore protected by the Ramsar Convention. The dams will cause the wetlands to be submerged and impact the fauna and flora of the entire basin.
5/ Agricultural production will be adversely affected on account of the submerged lands. In addition, alluvia retained in the dam reservoirs upstream will deprive the fields along the riverbanks especially those in Cambodia’s Tonle Sap Basin and Vietnam’s Mekong Delta of their essential nutrients like phosphate and nitrogen.
6/ Reduction in the quantity of alluvia leads to imbalances in the current flow and cave-ins of riverbanks. Meanwhile the Cape Cà Mau is being continuously eroded and its seacoasts receding inland. The reservoirs bring about a weaker current flow and climate change results in a rise in the seawater level: the end result is an ever worsening and encroaching salinization in the basin. No rice species or orchards can survive in fields covered by sea salt.
Witoon Permpong-sachareon, director of TERRA, a Bangkok-based environmental-advocacy group stated: “Dams are the biggest threat to the Mekong and a healthy environment. Building a dam is like putting a clamp on the artery of a healthy person. If your blood doesn’t flow naturally, your body will certainly be damaged.” [Strangling the Mekong. Ron Moreau, Richard Ernsberger Jr. Newsweek International, March 19, 2011]


THE TWO POLES OF DESTRUCTION


Of the 26 mainstream dams on the Mekong, the Nuozhadu Dam (5,850 MW) in Yunnan is the largest while the Don Sahong Dam (260 MW) the smallest but most important one in southern Laos. (We do not take into consideration the Thakho Diversion, also in Laos, 50 MW sponsored by CNR & EDL). This article discusses the two poles of destruction: the impacts of the largest and the smallest dams on the entire eco-system of the Mekong.


NUOZHADU THE LARGEST DAM


Ranked second in size only to the Three Gorges Dam on the Yangtze River, the Nuozhadu Dam resembles a dinosaur straddling the Mekong River. Its construction started in 2006, and required the relocation of 24,000 inhabitants from the building site. The reservoir of the Nuozhadu Dam measures 226 km in length, its area 320 km2 (almost half the area of the island nation of Singapore: 716 km2) its capacity 22 billion m3, (Xiaowan Dam: 15 billion m3) is 30 times larger than that of the Tokuyama Hydroelectric Dam, the largest in Japan. The dam has 9 generator units that were completed in 2014. They boast a total output of 5,850 MW, the equivalent of more than 5 large nuclear reactors. [Chinese dam projects raise alarm in Asia according to Asahi Shimbun, 16/08/2010]
Though the Nuozhadu Dam [261.5 m] is not as high as the Xiaowan Dam [293 m] it still ranks as the “largest dam” built over the Mekong’s mainstream. In Fred Pearce’s opinion: “With the completion of the Xiaowan and Nuozhadu Dams in Yunnan, the Mekong is destined to become China’s new water tower and electrical powerhouse” Fred Pearce (Damming the Mekong: Major blow to an Epic River, Yale Environment 360, 22 June 2009) [Figure I & II]
The Japanese expert Hiroshi Hori works with the Mekong River Committee of the United Nations. This author of the book “The Mekong: Environment and Development” remarks: “The upper Mekong Basin is an earthquake zone, it is feared, earthquakes may occur if dams are built in the upper Mekong Basin.” (2)
In the past, Chinese scholars and environmentalists have also sounded the alarm concerning the dam collapses. (3)
There are no guarantees that such a disaster will not befall the Mekong River. If this river is the lifeline to almost 70 million inhabitants of the basin then each dam represents the Achilles’ heel of the entire region. Apparently, man-made disasters will prove to be much more devastating than those caused by Mother Nature.
An overall review of China’s plan for the exploitation of the Mekong led Tyson Roberts of the U.S.-based Smithsonian Tropical Research Institute to this observation:  “The Chinese hydropower dams, channelization for navigation and heavy commercial shipping will kill the river…[China’s moves] will turn the Mekong into a biologically degraded, badly polluted, dying river like the Yangtze and other big rivers of  China,” (6)







The two poles of destruction from Nuozhadu to Don Sahong the Mekong in the claws of death




The reservoir of Nuozhadu, the largest dam on the Mekong River length: 226 km, lake area 320 km2 (almost half the area of Singapore: 716 km2) capacity: 22 billion m3. (Source: Ying Qiu, International Rivers)



DON SAHONG THE SMALLEST DAM


Almost a year ago, October 3, 2013, the Lao government notified the Mekong River Commission / MRC of its decision to build the second mainstream dam Don Sahong. It is a run-of-river dam located near the Khone Waterfall in the Siphadone area of Champasak Province southern Laos, only 2 km from the Laos-Cambodia border. Laos has not officially produced any project’s final design or other details pertaining to the Don Sahong Dam. Preliminary data show the dam’s output to be 260 MW, its height 30m, its width 100m. It is situated on the 5 km long Hou Sahong water channel. (4)


The Khone Waterfall looks extremely majestic with countless falls, whirlpools and thousands of continuous islands (hence its name Four Thousand Islands). According to the expert on Australia’s ecology Dr. Nguyễn Đức Hiệp, during the Rainy Season, the volume of water and alluvia discharged by the Khone Waterfall is greater than that of the Niagara Falls in North America and Victoria Falls in Africa combined.(7)


From its western to its eastern bank, the Khone Waterfall can measure up to 14 km at its widest span. From the standpoint of biodiversity, the Khone Waterfall remains the most fascinating site of the Mekong. Right at the foot of the Waterfall, one can find a congregation of the largest variety of fresh water fish not only in Southeast Asia but also in the whole world. It is the source of water, alluvia, and aquaculture such as fish, crustaceans, molluscs and aquatic plants… particularly fish, the most important supply of protein to the majority of the inhabitants of the basin especially of Laos and Cambodia.


The section of the Mekong at the Khone Waterfall can be considered as the vital point of the entire eco-system of the Mekong basin.


The biodiversity of the Mekong River consists of about 1,200 different fish species, 2/3 of which belong to the migratory variety. Seasonally, they swim upstream the Mekong and its tributaries to their breeding grounds to spawn and grow. The lion’s share of them are caught and traded as food source.
The fresh water and abundant alluvia in the Mekong help transform the Mekong Delta in Vietnam into the second largest granary of the world after Thailand and also the world’s largest fishery of fresh water fish with an annual catch of 4 million tons worth US Dollars 9 billion. Together with the large catch of shrimps, crabs, turtles, snails, alga and seaweeds they account for upto 80% of the protein intake of the people in the basin.
The French expedition team led by Doudart de Lagrée and Francis Garnier sailed upstream the Mekong in 1866. They stood in awe at the magnificent landscape the Khone Waterfall unveiled before their eyes with the thundering sounds of the water crashing down and the whirpools foaming and splashing all around them.


The Khone Waterfall has often been compared to an ideal laboratory of nature, a microcosm of the entire ecosystem of the Mekong for biologists and ichthyologists to come and do their research. It is this unique attribute that prompts Doctor Mark Hill to argue that the integrity of the Khone Waterfall must be preserved at all cost during the review of all development plans and hydroelectric dam projects for the Mekong.


The Canadian Ian Baird, currently a professor at the University of Wiscosin had volunteered to go and live in Laos for many years. Since 1993, he served as the director of the Laos Community Fisheries and Dolphin Protection Project in southern Laos. With an annual budget of only US Dollar 60,000 he managed to coordinate the activities of 63 villages in the region to save the Dolphins from imminent extinction. His long-run objective is to establish a sustainable fishery because it is a known fact that “rice and fish” form the backbone of the Mekong basin’s economy. (1) [Picture III]







The two poles of destruction from Nuozhadu to Don Sahong the Mekong in the claws of death




Ian Baird, environmentalist, has lived in Laos for many years and is a Mekong fisheries expert. (Source: Tom Fawthrop)



JOY-COATED NATURAL DISASTER


If conventional way depicts an idyllic time in the Mekong Delta when a man could just “pick” his food from Mother Nature to eat his fill and the fields were so vast the egrets could fly at will, then nowadays, to paraphrase the bible, he has to earn his bread with the sweat of his forehead while his offspring has to travel to faraway lands like South Korea, Taiwan, China…to make a living. On the other hand, on that unfortunate land, people still try to maximize their exploitation of Ecotourism with their endless advertisements praising a Mekong Delta being favored by nature with its orchards, bird sanctuaries, delectable local dishes cooked with fish and shrimps, exotic flowers and fruits…


To the uninformed it seems as if this is an inexhaustible natural resource without having the slightest idea that this is actually “a joy-coated natural disaster” to borrow a line in one of Nguyễn Đình Toàn poems. This poet once compared the water in the Mekong to the blood of the earth. Who can imagine that the Mekong Delta is like a ship bumbling in the high sea and each dam built on the Mekong mainstream is like a big or small hole puncturing the side of the hull allowing seawater to slowly flood its holds. The immediate outcome can be seen in the Mekong’s rice fields looking barren due to saline intrusion. [Picture IV]  
Of the same desolate fields, Professor Võ Tòng Xuân, former president of An Giang University had this to say:“Rice production in the Vietnamese Mekong Delta is further threatened by the building of the next dam on the main stream, the Don Sahong Dam in Southern Laos. This dam will block the Mekong’s main stream just before the famous Khone Falls, reducing its flow and endangering the Ramsar site in Siphandone and the crops and fisheries downstream. We observed that dry season rice areas are being expanded in Northeast Thailand, Southern Laos and Cambodia. Substantial water abstraction is occurring in these areas. During the past several years water supply during the dry season in the Mekong Delta was reduced severely, resulting in saline intrusion as far as 80 km further inland, adversely affecting crop yields. We call on the Lao government as well as the Malaysian investors to refrain from altering the main stream of the Mekong River to save the Lower Mekong environment and people.” [26-10-2013] Prof. Võ Tòng Xuân, Rector Emeritus An Giang University, Vietnam.







The two poles of destruction from Nuozhadu to Don Sahong the Mekong in the claws of death




Prof. Võ Tòng Xuân in a barren field caused by saline intrusion at the Gia Rai District, Mekong Delta. (Source: Prof. Võ Tòng Xuân. University of An Giang)  


[ Probably we should take a pause here and have a brief look at the Ramsar Convention (1971), whose objectives are the conservation and wise use of the natural resources of wetlands as well as the classification of preserves to be protected by individual countries and the world community. All the three countries of Cambodia, Laos, and Vietnam have wetlands that are protected by the Ramsar Convention like: the Khone Waterfall, Middle Stretches of the Mekong River north of Stung Treng, The Tonle Sap Lake Biosphere, Tam Nông Bird Sanctuary, Cape Cà Mau National Park…]
 
IN LIEU OF EPILOGUE


The American Secretary of State Hillary Clinton then U.S. Senate (07/2011) had eagerly called upon the Mekong countries to avoid the mistakes the American government committed in its hasty decisions to build the dams so that they can be spared the painful consequences the United States had to suffer over the last 100 years. (5)


We have the case of a big country like China that behaves irresponsibly in its attempt to appropriate and overexploit the hydroelectric potentials of the northern half of the Mekong River with little regard for the impacts and the price the countries downstream have to pay.  Sadly enough, the other Mekong countries do not act any better either. Granted that their urge for economic development and need to assuage the energy thirst are legitimate but they do not warrant the rush to build dams heedless of their nefarious impacts on these countries’ ecology, economy, society, and food security. It’s like building castles on the sand.
 
A myopic focus on short-sighted benefits would inexorably result in an “unsustainable development”, or more precisely “self-destructive development” that will eventually exhaust the country’s natural resources. And future generations would have to live in a barren and increasingly impoverished land.


After 19 years in existence since its establishment in 1995, the Mekong River Commission/ MRC had dealt ineffectively with the challenges posed by the two Xayaburi and Don Sahong Dams in Laos. Those incidents showed that this institution is not vested with the needed authority thus rendered powerless in mediating the transboundary disputes among the Mekong countries. The crux of the problem is the Commission lacks an enforcement mechanism. Failing an immediate reorganization of this instititution, we will undoubtedly witness a replay of the same scenario with the remaining 10 mainstream dams in the Lower Mekong. That would represent a complete catastrophe for the Mekong’s eco-system and the death knell for the Mekong Delta.
  
      With the  “The Spirit of the Mekong” as a common denominator and  unhindered by political divergences and parochial ineterests, the Mekong countries do have the ability to close ranks and build a sound foundation for lasting effective development, meet their demand for electricity, stimulate economic growth, and  eradicate poverty while conserving natural resources for future generations.
 
To reiterate: “The Mekong River is being threatened by serious problems arising from both the unsustainable use of water and the effects of climate change…But without good and careful management of the Mekong River as well as its natural resources, this great river will not survive.” P.M. Abhisit Vejjajiva, MRC Summit 2010 Hua Hin, Thailand.


The concise and meaningful pronouncement mentioned above did not come from a Vietnamese leader but from the former Thai Prime Minister Abhisit Vejjajiva, at the Hua Hin MRC Summit of 2010 over four years ago.


NGÔ THẾ VINH
09 – 20 – 2014 



REFERENCES:


1/ The Don Sahong; Potential Impacts on Regional Fish Migrations, Livelihoods, and Human Health. Ian G. Baird. Critical Asian Studies Volume 43, Issue 2, 2011 http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/14672715.2011.570567#.Umni5yhYmgF


2/ The Mekong, Environment and Development, Hiroshi Hori, United nations, University Press, Tokyo 2000


3/ Chinese environmentalists and scholars appeal for dam safety assessments in geologically unstable south-west China,, https://probeinternational.org/referenced/chinese-environmentalists-and-scholars-appeal-dam-safety-assessments-geologically-unstabl.


4/ Lao PDR submits notification on Don Sahong Hydropower Project. Vientiane, Lao PDR, 3rd Oct 2013
http://wwwand.mrcmekong.org/news–events/news/lao-pdr-submits-notification-on-don-sahong-hydropower-project/


5/ Remarks at the Second Friends of the Lower Mekong Ministerial Remarks; Hillary Rodham Clinton, Phnom Penh, Cambodia; July 13, 2012 http://www.state.gov/secretary/rm/2012/07/194957.htm


6/ Chinese Dam Project may spell disaster for mighty Mekong River.
Denis Gray, Nov 2, 2002 [AP]


7/ Dự án xây đập thủy điện Don Sahong và ảnh hưởng môi trường. Nguyễn Đức Hiệp; http://vietecology.org/Article.aspx/Article/75


8/ Lao Official, developers differ over dam’s status. Laignee Barron and Vong Sokheng. Phnom Penh Post, 20 Aug 2014
http://www.phnompenhpost.com/national/lao-official-developer-differ-over-dam’s-status


9/ No More Dams on the Mekong. David Roberts. New York Times Sept 3, 2014 http://www.nytimes.com/2014/09/04/opinion/no-more-dams-on-the-mekong.html?emc=eta1&_r=0

Thăm Seoul và thắc mắc về cá tính người Hàn (Kỳ 2)


Sổ tay phóng viên


Thiên An/Người Việt

Kỳ 2: Những người bạn tại Seoul

Seoul, Nam Hàn (NV) –
Khi chuẩn bị lên đường đến Seoul đề tường trình về Hội Nghị Hòa Bình của Liên Minh Tôn Giáo Thế Giới tôi đã tự nhủ sẽ tìm cho bằng được đến khu người Việt Nam sinh sống, dù chưa biết mình sẽ bắt đầu từ đâu.

Rất may, tại một nhà hàng do người Việt Nam làm chủ, tôi không chỉ được thưởng thức một bát bún bò Huế đậm đà hương vị quê hương, mà còn làm quen được với một anh bạn đồng hương dễ mến, để được nghe về những niềm vui nỗi buồn rất riêng của người Việt tạm cư tại Nam Hàn.

Khu thương mại và du lịch Myeongdong mà Phú dẫn tôi đến. Hình chụp một cửa hàng “chỉ dành cho người nước ngoài.” (Hình: Thiên An/Người Việt)

Anh bạn người Việt

Anh cho biết mình tên Phú, chương trình cao học hai năm ngành công nghệ máy tính đưa anh sang Nam Hàn ba năm trước. Sau đó, công việc hiện tại ở một công ty đa quốc gia giữ chân anh lại nơi này thêm gần một năm nay.

Phú cho biết, đa số các đại học tư tại Seoul đều có du học sinh từ Việt Nam sang. Trường nơi anh từng học có độ 80 người Việt trong tổng số 3,000 sinh viên. Sinh viên quốc tế học bằng Tiếng Anh là chính. Anh ở trọ cùng một người bạn, giá thuê phòng khoảng $500/tháng. Mỗi năm, anh về Việt Nam thăm gia đình một lần. Cuối tuần, bạn bè cũng hay rủ nhau đi chơi. Anh thấy sinh viên Việt ở Hàn Quốc phần lớn là người Bắc.

Theo anh, người Việt ở Seoul nay đông hơn trước nhiều. “Cũng đủ để chia phe phái,” anh đùa.

Phú mua giúp tôi vé xe điện ngầm. (Hình: Thiên An/Người Việt)

“Nhưng chưa đủ để người bản xứ quen thuộc và tôn trọng cộng đồng người Việt”, tôi tự nhủ, sau khi nghe những lời chia sẻ tiếp theo của anh.

Vừa thưởng thức dĩa cơm tấm, anh vừa nhận xét rằng tiệm ăn hay các sinh hoạt khác của người Việt tại Hàn, thường biệt lập với dòng chính. “Vì người Hàn không thích dân nhập cư,” anh nói. Anh đưa ra nhiều dẫn chứng từ báo, đài, như vụ án mạng tại Incheon bị dư luận đổ cho dân nhập cư đến khi tìm chưa ra được thủ phạm.

Anh cho lý do dẫn đến sự thua thiệt của người nhập cư hoặc vì họ theo diện lao động thường để làm những việc nặng nhọc, hoặc vì họ theo diện kết hôn với người có thu nhập thấp.

Phú sau đó dẫn tôi đến nhiều nơi của Seoul. Tại một tiệm thực phẩm nhỏ mà Phú gọi là chợ Việt Nam và cũng gần nhà hàng mà chúng tôi ăn tối, cô Trâm chủ tiệm cho biết người chủ tiệm cũ vừa mới sang lại tiệm khoảng một tháng nay.

“Ở đây dân bất hợp pháp nhiều, người đến rồi đi, ở một thời gian rồi về hoặc bị đuổi về,” cô nói. Cô cũng cho biết tất cả những món rau tại tiệm, như khổ hoa hay rau muống, đều do người Việt tự trồng và mang đến bán.

Rời “chợ Việt Nam” tôi đi theo Phú đến nhiều nơi khác, mà vì tiếng Hàn, một chữ bẻ đôi tôi không biết, nên đi đến đâu thì tôi quên tên đến đó. Chỉ nhớ chúng tôi có vào một khu mua sắm sang trọng gần trạm Wangsimni, đi xe điện ngầm, đến khu thương mại  và du lịch sầm uất Myeongdong, thăm nhà thờ cổ miền Đông, đi thử xe bus, mua quà tại siêu thị gần trạm tàu lửa trung tâm thành phố…

Tôi mua vài món quà lưu niệm cho người nhà và đồng nghiệp, không mua quần áo thời trang như sở thích của rất đông các du khách lịch người Trung Quốc. Theo tôi, hàng hóa ở Seoul tương tự hàng Mỹ mà giá cả thì có phần đắt đỏ hơn.


Mỗi người một tâm trạng


Không tính những người gặp gỡ trong một tuần làm việc, thì ngoài Phú, tôi cũng có dịp đi chơi Seoul cùng hai người bạn khác.

Joe (góc trái, đeo balô) đưa tôi đi ăn súp đậu hũ và mua quà lưu niệm. (Hình: Thiên An/Người Việt)

Một là Tâm, cô bạn từng học cùng đại học với tôi ở Bắc California. Cô đến Daegu (cách Seoul bốn giờ xe, khoảng 230 cây số) dạy Tiếng Anh mới ba tuần này. Người còn lại là Joe, anh bạn da trắng ở Seoul cũng từ California sang đây dạy Tiếng Anh, nhưng đã hơn một năm. Qua Tâm, tôi và Joe biết nhau, cùng hẹn đi ăn trong ngày đầu tiên tôi đến Nam Hàn.

Điều giống nhau giữa ba người bạn này? Cả ba đều quá dễ thương và đón tiếp tôi hết tình, tôi không biết phải cám ơn sao cho hết.

Và điểm khác nhau giữa họ? Vì hoàn cảnh đến Nam Hàn khác nhau, nên họ có những nhận xét rất riêng, có lúc trái ngược Seoul. Sau đây là một vài dẫn chứng nho nhỏ.

Tâm (góc phải) cô bạn cùng trường vừa sang Nam Hàn được ba tuần đến Seoul gặp tôi. (Hình: Thiên An/Người Việt)

Với Phú, người học cử nhân xong muốn đi du học nước ngoài thì thủ tục đến Hàn cũng dễ, và bạn bè cùng đi Nam Hàn cũng nhiều. Phú cho biết anh dự tính sẽ dạy tiếng Anh ở Châu Âu nhưng điều kiện khó hơn, nên trong thời gian này dạy ở Nam Hàn trước đã.

Với Tâm thì hồi còn đi học cũng muốn du học tại nước ngoài nhưng không có dịp đi. Nay muốn ra nước ngoài một chuyến, nên nhận dạy Tiếng Anh ở Nam Hàn.

Về những ngày đầu tiên đặt chân đến Seul, Phú cho rằng “Seoul dễ sống hơn mình tưởng. Không biết tiếng Hàn, cứ tưởng khó khăn lắm, ai ngờ cũng dễ dàng. Các phương tiện giao thông rất tiện lợi.”

Trong khi đó với Tâm thì “ở đây thật khó sống. Thức ăn không hợp khẩu vị chút nào. Mình ngủ cứ mơ về đồ ăn Mỹ. Giao thông khó đi quá, toàn chữ Hàn.”

Joe, người bạn da trắng đến Nam Hàn dạy tiếng Anh thì nói: “Vì đã nghiên cứu trước khi đi, Seoul cũng không có gì làm mình ngạc nhiên. Chỉ có điều, đàn ông Hàn diện quá.”

Cái nhìn của họ về công việc cũng rất khác biệt.

Phú ca ngợi đồng nghiệp của mình: “những người làm chung của mình giỏi lắm, biết nói mấy thứ tiếng. Đi làm rồi mới thấy mình còn thua kém nhiều lắm.” Còn Tâm thì hơi tỏ ra hối tiếc: “Ước gì mình đã không ký hợp đồng. Công việc rất tốt, bà hiệu trưởng có vẻ quý mình. Học sinh con nhà giàu thì hơi phá nhưng cũng biết sợ. Nhưng mình vẫn hối hận đã bỏ Mỹ mà đến đây.” Trong khi đó Joe lại hân hoan: “Mọi thứ đều rất tốt. Mình tiếp tục ký hợp đồng dạy thêm một năm nữa.”

Ngay cả việc thích gì hay không thích gì về Seoul, mọi người cũng không có chung một cái nhìn.

Phú thích nhất “sự hiện đại” của thành phố này, và không thích việc “dân Seoul không thích người nhập cư.” Trong khí đó Tâm “chưa thấy thích gì cả” nhưng lại rất không thích việc “nhiều người không thân thiện với người lạ. Mình hỏi đường mà họ quay đi làm như mình không tồn tại.” Còn Joe thì thấy Seoul “rất thành thị, khác với vùng San Bernardino nơi Joe ở,” và “không thích những món ăn dai dai như cải chua, hay bạch tuộc.”

Tôi đồng cảm với những gì Tâm chia sẻ. Dù một cô bạn người Hàn đã cho cảnh báo trước về thái độ lạnh nhạt này của một số người địa phương dành cho người lạ, tôi vẫn lấy làm buồn khi bị đối xử như thế.

Một phần đã quen với tính tình xởi lởi của người Việt và người Mỹ, một phần vì thời gian đến Nam Hàn mới đếm được theo ngày, tôi và Tâm bắt đầu kể nhau nghe những kinh nghiệm theo mình là “quái lạ”, như hỏi đường không được trả lời, hay đưa máy hình nhờ chụp thì bị hất tay ra…

Dù vậy, chúng tôi vẫn công nhận rằng đa số người Hàn cũng rất tốt bụng. Khi bị người này từ chối, Tâm và tôi nhờ người khác. Dù sao thì cuối cùng cũng có người sẽ giúp, sẽ chỉ tận tình đến nơi đến chỗ…

Phú thì khác. Từ lâu anh đã không nhờ đến người Hàn. “Người Hàn vậy đó, họ không thích người nước ngoài như mình,” anh nói và khuyên tôi bỏ đi. Joe thì hoàn toàn không trải qua những gì ba đứa tôi than phiền. Anh cho biết là chưa bao giờ bị đối xử không tốt.

Khác Joe, cả ba người tôi, Tâm, và Phú đều gặp qua những kinh nghiệm không vui của người không nói được tiếng Hàn và không phải da trắng. Khác Phú, với tôi và Tâm, điều này “không thể nào chấp nhận được”.

Xuất xứ, thời gian ở Seoul, hay tính cách cá nhân? Tôi cũng không rõ đâu là nguyên do của sự khác biệt trong suy nghĩ của chúng tôi.

Tôi trở lại Mỹ vào cuối tuần, hẹn gặp lại Phú, Joe, và Tâm khi có dịp.

Với tôi, bún bò Huế ở Seoul ngon, nhưng vẫn không ngon bằng bún bò Huế … Little Saigon.

Liên lạc tác giả: [email protected]

Tô bún bò Huế giữa lòng Seoul xa lạ

Sổ Tay Phóng Viên


Thiên An/Người Việt


Seoul, Nam Hàn (NV) – Một tuần lễ ở Seoul nhanh chóng trôi qua với lịch làm việc từ sáng đến tối, tôi quyết định tự ra ngoài tìm thức ăn Việt khi chỉ còn ở đây một tối cuối cùng.









Quang cảnh Seoul nhìn từ quận Dongdaemun. (Hình: Thiên An/Người Việt)


Từ lúc mới đến đây vào đầu tuần, tôi đã muốn tìm ghé thử vào một quán ăn do chính tay đầu bếp Việt nấu nhưng đến bây giờ mới có thời gian. Sau chuyến taxi suýt bị lừa $72 và một tiếng đồng hồ lang thang giữa Seoul, mong muốn cuối cùng rồi cũng thực hiện được.


Tại một quán ăn Việt có tên Little Vietnam ở phía Đông thành phố, tôi có dịp thưởng thức một tô bún bò đậm đà hương vị ruốc Huế trong thành phố Seoul xa lạ. Một người khách dễ mến tại đây không chỉ bỏ cả tối hôm đó đưa tôi đi thăm khắp Seoul, mà còn  kể tôi nghe về những tâm sự rất riêng của người Việt tạm cư tại Nam Hàn…


* Rời Dongdaemun…

Kiếm một tiệm phở tại một thành phố lớn nhộn nhịp khách quốc tế như Seoul không khó. Cứ lái xe khoảng năm mười phút thì bạn sẽ lại thấy một chi nhánh nào đó của các hệ thống bán phở đã phần nào chiều theo hương vị của người Hàn, như Little Saigon, Pho Bay, Pho Hoa…








Bên trong tiệm ăn có tên “Little Vietnam.” (Hình: Thiên An/Người Việt) 


Vị trí của khách sạn Mayplace nơi tôi ở thuộc quận Dongdaemun (Đông Đại Môn) trong tổng số 25 quận của Seoul, và thuộc về khu vực trung tâm, sầm uất nhất thành phố. Xung quanh khách sạn có nhiều địa điểm nổi tiếng để khách thăm viếng, như cung điện Changdokkung di sản văn hóa thế giới hay chợ Dongdaemun lớn nhất xứ Hàn, chỉ cách vài bước chân. 

Tuy gần khách sạn có một vài tiệm phở như Pho L.A., What The Pho, hay Banh Pho 6, tôi vẫn muốn tìm cho được một quán ăn chính gốc của người Việt.

“Ở Hàn Quốc muốn ăn đúng vị Việt Nam, phải chịu khó đi Ansan,” cô bạn ở California từng sang đây học dặn dò tôi trước chuyến đi.


Ansan thuộc thành phố Incheon đến nơi tôi ở mất gần hai giờ xe, và không phải ai cũng thích đến nơi này, dù Ansan được biết đến với sự đa dạng văn hóa, trong đó có nét văn hóa Việt vì có đông người Việt sinh sống nhất Nam Hàn, nhưng nhiều người bản xứ, bao gồm những cô hướng dẫn viên của chúng tôi, tỏ ra khá e dè về ý tưởng đến chơi tại Ansan.

Đa phần họ lấy lý do là Ansan quá xa để ghé thăm sau giờ làm việc, hoặc vì an ninh của khu vực ngoại ô đông dân nhập cư tứ xứ này “khá phức tạp”.

Nhiều lần năn nỉ những người đi cùng đoàn cùng đi một chuyến đến Ansan nhưng bất thành, cộng thêm kinh nghiệm chuyến đầu tiên tự đi xe điện ngầm lại bị nhân viên an ninh giữ lại vì mua nhầm vé xe cho thiếu niên dưới 18 tuổi, tôi đành từ bỏ mong ước ghé thăm cộng đồng Việt tại Ansan. Dù sao thì tôi chỉ còn ở Nam Hàn vài giờ đồng hồ nữa…

Thay vào đó, tôi quyết định đến một tiệm ăn tại Seoul có cái tên khác đặc biệt: Little Vietnam.

 “Phở ở đây khác phở Hàn, ngon như phở Westminster- California vậy,” một người nhận xét trên một trang diễn đàn ẩm thực bằng Tiếng Anh của Hàn. (Không biết từ khi nào, phở California trở thành thước đo của phở thứ thiệt.)

Giữa những lời bình luận, tôi cũng chú ý đến một chi tiết khác: “chủ tiệm là người Việt Nam.”


* Đến “Little Vietnam” ở Wangsimni

Một phần vì không muốn phiền những người trong đoàn làm việc và một phần sợ bị cản trở như ý định đi Ansan, tôi lén đoàn, xách ba lô đựng máy tính có sẵn hình và địa chỉ tiệm, tiến ra cửa.

“Đi dạo một lát nhé,” tôi chào một cô hướng dẫn viên đang đứng dưới hành lang khách sạn.

Hành trình lên đường đi “Little Vietnam” vậy là chính thức bắt đầu! Chẳng rõ tôi háo hức vì sắp được gặp dân Việt ở Hàn, hay vì qua mặt được người hướng dẫn viên.









Tô bún bò Huế và dĩa cơm tấm của “Little Vietnam”. Mỗi món giá 7,000 won ($7). (Hình: Thiên An/Người Việt)



Khi nhận ra rằng đây là lần đầu tiên một mình đứng giữa Seoul, tôi bỗng thấy nơi này trở nên mênh mông và náo nhiệt đến lạ.

Đang trong giờ cao điểm, những trục đường lớn của Seoul đặc kín xe qua lại. Đa số người Seoul đi xe bus và xe điện ngầm, con đường trước mặt khách sạn là một hàng dài những chiếc xe bus của chính phủ, những chiếc xe hơi của người dân và rất đông xe taxi.

Tôi nhảy vào xe một chiếc taxi đang bị kẹt giữa dòng giao thông.

“Đến đây,” tôi vừa nói bằng Tiếng Anh vừa chỉ tay vào màn hình vi tính đã có địa chỉ từ trước. Theo bản đồ, tiệm Little Vietnam nằm ở khu vực Wangsimni, cách khách sạn khoảng mười lăm phút xe về hướng Đông thành phố.

Sau khi nói gì đó mà tôi cũng không rõ, người tài xế lái xe đi.

Seoul về đêm đẹp lắm. Những tòa nhà cao sáng điện xen lẫn những hàng quán đông người qua lại và tụ tập, Seoul cho tôi cảm giác thân thương như đang ở đâu đó gần chợ Bến Thành của Sài Gòn, nhưng sạch sẽ và hiện đại hơn…

“Here?” người tài xế báo đã đến nơi sau khoảng hai mươi phút. “Eight. Eighty. Eighteen.” Với thứ Tiếng Anh nặng giọng Hàn của người tài xế, tôi cũng không rõ ông tính mình bao nhiêu tiền.

Từng đi taxi trước đó vài lần, tôi nghi chắc ông tính tôi 18,000 wons (tương đương $18) cho khoảng hai mươi phút taxi.

Tôi đưa ông một tờ 50,000 won, nhưng ông nhìn tôi, miệng tiếp tục lập đi lập lại “eighty, eighty” ($80).

Quá bất ngờ, “taxi có mắc cũng không thể mắc đến giá đó được”, tôi thốt lên “không thể nào.” Tôi bắt đầu đưa mắt tìm thiết bị tính tiền thường ở ghế trước của taxi, ngờ vực… Người tài xế thấy vậy thì móc hầu bao, thối tiền, và ra hiệu cho tôi xuống xe. Ra khỏi xe, tôi đếm số tiền ông vừa đưa, tổng cộng là 42,000 wons ($42).

Từ lúc rời taxi ở góc đường, tôi đi lòng vòng thêm tổng cộng khoảng một giờ đồng hồ nữa mới tìm được “Little Vietnam”, cũng chỉ vì Seoul quá lớn cho một du khách lần đầu tiên ghé thăm như tôi.









Mắm ruốc, giấy chùi miệng, và lọ nước chanh đặt trên mỗi bàn ăn. (Hình: Thiên An/Người Việt)


“Little Vietnam” nằm trong tầng hầm của một khu nhà chung cư không tên nào đó giữa các con hẻm tiếng Hàn.


Tự đi hết con hẻm này đến con khác, hỏi hết người này đến người khác bằng thứ Tiếng Anh mà họ không hiểu, và được họ trả lời bằng thứ Tiếng Anh tôi cũng không hiểu, tôi suýt đã bỏ cuộc nếu đã không được một người thanh niên đưa mình đi.

Cầm lấy chiếc máy tính tôi còn đang chỉ trỏ vào hình của tiệm, anh chàng người Hàn chẳng nói chẳng rằng, ra khỏi bàn làm việc, cứ thế phăng phăng bước trong khi tôi chỉ biết nhanh chóng theo sau. Khoảng năm phút quẹo trái, đi thẳng, rồi vài khúc quẹo nữa, anh đưa lại tôi chiếc máy tính, tay chỉ vào cánh cổng khu chung cư.

Nhận ra đây đúng là nơi có hình chụp trên mạng, tôi mừng rỡ vẫy tay từ biệt anh bạn người Hàn tốt bụng, tiến vào bên trong tầng hầm.

Tô bún bò Huế giữa Seoul

Mò mẫm đi giữa các cửa tiệm khá tối và có phần nhếch nhác của tầng hầm khu chung cư, tôi cuối cùng đến được quán ăn có tên gọi “Little Vietnam.”


Biết nói sao cho đỡ mất lòng nhỉ… So với một vài quán phở khác của người Hàn tôi đã thấy, công bằng mà nói, tiệm “Little Vietnam” nhìn không được khang trang lắm.

Quán nằm lẫn với một vài tiệm ăn Hàn Quốc cũng khá nhỏ khác, theo kiểu một “food court” chung. Bù lại, quán cũng khá gọn gàng với bàn ghế xếp ngay ngắn trước một quầy bếp khoảng ba bốn thước vuông.

Trái với cảm giác ban đầu khi háo hức tìm cách gặp người Việt, tôi hơi thất vọng khi chủ tiệm, người mà sau đó cho biết là tên Trang, có vẻ khá lạnh lùng. Tôi cũng nhận ra quán vốn dĩ có đông người Việt thường xuyên lui tới.







Thực đơn hoàn toàn bằng Tiếng Việt. (Hình: Thiên An/Người Việt)


Tại một bàn bên góc trái trước tivi, một nhóm bốn bạn trẻ đang trò chuyện rôm rả bằng Tiếng Việt sau khi đã ăn xong. Hai anh thanh niên nói giọng Bắc, trong khi hai cô gái nói giọng Nam. Cả bốn người đều ăn mặc theo lối Hàn Quốc, tóc nhuộm vàng thời trang. Lúc tôi đến thì nhóm này đang chuẩn bị về.

“Ngồi đi, đâu cũng được,” cô Trang chủ tiệm lên tiếng, trước khi nhanh chóng thẩy lên bàn một tờ thực đơn.

Thực đơn của Little Vietnam, với năm loại thức ăn bên trang trái, và năm loại thức uống bên trang phải, hoàn toàn bằng Tiếng Việt. Thực đơn tuy  khá đơn giản so với các tiệm ở Little Saigon nơi tôi ở, nhưng so với những tiệm phở khác của người Hàn tại đây là khá đa dạng cho khách lựa chọn.

Chai mắm ruốc nhựa đặt ngay trên bàn khiến tôi tự nhiên thèm hương vị đậm đà của bún bò Huế. “Cho một tô bún bò,” tôi gọi.

Trong quán, lúc đó cũng đã gần 8 giờ 30 tối, còn lại cô chủ quán đang vào bếp nấu nướng, tôi, và một anh thanh niên vừa vào tiệm và gọi liền một phần cơm.

“Mình ngồi ăn cùng bạn được không?” Tôi đánh bụng đến hỏi chuyện anh bạn Việt Nam.

“Ừ, được chứ, bạn ngồi đi.” Anh nhìn tôi, thoáng ngạc nhiên nhưng nhanh chóng đáp lời.







Anh bạn người Việt sau khi cùng ăn và trò chuyện với tôi, dẫn tôi đến thăm nhiều nơi khác của Seoul. (Hình: Thiên An/Người Việt)


Tô bún bò của tôi được bưng ra cùng lúc với dĩa cơm tấm của anh bạn người Việt. Anh bạn tên Phú bắt đầu trả lời những thắc mắc của tôi về cộng đồng người Việt sống tại Hàn Quốc, về những câu chuyện của riêng anh, và còn tốt bụng dẫn tôi đi thăm Seoul để không bị taxi lừa thêm lần nữa…

Tuy sợi bún nhỏ ăn hơi lạ, tô bún bò Huế Seoul với nước dùng đậm đà cay cay nóng hổi, cộng thêm câu chuyện thú vị với người đồng hương đối diện, tôi thấy mình thật may mắn khi quyết tâm đến đây vào tối hôm đó.


(Đón xem kỳ 2: Những người bạn tại Seoul)


Liên lạc tác giả: [email protected]

Hình ảnh mới nhất Trung Quốc thôn tính xong đảo Gạc Ma

* Tiếp tục xây dựng nhiều đảo nhân tạo khác

LONDON (NV) .- Những hình ảnh mới nhất do vệ tinh chụp cho thấy Trung Quốc tiến rất nhanh trong việc xây dựng đảo nhân tạo Gạc Ma thành một căn cứ lớn trên biển thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Những tấm hình mới nhất do vệ tinh của công ty Airbus Defense and Space chụp ngày 14/8/2014 được nêu ra trên tạp chí Quốc phòng Jane’s Defense ngày 22/9/2014 cho thấy những tiến bộ đáng kể và đạt được rất nhanh của Trung quốc tại Gạc Ma mà họ gọi là Chigua Jiao (Xích Qua Tiêu) tên quốc tế là Johnson South Reef.









Hình do vệ tinh chụp giữa Tháng 8, 2014 cho thấy đảo nhân tạo Gạc Ma đang được Trung Quốc gấp rút xây dựng. (Hình: Airbus DS / Spot Image S.A. / IHS)


Trung Quốc cướp bãi đá ngầm này từ Việt Nam năm 1988 qua một trận tấn công làm 64 binh sĩ hải quân Việt Nam thiệt mạng.
Cho đến đầu năm nay, Gạc Ma vẫn chỉ là một bãi đá ngầm mà trên đó, Trung Quốc xây dựng một pháo đài nhỏ, trang bị vệ tinh viễn thông và một cầu cảng ngắn.


Bây giờ, sau nhiều tháng được tàu hút cát từ lòng biển bồi đắp, Gạc Ma trở thành một đảo nhân tạo có chiều ngang khoảng 400 mét và một diện tích ước chừng 100,000 m2 hay 10 ha.

 Không có một đảo nhân tạo nào tại Biển Đông thuộc hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa có diện tích lớn như vậy.

Nhìn vào tấm không ảnh, người ta thấy nhân công đã xây dựng bờ kè bao bọc toàn thể hòn đảo. Có hai cầu cảng kiểu cho xe cộ chạy lên xuống tàu (roll-on/roll-off) và một cầu cảng cho tàu cặp hông ở phía Tây Bắc.  Nền móng để xây dựng những tòa nhà to lớn được nhìn thấy ở phía Tây Nam hòn đảo trong khi có những trang bị lớn như máy bơm lọc nước mặn, máy trộn làm xi măng, kho nhiên liệu.

 Ngoài những gì nhìn thấy ở Gạc Ma, những hình ảnh phổ biến trên báo chí Trung Quốc ngày 13/9/2014 còn đồng thời cho thấy họ đang xây dựng tương tự ở bãi đá ngầm Việt Nam gọi là đá Châu Viên, Trung Quốc gọi là Huayang Jiao (Hoa Dương Tiêu), tên quốc tế là Cuateron Reef.


Hình ảnh nơi này chứng tỏ họ cũng có hệ thống lọc nước mặn, cần cẩu trục, máy khoan cùng với rất nhiều vật liệu xây dựng.

Các dữ kiện vệ tinh theo dõi sự di chuyển tàu biển thế giới (AISLive) mà tạp chí IHS Jane tường thuật hồi Tháng Sáu vừa qua cho thấy tàu nạo hút cát của Trung Quốc có tên là Ting Jing Hao chịu trách nhiệm hầu hết về công tác hút cát làm đảo ở Trường Sa đã đến đá Châu Viên ba lần kể từ Tháng 9-2013 và hai lần sau là khoảng 10/4/2014 rồi từ ngày 22/5/2014 trở đi.

Tàu nạo vét Ting Jing Hao phụ trách hút cát làm đảo Gạc Ma và cũng đã từng đến nhóm bãi đá ngầm đá Ga Ven Trung quốc gọi là Nanxun Jiao (Nam Huân Tieu) và Xinan Jiao (Tây Nam Tiêu). Nơi đây ở trung tâm của quần đảo Trường Sa và cũng gần với đảo Thái Bình (Itu Aba) hiện đang do Đài Loan chiếm giữ.

Hình ảnh do chính phủ Philippines công bố hồi Tháng 8 vừa qua cũng cho thấy những hoạt động làm đảo nhân tạo gấp rút ở bãi đá ngầm Kennan  nằm trong nhóm bãi đá ngầm do Việt Nam kiểm soát.

Theo nhận định của tạp chí Jane, Trung Quốc gấp rút biến các bãi đá ngầm thành đảo nhân tạo ở Trường Sa là vi phạm nguyên tắc ứng xử trên Biển Đông (Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea) mà Trung Quốc đã ký với ASEAN năm 2002. Dù không có ràng buộc pháp lý nhưng rõ ràng Trung Quốc ngang nhiêu hành động vì sức mạnh quân sự ăn trùm các nước nhỏ phía Nam. Thỉnh thoảng Hà Nội hay Manila chỉ lên tiếng phản đối chiếu lệ.

Tuy Việt Nam và cả Đài Loan có tăng cường các cơ sở trên các đảo đang trấn giữ, nhưng không thể so sánh với những hành động vượt bậc của Trung Quốc trong khoảng hai năm trở lại đây. Những đảo nhân tạo rộng lớn của Trung Quốc tại Trường Sa sẽ là những căn cứ quân sự tầm cỡ trên biển, thay đổi cục diện ở khu vực.

Cuối Tháng 8-2014, tạp chí Jane’s Defense cho hay Trung Quốc cũng nạo hút cát bồi đắp tăng diện tích cho đảo Phú Lâm trong quần đảo Hoàng Sa. Một phần trong những việc này là kéo dài phi đạo từ 2,400 mét lên thành 2,800 mét để các các máy bay quân sự cỡ lớn có thể lên xuống an toàn.

Nếu một phi trường quân sự được thiết lập ở Gạc Ma thì sẽ là sự đe dọa trực tiếp và rất gần với các cơ sở trên các đảo ở Trường Sa mà các nước khác đang trấn giữ.

 Lịch sử các sự xung đột trên Biển Đông cho người ta cảm tưởng rằng các căn cứ lớn hơn đang được Trung Quốc xây dựng sẽ là những xuất phát điểm để mở cuộc tấn công những căn cứ, cơ sở của Việt Nam, Philippines gần đó khi Bắc Kinh muốn ra tay thâu tóm.


Dù sao, tới nay, người ta mới chỉ thấy Trung Quốc sử dụng các lực lượng bán quân sự để uy hiếp và ngăn cản. (TN)



 

Hành trình từ trường làng đến Ðại Học Quốc Tế RMIT Việt Nam (kỳ 18)


Nguyễn Xuân Thu


TTHL/VT lúc đầu có ba cơ sở: Cơ sở đầu não đặt tại trại Chí Linh, trại Phù Ðổng và cơ sở Lam Sơn cách trại Chí Linh khoảng 6 cây số về hướng Sài Gòn. Không giống như các trung tâm huấn luyện tại các trường học (nay gọi là trung tâm đào tạo), TTHL/VT được tổ chức và hoạt động như một đơn vị quân đội, có kỷ luật chặt chẽ, nhân viên và khóa sinh ra vào trại phải có giấy phép và được kiểm tra nghiêm ngặt bởi các đội bảo vệ canh gác có súng.

TTHL/VT từ cuối năm 1965 do Trung Tá Nguyễn Bé làm chỉ huy trưởng (giám đốc). Trung tâm có bốn khối: Khối Nghiên Cứu và Phát Triển, Khối Huấn Luyện, Khối Hành Chính và Khối Tổng Ðoàn Khóa Sinh.
Ngoài ra, TTHL/VT còn có ban cố vấn gồm trên 40 người Mỹ đảm trách nhiều công việc khác nhau. Ban cố vấn có nhiệm vụ yểm trợ đắc lực về mặt tài chính và hậu cần cho các hoạt động đào tạo và huấn luyện của trung tâm.

Trong thời gian đầu, lúc mới đến trung tâm, tôi được phân công đến tìm hiểu công việc tại các khối, phòng, ban và các Tổng đoàn khóa sinh của trung tâm. Sau khoảng trên hai tháng, tôi được bổ nhiệm chức vụ phụ tá giám đốc đặc trách Khối Nghiên Cứu Phát Triển (NCPT). Chỉ huy trưởng của TTHL/VU là Trung Tá Nguyễn Bé. Lúc ông làm phó tỉnh trưởng Nội An tại tỉnh Bình Ðịnh, tôi có giúp viết nhiều bài báo đăng trên tờ nội san của tỉnh đoàn cán bộ XDNT Bình Ðịnh. Những bài viết này sau được tập hợp lại, hiệu đính và in thành quyển sách “Tìm hiểu chung thủy” ký tên Tường Vân Nguyễn Bé, để phát cho cán bộ và quan khách mỗi khi đến thăm trung tâm. Có nửa triệu bản được phát hành trong lần in đầu tiên. Khi Nguyễn Bé mới vào làm chỉ huy trưởng, anh có nhờ tôi viết một bài kêu gọi thanh niên Việt Nam phải ý thức về sứ mạng lịch sử của mình dù ở vào hoàn cảnh nào, và tôi không ngờ được rằng chính bài này đã được sử dụng để đọc trong Ðêm suy tư trong mỗi dịp lễ mãn khóa với sự tham dự của hàng ngàn khóa sinh. Giữa đêm tối, khi máy phóng thanh phát ra bài này, nhiều người không cầm được nước mắt.

Khối NCPT do tôi trực tiếp điều hành có một số phòng và ban:

Phòng nghiên cứu phụ trách nghiên cứu và soạn thảo chương trình huấn luyện chuyên môn cho các công tác phát triển nông thôn, từ bài học về các mục tiêu của công tác XDNT, nhiệm vụ của cán bộ XDNT, công tác hướng dẫn bầu cử xã ấp, chống nạn mù chữ, vận động nhân dân tham gia vào các chương trình xây dựng cầu cống, đường sá, bệnh xá, trường học, đình làng, đến hướng dẫn sinh hoạt thiếu nhi, cách thức sinh hoạt cộng đồng… Cụ thể hóa các bài học là các nhiệm vụ mỗi loại CB/XDNT phải làm để đạt được mục tiêu đã đề ra và có phần hướng dẫn đánh giá mỗi nhiệm vụ. Sau khi soạn thảo xong và được đem ra dạy thử, các tài liệu được điều chỉnh lại trước khi chuyển sang ban cố vấn tại trung tâm để được dịch ra tiếng Anh và sau đó trình cho Tổng Bộ Xây Dựng xét duyệt, ban hành.

Phòng chính trị phụ trách soạn thảo các tài liệu liên quan đến môn chính trị, giúp học viên biết rõ lý do tại sao người CB/XDNT phải xây dựng nông thôn. Các nhiệm vụ chính là phải xây dựng cho được hai cộng đồng ở tại mỗi xã ấp: Cộng đồng an ninh để bảo vệ cuộc sống thanh bình của người dân, không để cho bất cứ ai áp bức, nhũng nhiễu dù kẻ đó là người phía quốc gia hay là cán bộ Cộng Sản nằm vùng. Cộng đồng phồn thịnh là nơi mọi người dân được tự do bầu cử, đi lại, làm việc, học hành, có mọi tiện nghi tối thiểu về nhà ở, đường sá, cầu cống, trường học, trạm y tế, nhà hộ sinh, đình làng, chùa, miếu, nhà thờ.

Phòng báo chí phụ trách bài vở cho tờ báo Nước Ta, tờ nội san của trung tâm phát cho cán bộ và khóa sinh đang học tập và làm việc tại trung tâm, xuất bản hàng tháng và tờ báo Xây Dựng Nông Thôn, của tổng Bộ Xây Dựng xuất bản hai tháng một lần, chủ yếu phân phối cho cán bộ XDNT trong toàn miền Nam.

Phòng phát thanh và truyền hình phụ trách hai chương trình phát thanh mỗi tuần (Ðài Phát Thanh Sài Gòn một giờ mỗi tuần và Ðài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA nửa giờ/tuần), và Chương Trình Truyền Hình Xây Dựng Nông Thôn mỗi tuần một giờ.

Hành trình từ trường làng đến Ðại Học Quốc Tế RMIT Việt Nam (kỳ 17)


Nguyễn Xuân Thu


Về lý thuyết, Ấp Chiến Lược (ACL) là một quốc sách được ra đời đúng lúc và có nhiều cơ may thành công. Nhưng trên thực tế, chương trình ACL này đã có nhiều sai lầm lúc áp dụng vào thực tế.

Một là, bắt dân chúng phải xa rời làng xóm và mồ mả tổ tiên để vào sống trong một khu chật hẹp, tù túng, ra vào phải có giờ giấc; hai là, ý đồ công giáo hóa người dân sinh sống trong các ACL của phần lớn các cấp chính quyền miền Nam lúc bấy giờ; ba là, bộ máy tuyên truyền tại miền Bắc cho rằng chính quyền Ngô Ðình Diệm đã lập các nhà tù gọi là ACL tại miền Nam để giam giữ dân chúng. Những sai lầm của chính quyền cùng với quyết tâm đánh chiếm miền Nam qua bộ máy tuyên truyền của Cộng Sản Bắc Việt là nguyên nhân đưa đến sự chống đối của người dân trong các ACL, và vì vậy, sau ngày Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và cố vấn Ngô Ðình Nhu bị giết hại, với sự xúi giục của Việt Cộng nằm vùng, đa số ACL bị nhân dân nổi lên đốt phá và chương trình ACL xem như thất bại.

Trong thời gian khủng hoảng chính trị tại miền Nam từ cuối năm 1963 đến năm 1965, tình hình an ninh tại các vùng nông thôn miền Nam trở nên cực kỳ tồi tệ. Ðể cứu vãn miền Nam khỏi rơi vào tay Cộng Sản miền Bắc, ngày 7 tháng 2, 1966, Tổng Thống Lyndon B. Johnson của Hoa Kỳ có cuộc họp thượng đỉnh tại Honolulu với hai tướng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ, chủ tịch Hội Ðồng Lãnh Ðạo Quốc Gia và chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương của Miền Nam Việt Nam, để quyết định các phương sách bảo vệ miền Nam Việt Nam. Sau cuộc họp, một bản tuyên bố chung được ra đời. Theo đó, chính phủ Hoa Kỳ quyết tâm bảo vệ miền Nam bằng một quốc sách dựa trên hai chính sách lớn: xây dựng chế độ dân chủ tại miền Nam và tái lập an ninh tại các xã ấp.

Với chương trình chính trị, đến năm 1967, miền Nam đã xây dựng được Hiến Pháp Ðệ Nhị Cộng Hòa và tiến hành bầu cử được tổng thống và phó tổng thống. Thế là sau 4 năm từ ngày Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị lật đổ, miền Nam Việt Nam đã có được một chính phủ hợp hiến, hợp pháp.

Ðối với chương trình tái lập an ninh cho miền Nam, các lực lượng quân đội tinh nhuệ của Việt Nam Cộng Hòa và quân đội Hoa Kỳ tại miền Nam Việt Nam có nhiệm vụ phối hợp đương đầu với cuộc chiến tranh quy ước của các đơn vị quân đội chính quy của Cộng Sản Bắc Việt đưa vào. Ðể tái lập an ninh cho miền Nam, chính phủ Việt Nam Cộng hòa quyết tâm xây dựng cho được một lực lượng phi quy ước (chú trọng về chính trị, gồm các lực lượng dân quân có võ trang thuộc các đơn vị phi chính quy) để đối phó với cuộc chiến tranh du kích của các đơn vị Việt Cộng nằm vùng.

Thế là quốc sách Xây Dựng Nông Thôn được ra đời, tại trung ương, được lãnh đạo bởi Hội Ðồng XDNT trung ương do thủ tướng chính phủ làm chủ tịch và tổng trưởng tổng bộ xây dựng làm tổng thư ký và các thành viên là các bộ trưởng trong chính phủ. Tại các ấp, chương trình xây dựng các Ấp Ðời Mới (trước đây gọi là Ấp Chiến Lược) và các đoàn cán bộ Xây Dựng Nông Thôn (CB/XDNT) được thành lập và đây là lực lượng chủ lực trong công tác xây dựng nông thôn mới. Các đoàn CB/XDNT có sự hỗ trợ quân sự của các tiểu đoàn quân lực VNCH, địa phương quân và nghĩa quân khi đến tái chiếm các ấp do du kích Việt Cộng tạm chiếm.

Các đoàn CB/XDNT có hai nhiệm vụ chính: một là xây dựng một cộng đồng an ninh tại mỗi xã ấp bằng cách tận diệt Cộng Sản nằm vùng và cường hào ác bá, không để du kích Việt Cộng tung hoành, và hai là xây dựng một cộng đồng phát triển trong đó ưu tiên chú trọng đến việc tổ chức bầu cử chính quyền xã ấp; xây dựng lại cầu, cống, đường, trạm xá, trường học, đình làng, chùa, lăng, miếu; cải cách ruộng đất; khuyến khích phát triển nông nghiệp; lập quỹ hợp tác xã nông nghiệp.

Muốn đạt được các mục tiêu trên, tuyển dụng và đào tạo các đoàn cán bộ XDNT là chiến lược mang tính quyết định. Tổng Bộ Xây Dựng có nhiệm vụ lãnh đạo toàn diện các chương trình trên; trung tâm Huấn Luyện Cán Bộ XDNT Vũng Tàu (TTHL/VT) phụ trách huấn luyện các đoàn CB/XDNT; và các Tỉnh đoàn CB/XDNT tại mỗi tỉnh có nhiệm vụ tuyển dụng, điều hành, kiểm tra mọi hoạt động của các đoàn CB/XDNT và đánh giá tình hình an ninh trong mỗi xã ấp dựa trên hệ thống đánh giá HES20 do phía cố vấn Hoa Kỳ soạn ra. Bất cứ hoạt động nào, ở cấp từ trung ương đến cấp quận, huyện đều có sự cố vấn và yểm trợ đắc lực mọi mặt từ phía Hoa Kỳ.

Trung Quốc có thể tấn công các nước khác từ Gạc Ma


Việt Nam


• Theo hai ông James Hardy và Sean O’Connor của tạp chí IHS Jane’s, Trung Quốc có thể dùng đảo Gạc Ma ở quần đảo Trường Sa làm bàn đạp tấn công các mục tiêu các nước có tranh chấp trong khu vực.
• Ngày càng có nhiều thanh niên nghiện ngập ở công viên 23 Tháng Chín (nhà ga Sài Gòn cũ) “xin đểu” các doanh nghiệp xung quanh và gần chợ Bến Thành.
• Sở Giao Thông Vận Tải Hải Phòng tạm dừng cấp phép đăng bộ khai thác mới với các tuyến xe khách cố định đi Hà Nội vì tình trạng tranh giành lợi thế gây bất ổn tại các đầu bến cũng như trên lộ trình.
• Hai chiếc xe vận tải, thay vì vào trạm cân lại lao về phía cảnh sát ở xã Phổ Châu, huyện Ðức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, chạy mất, nhưng bị chặn lại cách trạm cân 9km.



Cộng Ðồng/Ðịa Phương


• Một biệt thự ở Laguna Beach treo giá bán $24.9 triệu có một bãi biển riêng và một ngọn hải đăng riêng nhìn ra biển Thái Bình Dương.
• Một trong sáu chủ bất động sản ở Orange County sẽ bị tính thuế cao hơn 2% trong năm nay, chỉ vì một “lỗ hổng” trong Ðạo Luật 13, quy định thuế bất động sản ở California tối đa là 2%.
• Một tai nạn xảy ra tại góc Xa Lộ 55 và đường Warner, Santa Ana, sáng Chủ Nhật làm một người đi xe gắn máy thiệt mạng, một người lái xe hơi bị thương, và một người ngồi tù vì tình nghi DUI.
• Natalie RangelDiaz và John Thomas Diaz, cùng 32 tuổi, thiệt mạng ở Anaheim Hills hôm Thứ Sáu là do tự tử bằng súng, theo xác nhận của cảnh sát.



Hoa Kỳ


• Cơ quan quản trị nhà tù tiểu bang Florida đuổi việc 32 cai tù vì những vi phạm liên quan đến các hành động sai trái với tù nhân và tạo ra một số vụ chết người ở bốn nhà tù.
• Một tai nạn xe hơi ở Monroe County, Ðông Bắc Pennsylvania, làm chết năm người, trong đó có cả trẻ em.
• Trong cuộc điện đàm với Ngoại Trưởng John Kerry của Mỹ, Ngoại Trưởng Sergei Lavrov của Nga yêu cầu Washington tôn trọng chủ quyền Syria trong cuộc tấn công ISIS.
• Cảnh sát bắt được tù nhân cuối cùng trong số năm người trốn khỏi nhà tù Madera County, cách Fresno chừng 20 dặm về phía Tây Bắc.



Thế Giới


• Hai chiến hạm Trung Quốc cặp cảng Bandar Abbas của Iran trong vùng Vịnh, lần đầu tiên từ trước tới nay.
• Năm người bị bắt ở Châu Âu, ba tại Bỉ, một tại Hòa Lan, và một tại Thổ Nhĩ Kỳ vì bị tình nghi tham gia nhóm ISIS ở Syria.
• Tổng Thống Cristina Fernandez của Argentina nói bà nhận được đe dọa của ISIS vì quan hệ thân thiết với Ðức Giáo Hoàng Francis và công nhận cả hai nhà nước Israel và Palestine.
• Hàng chục ngàn người Kurd ở Iraq chạy qua Thổ Nhĩ Kỳ lánh nạn trong cuối tuần qua vì sợ ISIS.

Hành trình từ trường làng đến Ðại Học Quốc Tế RMIT Việt Nam (kỳ 16)


Nguyễn Xuân Thu


Sau khi tốt nghiệp trường đại học Sư Phạm Huế, tôi được Bộ Giáo Dục bổ nhiệm đi dạy tại trường trung học Nguyễn Huệ, Tuy Hòa. Hiệu trưởng lúc ấy là anh Nguyễn Ðức Giang. Tuy Hòa thời đó được xem là nơi xa xôi cách trở và các giáo viên mới tốt nghiệp như tôi không ai muốn lựa chọn. Các bạn trong lớp tôi đều được đưa đến dạy các trường ở những thành phố lớn như Huế, Ðà Nẵng, Nha Trang, Ðà Lạt.

Gia đình tôi gồm có vợ và một đứa con trai hai tuổi Nguyễn Xuân Như đến Tuy Hòa vào giữa tháng 9 năm 1964. Tôi được phân phối dạy các lớp từ đệ tứ đến đệ nhị (lớp 9 đến 11 bây giờ), trong đó, hai lớp quan trọng là lớp đệ tứ là lớp dạy cho học sinh thi để lấy bằng Trung học đệ nhất cấp và lớp đệ nhị để thi lấy bằng tú tài 1 (hai văn bằng này về sau đã bị bỏ).

Trong thời gian này cả miền Nam ngột ngạt bởi không khí chiến tranh. Rất nhiều thầy giáo phải đi quân dịch. Các trường tư thục thiếu giáo viên trầm trọng. Do đó, ngoài việc dạy tại trường công lập Nguyễn Huệ, tôi được mời dạy thêm môn quốc văn, lớp 11 (lớp thi tú tài 1) ở trường trung học tư thục Công Giáo Ðái Ðức Tuấn.

Trong năm học 1964-1965, công việc dạy học diễn ra khá thuận tiện đối với tôi. Tuy nhiên, lúc này không khí chiến tranh mỗi ngày một trở nên ngột ngạt cả miền Nam, đặc biệt là trong thành phố Tuy Hòa, một thành phố hàng đêm bị Việt Cộng bao vây ba phía, và phong trào Phật Giáo chống chính phủ miền Nam lan đến thành phố nhỏ bé này cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập của học sinh và sinh hoạt của người dân. Trong mỗi lớp có rất nhiều học sinh mang khăn tang đi học.

Trong kỳ thi trung học đệ nhị cấp (cuối lớp 11) vào tháng 6 năm 1965, giáo viên trường trung học Nguyễn Huệ được bố trí đi coi và chấm thi ở các thành phố có hội đồng thi. Tôi được cử làm trưởng ban chấm môn Việt văn của Hội Ðồng Thi Huế. Năm sau, tôi được cử đi chấm thi ở Quy Nhơn, một thành phố ở phía Bắc của Tuy Hòa, cách khoảng trên 100 cây số. Hàng năm thời gian đi chấm thi thường là lúc bạn bè nhà giáo tại nhiều tỉnh khác nhau gặp gỡ, tâm sự và trao đổi kinh nghiệm. Nhân dịp này tôi gặp một số bạn hiện đang dạy học và làm quản lý tại một số trường tại thành phố Sài Gòn. Một bạn tỏ ý muốn mời tôi về dạy học và làm quản lý tại trường sư phạm Kiểu Mẫu Thủ Ðức.

Trong thời gian hai năm đi dạy học tại trường Nguyễn Huệ, ngoài công việc dạy học, tôi còn viết một số bài đăng trên các tạp chí Văn Học (văn học), Minh Tâm (tư tưởng phương Ðông), và báo Chính Luận (trang giáo dục). Tôi cũng có viết nhiều bài đăng trên một tờ báo của tỉnh Ðoàn Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn Tỉnh Bình Ðịnh, tại đây một người anh vợ của tôi đang làm Phó Tỉnh trưởng Nội an. Chính vì những bài viết này, đến mùa hè 1966, tôi nhận được sự vụ lệnh (văn bản) của Bộ Giáo dục quyết định chuyển tôi đến làm việc trong Khối Nghiên Cứu và Phát Triển của trung tâm Huấn Luyện Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn Vũng Tàu, theo đề nghị của Tổng Bộ Xây Dựng. Thế là từ đây tôi kết thúc nghề dạy học của mình.


Làm việc tại Bộ Xây Dựng Nông Thôn


Ðầu tháng 7 năm 1966 tôi đến trình diện tại trung tâm Huấn Luyện Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn Vũng Tàu (TTHL/VT), một trung tâm huấn luyện trực thuộc Tổng Bộ Xây Dựng, từ năm 1969 về sau đổi thành trung tâm Huấn Luyện Cán Bộ Quốc Gia Vũng Tàu.

Ðể hiểu rõ vai trò của trung tâm Huấn Luyện Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn, cần biết nguồn gốc ra đời của quốc sách này.

Từ những năm 1959, 1960, cán bộ Cộng Sản nằm vùng bắt đầu nổi lên tấn công các xã ấp khiến miền Nam trở nên mỗi ngày một bất ổn. Ðể đối phó với tình hình này, từ cuối năm 1961 đầu năm 1962, chính phủ Ngô Ðình Diệm đã đưa ra quốc sách Ấp chiến lược nhằm cô lập cán bộ Cộng Sản nằm vùng ra khỏi người dân. Theo đó, các Ấp chiến lược được lập ra ở nhiều nơi tại miền Nam. Người dân trong các làng được đưa vào ở trong các Ấp chiến lược, có các hàng rào bao bọc, ra vào có sự kiểm soát của lực lượng bảo vệ.

Mục đích là tách Cộng Sản nằm vùng ra khỏi người dân. Tách ra khỏi dân giống như tách cá ra khỏi nước, cán bộ Cộng Sản nằm vùng khó có thể tồn tại lâu dài.

Hành trình từ trường làng đến Ðại Học Quốc Tế RMIT Việt Nam (kỳ 14)


Nguyễn Xuân Thu


Chương 3: Làm việc tại miền Nam


Làm mướn kiếm sống trong thời niên thiếu


Tôi bỏ làng ra đi kiếm sống một mình ở lứa tuổi 14, 15. Sáng ngày Mồng Ba Tết tôi đi bộ lên Hồ Xá, thuộc huyện Vĩnh Linh, cách đồn Châu Thị khoảng 3 cây số về hướng Bắc. Ở lại đây ít hôm trong nhà của một người quen rồi tôi đón xe đò vào thị xã Quảng Trị, khoảng 40 cây số phía Nam của sông Hiền Lương, và cách làng tôi khoảng trên 50 cây số. Lúc đầu tôi tìm tới nhà của một gia đình cùng quê nay đã lập nghiệp ổn định ở thị xã này. Họ cũng chẳng khá giả gì, nhưng họ đồng ý cho tôi ở tạm qua đêm trong nhà của họ. Ban ngày tôi đi đâu đó tự kiếm sống lấy.

Lúc đầu tôi thường đi lang thang trên bờ sông Thạch Hãn. Một hôm tôi đến một bến sông có nhiều người đang giặt áo quần lính. Một chị khoảng trên 30 tuổi hỏi tôi bằng giọng Quảng Nam: “Mày ở đâu? Có muốn giặt thuê không?” Trong hoàn cảnh của tôi, tôi đồng ý và bắt tay vào làm việc ngay. Cuối ngày, chị bảo tôi theo chị về nhà. Chị cho tôi ăn cơm. Xong, chị bảo, “Nếu mày muốn thì ở lại nhà chị, ăn cơm và hàng ngày đi giặt thuê quần áo cho Tây.” Nhà chị chỉ là một căn phòng rất hẹp, chỉ đủ cho hai vợ chồng chị, do đó tôi chỉ đồng ý làm cho chị để được ăn cơm ngày hai bữa và xin một vài đồng để ăn sáng thôi.

Vài tháng sau, tôi được tin lính Tây trong nội thành Quảng Trị thuộc đơn vị pháo binh cần người biết nói tiếng Pháp giúp việc. Thế là tôi tìm đến xin việc. Nhờ có học một ít tiếng Pháp ở trường lúc học các lớp sơ cấp và có làm việc trong câu lạc bộ của lính Pháp trong thời gian ở tù trước đây, tôi được người Tây cho làm ngay. Công việc của tôi là phục vụ nhà ăn tại câu lạc bộ Hạ Sĩ Quan Pháp và phụ bán ở quầy rượu.

Lúc đầu tôi phụ trách rửa chén bát, đặt bàn ăn, quét dọn và kéo quạt cho cả phòng có khoảng 40, 50 người Tây lúc họ ngồi ăn trưa và tối vào những ngày nắng nóng. Sau một thời gian, họ chuyển tôi qua bộ phận phụ bán thức uống ở quầy bar. Tôi bán mọi thứ rượu, bia mỗi ngày từ 9 giờ sáng đến 8 giờ tối và ghi sổ sách cho những người không trả tiền mặt và kết toán sổ sách cuối ngày. Trung sĩ Lambert, người chủ trực tiếp của tôi, cũng như nhiều người Tây khác đến Câu lạc bộ này đối xử với tôi rất tử tế.

Ðây là thời gian tôi có cuộc sống yên ổn nhất về mặt vật chất kể từ ngày mẹ tôi mất. Tôi không phải lo đói, lo chỗ ở chỗ ăn. Nhưng thời gian này không kéo dài lâu. Chỉ khoảng chín tháng sau, câu lạc bộ này đóng cửa vì đơn vị công binh này phải dời đi nơi khác. Mất việc, tôi trở lại cuộc sống thiếu thốn như trước.

Một hôm tình cờ tôi gặp một người Pháp quen lúc tôi làm ở câu lạc bộ Quảng Trị. Ông hỏi tôi có muốn đi làm việc ở PK17 không. Vì không có việc làm khá lâu, tôi nhận lời đi theo ông.

PK17 là một đồn Tây đóng trên quốc lộ số 1, bên cầu bắc qua sông An Lỗ, cách thành phố Huế 17 cây số và cách thị xã Quảng Trị về hướng Bắc trên 40 cây số. PK17 là một đồn lính Tây lớn và nổi tiếng đến nỗi nói đến PK17 ai ở Quảng Trị hay Huế cũng đều biết. Công việc của tôi ở đây cũng tương tự như việc làm bán ở quầy rượu trước đây ở Quảng Trị. Chỉ có khác là mỗi tuần tôi đi theo xe của cơ quan vào Huế một lần để phụ mua thực phẩm và những thứ cần thiết cho câu lạc bộ. Ðây là những lần đầu tiên trong đời tôi biết đến Huế.

Ðối với tôi lúc đó Huế là một thành phố quá ư lớn với nhiều trường học lớn, nhiều chùa, đền, lăng, miếu. So với nội thành cổ Quảng Trị, đại nội Huế là một công trình vĩ đại. Trường Khải Ðịnh và trường Ðồng Khánh ở Huế để lại ấn tượng thật sâu đậm trong trí tôi lúc đó. Mỗi lần đi qua hai ngôi trường này, nhìn học sinh lúc đến trường hay khi tan trường là những lần tôi rươm rướm nước mắt. Tôi tự hỏi tại sao cùng ở tuổi của chúng mà tôi không được đến trường. Có lần vào thành nội Huế, đi qua trường thiếu sinh quân nằm sát Trại Tế Bần Huế trên đường Ðinh Tiên Hoàng, tôi mới biết ngôi trường này dành cho những đứa trẻ mồ côi là con em của quân đội. Từ đó ý nghĩ trở lại trường học bắt đầu nhen nhúm trong tôi.

Hành trình từ trường làng đến Ðại Học Quốc Tế RMIT Việt Nam (kỳ 15)


Nguyễn Xuân Thu


Làm việc tại PK17 khoảng ba tháng thì tôi bị bệnh thương hàn nặng. Xe cấp cứu phải đưa tôi vào bệnh viện Trung Ương Huế.

Sau hai ngày thập tử nhất sinh, bệnh viện hầu như bỏ cuộc thì một người thăm bệnh nhân nằm bên cạnh tôi thấy tôi chẳng có ai đến thăm, đau đớn quằn quại và đi ngoài liên tục không dứt, ông nói cháu này trước sau gì cũng chết, thôi ông làm liều đến bên tôi xoa bóp và dùng kim nhỏ chích sau lưng tôi. Không ngờ sau đó bệnh tiêu chảy ngừng hẳn. Không ai săn sóc, người tôi lúc đó xanh xao, xơ xác và hôi hám vô cùng. Hai hôm sau, thấy trong người hơi khỏe, tôi trốn bệnh viện ra về, xin xe về An Lỗ. Trên đường đi đến bến xe, có một người thấy tôi, rủ lòng thương hại, cho tôi 3 đồng bạc. Khát nước, tôi đem số tiền ấy mua một chai nước chanh. Thấy tôi quá tiều tụy, chị bán hàng trao cho tôi một chai nước mà không lấy tiền.

Về đến An Lỗ được hai ngày, tôi bỏ về Ðông Hà tìm chỗ ở của người chị cả của tôi, lúc ấy đang sống với chồng trong trại lính của Tiểu Ðoàn 21. Ðông Hà là một thị trấn nhỏ phía Bắc của thị xã Quảng Trị và cách thị xã này khoảng trên 10 cây số. Chị tôi và tôi xa nhau kể từ ngày tôi rời quê, bốn năm về trước. Sau khoảng trên một tháng dưỡng bệnh, tôi tìm được việc làm trong một câu lạc bộ của hạ sĩ quan công binh Pháp, với tư cách là người phụ giúp bán ở quầy bar rượu. Tôi làm được gần một năm thì chiến tranh xảy ra rất ác liệt ở mọi nơi trên đất nước Việt Nam, đặc biệt là chiến trường Ðiện Biên Phủ.

Chồng của chị tôi đi hành quân tại vùng cao nguyên (bây giờ gọi là Tây Nguyên) và bị quân đội Việt Minh bắt tại quốc lộ 19 trên đường Quy Nhơn-Pleiku trong lúc chị tôi đang chuẩn bị sinh cháu đầu. Sau khi chị sinh được gần hai tháng, chị bế cháu bé về quê chồng ở Quảng Bình. Tôi chia tay chị từ ngày đó và mãi đến 37 năm sau (1991) hai chị em mới gặp lại nhau. Sau khi từ giã chị và cháu bé, tôi xin nghỉ việc. Chấm dứt một chuỗi ngày làm việc kiếm sống sáu năm trong thân phận của một đứa bé mồ côi.


Dạy tại các trường trung học tư


Trước khi chính thức được Bộ Giáo dục bổ nhiệm làm giáo sư trung học năm 1964, tôi đã có một thời gian dài gần 7 năm làm nghề kèm trẻ tại nhà (ngày nay gọi là làm “gia sư”) và đi dạy học cho các trường trung học tư thục hay bán công tại Sài Gòn và Huế.

Ngoài những lúc kèm trẻ trong thời gian học trung học, trong năm học dự bị đại học tại trường đại học Văn Khoa Sài Gòn tôi có đi dạy mỗi tuần từ 10 đến 12 giờ tại một trường trung học tư thục nhỏ ở Hóc Môn, gần trung tâm Huấn Luyện Quang Trung, nay gọi là trung tâm Phần Mềm Quang Trung. Tôi dạy môn toán buổi tối cho các lớp trung học đệ nhất cấp, nay gọi là trung học phổ thông cấp hai. Hóc Môn cách Sài Gòn khoảng 15 cây số, nên việc đi lại thời đó không đến nỗi khó khăn. Năm đầu tiên trong đời làm thầy giáo đứng lớp, tuy còn thiếu kinh nghiệm nhưng nhờ cố gắng nên mọi việc diễn ra khá tốt đẹp. Quan hệ giữa học sinh và giáo viên bình thường.

Sau mùa Hè 1961, tôi thi đậu vào trường đại học Sư Phạm Huế. Ngoài việc theo học ở đại học, tôi còn đi dạy môn quốc văn (ngữ văn) cho trường trung học tư thục Bình Minh mỗi tuần khoảng 10 giờ và hai buổi tối mỗi tuần tại trường Bách Khoa trong Thành Nội. Thầy Trần Ðiền, hiệu trưởng trường trung học Bình Minh là một người vừa làm chính trị vừa là một nhà giáo gương mẫu. Các giáo viên trẻ như chúng tôi rất kính trọng thầy. Trong biến cố Tết Mậu Thân thầy bị mất tích. Tại trường Bình Minh tôi có nhiều người bạn là giáo viên giảng dạy trước tôi tại trường như các anh Nguyễn Văn Ðương, Trần Văn Nghĩa, Nguyễn Văn Diên. Anh Ðương đã mất tại Sài Gòn từ trên vài chục năm nay. Còn anh Nghĩa không có tin tức. Riêng Diên thì định cư ở California, Hoa Kỳ và gần đây nghe tin là anh đã mất.

Tôi dạy tại các trường tư thục từ tháng 10 năm 1961 cho đến tháng 5 năm 1963 thì nghỉ dạy. Tại trường Bách Khoa, tôi có hai người bạn cùng dạy các lớp đệ nhị (lớp thi để lấy bằng tú tài 1) là anh Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Châu. Lúc xảy ra phong trào xuống đường của Phật Giáo chống lại chính phủ Ngô Ðình Diệm, anh Tường là một trong số những sinh viên đầu não lãnh đạo trong phong trào. Sau này anh là một trong những người viết thể tùy bút có tầm cỡ của Việt Nam. Anh bị bệnh từ trên 10 năm nay và hiện anh đang sống những ngày cuối đời ở thành phố Hồ Chí Minh. Riêng Nguyễn Châu sau khi tốt nghiệp dạy môn triết tại trường Quốc Học và là tác giả của một số quyển sách giáo khoa về triết học in trước năm 1975, và từ khi định cư ở San José, Hoa Kỳ, anh là tác giả của một vài quyển sách viết về Huế và về văn hóa Việt Nam. Châu cũng có gần 10 năm đi cải tạo trong các trại cải tạo ở miền Trung vì có liên quan đến đảng của cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

Hàng ngàn người trên thế giới xuống đường vì thay đổi khí hậu


NEW YORK, New York (AP) – Hàng ngàn người tràn ngập các đường phố ở Manhattan, New York, cùng nhiều thành phố khác trên thế giới hôm Chủ Nhật, thúc giục các nhà làm chính sách hãy có hành động đối với tình trạng thay đổi khí hậu.








Cựu Phó Tổng Thống Al Gore tham dự cuộc xuống đường ở New York. (Hình: Andrew Burton/Getty Images)


Ðám đông xuống đường đi qua khu trung tâm Manhattan gồm các tài tử Mark Ruffalo và Evangeline Lilly.
Dọc đường, đoàn người được Tổng Thư Ký LHQ Ban Ki-Moon, cựu Phó Tổng Thống Al Gore và Thị Trưởng New York Bill de Blasio gia nhập.

Một loạt những biến cố tương tự diễn ra đồng thời ở khắp thế giới, hai ngày trước khi khai mạc Hội Nghị Thượng Ðỉnh về Khí Hậu của Liên Hiệp Quốc.

Hơn 120 lãnh đạo các nước trên thế giới sẽ họp vào Thứ Ba nhằm đi đến một thỏa ước toàn cầu mới về khí hậu trước cuối năm 2015.

Theo các nhà tổ chức, có 40,000 người tham dự ở London, với sự tham gia của những người nổi tiếng như nữ tài tử Emma Thompson và nhạc sĩ Peter Gabriel.

Trước khi bắt đầu cuộc tuần hành, bà Thompson phát biểu, “Ðây là điều hệ trọng đối với mỗi người chúng ta trên hành tinh này.”

Bà tiếp, “Ðây là trận chiến cho sự sống của chúng ta. Chúng ta chiến đấu cho con cháu chúng ta.”

Dân Úc xuống đường ở nhiều thành phố, lớn nhất tại Melbourne, với khoảng 10,000 người, kêu gọi chính phủ phải hành động nhiều hơn nữa để chống lại sự hâm nóng toàn cầu. (TP)

Hạn hán tiếp tục kéo dài ở miền Tây Hoa Kỳ qua năm tới


RENO, Nevada (AP) – Các nhà tiên đoán thời tiết cho hay, hạn hán nghiêm trọng hoặc tệ hại hơn sẽ tiếp tục sang năm tới trên hầu hết miền Tây Hoa Kỳ, gồm nhiều vùng ở Utah, Nevada và toàn tiểu bang California.








Một vùng đất khô cằn vì hạn hán ở McKittrik, California. (Hình minh họa: David McNew/Getty Images)


Theo Sở Khí Tượng Quốc Gia, mưa ở dưới mức bình thường và nhiệt độ từ bình thường đến cao hơn vào tuần tới, trong khi các tháng Mười, Mười Một và Mười Hai tới sẽ không làm vơi bớt sự khô hạn vốn đã kéo dài từ ba năm nay.

Ngay vào những năm ướt át, Tháng Mười và Tháng Mười Một không mang lại nhiều mưa và tuyết trong khu vực.

Tuy nhiên, Tháng Mười Hai là tháng khởi đầu mùa tuyết rơi nhưng tiên đoán lâu dài cho thấy tháng này cũng có khuynh hướng khô ráo.

Tại Reno, sông Truckee năm nay chảy nhỏ giọt ở mức thấp nhất trong hai thập niên.

Tính đến Thứ Năm, 81% tiểu bang Nevada chịu cảnh hạn hán trầm trọng hay tệ hại hơn.

Như vậy là có khả quan hơn so với 87% cách đây ba tháng nhưng lại cao so với 78% của hồi đầu năm.

Cơ quan Theo Dõi Hạn Hán Hoa Kỳ nói rằng phân nửa tiểu bang Nevada tuần qua báo cáo hạn hán ở mức cực đại hoặc ngoại hạng.

Phân nửa tiểu bang Utah báo cáo hạn hán vừa phải và 16% hạn hán nghiêm trọng, trong đó nặng nhất ở vùng Tây Nam và Ðông Nam.

Mùa Ðông năm nay có 65% cơ hội phát triển hiện tượng El Nino với nhiệt độ đại dương ấm hơn thường lệ khiến đôi khi tạo nên mưa nhiều hơn bình thường. (TP)

Tuổi thọ trung bình của nhân loại là 100 vào cuối thế kỷ


WASHINGTON, DC (NV) – Với khuynh hướng tuổi thọ ngày càng cao của con người như hiện nay, theo tạp chí Atlantic, đến cuối thế kỷ này, tuổi thọ trung bình của nhân loại sẽ đạt đến 100.








Cụ bà Misao Okawa, 114 tuổi, người Nhật, được Guiness xác nhận cao tuổi nhất thế giới năm 2013. (Hình minh họa: Jiji Press/AFP/Getty Images)


Vào khởi đầu thế kỷ thứ 19, sự thay đổi về tuổi thọ chỉ còn rất chậm.

Nhưng từ năm 1840, thì cứ mỗi năm trôi qua, tuổi thọ trung bình của con người tăng được ba tháng.

Cũng vào năm 1840 ở Thụy Ðiển, quốc gia nghiên cứu nhiều về lãnh vực này nhờ bỏ công ghi chép kỹ lưỡng từ lâu, tuổi thọ của phụ nữ là 45, trong khi ngày nay là 83.

Hoa Kỳ chứng tỏ cũng có cùng khuynh hướng. Ðầu thế kỷ 20, tuổi trung bình của người Mỹ là 47, nay dự trù lên đến 79.

Nếu tiếp tục cộng thêm 3 tháng cho mỗi năm trôi qua thì vào giữa thế kỷ, tuổi trung bình của người Mỹ sẽ là 88 và 100 vào cuối thế kỷ.

Nhìn chung cả thế giới, sự kéo dài đời sống của nhân loại dường như độc lập đối với mọi biến cố.

Tuổi thọ không tăng nhiều khi thuốc trụ sinh và chủng ngừa trở nên phổ thông, và cũng không giảm rõ rệt trong thời kỳ chiến tranh hoặc dịch bệnh bùng phát.

Tuổi thọ vẫn tăng đều đặn giả dụ rằng nhân loại vẫn chưa có khám phá y học đáng kể nào.

Nhưng nếu thuốc chống lão hóa và phương pháp trị liệu gene được tìm thấy thì bấy giờ tuổi thọ sẽ còn tăng vọt nhanh hơn nữa. (TP)

Dân số thế giới có thể lên tới 11 tỉ người trước năm 2100


WASHINGTON, DC (AFP) – Dân số thế giới có thể lên đến 11 tỉ người trước cuối thế kỷ này, theo một phân tích của Liên Hiệp Quốc vừa mới được công bố.








Dân số thế giới sẽ lên tới 11 tỉ người, mà tăng nhanh nhất là ở Phi Châu. (Hình minh họa: John Moore/Getty Images)


Như vậy, con số này đông hơn phỏng định trước đây đến 2 tỉ người, mà theo tường trình của tập san Science, phần lớn do ở mức sinh sản cao ở Phi Châu.

Ông Adrian Raftery, giáo sư thống kê và xã hội trường Ðại Học Washington và cũng là đồng tác giả bản nghiên cứu, nhận xét, “Dân số hiện nay khoảng 7 tỉ người, thống kê cách đây 20 năm nói rằng dân số thế giới sẽ tăng lên 9 tỉ rồi đứng yên hoặc có thể giảm xuống. Nay chúng ta khám phá thấy rằng có 70% khả năng dân số thế giới không được cân bằng trong thế kỷ này.”

Phỏng đoán trước đây dựa vào ý kiến chuyên môn về tuổi thọ của nhân loại và mức sinh sản, là những yếu tố thường thay đổi theo thời gian.

Sự tăng dân số nhanh nhất được tiên liệu ở Phi Châu, nơi dân số dự trù tăng vọt từ 1 tỉ hiện nay lên 4 tỉ vào cuối thế kỷ.

Bản nghiên cứu có đoạn nói, “Có 80% cơ hội dân số Phi Châu sẽ vào khoảng từ 3.5 tỉ đến 5.1 tỉ vào cuối thế kỷ.”

Trong khi đó, dân số Á Châu hiện là 4.4 tỉ, dự trù sẽ đạt đến đỉnh điểm 5 tỉ người trong năm 2050, rồi bắt đầu giảm xuống.

Các vùng khác như Bắc Mỹ, Âu Châu, và Châu Mỹ La Tinh cùng với Caribbean, dự trù vẫn giữ ở mức 1 tỉ mỗi vùng.

Theo ông Raftery, dân số vẫn còn là vấn đề rất hệ trọng của nhân loại. Hai phương pháp chứng tỏ có thể giúp giảm được dân số, đó là hạn chế sinh sản và nâng cao giáo dục cho phái nữ. (TP)

Nhiều hãng Nhật muốn chạy khỏi Việt Nam


HÀ NỘI 21-9 (NV) –
Vì thiếu công nghệ hỗ trợ, nhiều hãng Nhật tính bỏ Việt Nam chạy sang Thái Lan theo cảnh cáo của ông Sukurada Yoichi, nghiên cứu viên cấp cao của viện nghiên cứu Mitsubishi (Nhật).








Có tới 170 linh kiện cần cho Samsung nhưng các doanh nghiệp Việt Nam đều lắc đầu. (Hình: Đất Việt)


Theo VietnamNet, ông Sukurada Yoichi cùng các cộng sự của ông và công ty Foval, hai đơn vị được Cơ Quan Hợp Tác Quốc Tế Nhật (JICA) ủy thác, đang tiến hành khảo sát, xây dựng bộ cơ sở dữ liệu về sáu ngành công nghiệp hỗ trợ chủ lực của Việt Nam, gồm máy nông nghiệp, chế biến thực phẩm, điện tử, xe hơi, phụ tùng xe hơi, đóng tàu, môi trường và tiết kiệm năng lượng.


Chương trình khảo sát được tiến hành từ Tháng Tư và sẽ kết thúc vào ngày 1 Tháng Giêng, 2015.


Theo nguồn tin vừa kể, tại buổi làm việc với Hiệp Hội Doanh Nghiệp Công Nghiệp Hỗ Trợ Hà Nội (HANSIBA) sáng 19 Tháng Chín, ông Sukurada Yoichi cho biết, chương trình khảo sát được tiến hành tại Hà Nội, Sài Gòn, và một số khu vực lân cận như Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Đồng Nai, Bình Dương, từ đó, lập ra một danh sách 500 doanh nghiệp hỗ trợ hàng đầu của Việt Nam có nhu cầu hợp tác với Nhật. Chương trình cũng khảo sát nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp Nhật (khoảng 20 đơn vị) đang làm ăn tại Việt Nam.


Hồi tháng trước, tin tức cho hay công ty điện tử Samsung sản xuất tại Việt Nam cần đặt hàng 170 linh kiện gồm cả những linh kiện nghe rất đơn giản như cái sạc pin, cáp USB, vỏ nhựa, tai nghe… nhưng câu trả lời của các xí nghiệp nội tại của Việt Nam là chưa làm được. Đấy chỉ là những linh kiệm cho máy điện thoại thông minh Galaxy S4 và Tab, chưa nói tới bắt cứ thứ nào khác.


Các nhà đầu tư sản xuất ngoại quốc khi vào Việt Nam đã hối thúc nhiều lần phải phát triển công nghệ phụ trợ, nâng tỉ lệ nội địa hóa sản phẩm, vừa giúp đất nước phát triển, vừa giúp các nhà đầu tư sản xuất không phải phụ thuộc vào các nhà cung cấp ở xa.


Theo một tờ trình của Bộ Công Thương, về công nghệ hỗ trợ, năm 2013, Việt Nam có khoảng 58,013 doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, nhưng chỉ khoảng 1,300 doanh nghiệp làm trong lĩnh vực sản xuất linh kiện, phụ tùng. Trong khi đó, tỉ lệ sử dụng linh kiện điện tử chuyên dụng nội địa của các nhà lắp ráp ở Việt Nam chỉ có 5%.


Ông Sukurada Yoichi cho hay, trong những ngày sắp tới, khi thuế suất các mặt hàng trong khối ASEAN xuống bằng 0 (zero) thì “một số doanh nghiệp Nhật đang cân nhắc chuyển từ Việt Nam sang Thái Lan, vì thế các bạn cần nỗ lực tăng tốc kẻo mất cơ hội”.


Trong cuộc hội thảo về công nghệ phụ trợ của Việt Nam ngày 8 Tháng Chín vừa qua, những con số nêu ra cho thấy hàng tỉ đô la thu được từ kỹ nghệ hỗ trợ như cung cấp thiết bị, linh kiện phụ trợ đều đã rơi vào tay các nhà thầu Trung Quốc vì Việt Nam  không có công nghiệp phụ trợ và không làm được.


Theo Tổ Chức Xúc Tiến Thương Mại Nhật (Jetro), hiện nay tỷ lệ thu mua các nguyên liệu đầu vào và phụ tùng cho sản xuất mà các công ty Nhật đang phải mua tại Việt Nam vẫn còn thấp, chỉ đạt 28%, trong khi đó tỷ lệ này ở Indonesia là 43%, ở Thái Lan là 53% và ở Trung Quốc là 61%.

Tại triển lãm Việt Nam – Nhật lần thứ 5 về công nghiệp hỗ trợ diễn ra ở Hà Nội vào đầu Tháng Chín, 2013, hãng xe Toyota tham gia với một gian trưng bày các sản phẩm muốn tìm kiếm nhà cung cấp trong các lĩnh vực hàn, dập, đúc, nhựa và các chi tiết cao su. Nhưng mục đích này đã không đạt được và đây là lần thứ 5 liên tiếp Toyota thất bại trong việc tìm kiếm nhà cung ứng linh kiện thông qua triển lãm.


Theo thống kê cho thấy, Việt Nam hiện mới chỉ có 210 doanh nghiệp tham gia ngành công nghiệp phụ trợ xe hơi và chủ yếu sản xuất các loại phụ tùng đơn giản, có hàm lượng công nghệ thấp, như gương, kính, ghế ngồi, bộ dây điện, ắc quy, sản phẩm nhựa. (TN)


 


 

Cộng Ðồng Việt Nam Nam California bầu cử nhiệm kỳ 2014-2017


Nguyên Huy/Người Việt


LITTLE SAIGON, California (NV)Cuộc bầu cử Ban Ðại Diện Cộng Ðồng Việt Nam Nam California nhiệm kỳ 2014-2017 đã diễn ra trong suốt ngày Chủ Nhật, 21 Tháng Chín, tại 12 địa điểm thuộc miền Nam California trong đó 10 địa điểm có thùng phiếu nằm trong Orange County, một nằm ở Los Angeles và một ở Pomona. Ngoài ra, đồng hương có thể bỏ phiếu trên Internet, qua một trang mạng được ban tổ chức thiết lập, www.vncsc.org.









Hai cử tri vào phòng đầu phiếu tại phòng phiếu số 5 ở chùa Ðiều Ngự, Westminster. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)


Tại phòng phiếu số 1, nơi đặt Văn Phòng Ủy Ban Tổ Chức Bầu cử, vào lúc 11 giờ sáng, bà trưởng phòng phiếu cho biết có 16 cử tri đã đến bỏ phiếu. Trong khi đó thì cũng đang có 4, 5 người vừa đến ghi danh bầu cử.

Nữ nghệ sĩ Trúc Minh, vừa từ phòng đầu phiếu bước ra, vui vẻ cho nhật báo Người Việt biết, “Tham dự cuộc bầu cử này là bổn phận và trách nhiệm của cộng đồng người Việt. Chúng ta đã từng nguyện thề với nhau là sẵn sàng phục vụ cho lợi ích cộng đồng nên trong tinh thần đó tôi tham gia cuộc bầu cử này. Tôi nghĩ tất cả mọi người dân Việt ở Orange County đều mong mỏi đóng góp được chút gì cho cộng đồng. Tôi rất tin tưởng vào tuổi trẻ đã tham gia ứng cử vào các chức vụ trong ban chấp hành. Tôi tin là họ sẽ đắc cử trong sự lựa chọn sáng suốt của cử tri.”

Ðịa điểm phòng phiếu số 1 cũng là văn phòng của tuần báo “Việt-Mỹ Magazine.” Ông David Võ, sáng lập viên tờ báo này, cho biết, “Chúng tôi cho Văn Phòng Ủy Ban Tổ Chức Bầu Cử mượn văn phòng này làm việc trong thời gian tổ chức bầu cử là mong muốn được đóng góp vào công việc mà theo tôi rất hữu ích cho cộng đồng chúng ta để tiếp nối được một tổ chức đại diện cộng đồng đã có từ nhiều năm qua và đã qua nhiều nhiệm kỳ. Một lý do khác nữa là trong số tám ứng cử viên vào ban chấp hành chỉ có năm chỗ thì hầu hết là những anh em đã quen biết nhau trong công ăn việc làm và cũng đã hiểu nhau về tinh thần phục vụ cộng đồng. Góp tay vào cuộc bầu cử này, tôi hy vọng rằng ban đại diện cộng đồng lần này với sự có mặt của tuổi trẻ sẽ khiến cho hoạt động hăng hái và mạnh mẽ hơn cho lợi ích của cộng đồng chúng ta.”

Ở phòng phiếu số 5, đặt trong khuôn viên của chùa Ðiều Ngự, Westminster, hai nhân viên phụ trách là bà Lê Tường Vân, một Phật tử trong bộ áo màu lam, và bạn trẻ Nguyễn Tuấn, trong đoàn Thanh Niên Cờ Vàng, cho biết, “Số cử tri tới bỏ phiếu đã trên 60 người vào lúc 11 giờ 30 sáng. Hơn một nửa là cao niên.”

Anh Nguyễn Tuấn cho biết thêm, “Số các bạn trẻ bỏ phiếu, một phần cho biết ít sinh hoạt cộng đồng nên không được biết các ứng cử viên này, nên chúng tôi đã hướng dẫn các anh chị em đến bảng giới thiệu tám ứng cử viên vào năm chỗ trong Ban Chấp Hành và bốn ứng cử viên vào ba chỗ trong Hội Ðồng Giám Sát. Sau khi các bạn trẻ đọc tiểu sử và quá trình hoạt động các ứng cử viên, họ rất vui vẻ ghi tên đầu phiếu và tỏ ra thận trọng trọng việc chọn lựa người đại diện cho mình.”

Ở phòng phiếu số 3, đặt trong khu chợ ABC, ngay trước cửa Pharmacy Anh Nhi, bà Võ Ngọc Hoa và bạn trẻ Mai Hồng Phi cũng cho biết, “Mới chỉ có 16 cử tri đến bỏ phiếu tính cho tới lúc 12 giờ trưa.” Bà Hoa nhận xét, “Phòng phiếu này đặt xa cửa chợ và lại ở cuối hành lang buôn bán qua lại nên ít người biết tới, nhưng hy vọng vào trưa và chiều nay số người đi chợ nhiều sẽ đến bỏ phiếu đông hơn.”

Qua ba phòng phiếu, chúng tôi được biết những người phụ trách phòng phiếu đều là những thiện nguyện viên, cứ một lớn tuổi lại có một trẻ tuổi. Ðây có lẽ là ý muốn của ban tổ chức bầu cử.

Dược Sĩ Lê Ngọc Diệp, Phó Chủ Tịch Ủy Ban Tổ Chức Bầu Cử, nói với nhật báo Người Việt rằng, “Nỗ lực của chúng tôi trong suốt thời gian tổ chức cuộc bầu cử này là sự vận động để lôi kéo được các thành phần trẻ tham gia vào Ban Ðại Diện và chúng tôi đã đạt được ý nguyện. Chính trong Ủy Ban Tổ Chức Bầu Cử chúng tôi có tất cả là sáu người thì hết bốn người là từ 45 tuổi trở xuống.”

Ðược hỏi về những khó khăn trở ngại trong thời gian tổ chức, ông Lê Ngọc Diệp vui vẻ tâm sự: “Cái khó khăn nhất là làm sao lôi kéo được tuổi trẻ tham gia càng nhiều càng tốt thì chúng tôi đã vượt qua. Kể đến thuận lợi thì nơi đâu chúng tôi tỏ ý xin giúp đỡ tổ chức bầu cử, cũng sẵn lòng hỗ trợ nên đã đặt được tới 12 địa điểm ở Orange County, Los Angeles và Pomona. Lần bầu cử này chúng tôi cũng mạnh dạn thực hiện bầu cử trên Internet. Phần hành này được các bạn trẻ trên Los Angeles phụ trách.”

Ðược hỏi về vấn đề chính xác và trong sạch qua bầu cử trên mạng, ông Diệp cho biết, “Phải nói về phương diện này, các bạn trẻ rất thông thạo trong việc sử dụng. Nguyên tắc thì người muốn bầu trên online phải cho biết số điện thoại, địa chỉ hiện tại và địa chỉ email của mình. Nếu ai bầu hai, ba lần thì sẽ bị từ chối ngay trên online. Ðây là lần đầu tiên chúng ta áp dụng nên cũng chỉ là tương đối. Hy vọng những lần bầu cử tiếp sẽ có nhiều hy vọng và kinh nghiệm hơn.”

Vào buổi tối cùng ngày, khi các phòng phiếu đóng cửa vào lúc 6 giờ chiều, các thùng phiếu sẽ được tập trung về ngay Ủy Ban Tổ Chức Bầu Cử là phòng phiếu số 1. Một ban kiểm phiếu gồm những thiện nguyện viên và đại diện nhiều tổ chức trong cộng đồng sẽ kiểm phiếu ngay. Tất cả các ứng cử viên sẽ có mặt chứng kiến sự kiểm phiếu.

Cho tới 2 giờ chiều ngày bầu cử, chúng tôi không ghi nhận được sự khiếu nại hay phản đối nào từ phía cử tri cũng như ứng cử viên.


Quý độc giả cần biết thêm chi tiết xin gọi về Ủy Ban Tổ Chức Bầu Cử 1-800-404-6616 hay email: [email protected] hoặc vào trang mạng www.vncsc.org.

Tân chỉ huy cảnh sát Westminster thăm nhật báo Người Việt


WESTMINSTER, California (NV)
Trung Sĩ Bill Collins, tân chỉ huy cảnh sát khu vực phía Ðông Westminster, vừa ghé thăm nhật báo Người Việt hôm Thứ Bảy.






Trung Sĩ Collins công tác tại Sở Cảnh Sát Westminster trong 28 năm qua, vừa được bổ nhiệm phụ trách khu vực từ đường Beach cho tới đường Ward. Ông cho biết rất muốn làm quen và gặp gỡ cư dân và doanh nghiệp trong khu vực để tạo sự hiểu biết hơn giữa cộng đồng và lực lượng cảnh sát. Ông cho biết, trong tương lai, sẽ tổ chức các chương trình để người dân đến thăm sở cảnh sát để biết thêm các dịch vụ phục vụ người dân. Ngoài ra, cảnh sát Westminster cũng đang muốn tuyển cảnh sát viên biết nói tiếng Việt. Trong hình, nhà báo Linh Nguyễn (trái) chỉ cho Trung Úy Collins xem những số báo đặc biệt của nhật báo Người Việt. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Lễ Giỗ Nguyễn Trung Trực lần thứ 146 tại Kiên Giang


Lâm Hoài Thạch/Người Việt


KIÊN GIANG, Việt Nam (NV)Hàng năm, vào những ngày 26, 27 và 28 Tháng Tám Âm Lịch, người dân khắp nơi tề tựu về đình thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực tại thành phố biển Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, để tham dự lễ hội truyền thống kỷ niệm ngày giỗ lần thứ 146 của ông, được tổ chức rất trang trọng, tôn kính, của toàn dân Kiên Giang nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.









Bàn thờ thần Nguyễn Trung Trực tại chánh điện trong đình. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)


Theo Ban Bảo Vệ Di Tích Lịch Sử Văn Hóa Ðình Thờ Nguyễn Trung Trực, ban tổ chức đã vận động các tổ chức xã hội và mạnh thường quân đóng góp ẩm thực gồm 100 tấn gạo, 10 tấn đậu nành, 400 tấn thực phẩm, 900 mét khối củi, 400 bao trấu, khoảng 4,500 tình nguyện viên để phục vụ khoảng 4,000 bàn ăn cho khách mời tại địa phương và từ những tỉnh thành khác đến tham dự.

Ngoài ra, ban tổ chức còn chuẩn bị trên 1 triệu phần ăn cho những người phương xa đến tham dự, tất cả đều hoàn toàn miễn phí trong suốt ba ngày lễ hội.

Tuy lễ hội được kéo dài trong ba ngày, nhưng hàng ngàn người đã đến trước đó khoảng một tuần lễ, phần đông là những cư dân thuộc các tỉnh thành của đồng bằng sông Cửu Long.

Có khoảng trên 300 gian về tham dự hội chợ phiên từ các tỉnh thành khác về đây bày biện hàng hóa trước đó một tuần lễ và sẽ kéo dài cho đến gần một tháng mới chấm dứt.

Do lượng khách đến tham quan lễ hội khá đông và sớm hơn hàng năm, các trại cơm miễn phí xung quanh đình cũng được dựng lên từ ngày 13 Tháng Chín nhằm ngày 20 Tháng Tám Âm Lịch.









Ðình thần Nguyễn Trung Trực tại Rạch Giá trong ngày lễ hội. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)


Hội Hồng Thập Tự thành phố Rạch Giá cũng túc trực xung quanh đình thần Nguyễn Trung Trực để phát thuốc miễn phí cho bà con đến dự lễ hội.

Lễ hội mang tính cách cộng đồng từ lòng tôn kính vị thần của đất Kiên Giang. Những người đến tình nguyện giúp cho ban tổ chức cũng như đến tham dự lễ hội không phân biệt giàu, nghèo, địa vị xã hội. Họ làm những công việc như rửa rau, nấu cơm, làm thức ăn, làm vệ sinh, phục vụ trà nước, bảo vệ…

Khách đến thăm viếng, sau khi đi chiêm bái, còn được thết đãi ăn, uống miễn phí. Nhiều người không đủ phương tiện chỗ nghỉ ngơi thì có những lều võng miễn phí để tạm dừng chân qua đêm. Tất cả những dịch vụ này có được là do hàng ngàn tấm lòng hảo tâm của các mạnh thường quân khắp nơi đóng công đức để cho những ngày lễ hội được hoàn hảo.

Khoảng trước ngày mở hội một tuần, người dân khắp nơi tự nguyện tề tựu về đình làm những việc công quả. Người ta đến đây như trở về chung một mái ấm gia đình để cùng làm đám giỗ tổ tiên hay của ông bà mình nên họ rất có nhiều sự gắn bó và vui vẻ, không câu nệ việc làm, dù có cực nhọc đến đâu. Có những người cũng vừa đóng góp công sức vừa đóng góp hiện kim, người có nhiều thì góp nhiều, người có ít thì góp ít. Tất cả chung sức tạo nên lễ giỗ rất đặc biệt mà ít có nơi nào thực hiện được.

Theo ban tổ chức cho biết, sau khi lễ hội hoàn tất, những đồ vật được bá tánh cúng hỉ, ban quản trị đình thần sẽ dùng vào việc cứu tế dân nghèo, viện dưỡng lão và bếp ăn từ thiện của bệnh viện Rạch Giá.









Phần mộ của cụ Nguyễn Trung Trực trong khuôn viên đình thần tại Rạch Giá. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)


Lễ Hội Kỷ Niệm 146 Năm Ngày Mất Anh Hùng Dân Tộc Nguyễn Trung Trực năm nay được tổ chức vào ba ngày 19, 20 và 21 Tháng Chín Dương Lịch, rơi vào những ngày cuối tuần, nên dân chúng cũng có thời gian rảnh rỗi để đi dự lễ hội.

Phần lễ khai mạc sẽ diễn ra tại công viên Bãi Dương-Lạc Hồng. Phần hội với các hoạt động hội chợ công thương vùng kinh tế trọng điểm khu vực đồng bằng sông Cửu Long, từ ngày 17 đến ngày 22 Tháng Chín, hoạt động chợ phiên và gian hàng ẩm thực, không gian đờn ca tài tử Nam Bộ và chương trình văn nghệ của các đoàn nghệ thuật quần chúng, liên hoan Lân Sư Rồng các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, thi cộ hoa, trò chơi dân gian, thi đấu cờ tướng, trình diễn thư pháp, biểu diễn võ thuật…

Ðặc biệt trong năm nay, lễ thỉnh sắc thần và dâng hương được kết hợp với việc trải chiếu hoa rước sắc thần vào bàn hương án. Ngoài ra, do đờn ca tài tử đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, nên lễ giỗ cụ Nguyễn Trung Trực năm nay có chương trình này, với sự tham dự của ít nhất 15 câu lạc bộ đến từ 15 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh.

Ðược biết, các chi tộc con cháu cụ Nguyễn Trung Trực ở Long An, Cái Bè, đều giỗ vào ngày 12 Tháng Chín Âm Lịch. Hầu hết các đình, đền thờ cụ Nguyễn Trung Trực cũng đều làm lễ giỗ, kỷ niệm theo ngày này.

Sân Khấu Nhỏ cùng khán giả tìm về ‘Bóng cũ trường xưa’

 


Kalynh Ngô/Người Việt


WESTMINSTER, California (NV) – Trong suốt hơn ba tiếng đồng hồ của đêm Thứ Bảy, 20 Tháng Chín, Câu Lạc Bộ Sân Khấu Nhỏ đã đưa khán thính giả ngồi kín phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt đi trọn vẹn về một thời kỷ niệm qua chương trình ca nhạc đặc sắc, được tổ chức chu đáo, và trọn vẹn, “Bóng cũ trường xưa.”










Hợp ca Thế Hệ Tiếp Nối mở đầu đêm nhạc. (Hình: Kalynh/Người Việt)


Theo thông báo, chương trình sẽ bắt đầu vào 7 giờ 30 tối. Nhưng chỉ mới hơn 6 giờ thì phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt gần như kín chỗ. Trang phục lịch lãm, không ồn ào, chứng tỏ những vị khách với mái đầu đã điểm sương rất trân trọng đêm nhạc đang chuẩn bị diễn ra.


Một trong những người khán giả đến sớm là cô Ngọc Lan. Cô Lan đi cùng với hai người bạn, cho nhật báo Người Việt biết đây là lần thứ ba cô xem chương trình của Câu Lạc Bộ Sân Khấu Nhỏ, và cũng tại nơi đây. Cô nói lý do cô đến với đêm nhạc này là vì “tôi yêu thích nền nhạc xưa. Chương trình này có rất nhiều bài hát cũ. Nó làm cho tôi nhớ lại cả một thời đi học.”


“Tôi là nữ sinh trường Nguyễn Bá Tòng ngày xưa,” cô nói thêm với vẻ tự hào.


Một người nữ khán giả khác, cô Lê, đi cùng với phu quân của mình, lần đầu tiên biết đến đêm nhạc Sân Khấu Nhỏ. Và lần này, cũng chính do tên gọi “Bóng cũ trường xưa” mà “tôi và ông xã của tôi rất muốn đi xem.”


Đúng 7 giờ 30, cũng là lúc phòng sinh hoạt không còn một chỗ trống. Có những người đến trễ vẫn chấp nhận đứng phía cuối phòng để theo dõi.


Người điều hợp chương trình, ông Nguyễn Bá Thành và bà Lyly Trần, bắt đầu dẫn dắt mọi người quay về những kỷ niệm của tuổi học trò với lời tự sự: “ Trong chúng ta ai cũng có một thời để yêu và để nhớ. Mỗi một hoàn cảnh đất nước,xã hội, sẽ có những kỷ niệm và quá khứ mang giai điệu riêng của nó.”


Hoặc theo lời MC Lyly Trần thì “với một đất nước mà xã hội có quá khứ chiến tranh khắc nghiệt thì những kỷ niệm ở nơi ấy càng dạt dào.”


Thêm nữa, bà tiếp lời bằng cách nhấn mạnh: “Đêm nhạc này sẽ đưa mọi người về kỷ niệm của những ngày thơ ấu trước 1975 với tiếng hát của cả hai thế hệ.”


Hoàn toàn đúng như chủ đề của đêm nhạc và những lời tự sự của ban tổ chức, trong hơn 3 tiếng của chương trình, khán thính giả, và có lẽ cả những người đứng trên sân khấu, đã bị trôi hẳn về một miền quá khứ. Bất kỳ tên bài hát nào khi được MC giới thiệu, là cả hội trường râm ran tiếng vỗ tay, như một phản ứng “ồ, tôi biết bài hát ấy.”










Rất nhiều khán giả khẽ hát theo bài hát “Con đường tình ta đi” của cố nhạc sĩ
Phạm Duy. (Hình: Kalynh/Người Việt)










Phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt không còn chỗ trống từ đầu đến cuối
chương trình. (Hình: Kalynh/Người Việt)


Không những thế, rất nhiều người đã “phụ hoạ,” khẽ hát theo những bài hát đó.


Từ bài hát tính đến nay đã gần ba thế hệ, nhưng “Trả lại em yêu” của cố nhạc sĩ Phạm Duy vẫn làm cho những mái đầu điểm bạc bên dưới hội trường hát theo không sai một lời. Và đâu đó bên dưới có ai đã thầm thì: “Duy Tân hồi đó có những hàng me đẹp lắm. Là đường Phạm Ngọc Thạch bây giờ phải không?”


Rồi khán thính giả tiếp tục được quay về “Phố cũ” của Trần Kim Bằng, rưng rưng với  “Ngày xưa Hoàng Thị” của Phạm Duy, hồi tưởng lại kỳ thi tú tài với “Thà như giọt mưa” do Phạm Duy phổ thơ Nguyễn Tất Nhiên,…


Một điều đặc biệt đó là những bài hát vượt qua năm tháng đó được thể hiện lại bằng tiếng hát của các ca sĩ trẻ, như Nam Trân, Huy Tâm, Nguyễn Trung. Họ không phải là thế hệ cùng thời với Phạm Duy, Thái Thanh, Duy Quang…nhưng họ thật sự đưa tất cả người nghe trong phòng sinh hoạt trở về một trời kỷ niệm.


Cô ca sĩ trẻ Nam Trân, lần đầu tiên đến với Sân Khấu Nhỏ, đã làm cho cả phòng sinh hoạt ngưng đọng, miên man về những ngày xưa cũ với hình ảnh “mẹ tôi ngồi khâu áo bên cây đèn dầu.” (Kỷ niệm – Phạm Duy).

Một vị khán thính giả lớn tuổi thốt lên sau khi cô ca sĩ trong tà áo dài tím kết thúc bài hát: “Trẻ mà hát nhạc này hay quá.”










Nam Trân, cô ca sĩ với chiếc áo dài tím, làm mọi người lắng đọng với bài
Kỷ Niệm.(Hình: Kalynh/Người Việt)


Những mái đầu bạc khẽ hát theo những mái đầu xanh. Sau mỗi bài hát, là những tràng vỗ tay kéo dài.


Đúng như lời tự sự của ban tổ chức, Câu Lạc Bộ Sân Khấu Nhỏ là “một sân chơi của nhiều thế hệ.” Đêm nhạc “Bóng cũ trường xưa” đã kết hợp với nhiều thế hệ trẻ tiếp nối để cùng đưa khán thính giả về những tháng ngày kỷ niệm.


Bên cạnh sự lắng đọng từ những bài hát một thuở, còn là những cảm động khi nghe các em thanh thiếu niên, nhỏ nhất 11 tuổi, sinh trưởng ở Mỹ, nói tiếng Việt không tròn âm, nhưng hát say sưa “Trưng Vương khung cửa mùa thu,” “Cô bé dỗi hờn,” “Người Thầy,”…


Chủ đề chính của đêm nhạc là “Bóng cũ trường xưa,” là kỷ niệm của những ngày tháng học trò. Cho nên, hình ảnh trường lớp, bạn bè, bảng đen phấn trắng được thể hiện qua hầu hết những bài hát.


Cô bé Thảo Vy 11 tuổi lấy trọn cảm tình của khán thính giả với hình ảnh vô tư trong áo dài trắng và tiếng hát trong veo qua bài “Bụi phấn.”


“Đây là tiết mục hay nhất,” một khán giả ngồi gần sân khấu nói khi cô bé vừa hát xong.










Cô bé Thảo Vy chiếm trọn cảm tình khán giả với bài “Bụi phấn.”
(Hình: Kalynh/Người Việt)


Khi được hỏi về ý nghĩa của bài hát mình trình bày, rất lễ phép, Thảo Vy nói: “Dạ con biết. Đây là bài hát nói về người học trò khi lớn lên nhớ về thầy của mình lúc giảng bài, có hạt phấn rơi rơi.”


Trả lời rất tự tin, nhưng cũng rất ngây thơ khi cho biết “con chưa nhìn thấy cái bảng đen đó. Con cũng không biết hạt phấn.”


Không phải chỉ riêng Thảo Vy, cậu bé David Phan, với gương mặt không có nét nào của người Châu Á, nói tiếng Việt “lơ lớ” nhưng làm cả hội trường cười vui với vở kịch ngắn ‘Tiếng Việt còn.”


David Phan, cậu bé mang hai dòng máu Việt-Mỹ, khoanh tay nói: “Dạ con 13 tuổi. con học tiếng Việt được vài năm.”


Có nhìn thấy David ôm cổ mẹ, sau chương trình và nói “I love you Mom” mới hiểu được cậu bé này tự hào như thế nào về việc mình được tham gia vào một đêm nhạc với tiếng mẹ đẻ.










David Phan, cậu bé mang hai dòng máu Việt-Mỹ trong vở kịch ngắn “Tiếng Việt còn.” (Hình: Kalynh/Người Việt)


Đêm nhạc “Bóng cũ trường xưa” còn mang lại cho khán thính giả phút thư giãn với những lời tâm sự của hai diễn giả Bùi Bảo Trúc và Đoàn Thanh Khiết.


Rất tự nhiên và dí dỏm, diễn giả Bùi Bảo Trúc hỏi ngay: “Đây là lần đầu tiên tôi đến với Sân Khấu Nhỏ, vậy tôi có phải là thế hệ sau không?”


Ông là một nhà nhà giáo, một phóng viên. Bằng lối dẫn chuyện chân thành, mộc mạc, ông kể về thời đi học mà theo ông là “không ai dốt hơn ông được.” Ông nhắc về một kỷ niệm với một người bạn cũ cùng thời bằng chất giọng trầm và đẹp. Ông gọi bạn mình là “chàng.”

“Chàng là Nguyễn Xuân Hoàng. Ngày mai là ngày đưa chàng về.”


Một người xin gọi ông Bùi Bảo Trúc là “trưởng thượng,” cũng kể về thời học sinh dưới mái trường Lasan Taberd, đó là diễn giả Đoàn Thanh Khiết.


Ông tự nhận “tôi không thể xuất khẩu thành thơ” nên ông gửi gắm đến thế hệ trẻ Việt Nam ở hải ngoại bằng những lời khuyên chân tình và mang đậm truyền thống Việt Nam. Ông nhắc nhở các em rằng: “Hãy kính mến thầy cô và yêu thương giúp đỡ bạn bè. Hãy nhớ câu ‘gần mực thì đen gần đèn thì sáng.’” Ông nhắn nhủ học trò mình “muốn thành công thì phải đặt hết thời gian, trí khôn và sức lực vào công việc đó.”


Hơn nữa, ông kêu gọi các em hãy học hỏi và thấu hiểu lịch sử Việt Nam. Hãy nhớ ơn tổ tiên, ông bà, cha mẹ của mình bằng cách học và giúp đỡ lại cho cộng đồng của mình.


Những lời nói của hai diễn giả Bùi Bảo Trúc và Đoàn Thanh Khiết làm cho đêm nhạc “Bóng cũ trường xưa” thêm thấm đẫm tình thầy trò, trường lớp, một bản chất đặc thù của người Việt Nam.


Hội trường vẫn chật kín người trong suốt hai mươi hai tiết mục của chương trình. Máy lạnh càng về khuya càng được mở hết công suất. Nhưng, có vẻ như vẫn không đủ mát trước sức nóng của toàn thể mọi người có mặt nơi đó. Người trên sân khấu, kẻ dưới khán phòng, đồng loạt đứng lên cùng nhau đồng ca bài “Việt Nam quê hương ngạo nghễ” của cố nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang.



“Bóng cũ trường xưa” khép lại lúc 11 giờ đêm. Có người vẫn chưa rời ghế ngồi khi đèn bật sáng. Họ nhìn lên sân khấu, có vẻ như vẫn nuối tiếc một kỷ niệm nào đó vừa chợt trở về. Họ hẹn gặp lại nhau vào đêm “Khúc tự tình quê hương” vào Tháng Giêng năm sau.





Liên lạc tác giả: [email protected]

Tin mới cập nhật