Nhưng với những người có trách nhiệm trong đội tuyển quốc gia, thường xuyên phải thi đấu nhiều thời gian trong các giải lớn như Euro, World Cup, thì vai trò của một huấn luyện viên ví như thuyền trưởng con tàu trở nên quan trọng, mỗi cá nhân cần phải tạo được ấn tượng.
|

Franz Beckenbauer vừa là danh thủ vừa là một huấn luyện viên giỏi đã đưa Tây Ðức vào đến hai lần chung kết ở giải 1986 và 1990. (Hình: Getty Images)
|
Giải World Cup do FIFA tổ chức có đến hơn trăm nước tham dự tranh vòng loại khu vực, tổng số đội lấy cho vòng chung kết là 32. Cho dù con số 32 là nhiều, nhưng chức vô địch vẫn chỉ thuộc về đẳng cấp các đội bóng lớn. Những đội bóng yếu, trung bình chẳng qua có mặt để đem niềm vui cho ngày hội lớn và hưởng một chút danh thơm của FIFA thôi, chứ nghĩ tới chuyện đoạt lấy chiếc Cúp vàng là hoang tưởng. Ðã qua 80 năm, từ 1930 đến nay, mới có 8 đội tuyển quốc gia được FIFA trao vương miện: Uruguay, Ý, Tây Ðức, Brazil, Anh quốc, Argentina, Pháp, Tây Ban Nha. Trong số này, có ba đội đoạt được cả hai chiếc cúp cũ và mới: Cũ là vị nữ thần, mới là pho tượng vàng người lực sĩ nâng quả Ðịa cầu: Ý, Tây Ðức, Brazil.
Nhưng thế nào mới được coi là một đội bóng lớn. Ðó là các đội bóng đã có vô địch World Cup một, hay vài ba lần, và luôn giữ được vững truyền thống bóng đá qua nhiều thế hệ. Khi đến kỳ giải World Cup, các đội bóng lớn luôn có vé sớm của vòng chung kết, và được giới chuyên môn cũng như báo chí đánh giá và lập danh sách ứng cử viên.
Bởi lập được thành tích, nên ở các đội bóng lớn cũng đòi hỏi ban tuyển trạch quốc gia lựa chọn người làm huấn luyện viên phải có uy tín, kiến thức chuyên môn về bóng đá sâu rộng, và có tầm nhìn về chiến lược vượt trội hơn những đối thủ trong nghề.
Gần như là thông lệ, dù thành hay bại của một đội tuyển, người được chọn thường là phụ tá của vị tiền nhiệm. Tới lúc vinh quang đoạt Cúp vô địch thế giới, các vị huấn luyện viên trưởng rút lui nhường lại vị trí của mình cho người phụ tá quản lý đội. Ðến cầu thủ, cũng có một số rời bỏ, muốn nhường lại cho thế hệ sau tiếp nối thay thế. Ở các đội không thành công cũng vậy, thường huấn luyện viên xin từ chức, còn cầu thủ, có người muốn giải nghệ, có người do yếu kém phải tự thôi để mầm non thay thế.
Khi đã đứng ra nhận lấy chức vụ này, trách nhiệm là chính yếu, nhưng người huấn luyện viên phải cảm thấy vinh hạnh, và có một sự tự tin là mình sẽ truyền được nguồn cảm hứng bóng đá cho cầu thủ đội tuyển trong các buổi tập cũng như trên sân thi đấu.
Công việc đầu tiên là thành lập nên một đội tuyển. Bao giờ người mới cũng đã có sẵn nguyên cả thành phần cũ của vị tiền nhiệm để lại. Nhưng sau một giải đấu sẽ có một số cầu thủ rời bỏ đội tuyển với những lý do khác nhau, nên sự bổ sung, cũng như xây dựng lại là cần thiết. Giữ lại hay gạt bỏ những cầu thủ xét thấy yếu kém là quyền hạn, tuyệt nhiên không ai có quyền can thiệp cả. Vì rằng sự đánh giá cầu thủ cũng như tuyển chọn, hoàn toàn xuất phát từ quan điểm riêng của người huấn luyện viên.
Từ cái khung đã có sẵn, việc tìm thêm số cầu thủ bổ sung, số cầu thủ dự bị, không lấy gì là khó. Sự phát triển bóng đá ngày nay, ở mỗi quốc gia càng lớn mạnh được nhờ vào các đội câu lạc bộ. Nam Mỹ và Châu Âu là hai khu vực thống trị nền bóng đá thế giới. Mỗi quốc gia trong khu vực này, số đội câu lạc bộ có ít nhất là 10 đội. Nhưng danh tiếng hơn cả, qui tụ về Châu Âu. Tây Ban Nha: Real de Madrid, Barcelona. Ý: AC Milan, Inter Milan, Juventus, AS Roma. Anh: Liverpool, Manchester United, Asernal, Ðức: Bayern Munich, Dortmund. Pháp: Olympic Marseille, Racing de Paris, Stade Reims. Hòa Lan: Ajax Amsterdam. Ở các câu lạc bộ tên tuổi này, mùa bóng nào cũng thay phiên nhau giành Cúp C1, C2, C3. Không chỉ mạnh với tính truyền thống, mà các đội còn sở hữu những cầu thủ xuất sắc trong đội tuyển quốc gia, và mua thêm những cầu thủ đắt giá ở nước ngoài. Một công thức mà hầu như tất cả các huấn luyện viên đều áp dụng, đó là sự chọn ngay đội Câu lạc bộ vô địch quốc gia làm giàn khung, sau đó, thu nhận thêm số cầu thủ đá ở các câu lạc bộ khác. Ít ra, danh sách ban đầu mà người huấn luyện thu nhận, chưa sàng lọc, có từ 40 đến 50 cầu thủ.
Nhưng với một đội tuyển được coi là chính thức, sự sàng lọc trở nên khó khăn hơn. Vì rằng, 11 cầu thủ đá bóng trên sân, mỗi người đứng một vị trí và bất cứ vị trí nào cũng có tầm quan trọng của chiến thuật. Khi đá ở vị trí của mình, người cầu thủ phải tỏ ra mình chủ động được mọi tình huống đối với quả bóng trước đối phương.
Các sơ đồ hình tháp (1-2-3-5), WM (W: 5 cầu thủ ở hàng tấn công, xếp theo hình chữ W, 5 cầu thủ đứng vị trí phòng thủ, xếp hình chữ M) , 4-2 -4, 4- 3 -3, nay trở thành cổ điển, nhưng đã trình bày cho thấy tính cách căn bản của chiến thuật là thiên về phòng ngự hay tấn công.
Ở chiến thuật cổ điển, cầu thủ đá theo vị trí của mình thường bị giới hạn khu vực hoạt động trên phần sân nhà, hay sân đối phương. Lấy một thí dụ: dựa sơ đồ hình tháp: 1 là thủ môn, 2 và 3 là hậu vệ hai biên, 4, 5, 6 là hàng tiếp ứng. Trên hàng tấn công số 7, hữu biên, 8 hữu nội, 9 trung phong, 10 tả nội, 11 tả biên. Sự sắp xếp theo sơ đồ này cho thấy, hàng phòng ngự 5 cầu thủ trên sân chỉ hoạt động từ bên nửa phần sân nhà của mình, nửa phần sân bên đối phương, hàng tấn công do các tiền đạo đảm nhận. Nhìn qua chiến thuật này, diễn tiến các trận đấu thường chậm, thiếu sinh động, hấp dẫn.
Rinus Michel, vị huấn luyện viên Hòa Lan đã khai mở ra chiến thuật bóng đá tổng lực. Ðội tuyển Hòa Lan dự World Cup 1974, có danh thủ Johan Cruyff đã trình diễn chiến thuật này một cách hoàn hảo, làm khán giả cảm thấy say mê, nguồn cảm hứng về bóng đá thật dồi dào.
Hai yếu tố quan trọng của chiến thuật này là kỹ thuật và tốc độ. Trong chiến thuật này, trừ thủ môn gác giữ khung thành, mười cầu thủ trên sân đều đóng được hai vài trò, đồng loạt dâng lên tấn công, và đồng loạt lùi về phóng thủ.
Chiến thuật tổng lực với sơ đồ 1-10, đã mở ra một thứ bóng đá hiện đại. Và từ chiến thuật này, vị trí cầu thủ trên sân trở nên linh động, đa dạng hơn. Tỉ dụ, bóng đá mới, vị trí hai hậu vệ không chỉ lo phòng thủ, mà còn phải tham gia tấn công. Ở hàng gạch nối, thay vì gọi là tiếp ứng, thì được thay tên là tiền vệ, và trong hàng này, vị trí quan trọng nhất là libero (tiền vệ con thoi). Cũng với bóng đá mới, tiền đạo bay giờ chỉ có một hoặc hai thôi. Tuyến tiền vệ, tức là tuyến giữa, bao quát toàn khu vực ở phòng thủ cũng như khi dâng lên tấn công.
Franz Beckenbauer không chỉ là một danh thủ bóng tròn, được ở trong danh sách của FIFA có Puskas, Pelé, Cruyff, Maradona, Platini, ông còn được báo chí ca ngợi là một huấn luyện viên giỏi đã đưa Tây Ðức vào đến hai lần chung kết ở kỳ giải 1986, rồi 1990.
Năm 1984, kỳ giải Euro thứ 7 tổ chức tại nước Pháp. Tây Ðức giành được vé dự tranh, nhưng bị loại ngay vòng đầu trong nhóm bốn đội. Sự thất bại của đội tuyển khiến Jupp Derval bị chỉ trích và từ chức, Franz được lên thay. Khi nhận chức vụ thay người tiền nhiệm, Franz giữ nguyên đội hình cũ không loại bỏ ai cả. Nhưng có một cầu thủ, Franz rất cần đến. Ðó là tiền vệ Bernard Schuster. Schuster đang ở Tây Ban Nha, đá cho Câu lạc bộ Barcelone. Franz liên lạc và ước mong Schuster trở lại đội tuyển, không chỉ một lần, mà rất nhiều lần khẩn khoản, nhưng Schuster một mực từ chối. Schuster là ước mong vô cùng cần thiết đối với Franz, vì giải Euro năm 1980, anh là cầu thủ xuất sắc đưa đội tuyển Tây Ðức đoạt Cúp Euro lần thứ nhì. Schuster đá vị trí tiền vệ con thoi. Giống như Franz, người đã từng đá ở vị trí này, luôn phải lên về từ sân nhà và sân đối phương, vừa tồ chức tấn công, vừa chỉ huy phòng ngự. Schuster tổ chức và kiến thiết bóng rất hiệu quả. Ở kỳ Euro 1980 cũng như ở Barcelone, những bàn thắng đồng đội ghi được hầu hết xuất phát từ những đường kiến thiết của anh. Không chỉ là cầu thủ làm nhạc trưởng cho trận đấu, Schuster còn là một chân sút bóng ở tầm xa rất cừ khôi.
Ðó chính là lý do, Franz rất mong muốn có được Schuster. Nguyên nhân dẫn đến thất bại của đội tuyển Tây Ðức sau EURO 80, thua 1-3 ở trận chung kết, thua Tây Ban Nha 0-1, để bị loại khỏi vòng đầu, do bởi trong đội tuyển Ðức không có được một cầu thủ đóng vai trò nhạc trưởng. Vào thời kỳ đó, Tây Ðức có nhiều cầu thủ hay như Klaus Aloff, Rummenigue, Rudi Voeller, Lothar Matthaus, Magath, nhưng các cầu thủ này không thể thực hiện được vai trò như Schuster mà Franz ước muốn. Cũng vì thiếu Shuster, xương sống của đội, ở trận chung kết gặp Argentina1986, đội Tây Ðức đã thua. Tới World Cup 1990, Lothar Matthaus, mới thể hiện được vai trò này nên đội Tây Ðức đã đoạt Cúp.
Trở lại vai trò người huấn luyện viên, dựa theo dẫn chứng về Franz để thấy rằng, số cầu thủ cung cấp cho đội tuyển nhiều ít, thừa thiếu không quan trọng bằng việc tìm kiếm và chọn lựa từng cầu thủ một thích hợp với khả năng của mình ở vị trí đảm nhận. Có đủ cả mười một cầu thủ đều xuất sắc như là siêu sao là không tưởng, nhưng một đội bóng chơi hay, vượt trội đối thủ cần nhất ở một số điểm được nhấn mạnh:
-Chơi ăn ý toàn đội.
-Có thủ môn xuất sắc, vững vàng. Người thủ môn vững vàng, bản lĩnh, dù cả đội chơi trên sân yếu kém hơn đối thủ, nhưng có thủ môn hay, một mình anh ta có thể cứu cho đội bóng khỏi thua toàn trận, và ở vòng nhì đá loại trực tiếp, đội yếu cầm chân 120 phút, tới lúc qua phương thức đấu súng 11 mét, thủ môn hay sẽ lại người đem lại may mắn và cả chiến thắng nữa.
-Có hai hậu vệ cánh vững vàng, truy cản bóng, kèm người, và thu hồi bóng hiệu quả. Hậu vệ chơi hay không phải là hậu vệ tìm cách chơi xấu, luôn cố ý triệt hạ đối thủ. Những loại hậu vệ này, không những dễ để cho đối phương được hưởng quả phạt, mà còn có thể bị sớm rời khỏi sân bằng hai thẻ vàng, hay một thẻ đỏ trực tiếp.
-Hàng tấn công, cần nhất là cầu thủ kiến thiết bóng. Tầm mức của cầu thủ này, quan trọng hơn hết, vì có anh ta dàn xếp, kiến thiết bóng, những đợt tấn công mới làm rối loạn đối phương, và các tiền đạo dễ săn tìm bàn thắng. Không có cầu thủ đảm trách vai trò này, đội bóng sẽ chơi thiếu ăn ý, dẫn đến lối chơi cá nhân.
-Sau vị trí tiền vệ con thoi là vị trí tiền đạo cắm. Cầu thủ tiền đạo này, phải hết sức nhạy bén trong sự di chuyển và ghi bàn.
Liệt kê một số vị trí quan trọng, và đưa ra thêm một số cầu thủ làm quân cờ chủ chốt, chừng ấy, số còn lại cho dù khả năng ở mức trung bình, người huấn luyện viên vẫn có được sự yên tâm cho mỗi trận đấu.
Sự tập luyện cầu thủ về thể lực, đó là chương trình hàng ngày, với số giờ nhất định. Kỹ thuật và thể lực là hai yếu tố cần thiết của những cầu thủ quốc tế. Bóng đá hiện đại không còn mấy chuộng hình thức chơi bóng ngắn, phối hợp đẹp mắt, mà là sử dụng chiến thuật tổng lực nghiêng về cả kỹ thuật và tốc độ.
Bước kế tiếp là thử nghiệm đội hình và áp dụng chiến thuật vừa cho toàn đội và riêng mỗi cầu thủ. Người huấn luyện viên cũng như cầu thủ quốc tế, luôn ý thức được rằng, chính mình tác động lên quả bóng để khai triển và sáng tạo chiến thuật.
Ngồi ngoài sân, huấn luyện viên là người chỉ đạo, trong sân, cầu thủ theo dõi, săn tìm bóng. Trong các tình huống của quả bóng có hai trường hợp xảy ra:
a) Tính cách ngẫu nhiên, may mắn: Trong lúc bên đối phương tấn công, một hậu vệ nhà giải vây bóng, quả bóng may mắn đến ngay chân đồng đội ở vị thế trống trải, lập tức, đang bị tấn công chuyển sang thế phản công. Hoặc, trong thế bị tấn công từ một cú sút, hay đánh đầu của đối phương nhưng bóng chạm trụ thành bật trở ra sân, đến ngay vị trí thuận lợi của cầu thủ nhà, từ sự may mắn này, cầu thủ đang có bóng sẽ thực hiện ngay một màn tốc độ phản công. Diện tích của sân bóng có chiều rộng 60 m, chiều dài 120 m, với kỹ thuật và tốc độ của cầu thủ ngày nay, trong một giây, một phút, bóng lên về rất nhanh chóng và luôn làm thay đổi từng khoảnh khắc của thế trận.
b) Tính cách chủ động: Khi một cầu thủ giữ được bóng trong chân, anh ta có ngay một dự đoán về chiến thuật : chuyền bóng qua lại cùng với đồng đội trên phần sân an toàn để kéo giãn sự phòng thủ của đối phương, bất ngờ thấy một đồng đội ở vị trí lợi thế bên phần sân đối phương, lập tức đường bóng được chuyền ngay. Hoặc, lúc trước mắt có cả một khoảng rộng để hoạt động tự do, cầu thủ đang có bóng có thể dùng kỹ thuật cá nhân dốc bóng vào vùng đất cấm bên đối phương. Chiến thuật, ở toàn đội là sự ăn ý, ở cá nhân, là biết tìm cách khai thác. Trên sân đấu, bất cứ cầu thủ đứng ở vị trí nào, phải luôn quan sát thế trận qua hướng bóng phía đồng đội, hay bên đối phương.
Hình thức các trận giao hữu và tranh giải tuy có khác nhau, nhưng tầm quan trọng như nhau. Ở các trận giao hữu, những người huấn luyện viên giàu kinh nghiệm có thể không mấy coi trọng về kết quả thắng thua, mà chủ ý, nhân có những trận đấu này quan sát được phía đối thủ những kỹ thuật chơi bóng từ cá nhân qua đồng đội, xét điểm mạnh yếu của đối thủ trên các vị trí qua hai phương thức phòng thủ, tấn công. Về phía đội nhà, tự do và linh động trong việc sắp xếp đội hình, thử nghiệm khả năng cầu thủ qua các vị trí, đặc biệt những vị trí quan trọng ở phòng thủ và tấn công. Một trận đấu sẽ là hay, khi các cầu thủ có tư tưởng chiến thuật và biết sáng tạo ra những đường bóng hay đẹp, chứ không gò bó trong cách phòng thủ và tấn công dè dặt. Cũng nhờ vào các trận giao hữu, huấn luyện viên có thể áp dụng tự do về chiến thuật, không theo truyền thống. Ðiển hình như đội bóng Ý, về phòng ngự là rất vững chắc, nhưng thường trong các trận giao hữu lại thiên về tấn công để thực nghiệm các vai trò của các tiền đạo.
Bốn năm một lần, giải World Cup lại đến vào giữa Tháng Sáu của mùa Hè. Trong khi nước chủ nhà chuẩn bị cho giải đấu, thì các đội tuyển có vé dự tranh vòng chung kết được hưởng thời gian rộng rãi thử nghiệm cho đội bóng của mình ở các trận giao hữu để cầu thủ thuần thục vị trí đảm nhận, quen với sân bãi, và đây cũng là thời điểm cho huấn luyện viên rà soát lại lần chót trước khi gởi danh sách đến FIFA.
Lễ bốc thăm diễn trước thời gian giải đấu khai mạc khoảng bốn tháng. Có 32 đội chia làm 8 bảng, đội nhà của mình ở trong bảng nào dễ hay khó, cũng đem lại cho người huấn luyện viên sự yên tâm để chuẩn bị. Ngoài các buổi tập luyện và các trận giao hữu, huấn luyện viên còn dự những trận đấu giao hữu của ba đội cùng nằm chung bảng khi cảm thấy thuận lợi và cần thiết. Một điểm nhấn mạnh ở đây không kém quan trọng là việc người huấn luyện viên tìm đọc qua báo chí những bài phân tích, và xem lại các băng ghi hình về các trận đấu của đội nhà cũng như của đối phương. Trên sân cỏ, quang cảnh rộng, cái nhìn thấy toàn diện, nhưng rõ từng chi tiết để nghiên cứu, không gì xác thực bằng những góc cạnh chính xác trong băng ghi hình. Sự nghiên cứu kỹ, giúp người huấn luyện viên có đầy đủ các bài vở để thực hiện cho quan điểm của mình.
Ở giải đấu World Cup, tiến trình các vòng đấu như sau:
Vòng 1: mỗi bảng đá vòng tròn tính điểm, nếu cùng hòa, tính hiệu số bàn thắng để lấy hai đội nhất nhì.
Vòng nhì, đấu loại trực tiếp theo phương thức: Nhất A đấu nhì B, và ngược lại Nhất B, nhì A.
Từ vòng nhì, ba, rồi 4, 5, các trận đấu đều theo thể thức loại trực tiếp. Thắng đi tiếp, thua, rời khỏi giải. Phải tới được vòng thứ tư là bán kết, thắng thua đều còn ở lại để tranh chung kết hoặc ba tư.
Một sự kiện thông thường cho mọi kỳ giải là trong vòng sắp bảng, các đội mạnh luôn là đội hạt giống đứng đầu danh sách mỗi bảng, thứ đến là các đội rơi vào bảng nào tùy thuộc vào các thăm được rút. Nhờ vào phương thức này, ở vòng đầu của giải, các đội mạnh thường sớm giành được vé để bước qua vòng nhì.
Như đã trình bày, vòng nhì bắt đầu là vòng loại nhau trực tiếp. Nên chi, ở vòng đấu này, người huấn luyện viên rất luôn cẩn thận, không khinh suất, dù đối thủ là mạnh, hay yếu. Trong bóng đá, những phút cuối 89, 90, bù giờ không phải là những phút bỏ rơi, hay phút đã tuyệt vọng. Với quả bóng, còn trong cuộc chơi, vẫn còn là phút của trận đấu.
Khi đã vào vòng nhì, bất cứ trận đấu nào cũng đều là trận quyết định. Do vậy, việc đưa cầu thủ ra sân đấu đối với huấn luyện viên là quan trọng. Và, cũng quan trọng nữa là việc thay cầu thủ, cần thiết hay không cần thiết đối với trận đấu.
-World Cup 1970, đội tuyển Anh gặp Tây Ðức. Trong hiệp nhất, Anh dẫn trước 1-0, hiệp nhì, phút 50 Anh nâng tỉ số 2-0. Sau hai bàn dẫn trước, huấn luyện viên Alf Ramsey coi như chắc ăn đã cho cầu thủ tổ chức trận đấu là Bobby Charlton rời sân ra dưỡng nghỉ, bên Tây Ðức cho một cầu thủ trẻ Grabowski vào sân thay thế tiền đạo cánh Libuda. Từ sự thay quân này của hai huấn luyện viên, cuộc diện trận đấu thay đổi. Không có Charlton kiến thiết bóng, đội Anh chơi rời rạc, phía Tây Ðức, Grabowski được đưa vào làm cho tốc độ trận đấu trở nên nhanh hơn, và ưu thế nghiêng về Tây Ðức. Thời gian còn lại của trận đấu, đội Tây Ðức lấn lướt, lần lượt gỡ hòa 2-2, rồi nghiêng thắng lợi với tỉ số 3-2 ở giờ đấu thêm trong hiệp phụ thứ nhì.
-Trận lượt đi vòng loại Euro năm 1976 giữa đội Anh và Tây Ðức. Trong trận này, danh thủ Muller chỉ thực sự chạm bóng và chơi bóng ước chừng khoảng 10 phút, thời gian trống là xách xe không, di chuyển mọi nơi săn tìm bóng nhưng không có, đôi lúc bị đối thủ cướp mất bóng. Lẽ ra, trường hợp như Muller, huấn luyện viên nên cho rời sân để cầu thủ khác vào thay, nhưng ông Helmut Schoel không làm vậy, vẫn cứ để Muller ở lại sân, vì ông tin rằng, chỉ một phút có cơ hội là Muller ghi bàn. Ðặc điểm của Muller là khi hoạt động trong vùng cấm địa đối phương là quan sát sự di chuyển của thủ môn, chứ không mấy chú tâm đến các hậu vệ. Quả thực, ông huấn luyện viên Schoel có cách nhìn đúng, rất đúng. Phút 89, chỉ một khoảnh khắc nhận được đường chuyền bóng của đồng đội, Muller sút rất nhanh vào khoảng trống mà thủ môn Gordon Bank bỏ ngỏ, ghi một bàn thắng cho Tây Ðức nâng tỉ số 3-1.
Sự thận trọng, cũng như quá quyết đoán hay chủ quan của người huấn luyện viên dẫn đến một kết quả cho đội bóng nhà, nhưng cả hai, không hẳn là đúng. Sự nhạy cảm, và hiểu rõ như đọc ra hết được trận đấu của người huấn luyện viên mới là quan trọng, và hiệu quả tốt đội bóng ông ta cầm quân.
Từ buổi đầu nhận chức, thành lập đội tuyển, sàng lọc qua các trận giao hữu, rồi vào vòng đấu, khi người huấn luyện viên đưa được đội bóng nhà tới trận chung kết, coi như đã gần tới đích. Ở trận chung kết, nỗ lực toàn bộ cầu thủ hai đội bóng đều thể hiện, thắng thua qua sự chênh lệch trình độ không bàn đến, nhưng cùng ngang ngửa, thì đối với người huấn luyện viên trong thời điểm này là sự chọn lựa một đấu pháp thích hợp. Thêm vào đó, còn có tính cách chiến lược mà người huấn luyện viên sẽ đem ra thi hành là chiêu thức dùng động tác giả. Có thể trước ngày thi đấu, một vài cầu thủ hay của đội vờ loan báo bị chấn thương lúc tập dượt, thảng hoặc, một cầu thủ ngôi sao của đội quá được giới chuyên môn và báo chí khen ngợi, chắc chắn khi ra sân sẽ bị đối phương săn sóc, người huấn luyện viên có thể không đưa ra ngay từ đầu trận đấu, mà sẽ đưa vào sau đó ở giữa hiệp nhất hay đầu hiệp nhì để đánh lạc hướng hàng phòng ngự đối phương.
Những ghi nhận trong bài tìm hiểu này có tính cách khái quát và cố nêu vài trường hợp cụ thể. Trong bóng đá, tài năng và trình độ có xác suất là 70%, còn lại, quả bóng để dành cho sự may mắn, và đến cả ân huệ nữa.
World Cup 1978, ở phút 91 lúc tiền đạo Rensembrink đẩy quả bóng vào khung thành trống của thủ môn Fillol, nếu quả bóng lấn được 2/3 má bên trong trụ dọc, thì bóng bay luôn vào lưới và đội Hòa Lan sẽ đoạt Cúp. Nhưng quả bóng đã trúng quá mòng ở má ngoài, đã cứu thua cho đội Argentina. Sau đó, còn ân huệ cho đội Argentina đoạt Cúp vô địch với hai bàn thắng ở giờ đấu thêm hai hiệp phụ.
Không chỉ một, còn nhiều, rất nhiều yếu tố về sự may mắn và ân huệ từ quả bóng đưa đến một kết quả thắng hay thua cho một hoặc nhiều trận đấu quan trọng của giải đấu lớn. Sự kiện này, ở ngoài khả năng xét đoán của cầu thủ đá trên sân và người huấn luyện ngồi bên ngoài theo dõi từng phút một của trận đấu.
Nhưng dù thất bại hay thành công, người huấn luyện khi đã nhận lãnh trách nhiệm cầm quân cho đội tuyển quốc gia, bao giờ cũng cảm thấy thực sự hãnh diễn về công việc mình đã thực hiện cho đội bóng.
Nếu đội nhà đoạt Cúp, dù chỉ một lần, thì vinh quang được hưởng trong kỳ giải đó sẽ làm nên cả một sự nghiệp trọn đời của người huấn luyện viên.