Tân thủ tướng Nhật chú trọng chuyện kinh tế

TOKYO (AP) Tân thủ tướng Nhật, ông Shinzo Abe, cho hay ưu tiên hàng đầu của ông hiện nay là cải thiện tình hình kinh tế và giải tỏa cuộc khủng hoảng ngoại giao.







Tân thủ tướng Nhật Bản, Shinzo Abe (giữa, hàng đứng đầu) cùng tân nội các trong buổi họp đầu tiên tại Tokyo ngày 26 Tháng Mười Hai, 2012. (Hình: AP Photo/Shizuo Kambayashi)


Ông Abe được Quốc Hội Nhật bầu lên làm thủ tướng hôm Thứ Tư. Việc trở lại vị trí lãnh đạo của ông Abe cùng với đảng Dân Chủ Cấp Tiến (LDP) đã chấm dứt ba năm cầm quyền của đảng Dân Chủ Nhật.


Ông Abe khẳng định sẽ cố gắng đưa nước Nhật ra khỏi tình trạng khó khăn kinh tế hiện nay qua những biện pháp táo bạo, và cũng nói rằng sẽ tăng cường mối quan hệ với Mỹ để đối phó với những đe dọa lãnh thổ đến từ các quốc gia láng giềng.


Ông Abe, từng là thủ tướng từ năm 2006 đến 2007, lãnh đạo đảng LDP đến chiến thắng trong cuộc bầu cử Quốc Hội hôm 16 Tháng Mười Hai. (V.Giang)

Bà Lôi Thạch

Bà Trần Thị Xuân Phương

Sếp Quân Cảnh Syria chạy sang phía nổi dậy

 


BEIRUT (AP) Viên tướng chỉ huy lực lượng Quân Cảnh Syria vừa đào thoát sang hàng ngũ chống Tổng Thống Bashar Assad, đánh dấu việc ra đi của một trong các cấp chỉ huy an ninh cao nhất có nhiệm vụ bảo vệ chế độ trong cuộc nổi dậy kéo dài đã 21 tháng qua, theo một hệ thống truyền hình Ả Rập.







Tướng Abdul-Aziz Jassem al-Shallal trên TV tuyên bố gia nhập phía nổi dậy, ngày 25 tháng 12, 2012. (Hình: AP Photo/Al Arabiya via AP video)


Thiếu Tướng Abdul-Aziz Jassem al-Shallal xuất hiện trong một đoạn video được đài truyền hình Al Arabiya TV loan đi vào tối ngày Thứ Ba, nói rằng ông gia nhập “cuộc cách mạng nhân dân.”


Vụ đào thoát của al-Shallal diễn ra trong lúc có nhiều áp lực quân sự đè nặng lên chế độ, với các căn cứ quân đội liên tiếp lọt vào tay lực lượng nổi dậy sau các cuộc tấn công gần thủ đô Damascus và các nơi khác trong nước.


Hôm Thứ Tư, tổ chức tranh đấu nhân quyền Syrian Observatory for Human Rights, với trụ sở đặt tại London, cho hay lực lượng chính phủ Syria đã bắn trọng pháo vào tỉnh Raqqa, nằm về phía Ðông Bắc Syria, khiến ít nhất 20 người thiệt mạng, trong số có cả phụ nữ và trẻ em.


Có vài chục tướng lãnh đã đào thoát kể từ khi cuộc khủng hoảng Syria bùng ra hồi Tháng Ba năm 2011. Hồi Tháng Bảy, Chuẩn Tướng Manaf Tlass là thành viên đầu tiên trong nhóm thân cận với Tổng Thống Assad bỏ sang phía đối lập. (V.Giang)


 

Bà Anna Nguyễn Thị Huê

Bão tuyết kéo sang miền Ðông Hoa Kỳ, 6 người chết

MOBILE, Alabama (AP)Một trận bão tuyết lớn, kéo đến khu vực trung bộ nước Mỹ đúng ngày lễ Giáng Sinh, cùng với các trận cuồng phong trong vùng Vịnh Mexico, đang kéo sang vùng Ðông Bắc Mỹ, gây nhiều trở ngại cho sự di chuyển của dân chúng trong ngày lễ.







Một người đi xe đạp giữa trời bão tuyết của New York, 26 tháng 12, 2012. (Hình: Andrew Burton/Getty Images)


Cho đến nay đã có sáu người chết trong các tai nạn giao thông trên xa lộ trơn trượt vì mưa tuyết ở Arkansas và Oklahoma.


Việc di chuyển sau ngày lễ Giáng Sinh hiện đang gặp nhiều trì trệ, cả đường hàng không và đường bộ, một ngày sau khi các trận lốc xoáy gây thiệt hại cho nhà cửa ở Louisiana, Mississippi và Alabama.


Tuyết đổ khắp nơi trong vùng Nam Illinois và Indiana vào lúc sáng sớm ngày Thứ Tư khi trên đường tiến dọc theo sông Ohio đến vùng bờ biển miền Ðông và New England.


Nhiều đoạn đường ở phía Tây Nam tiểu bang Indiana đã bị tuyết bay mờ mịt, với ít nhất 6 inches tuyết rơi xuống vào trưa ngày Thứ Tư quanh Evansville. Cảnh sát tiểu bang này báo cáo có hàng chục chiếc xe bị kẹt trên đường sau khi không leo nổi con dốc trơn trượt ở trung bộ Indiana, trong khi một số con đường quanh Evansville không thể di chuyển được vì sức gió lên đến 48 km/giờ.


Tại tiểu bang Arkansas, trận bão tuyết khiến hơn 189,000 căn nhà bị mất điện hôm Thứ Tư.


Cảnh sát ở tiểu bang Maryland cho hay có nhiều tai nạn giao thông trong khi các chuyên viên khí tượng tiên đoán sẽ có tới 5 inches tuyết rơi xuống khu vực nằm về phía Tây của Baltimore và Washington, tiếp theo đó là mưa băng đá.


Có 34 trận cuồng phong được báo cáo tại Texas, Louisiana, Mississippi và Alabama trong ngày Thứ Ba, theo Sở Khí Tượng Quốc Gia. (V.Giang)

Trộm tiền tỷ nhà tướng công an, ba người bị 38 năm tù

HÀ NỘI (NV)Ba bị cáo trong vụ đột nhập vào nhà một thiếu tướng công an để trộm tài sản vừa bị tòa án Hà Nội hôm 26 tháng 12 tuyên bản án tổng cộng đến 38 năm tù.









Ba bị cáo trong phiên tòa. (Hình: VNE)


Theo truyền thông Việt Nam, người bị nặng nhất với bản án 17 năm tù là Nguyễn Tiến Dũng. Hai bị can khác là Lê Ngọc Khải bị 13 năm tù và Lê Văn Thanh bị 8 năm tù.


Theo cáo buộc của tòa án, ba người này đã vào nhà ông Vũ Hùng Vương, phó tổng cục trưởng Tổng Cục Cảnh Sát Ðiều Tra Tội Phạm, thuộc Bộ Công An, hôm 24 tháng 12 năm 2011.


Các nghi can đã lấy đi số tài sản trị giá gần 1.1 tỷ đồng Việt Nam, “bao gồm 550 triệu đồng tiền mặt, 9 cây vàng 24K, 12 chỉ vàng tây, 500 đôla Mỹ, 500 đôla Úc, 40,000 Won Hàn Quốc, 1 đồng hồ đeo tay, 1 dây bạc và 1 dao, 1 kéo.”









Căn nhà của ông Vũ Hùng Vương. (Hình: VNE)


Bị cáo Nguyễn Tiến Dũng khai tại phiên tòa được VNExpress trích lời rằng, “lục soát một vài phòng nhưng không lấy được gì. Phát hiện một phòng nhỏ khóa cửa ngoài, Dũng liền phá khóa. Thấy chiếc bàn làm việc có 3 ngăn kéo, tên trộm tìm cách mở ra nhưng không được.”


“Bị cáo xuống bếp lấy dao và kéo lên và đã cậy được khóa. Bên trong 3 ngăn kéo có nhiều tiền mặt, đôla Mỹ, nhẫn, dây chuyền vàng cùng đồng hồ…”


Cả ba người này, đều là cư dân thường trú tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, họ bị công an Hà Nội bắt giữ hồi tháng 2 năm 2012.


Dư luận tại Việt Nam cho đây là một bản án nặng nề và không thấy truyền thông Việt Nam nhắc đến việc vì sao một thiếu tướng công an lại có số tài sản và tiền mặt nhiều như vậy. (KN)

Chùa Ngọc Hoàng, ngày ngày nhang khói

 


Nguyễn Ðạt/Người Việt


 


Chùa Ngọc Hoàng, trước 30 tháng 4, 1975 là Ngọc Hoàng Ðiện, chủ yếu thờ thần Hoàng tức Ngọc Hoàng thượng đế; tọa lạc tại số 73 đường Mai Thị Lựu thuộc phường Ða Kao, quận 1. Ðây là ngôi chùa đặc biệt có một không hai tại Sài Gòn.









Chùa Ngọc Hoàng, nhìn từ phía trước. (Hình: Nguyễn Ðạt/Người Việt)


Khách thập phương, trong đó có cả du khách phương Tây tới thăm viếng chùa; thắp nhang khấn nguyện cầu đảo, nhất là những người hiếm muộn tới để cầu tự. Chùa Ngọc Hoàng từ bao đời nay được bà con đặt niềm tin tưởng ở sự linh thiêng, mầu nhiệm.


Chùa Ngọc Hoàng tức Ngọc Hoàng Ðiện được ông Lưu Minh (pháp danh Ðạo Nguyên, người Hoa ở Quảng Ðông-Trung Quốc) xây dựng từ cuối thế kỷ 19; mười mấy năm sau mới khánh thành là Ngọc Hoàng Ðiện. Chùa Ngọc Hoàng hoàn toàn theo lối kiến trúc của người Hoa.


Theo lời truyền tụng, Ngọc Hoàng Ðiện được ông Lưu Minh lập nên để thờ cúng cầu đảo, phù hộ cho việc làm ăn được hanh thông, thuận lợi.









Hồ nuôi rùa của chùa Ngọc Hoàng. (Hình: Nguyễn Ðạt/Người Việt)


Theo học giả Vương Hồng Sển, thì ông Lưu Minh là người ăn chay trường; giữ đạo Minh Sư, ông lập chí lật đổ nhà Mãn Thanh, lập chùa để thờ phụng, đồng thời làm nơi hội kín.


Khuôn viên chùa Ngọc Hoàng có diện tích trên 2,300 m2. Phía trước là ngôi miếu nhỏ, đặt tượng Hộ Pháp; đặc biệt cổng tam quan của chùa Ngọc Hoàng có những đường nét uốn lượn hình sóng nước của hai con rồng trong tư thế “lưỡng long tranh châu.”


Chính điện chùa Ngọc Hoàng thờ thần Hoàng, tức Ngọc Hoàng thượng đế; và Phật Thích Ca; Quán Thế Âm Bồ Tát. Trong chính điện còn đặt nhiều bức tượng theo tín ngưỡng của người Hoa.


Chúng tôi được biết, chùa Ngọc Hoàng có tới trên 300 bức tượng thờ, là những tác phẩm điêu khắc gỗ tinh tế; một số ít là tượng làm bằng giấy bồi. Có thể thấy, chùa Ngọc Hoàng là ngôi chùa duy nhất tại Sài Gòn còn lưu giữ được những tượng thờ này.


Số tượng thờ này được đặt trong 3 gian của ngôi chùa: tiền điện – trung điện – chính điện; các gian cách nhau một hành lang nhỏ hẹp, chỉ vừa cho một chiều qua lại, nên mang vẻ âm u. Gian thờ được chú ý đặc biệt có lẽ là nơi đặt tượng Kim Hoa Thánh Mẫu; mười hai bà mụ, và các nhũ mẫu. Ðó là những bức tượng có đường nét rất linh động, khắc họa các tư thế chăm chút cho trẻ nít; tức là gian cầu tự của những người hiếm muộn con cái.


Chùa Ngọc Hoàng được nhiều du khách phương Tây chú ý, lui tới thăm viếng thưởng lãm, có lẽ do phong cách kiến trúc khác hẳn lối kiến trúc tương tự của các chùa chiền danh tiếng tại Sài Gòn, như Xá Lợi – Vĩnh Nghiêm – Việt Nam Quốc Tự… Kiến trúc của chùa Ngọc Hoàng được xem là điển hình kiến trúc đền miếu của người Hoa tại Sài Gòn, những năm cuối thế kỷ 19, với màu sắc sặc sỡ.


Du khách phương Tây đặc biệt thích thú sự bố trí hồ nước nuôi cá ở giữa sân, trước ngôi điện thờ, màu sắc sặc sỡ như còn mới tinh, dù đã được thực hiện trên một trăm năm. Và ở bên phải – nhìn vào ngôi điện thờ, là nơi nuôi rùa.


Chúng tôi ghi hình hồ nuôi rùa của chùa Ngọc Hoàng: hàng trăm con rùa đang bơi trong hồ, và lên nằm đầy trên bờ cao của hồ; nhiều con rùa lớn nặng hàng chục kí-lô, chùa Ngọc Hoàng đã thả nuôi từ nhiều chục năm; có những con rùa gần một trăm năm tuổi.


Sự thờ phụng tại chùa Ngọc Hoàng cũng mang tính chất đặc thù tín ngưỡng của người Hoa, như thờ Phật Di Lặc, Phật Dược sư, Ðịa Tạng Bồ Tát, thần Môn Quan, thần Thổ Ðịa, Nam Tào, Bắc Ðẩu, Hoa Ðà tiên sư, Kim Hoa Thánh Mẫu, 12 bà mụ, thầy dạy nghề Lỗ Ban… Tượng Ngọc Hoàng Thượng Ðế là bức tượng thờ lớn nhất, và được đặt tại chính giữa của chùa; bên trái thờ Chuẩn Ðề Quan Âm, và bên phải là tượng thờ Thái Ất Chân Nhân cưỡi hạc trên cao.


Chùa Ngọc Hoàng, như tên bà con vẫn gọi từ trước tới nay, là nơi thờ thần Hoàng – Ngọc Hoàng thượng đế; bà con xem là vị thánh tối cao, là vua ở trên trời, là đấng thiên tôn đầy sự linh thiêng màu nhiệm.


Bà con tại Sài Gòn, nhất là người Hoa ở quận 5, quận 6 (Chợ Lớn cũ) cũng như khách thập phương, tới chùa Ngọc Hoàng chủ yếu để cầu đảo khấn nguyện; mong mỏi ơn trên phù hộ một việc gì đó, theo ước vọng tâm linh của mình.


Chùa luôn mở rộng cửa đón khách, bất luận giờ nào trong ngày. Chúng tôi nhận thấy, ngày nào chùa Ngọc Hoàng cũng tấp nập người ra vào chiêm ngưỡng, khấn nguyện, cầu đảo; nhang khói bay tỏa trong không gian nhà chùa. Lễ hội lớn nhất tại chùa Ngọc Hoàng, là ngày Vía Ngọc Hoàng, diễn ra vào ngày mùng 9 Tháng Giêng (âm lịch) hàng năm. Lễ Vía Ngọc Hoàng, suốt ngày con đường Mai Thị Lựu vùng Ða Kao đông nghẹt người tới thắp nhang và cầu đảo tại chùa Ngọc Hoàng.


Sau 30 tháng 4, chùa Ngọc Hoàng phải chịu sự quản lý chặt chẽ của chính quyền cộng sản; họ đã chỉ định một vị hòa thượng của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam tới tiếp quản chùa. Từ đó chùa Ngọc Hoàng, tức Ngọc Hoàng Ðiện, mang tên là Phước Hải Tự. Tuy nhiên, bà con tới cúng lễ – cầu đảo tại chùa, vẫn gọi là chùa Ngọc Hoàng. Riêng phía chính quyền, họ gắn một tấm biển trên bức tường ở mặt tiền ngôi chùa Ngọc Hoàng, gọi là: di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia – điện Ngọc Hoàng.

Trung Quốc khánh thành đường sắt cao tốc dài nhất thế giới

BẮC KINH (AFP) Trung Quốc khánh thành tuyến đường sắt cao tốc dài nhất thế giới, 1,245 dặm (2,298 km) từ Bắc Kinh đến Quảng Châu.







Ðoàn tàu cao tốc G90 rời khỏi Trịnh Châu, thủ phủ tỉnh Hà Nam, đi Bắc Kinh hôm 26 tháng 12, ngày khánh thành đường sắt Bắc Kinh-Quảng Châu 2.298 km. (Hình: ChinaFotoPress via Getty Images


Truyền thông Trung Quốc nói rằng ngày khánh thành 26 tháng 12 được chọn vì là ngày sinh của Mao Trạch Ðông năm 1893.


Những đoàn tàu cao tốc chạy với vận tốc trung bình 300 km/giờ chỉ mất 8 giờ để đi từ thủ đô đến thành phố lớn nhất miền Nam thuộc tỉnh Quảng Ðông, thay vì hơn 20 giờ với xe lửa tốc hành trước kia. Tuyến đường sắt này có 35 ga chính nhưng các tàu cao tốc chỉ ngừng ở 4 ga: Thạch Gia Trang (Hà Bắc), Trịnh Châu (Hà Nam), Vũ Hán (Hồ Bắc) và Trường Sa (Hồ Nam). Ðoạn đường cuối cùng vừa hoàn thành của tuyến đường này là từ Bắc Kinh đến Trịnh Châu.


Trung Quốc nhanh chóng phát triển hệ thống đường sắt cao tốc mặc dầu đã từng có nhiều trục trặc về kỹ thuật và điều hành. Ðường sắt cao tốc bắt đầu được xây dựng từ 2007, đến nay đã có 9,300 km và theo kế hoạch tới năm 2020 sẽ lên tới 50,000 km.


Thoạt đầu sự phát triển xe lửa cao tốc là nhờ chuyển nhượng kỹ thuật của các công ty ngoại quốc bao gồm Alstom-Pháp, Siemens-Ðức, Kawasaki-Nhật Bản nhưng đến nay Trung Quốc đã có đủ trình độ cùng khả năng để tự lập và còn nhận thầu xây dựng cho Thổ Nhĩ Kỳ, Venezuela,…


Là một đất nước rộng lớn và đông dân, hệ thống đường sắt là phương tiện giao thông vận tải quan trọng nhất trong nội địa Trung Quốc cho hàng hóa cũng như hành khách. (HC)

Điều tra vụ đưa băng đạn lên truyền hình NBC

WASHINGTON (CBSNews)Cảnh sát Washington D.C. xác nhận đang điều tra một biến cố nhỏ về vụ phóng viên David Gregory trong chương trình “Meet the Press” đưa lên truyền hình NBC một băng đạn loại vũ khí tấn công.







Phóng viên David Gregory cầm một băng đạn 30 viên trong cuộc phỏng vấn giám đốc National Rifle Association trên chương trình “Meet the Press” của truyền hình NBC. (Hình: AP/Thâu từ truyền hình NBC)


Luật sử dụng vũ khí tại thủ đô cấm sở hữu loại băng đạn này dù cho có gắn vào súng hay không. Nữ phát ngôn viên cảnh sát Gwendolyn Crump nói rằng, “NBC đã có liên lạc với cảnh sát xin đưa băng đạn này ra trong một chương trình thu hình ở Washington, nhưng yêu cầu bị từ chối.” Crump không cho biết thêm chi tiết về cuộc điều tra.


Trong cuộc phỏng vấn Wayne LaPierre, tổng giám đốc Hiệp Hội Súng (NRA), Gregory cầm băng đạn này với mục đích tạo thêm ấn tượng, và nói: “Ðây là một băng đạn 30 viên. Nếu chỉ là băng đạn 5 hay 10 viên thì có phải đã giảm được thương vong trong vụ bắn ở Massachusetts không?” LaPierre đáp: “Tôi không nghĩ là có gì khác. Có nhiều cách hành động.”


Phát ngôn viên của NBC News từ chối có lời bình luận về biến cố này.


Những tranh luận đã nổi lên mạnh mẽ trên toàn quốc sau vụ nổ súng ở trường Sandy Hook, Connecticut, và cho đến nay NRA vẫn bảo vệ lập trường cho phép công dân Hoa Kỳ giữ súng theo quy định của Tu chính án số 2 Hiến Pháp. (HC)

Mãi lực mùa Giáng Sinh năm nay yếu hẳn

WASHINGTON (AP) Mặc dầu các nhà bán hàng hạ giá rất nhiều để thu hút khách mua, kết quả mùa lễ Giáng Sinh vừa qua vẫn chỉ đạt được doanh số kém nhất kể từ năm 2008.







Một người đi shopping bước ngang dưới cây Giáng Sinh tại thương xá Fashion Island ở Newport Beach, California. (Hình: AP/Chris Carlson)


Theo sự theo dõi của MasterCard Advisor SpendingPulse trong báo cáo được đưa ra hôm Thứ Ba thì doanh số bán lẻ trong tuần lễ chấm dứt ngày 22 tháng 12 chỉ gia tăng 0.7%, kém xa mức dự đoán 3% đến 4%. Tuy nhiên hiệp hội các thương xá, International Council of Shopping Centers, vẫn hy vọng là sau Giáng Sinh hàng bán được sẽ còn tăng lên và đạt tới mức 3% cho toàn mùa lễ.


Mùa bán hàng năm nay gặp nhiều bất lợi do thời tiết xấu, sự lo ngại tăng thuế và cắt giảm chi tiêu vào năm tới nếu không giải quyết được bờ vực ngân sách. Một số phân tích gia cho rằng vụ thảm sát trong trường học ở Connecticut cũng có ảnh hưởng khiến cho người mua hàng kém tâm lý hào hứng. Một phần vì thời tiết, người mua hàng qua mạng điện toán năm nay tăng 22.4% so với Giáng Sinh năm ngoái.


Hiệp hội các nhà bán hàng tin tưởng doanh số sẽ còn tăng lên vì khách hàng thường khởi đầu chậm sau khi đã mua sắm nhiều trong lễ Tạ Ơn với ngày Black Friday.


Mức tiêu thụ của dân chúng Mỹ là thước đo tình trạng kinh tế, chiếm 70% các hoạt động. Các nhà bán hàng thu nhập 40% toàn năm trong tháng 11 và 12


Tình trạng mua sắm kém nhất là tại những khu vực đã bị ảnh hưởng bởi bão Sandy. Doanh số bán giảm 3.9% ở vùng duyên hải Ðại Tây Dương và 1.4% ở vùng Ðông Bắc trong khi tăng từ 2% đến 3% ở miền Tây và miền Nam. Thu nhập hàng hóa bán qua Internet chiếm khoảng 10% tổng doanh số. (HC)


 

Starbucks có sáng kiến vận động cho ‘Fiscal Cliff’

SEATTLE (Reuters)Công ty cà phê Starbucks muốn dùng sự hiện diện của mình ở khắp mọi nơi để thúc đẩy các nhà lập pháp hợp tác giải quyết để tránh khỏi bờ vực ngân sách “Fiscal Cliff.”







Nhân viên một tiệm Starbucks ở Washington D.C. đang viết lên ly cà phê thông điệp “Come Along” nhắn nhủ các nhà Lập pháp hãy hợp tác giải quyết “Fical Cliff.” (Hình: Eva Ambach/AFP/Getty Images)


Tổng giám đốc điều hành Howard Schultz hôm Thứ Tư khuyến khích các nhân viên ở 120 cửa hàng tại vùng Washington D.C. viết lên ly giấy hai chữ “Come Along,” nhằm nhắn nhủ các thành viên Quốc Hội hãy cùng nhau hợp lực giải quyết hầu vượt qua bế tắc fiscal cliff, tránh cho dân chúng Mỹ khỏi bị tăng thuế và thi hành chính sách khắc khổ.


Các dân biểu và thượng nghị sĩ có uống cà phê Starbucks trong mấy ngày này hay không là vấn đề khác nhưng chắc chắn phải hiểu câu chuyện như vậy. Tại thủ đô Washington, cà phê Starbucks rất phổ biến trên các đường phố quanh tòa Bạch Ốc nhưng tại khu vực trụ sở Quốc hội không có nhiều tiệm lắm. Các thành viên Quốc Hội thường ăn ở phòng ăn riêng trong trụ sở và các văn phòng đều có máy pha cà phê.


Tổng giám đốc Schultz trả lời phỏng vấn của thông tấn xã Reuters, nói rằng: “Chúng tôi chú ý và rất bất mãn với những gì đang diễn ra.” Ông cũng cho biết đã tham gia vào nhóm các nhà đại kinh doanh, chính trị gia và chuyên gia tài chính vận động cho Chiến dịch Giải quyết Nợ của Quốc gia, một tổ chức không đảng phái. Ông cho biết sẽ còn sử dụng nhiều phương cách vận động khác trên truyền thông mới và cổ điển như Twitter, Facebook, tin tức trên AOL, quảng cáo trên Washington Post và New York Times.


Ông Schultz cho rằng, với số tiệm cà phê ở Washington, “Sẽ không phải là điều ngạc nhiên nếu một chiếc ly ‘Come Along’ nào đó lọt vào tòa Bạch Ốc hay tới văn phòng chủ tịch Hạ Viện.” Ông phàn nàn: “Hệ thống chính trị của chúng ta không hoạt động theo cách đại diện cho những gì mà đất nước cần. Có một lúc phải gạt chính trị sang bên, nhưng rất tiếc cái chúng ta đang chứng kiến là điều ngược lại.” (HC)

Myanmar: Máy bay đáp xuống đường cái, 2 người chết

YANGON, Myanmar (AP)Hôm Thứ Ba, một máy bay phản lực thương mại kiểu Fokker 100 thuộc hãng hàng không Air Bagan của Myanmar, trên đường từ Yangon qua Mandalay đã đáp xuống đường cái gần phi trường Heho.








Khói bốc cao từ nơi chiếc máy bay Fokker 100 của hãng hàng không nội địa Air Bagan rớt trên ruộng lúa ở tiểu bang Shan phía Ðông Myanmar trong ngày lễ Giáng Sinh. (Hình: STR/AFP/Getty Images)


Máy bay bốc cháy trên ruộng lúa nhưng chỉ có 2 người chết và 11 người bị thương trong tai nạn. Hai nạn nhân thiệt mạng là một người đi xe máy trên đường và hướng dẫn viên du lịch trên máy bay. Trong 11 người bị thương có cả phi công.


Máy bay chở 71 người trong số có 48 người nước ngoài đến Inle Lake, một địa điểm du lịch quen thuộc của Myanmar.


Nguyên nhân tai nạn còn đang được điều tra. Người ta không rõ phi công đã cho máy bay đáp khẩn cấp vì trục trặc kỹ thuật hay vì trông lầm đường cái với phi đạo vì lúc đó trời sương mù dày đặc. Máy bay đụng phải đường dây dẫn điện trước khi rớt và bốc cháy.


Chiếc Fokker 100 do Ðức chế tạo từ 20 năm nhưng vẫn được kiểm tra an toàn thường xuyên. Bagan có 5 máy bay là một trong 6 hãng hàng không bay đường nội địa Myanmar, nói rằng từ 2004 đến nay chưa tùng xảy ra tai nạn chết người. Tổng giám đốc Htoo Thet Hwe trong cuộc họp báo hôm Thứ Tư ngỏ lời xin lỗi hành khách và gia đình, nói rằng cuộc điều tra còn đang tiến hành với hai chiếc hộp đen đã tìm được. Ông cũng cho biết tất cả hành khách trên chiếc Fokker 100 được hãng Bagan bồi thường $2,300.


Người ta lo ngại về tình trạng an ninh của các hãng hàng không Myanmar vì hiện nay có đông du khách nước ngoài đến quốc gia này sau nửa thế kỷ cô lập dưới chế độ độc tài quân phiệt. (HC)

Ai Cập ban hành Hiến Pháp tu chính

CAIRO, Ai Cập (AP) Hôm Thứ Ba, Tổng Thống Mohammed Morsi ký ban hành tu chính Hiến Pháp được 64% cử tri chấp thuận qua cuộc trưng cầu dân ý.







Tổng Thống Mohammed Morsi ký ban hành bản Hiến Pháp tu chính hôm 25 tháng 12. (Hình: AP/Egyptian Presidency)


Chính phủ Ai Cập yêu cầu Quốc Hội đặt lập pháp làm ưu tiên trong hoạt động, bao gồm chuẩn bị tổ chức bầu cử, quy định luật lệ báo chí và chống tham nhũng.


Những người ủng hộ bản Hiến Pháp mới, bao gồm tổng thống và đảng Hồi Giáo của ông, nói rằng đây là bước tiến tới ổn định đất nước và thành lập các cơ chế chính quyền. Tuy nhiên nội tình chính trị Ai Cập vẫn còn chia rẽ trầm trọng vì các phe phái đối lập lo ngại luật Hồi Giáo (Shariah) sẽ chiếm vai trò ngự trị trong chính sách quốc gia và củng cố vị trí nắm giữ quyền lực của đảng Hồi Giáo.


Thượng Nghị Viện hay Shura Council gồm 270 thành viên do Hồi Giáo chiếm đa số, trước kia không có thực quyền, bây giờ được giao nhiệm vụ làm luật. Tổng Thống Morsi chỉ định 90 thành viên Shura Council còn 2/3 thành viên bầu ra hồi năm ngoái trong cuộc bầu cử chỉ có 7% cử tri đi bầu.


Mahommed Mahsoub, bộ trưởng Quốc Hội Sự Vụ, nói rằng chính quyền sẽ đưa ra các dự luật cho Quốc Hội thảo luận vào tuần tới, Các đảng phái đối lập từ chối lời mời tham dự cuộc đối thoại với phó tổng thống của Morsi và cho biết họ sẽ chờ xem những luật mới do Shura Council chấp thuận có cải thiện tự do dân quyền cũng như đáp ứng nhu cầu giải quyết tình trạng nghèo khó và bất công xã hội ra sao. (HC)

Ðọc ‘Bên Thắng Cuộc’ của Huy Ðức

 


Lê Mạnh Hùng


 


Mấy lúc gần đây nhiều diễn đàn của người Việt tại hải ngoại đã xôn xao bàn luận về cuốn sách mới được xuất bản của tác giả Huy Ðức, Bên Thắng Cuộc. Ông Huy Ðức là một nhà báo trẻ. Sinh ra và lớn lên trong chế độ cộng sản miền Bắc, nhưng sau này ông đã thức tỉnh và trở thành một người bất đồng chính kiến. Ông có một trang blog, blog Ôsin, phê bình chỉ trích chính quyền hiện tại. Cuốn sách Bên Thắng Cuộc của ông khi đưa ra đã gây được nhiều ồn ào trong dư luận vì được coi như là đã trung thực dám kể lại những gì xảy ra tại miền Nam trong suốt hơn 10 năm đầu sau ngày 30 tháng 4 với những đau khổ của người dân miền Nam dưới chế độ cai trị của miền Bắc.


Thành ra tôi rất mừng khi nhận được ấn bản điện tử của tác phẩm này của một người bạn như một món quà Giáng Sinh. Tôi lại còn mừng nữa khi đọc qua những lời giới thiệu có những lời giới thiệu nồng nhiệt của một số người tôi quen biết. Nhưng khi bắt đầu vào đọc tôi đã rất thất vọng.


Trước hết phải công nhận là ông Huy Ðức đã có những cố gắng viết lên những gì mà những người miền Bắc chưa hề dám viết ra. Nhưng những gì ông viết ra lại không có gì lạ đối với những người miền Nam, nhất là những người từng sống tại Sài Gòn trong những năm đó. Và điều đó cũng đúng với những tài liệu viết về cải tạo, thăm nuôi, cuộc sống trong trại cải tạo cũng như là giai đoạn sau đó, chiến tranh biên giới, việc đuổi người Hoa và phong trào vượt biên qua sự tổ chức của nhà nước. Ðiều mà người đọc, nhất là tôi, muốn được biết là những phân tích và những tiết lộ về chính sách mà ông Huy Ðức hé mở cho người ta biết, nhưng không nói thêm. Một tỷ dụ là quyết định thanh toán gấp rút chế độ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam vào tháng 6 năm 1975. Tác giả viết:


“lKhi chiến dịch bắt đầu, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam đã tuyên truyền về việc sẽ lập ở miền Nam một “chính phủ ba thành phần.” Tuy nhiên, khi cờ đã được cắm trên Dinh Ðộc Lập, Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn quyết định dẹp bỏ ý tưởng này. Ngày 1 tháng 5, 1975, Tố Hữu đã chuyển “lệnh” tới Trung Ương Cục: “Gửi anh Tám, anh Bảy [Nhờ Trung Ương Cục chuyển anh Tám]. Xin báo để các anh biết: Theo ý kiến anh Ba42, về chính phủ, không còn vấn đề ba thành phần. Cấu tạo chính phủ không thể có bọn tay sai Mỹ, không để cho Mỹ có chỗ dựa và phải làm cho quần chúng thấy rõ sức mạnh, thế mạnh của cách mạng; ta vừa phát động quần chúng lại vừa buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược.”


Việc thay đổi chính sách này như vậy là của riêng ông Lê Duẩn hay là có ý kiến của Bộ Chính Trị và các người khác? Và nếu là chỉ riêng ý kiến của ông Lê Duẩn thì phản ứng của những người khác ra sao, tác giả không hề nhắc tới. Ngoài ra còn một câu hỏi khác đặt ra: điều gì đã khiến cho ông Lê Duẩn và Bộ Chính Trị Hà Nội thay đổi chính sách một cách đột ngột. Và việc loại trừ này không chỉ riêng đối với những người miền Nam bị coi như là tay sai Mỹ dù có chống đối ông Thiệu và ủng hộ họ mà đối với ngay cả những thành phần miền Nam không đi tập kết mà chiến đấu chống chính quyền quốc gia ngay từ những năm đầu. Tôi còn nhớ lúc đó tôi đang bị giam tại khu biệt giam AB ở khám Chí Hòa và đã được nói chuyện với một số cán bộ cao cấp Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được gọi về Sài Gòn họp và sau đó bị bắt đưa vào Chí Hòa mà không được biết một lý do nào. Những thí dụ đó có đầy trong cuốn sách của ông Huy Ðức.


Một vấn đề khác mà không được ông Huy Ðức cho thấy một cách rõ ràng là vấn đề ra đi bán chính thức với nhà nước công khai tổ chức vượt biên cho dân chúng ra đi bất chấp những luật lệ của chính mình. Trong suốt đoạn này không có một lúc nào ông Huy Ðức cho biết vì sao chính quyền lại chọn giải pháp này, một giải pháp rất đặc biệt mà có lẽ chỉ có nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa mới làm được. Không hiểu trong những cuộc phỏng vấn mà ông Huy Ðức thực hiện với giới lãnh dạo chính trị ông có đặt câu hỏi đó với họ không.


Yếu tố quốc tế cũng không được ông Huy Ðức nhắc đến mặc dầu nó rất quan trọng. Ông Huy Ðức nhắc đến những bàn cãi trong chính quyền Ford đối với việc cứu miền Nam Việt Nam, nhưng ông không hề nhắc đến những thương thuyết nhằm bình thường hóa quan hệ Mỹ-Việt dưới chính quyền Carter trong những năm 1978-79 mà đại diện về phía Mỹ là ông Richard Holbrooke và về phía Việt Nam là ông Nguyễn Cơ Thạch. Nó có quan hệ tới miền Nam Việt Nam vì số phận những người tù cải tạo cũng là một đề tài được những người Mỹ đề ra. Ðể chứng tỏ thiện chí, chính quyền đã thả ra khỏi cải tạo nhiều người trong những năm đó, nhưng sau khi Mỹ quyết định đứng về phía Trung Quốc thì chính sách đối với tù cải tạo lại thắt lại và hầu như không có bao nhiêu người được thả trong những năm 1980-81.


Tác giả tuy rằng tỏ ra khách quan và cố gắng diễn tả cảm tình với người dân miền Nam, nhưng những di sản của một sự giáo dục nhồi sọ của chế độ vẫn còn. Chẳng hạn như tác giả vẫn còn tỏ ra tin vào huyền thoại tổng khởi nghĩa – tổng nổi dậy tuyên truyền của miền Bắc khi mô tả những gì xảy ra tại Sài Gòn trong ngày 30 tháng 4, 1975. Nói rằng dân Sài Gòn vui mừng đón chào “anh bộ đội” vào giải phóng như trong đoạn sau:


“Khi tiếng súng của quân Giải Phóng bắn tới tấp vào các căn cứ quân sự của địch, nhân dân phường Cây Bàng đồng lòng nổi dậy phá kềm, truy quét kẻ địch, giành quyền làm chủ về tay mình và tràn ra đường đón chờ quân giải phóng. Khi các chiến sĩ ta tiến vào, đồng bào mừng reo, hoan hô nhiệt liệt. Ngay sau khi dẹp xong giặc, ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tự quản được thành lập. Các tổ chức nhân dân cách mạng cũng được khẩn trương xây dựng. Ðến nay, 2 tháng 5, phường Cây Bàng đã thành lập xong Tổ An Ninh, Hội Mẹ Giải Phóng, Tổ Thông Tin Tuyên Truyền, Tổ Y Tế và Ủy Ban Tự Quản. Ðang xúc tiến thành lập Tổ Cứu Ðói và Phòng Chống Hỏa Hoạn.”


Thú thật là những người đã sống những ngày đó ở Sài Gòn, tôi không thấy chuyện đó xảy ra. Vả lại ông Huy Ðức đã chứng tỏ sự thiếu hiểu biết của hệ thống hành chánh miền Nam nơi một phường không có gì để mà “cướp chính quyền.” Hơn thế, chính quyền miền Nam tự sụp đổ, viên chức về nhà, có chăng là mấy người cơ hội “ăn theo.”


Tuy nhiên tất cả những điều đó không phải là những điều làm tôi thất vọng nhất. Ðiều làm thất vọng nhất là sự thiếu nhất quán trong lời văn của tác giả. Người ta có thể thấy qua việc tác giả dùng đến ba danh từ để tả chính quyền và quân đội cũ tại miền Nam. Có lúc tác giả viết quân đội Việt Nam Cộng Hòa, nhưng cũng có lúc viết một cách miệt thị là “ngụy quân” có lúc lại viết một cách miệt thị nhẹ hơn, quân đội Sài Gòn. Thành ra khi đọc người ta có cảm giác tác giả đã chắp vá nhiều bài viết khác nhau ở những thời điểm khác nhau làm một, một hình thức “cắt – dán” nhưng không thay đổi để chúng không chỏi nhau. Một điều cẩu thả khác nữa là có những sự kiện lịch sử có thể kiểm tra được dễ dàng nhưng tác giả cũng đã không làm, tỷ như ông Phan Kế Toại không phải là thủ tướng mà chỉ là kinh lược Bắc Kỳ và ông cũng không phải bộ trưởng kinh tế chính phủ Hồ Chí Minh đầu tiên. Trường Quốc Gia Hành Chánh không phải do Tổng Thống Ngô Ðình Diệm thành lập mà được thành lập từ thời Quốc Trưởng Bảo Ðại.


Mặc dầu vậy, cuốn Bên Thắng Cuộc cũng là một cố gắng lớn của tác giả, và đối với những người còn sống tại Việt Nam, đây là một cuốn sách rất có ích vì nó cho họ biết một số khía cạnh về quá khứ mà họ vẫn bị che giấu.

Ðiểm sáng Ðông Á

Hùng Tâm/Người Việt


 


Trong sự ảm đạm chung của kinh tế toàn cầu, năm 2013 sẽ thấy khu vực Ðông Á khởi sắc. Nhưng tại Ðông Á, kinh tế của Việt Nam và Trung Quốc cũng có vấn đề. “Hồ Sơ Người Việt” trình bày bức tranh toàn cảnh này theo báo cáo mới nhất của Ngân Hàng Thế Giới.


 


Phân định lằn ranh


 


Hôm 19 vừa qua, Ngân Hàng Thế Giới công bố phúc trình cập nhật hóa về tình hình kinh tế của khu vực Ðông Á Thái Bình Dương, được họ gọi tắt là EAP. Trước hết ta nói đến cách xếp loại.


Trong khu vực Ðông Á Thái Bình Dương, định chế tài chánh quốc tế chuyên về yểm trợ các nền kinh tế nghèo hay đang phát triển không phân tích tình hình kinh tế Nhật Bản, vốn thuộc loại đã phát triển của các nước công nghiệp hóa, như Hoa Kỳ và đa số quốc gia Âu Châu, hoặc Canada, Úc, Tân Tây Lan (New Zealand). Ngân Hàng Thế Giới cũng không nhắc đến các nền kinh tế đang lên (hay “tân hưng,” mới nổi), như trường hợp Nam Hàn, Ðài Loan, Hong Kong hay Singapore. Nhóm quốc gia tiên tiến đó được gọi chung là “có lợi tức cao,” để phân biệt với nhóm “đang phát triển,” là trọng tâm của công trình nghiên cứu.


Khu vực này gồm có 14 nền kinh tế đang phát triển là Trung Quốc, Indonesia (Nam Dương), Malaysia (Mã Lai Á), Philippines (Phi Luật Tân), Thái Lan, Việt Nam, Căm Bốt, Lào, Mông Cổ (Mongolia), Miến Ðiện (Myanmar hay Burma), Fiji, Papua New Guinea, Solomon Island và Timor-Leste. Bốn nước sau cùng là loại quốc gia hải đảo rất nhỏ và nghèo của Thái Bình Dương nên ít được chú ý. Trong nhóm 14 quốc gia đang phát triển, Ngân Hàng Thế Giới cũng xếp riêng 13 nước gọi là “Ðông Á ngoài Trung Quốc.”


Giới đầu tư quốc tế thì phân biệt hơi khác. Họ gọi chung là “Ðông Á ngoài Nhật Bản” để nhấn mạnh đến vị trí của nước Nhật ở một bên và bên kia là tất cả các quốc gia còn lại, kể cả Trung Quốc. Nhưng mà vì sao “Hồ Sơ Người Việt” phải mất công nói về định nghĩa như vậy?


Câu trả lời là để độc giả chúng ta chú ý đến vị trí của Trung Quốc. Xứ này có sản lượng kinh tế hạng nhì thế giới và còn được dự đoán là sẽ vượt Hoa Kỳ, nhưng thực chất chỉ là một xứ đang phát triển và còn đòi Ngân Hàng Thế Giới viện trợ! Chi tiết ly kỳ khác là đến giữa năm ngoái, nhân vật số hai của định chế này (kinh tế trưởng kiêm phó chủ tịch) một kinh tế gia Bắc Kinh được đào tạo tại Mỹ, là sĩ quan từ Ðài Loan đào thoát vào Hoa Lục năm 1979, đó là Lâm Nghị Phu hay Justin Yifu Lin….


Bây giờ mình mới trở lại chuyện kinh tế Ðông Á…


 


Một vòng chân trời


 


Hoàn cảnh kinh tế của thế giới là thế nào trong năm 2012?


Trong năm nay, toàn cầu chỉ đạt mức tăng trưởng là 2.3%, gồm có 1.6% của các nước có lợi tức cao (đã phát triển) và 5.1% của các nước đang phát triển. Tốc độ tăng trưởng của riêng Ðông Á là 5.8%, trong đó có 7.5% của nhóm đang phát triển. Không kể Trung Quốc thì, nhóm đang phát triển tại Ðông Á có đà tăng trưởng trung bình là 5.8%, trong đó có Việt Nam là 5.2% như Ngân Hàng Thế Giới dự báo và Tổng Cục Thống Kê của Hà Nội công bố hồi đầu tuần.


Trên toàn cảnh thì trong năm 2012 sắp chấm dứt, các nền kinh tế đang phát triển của Ðông Á tương đối vẫn khá hơn cả, với tốc độ tăng trưởng trung bình được dự đoán ở khoảng 7.5%, dù có thấp hơn mức 8.3% của năm ngoái (2011) thì vẫn dẫn đầu thế giới. Qua năm tới thì đà tăng trưởng được dự đoán ở khoảng 7.9%, dù có cao hơn cả thì vẫn thấp hơn tốc độ 9.3% và 8.3% của hai năm trước. Nghĩa là kinh tế toàn cầu có bị đình trệ nhưng các nước đang phát triển của Ðông Á vẫn chống đỡ khả quan hơn cả.


Ðếm theo cách khác thì Ðông Á góp sức đến 40% cho đà tăng trưởng của toàn cầu. Mỗi khi kinh tế thế giới mà tăng được thí dụ như 5% một năm thì 2% là nhờ Ðông Á, 3% là nhờ nơi khác. Ðộng lực chính là sức mua của thị trường nội địa khi số cầu của thế giới qua xuất cảng đã giảm mạnh.


Nhìn lại năm 2012 thì sự sút giảm tương đối của Ðông Á, từ 8.3% xuống 7.5% xuất phát từ hai lẽ. Kinh tế toàn cầu bị co cụm là một lẽ, lý do thứ hai là kinh tế Trung Quốc với dân số lớn nhất thế giới cũng giảm đà tăng trưởng, mất 1.4% so với năm 2011 nên chỉ còn có 7.9%. Giới kinh tế nhấn mạnh rằng mức 7.9% này là tốc độ thấp nhất của Trung Quốc kể từ năm 1999. Có phải là một ngẫu nhiên hay không khi mà tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam như vừa công bố hôm Thứ Ba cũng là thấp nhất kể từ năm 1999?


Nếu không kể Trung Quốc đang có triệu chứng sa sút, năm nay kinh tế đang phát triển của Ðông Á tăng được 5.6%, cao hơn năm ngoái là 4.4% là nhờ sức kéo của kinh tế Thái Lan và Philippines, dù có bị giảm vì kinh tế Indonesia và Việt Nam. Nói cách khác, cùng với Trung Quốc và Indonesia, kinh tế Việt Nam có làm Ðông Á bị chậm lại…


 


Viễn ảnh 2013


 


Bước sang năm 2013, tình hình Ðông Á sẽ ra sao qua dự phóng của Ngân Hàng Thế Giới?


Thứ nhất, kinh tế toàn cầu sẽ khá hơn chút đỉnh, với tốc độ tăng trưởng từ 2.3 nhích lên 2.4% và nâng số cầu về xuất cảng. Thứ nhì, là số cầu của thị trường nội địa Ðông Á tiếp tục tăng và xứ nào có tỷ trọng cao nhất của số cầu nội địa thì sẽ đạt mức tăng trưởng sản xuất cao nhất. Thứ ba là tại Ðông Á, kinh tế Trung Quốc cũng sẽ khá hơn chút đỉnh nhờ các biện pháp kích cầu, bơm tiền và đầu tư mạnh vào các dự án lớn. Nhưng riêng về Trung Quốc thì Ngân Hàng Thế Giới dự báo sự giảm sút trong lâu dài vì năng suất suy sụp và dân số lao động hết còn dồi dào như xưa. Chi tiết ấy rất đáng chú ý.


Cũng nhìn trong trường kỳ, người ta còn thấy một khuynh hướng chung là khu vực dịch vụ đã góp phần tăng trưởng nhiều hơn xưa, và nhiều hơn khu vực chế biến kỹ nghệ. Lý do giải thích trào lưu này gồm có hai phần. Thứ nhất là vì số cầu của thị trường nội địa: người ta cần dịch vụ ở tại địa phương chứ không nhập cảng. Thứ hai và quan trọng nhất là sự thành hình của một tầng lớp trung lưu có sức mua sắm cao hơn. Nói chung, dịch vụ xưa nay vẫn là khu vực có mức đóng góp ít nên dễ chiếm tỷ trọng cao hơn trong tương lai, để trở thành một đầu máy tăng trưởng của Ðông Á, thay cho đầu máy xuất cảng.


Nhìn như vậy thì trong các nền kinh tế Ðông Á, khu vực dịch vụ sẽ còn tăng, và ai kinh doanh trong khu vực này sẽ dễ thành công hơn, với điều kiện là quốc gia phải có nền giáo dục và đào tạo thích hợp. Trường hợp của Việt Nam là một vấn đề.


Một vấn đề khác là khả năng quản trị kinh tế quốc dân (hay “quản lý vĩ mô” như cách nói của người Việt trong nước). Các nước Ðông Á đều học được kinh nghiệm của vụ khủng hoảng tài chánh và kinh tế năm 1997-1998 nên cố gắng duy trì sức mạnh và sự quân bình của kinh tế quốc dân cùng khả năng điều tiết kinh tế của bộ máy nhà nước. Nhờ vậy, các nước đã và sẽ có thể ứng phó khá hơn với những biến động ngoại nhập, như khủng hoảng của khối Euro hay bờ vực ngân sách của Hoa Kỳ hoặc sự đột ngột sút giảm đầu tư tại Trung Quốc.


Nhưng trong khối Ðông Á này, Việt Nam được chú ý như quốc gia có khả năng quản lý vĩ mô tệ hại nhất.


 


Những rủi ro trước mắt


 


Trong bản phúc trình cập nhật hóa về Ðông Á, Ngân Hàng Thế Giới cũng nhậm định về các rủi ro cho năm nay.


Trước hết là rủi ro từ khối Euro. Mặc dù tình hình tài chánh toàn cầu có được cải thiện kể từ tháng 7 năm nay, khối tiền tệ thống nhất Âu Châu của 17 nước dùng chung đồng Euro vẫn còn nhiều bất ổn và đòi hỏi sự cảnh giác để tiếp tục cải cách cơ chế và ngân sách. Nếu việc cải cách bị trở ngại, các nước sẽ lãnh hậu quả bất lợi là tăng trưởng thấp, thị trường mất niềm tin và khủng hoảng hối đoái lại tái phát. Trong giả thuyết ấy, Ðông Á sẽ bị ảnh hưởng là sụt đà tăng trưởng mất ít ra một điểm bách phân, thí dụ như từ 5.7% thì chỉ còn 4.7%, vì xuất cảng co cụm, gặp hoàn cảnh khe khắt hơn về đầu tư (nhận được đầu tư ít hơn từ các nước công nghiệp hóa) làm người dân sẽ phải tiết kiệm nhiều hơn.


Thứ hai là rủi ro từ bờ vực ngân sách của Hoa Kỳ. Dù bản chất của vấn đề chi thu này của Mỹ có thể không phức tạp bằng vấn đề của khối Euro (là một tập thể của 17 nước đã thống nhất về tiền tệ mà chưa thống nhất về chính sách và chính trị), nếu lãnh đạo nước Mỹ không giải quyết nổi qua luật lệ mới của Quốc Hội, kinh tế toàn cầu sẽ bị hậu quả tai hại. Lý do là nước Mỹ sẽ giảm chi và tăng thuế ở mức độ 5% của Tổng sản lượng Nội địa GDP và kinh tế Mỹ sẽ bị suy trầm nặng trong năm nay. Hậu quả là Ðông Á có thể mất một điểm bách phân trong đà tăng trưởng.


Một rủi ro thứ ba là trường hợp trái ngược, khi các nước Ðông Á không hấp thụ nổi một lượng tư bản đầu tư quá lớn trong những dự án có năng suất cao của họ. “Hồ Sơ Người Việt” phải trình bày sự thể rắc rối này cho độc giả như sau.


Trong hoàn cảnh đình trệ chung của toàn cầu, các dự án đầu tư có giá trị của Ðông Á trở thành cơ hội hấp dẫn cho luồng tư bản quốc tế, của các chủ đầu tư hay chủ nợ. Nếu họ ào ạt trút tiền vào Ðông Á để kiếm lời thì dễ làm kinh tế móng máy, gây ra lạm phát. Khi ấy xứ nào mà có bộ máy quản lý kém, hệ thống tài chánh ngân hàng bấp bênh, có mức tín dụng quá cao so với sản lượng, thì sẽ bị tai họa nặng nhất. Trường hợp yếu kém của Việt Nam lại trở thành một ám ảnh.


Tuy nhiên người ta còn phải để ý đến một kịch bản khác. Tư bản tràn vào như thủy triều có thể nhậm chìm nhiều quốc gia hay cơ sở èo uột. Nhưng nếu luồng tư bản này lại rút chạy, như hiện tượng đã xảy ra năm 1998 sau vụ khủng hoảng hối đoái năm 1997, thì Ðông Á sẽ chết ngộp! Nghĩa là các nước phải có khả năng điều tiết với chừng mực để tránh cả hai loại rủi ro úng thủy và hạn hán!


Rủi ro thứ tư là những đột biến tại Trung Quốc. Xứ này phải giảm đà tăng trưởng để cải tổ cơ chế kinh tế nhưng vẫn sợ nạn suy trầm nên đã lại bơm tiền kích thích và thực hiện hàng loạt dự án có quy mô lớn. Vì vậy, kinh tế có thể tăng trưởng cao hơn và đẩy lui kịch bản “hạ cánh nặng nề,” hay hard landing. Nhưng không hẳn vì vậy mà các nước Ðông Á có thể tin vào sức tăng trưởng cao hơn của Trung Quốc nên vẫn phải canh chừng.


Sau cùng là những biến động trên thị trường thương phẩm hay “commodity.”


Thương phẩm là loại nguyên nhiên vật liệu và kim loại hay nông sản được mua bán dưới dạng gọi là “để xá,” hay bulk, thí dụ như dầu thô, ngũ cốc. Ðông Á có các nước bán thương phẩm và cũng có nước thiếu loại tài nguyên đó mà phải nhập cảng từ bên ngoài. Thí dụ như Việt Nam hay Thái Lan thì bán gạo, Malaysia bán dầu, nhưng lệ thuộc nhiều nhất vào việc xuất cảng thương phẩm (đến 80% của số xuất cảng) là Mông Cổ, Lào hay Papua New Guinea… Các nước kia nói chung thì phải nhập. Nếu kinh tế toàn cầu bị suy trầm vì hiệu ứng Âu-Mỹ là hai rủi ro trên cùng vừa nói thì các nước sống về xuất cảng thương phẩm sẽ mất nguồn lợi và bị rủi ro lớn. Ngược lại, nếu tình hình khả quan thì giá thương phẩm sẽ tăng vọt và gây rủi ro lạm phát cho các nước nhập cảng thương phẩm!


 


Kết luận ở đây là gì?


 


Kinh tế thế giới vẫn đang ở vào giai đoạn ngặt nghèo, và Ðông Á ở vùng tranh tối tranh sáng, sáng nhiều hơn tối. Trong không gian nhá nhem ấy, Việt Nam lại bị tối nhiều hơn sáng!


Trong sáu nước đông dân nhất của khu vực này (Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines và Việt Nam) thì Việt Nam bị nhiều rủi ro hơn cả. Bốn rủi ro tới mức báo động của Việt Nam là lạm phát, hối đoái (dự trữ ngoại tệ so với số nhập cảng), ngân sách và đà gia tăng tín dụng. Ðáng chú ý nhất là nhận xét của Giáo Sư Jonathan London của một đại học ở Hong Kong được đài BBC tường thuật, rằng lãnh đạo Việt Nam đang gặp hoàn cảnh “hơi chết đứng.” Trong khi đó, giới tiểu doanh thương tại Việt Nam thì nói đến tình trạng “chết lâm sàng” – comatose.


Dù có vui về Tết nhất, chúng ta nên theo dõi chuyện này…

Hình ảnh và, tâm tình người lính miền Nam trong nhạc Trần Thiện Thanh

 


 


Du Tử Lê


(Tiếp theo kỳ trước)


 


Nếu phải đi tìm một mẫu số chung về hình ảnh người lính trong 20 năm văn học-nghệ thuật miền Nam, tôi có thể nói ngay rằng:


Ðó là tính nhân bản. Không sắt máu. Không gào thét đòi trả thù hay giải phóng miền Bắc bằng bất cứ giá nào.


(Tính nhân bản này không chỉ có trong âm nhạc mà ở cùng khắp các lãnh vực văn học và, nghệ thuật khác.)


Cũng chính vì tính chất hay tinh thần trân trọng quyền sống của con người mà, các ca khúc viết về người lính của những nhạc sĩ ở miền Nam đã được quần chúng đón nhận một cách nồng nhiệt. Giống như các nhạc sĩ đã nói thay cho tâm tình của họ vậy.


Vì thế, bây giờ, dù cuộc chiến đã chấm dứt hơn 37 năm, ở hải ngoại cũng như trong nước, rất nhiều ca khúc viết về người lính miền Nam, vẫn còn được nhiều người nhớ tới và, hát lên (không chính thức). Nó đẹp. Ðẹp như hoa nở. Nó trong sáng. Ý nghĩa như mặt trời ấm áp…







Lại nữa, có người còn cho biết, hôm nay nghe lại, hát lại những ca khúc viết về người lính miền Nam trước đây, họ xúc động, thương cảm và, yêu thích hơn cả thời gian những ca khúc đó, được cất lên một cách chính thức, trước tháng 4, 1975 nữa.


Sự kiện này cho thấy, phàm những gì đi ra từ trái tim nhân ái, lãng mạn, gần với bản chất hướng thiện hoặc, thiện lương của con người thì chúng sẽ tồn tại. Tự thân chúng như có đôi cánh kỳ diệu, vượt khỏi sức hủy diệt khốc liệt của thời gian, cũng như quyền lực của mọi chính thể.


Một trong những nhạc sĩ sáng tác nhiều ca khúc viết về người lính miền Nam, có được cho chúng tính miễn nhiễm trước sức hủy diệt khốc liệt của thời gian, cũng như quyền lực của mọi chính thể là Trần Thiện Thanh.


Họ Trần không chỉ lãng mạn hay thi vị hóa hình ảnh người lính như một nhạc sĩ đứng bên lề, nhìn dòng cuồng lưu quê hương, đất nước gập ghềnh thác, lũ mà ông thực sự đắm mình trong dòng sông ở những uốn khúc ngặt nghèo! Ông cảm nhận, chia sớt mọi buồn vui trong tư cách một người đồng hành. Một đồng đội sống chung cùng tập thể.


Tôi nghĩ, phần đóng góp hay giá trị lớn lao nhất của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh với những ca khúc viết về người lính ở chỗ: Có dễ không người lính nào không tìm thấy hình ảnh, tâm tình của mình ít hay nhiều, qua những sáng tác tự nguyện, xuất phát từ tấm lòng say mê, yêu thương đời lính của họ Trần:


 


“Từ khi anh thôi học, và từ khi anh khoác áo treilli


Từ khi anh xa nhà, một ngàn đêm nhung nhớ giữa trời mây


Ngại chăng đêm di hành và thường khi dừng bước giữa hoang vu,


Một thằng ước ao để một thằng khát khao, còn mình thì nằm đếm sao.”


 


“Ðồn anh bên sông cạn, và hoàng hôn ướt giẫm đáy sông thưa,


Nhiều tên trong đơn vị gọi đùa anh chiến sĩ của mộng mơ,


Thường khi hai ba thằng, chiều chiều ra bờ vắng ngắm mông lung.


Một thằng nhớ em, để một thằng nhớ thêm, một thằng thì lấy hình xem…”


(dactrung.com: Trần Thiện Thanh, “Tình Thư Của Lính”)


 


Họ Trần cho thấy sự lãng mạn hóa hình ảnh người lính trong nhạc của ông, ở một chừng mực nào đấy:


 


“Thư của lính không xanh màu trời như mơ ước đâu em.


Thư của lính không thơm nồng hương, không nét hoa đa tình.


Thư của lính ba lô làm bàn nên nét chữ không ngay


Nhưng thư của lính ghi giữa rừng cây khi nhớ em thật đầy.”


 


Và ông cũng cho thấy khả năng ghi nhận một cách hồn nhiên mà sâu sắc của mình, khi ông phản ảnh được những xúc cảm tự nhiên của tuổi trẻ trong tình yêu. Kế tiếp phần ca từ của ca khúc “Tình Thư Của Lính,” họ Trần viết:


 


“Chiều hôm kia thăm làng, tiểu đội anh ra đứng gác ven ranh.


Một cô đi trên đường, đẹp tựa như em khóc lúc giận anh.


Ðể cho anh nghe thèm, đường chiều xưa ngời sáng áo em xanh.


Thèm một nét môi, một lần về phép thôi, và mình thì lại có đôi.”


 


Trần Thiện Thanh chọn nhịp nhanh để kể chuyện người lính mới nhập ngũ với tất cả bỡ ngỡ, có phần hăm hở nôn nả khoe với người yêu cảnh tượng cuộc sống mới (cuộc sống quân ngũ) qua điệu cha-cha-cha, nhanh, rộn ràng, lấp lánh niềm vui, tôi nghĩ không cần phải là một ca sĩ chuyên nghiệp, điêu luyện, khi hát “Tình Thư Của Lính,” ai cũng có thể gây được sự chú ý hoặc, quyến rũ người nghe.


Nói thế không có nghĩa lúc nào người lính trong ca khúc của Trần Thiện Thanh cũng chỉ có một mặt hồn nhiên, trong sáng. Căn bản, người lính là một con người bình thường, như mọi người. Họ không phải là những robot không tim, “kiên cường” lao vào cuộc chém giết chẳng chút động tâm. Không hề chớp mắt…


Cũng có lúc (nhiều lúc) người lính trong ca khúc của Trần Thiện Thanh cảm thấy nhớ nhà. Nhớ bạn bè. Nhớ người yêu. Họ cũng bâng khuâng, buồn bã, ngóng trông người yêu của họ, nơi thành thị yên ấm:


 


“Ðồn anh đóng ven rừng mai


Nếu mai không nở, anh đâu biết xuân về hay chưa?


Chờ em một cánh thư xuân, nhớ thương gom đầy


Cho chiến sĩ vui miền xa xôi…”



“Hẹn em khi khắp nơi yên vui


Mùa xuân ngày đó riêng đôi mình


Phút giây mộng mơ nâng cánh hoa mai


Nhẹ rớt trên vai đầy, hồn chơi vơi


Ngỡ giữa xuân vàng, dáng em sang…”


(dactrung.com: Trần Thiện Thanh, “Ðồn Vắng Chiều Xuân”)


 


Hoặc:


“Khi nắng chiều đi không gian chợt tối


xóa nhòa vùng tuyết trắng mông mênh


Anh ước sao tình mình như tuyết trinh


cho dù chúng mình không gian cách chia


cho dù tuyết trắng đã chìm trong màn đêm…”


(dactrung.com: Trần Thiện Thanh, “Tuyết Trắng”)


 


Hoặc nữa:


“Em biết không những chiều, khi sương thu giăng giăng,


Anh nhớ xưa chúng mình hay đi trên đường vắng,


Anh nhớ xưa một lần lặng ngắm ánh mây trôi


Làm người yêu lính chiến mấy ai gần nhau…”


(dactrung.com: Trần Thiện Thanh, “Anh Về Với Em”)


 


Nhưng, như đã nói, nỗi buồn của người lính trong đa số ca khúc của Trần Thiện Thanh, không bao giờ là tuyệt vọng hoặc lớn tiếng oán trách, thống hận chiến tranh, đất nước.


Lạc quan là một nét đặc thù khác, trong những sáng tác viết về người lính của Trần Thiện Thanh vậy.


Du Tử Lê


(Còn tiếp)

Khu Rừng Lau (Kỳ 22)

 


Kỳ 22 


Một lần vào khoảng nửa đêm tiếng khung cửi bỗng nhiên ngừng bặt lại khá lâu, bà mẹ chồng ở buồng trên thoáng nghe có tiếng khóc nức, bà rón rén xuống nhà ngang đứng sát cửa, né mình trong bóng tối, nghiêng đầu nhòm vào; nàng đương gục đầu trên hai cánh tay, mái tóc hơi lắc lư trên khung cửi. Mê man trong đau khổ, nàng không nghe thấy tiếng bước chân của mẹ chồng, bóng nàng không còn in dài ra phía cửa mà thu gọn lại trên khoảng khung cửi như đang ghé xuống an ủi thầm bên tai nàng.


Mặt Trận Việt Minh thời này hoạt động dữ tại các miền quê. Chính Tân cũng gia nhập đoàn thể Thanh Niên Cứu Quốc làng để hoạt động bí mật. Tiểu tổ của Tân – Tân là tổ trưởng – gồm ba thanh niên làng, người nào cũng mang thêm bí danh, phụ trách hoạt động tại một xã lân cận. Ba người đã thay phiên nhau làm “anh Cán” (cán bộ) tới đó khai hội để mở rộng phong trào. Chủy cũng là tổ trưởng một tiểu tổ khác chuyên đi tới các chợ, các trường học tuyên truyền xung phong, hoặc đến từng nhà Việt gian (những hương lý cam chịu hợp tác với Pháp Nhật) cảnh cáo hoặc lớn hơn, tổ chức phá kho thóc của Nhật phát cho đồng bào nghèo để khuếch trương ảnh hưởng Mặt trận. Chủy lấy bí danh là Mạnh kể từ đấy.


Uy tín của Chủy ngày một lớn, cái tên “Trưởng Vổ” mờ dần trong quên lãng và cũng vì thế Chủy tự thấy có bổn phận phải thận trọng không dám có thái độ xấu nết với các cô như xưa nữa.


Tối hôm đó tiểu tổ Chủy phụ trách tổ chức một buổi mít tinh lớn gồm mấy xã quanh vùng, khẩu hiệu: “Chống thu thóc!” “Chống phá lúa giồng đay!” Ðịa điểm được chọn tại bãi tha ma giữa đồng làng.


Với sự hợp tác của bốn tiểu tổ bạn, Chủy bố trí các cây súng – súng sáu, súng mút-cơ-tông; súng bắn chim – canh gác các ngả đường trọng yếu. Cuộc mít tinh sau cùng biến thành tuần hành thị uy, các cây đuốc nối tiếp nhau thành một dãy dài như hội hoa đăng. Trong số phụ nữ làng đi dự mít tinh có cả nàng Kiều.


Cuộc mít tinh tuần hành được kết quả mỹ mãn. Khi dòng người đã giải tán theo các ngả đường đã định trước, Chủy trao khẩu súng sáu cho một đồng chí cất về kho kín, còn mình thì theo con đường đồng dẫn về cuối làng. Tiếng thì thầm bàn tán khen ngợi của từng đoàn người đi trước theo chiều gió vẳng lại. Có bóng anh chập chờn phía trước. Chủy rảo cẳng. Bóng đàn bà Chủy rảo cẳng hơn. Nàng Kiều! Nàng đi sau cùng, quay lại nhận ra Chủy, khẽ gật đầu chào. Trăng thượng tuần vừa lắng, một thứ ánh sáng lân tinh như còn thảng thốt chập chờn phía cuối chân trời Tây, đúng khoảng trăng non vừa lặn. Lúc đó vào chín rưỡi tối. Bóng tối mơ hồ phủ ngập xuống cánh đồng, toán đi trước cách đấy chừng mười bước mới trông chỉ thấy thấp thoáng Chủy quàng tay giữ nàng Kiều lại, nàng lúng túng không biết nói sao, nhưng im lặng. Toán trước hoàn toàn chìm trong bóng tối, hai người hoàn toàn cảm thấy sống chơ vơ giữa một hòn đảo xung quanh là tiếng rì rào a tòng của sóng lúa. Chủy khép chặt nàng Kiều trong vòng tay dìu nàng nằm xuống bờ cỏ.


Nàng đã nhắm mắt để mặc Chủy…


Khi Chủy ghì nàng một lần cuối rồi đứng dậy nàng mới bàng hoàng sực tỉnh, kéo vội cạp quần lên rồi nằm nghiêng người lại, hai tay ôm mặt khóc rưng rức. Chủy biết nàng xấu hổ và hối hận, rón rén bước theo đường về và khi đã đủ xa, Chủy rảo cẳng như chạy trốn… Từ đấy ban ngày khi thoáng thấy nàng Kiều đàng xa Chủy vội lẩn mặt. Dường như Chủy cũng thấy mình đã xúc phạm đến một mối tình thiêng liêng, dường như Chủy cũng cảm thấy một cái gì rờn rợn của căm hờn.


Ba tháng qua đi, tới một buổi chiều chạng vạng, Chủy từ làng bên vừa về đến ngõ xóm cuối làng thì một bóng người – bóng nàng Kiều – nhô khỏi khúc quành cùng tiếng nói:


– Anh Chủy!


– Chị Cát! – tên người chồng cũ của nàng Kiều.


– Tôi có mang – giọng nói nàng thít qua kẽ răng, biết bao đau khổ và đây nghiến – tôi có mang anh biết không?


Chủy thoạt lính quýnh nhưng rồi trầm tĩnh được và quyết định ngay:


– Thì chúng ta lấy nhau chứ sao.


– Giời ơi! giọng nàng như vừa biến thành hai giọt âm thanh nức nở nhập vào bóng tối, bất tuyệt với tiếng thở dài của gió chiều.


Nhưng rồi còn biết làm sao khác? Nàng Kiều xin phép mẹ chồng về nhà cha mẹ đẻ rồi cuối tháng đó cấp tốc sửa soạn lễ thành hôn với Chủy, giữa những tiếng nghiến răng kèn kẹt của ông bố, giữa những lời đay nghiến như muốn dứt da dứt thịt của bà mẹ và than ôi còn biết bao miệng tiếng dè bỉu chê cười của người làng. Sau cùng đúng vào hôm nàng sẽ theo Chủy về, không sao chịu đựng được những hình phạt tinh thần quá nặng nề tàn khốc đó nàng vừa khóc nức nở vừa nói với cha mẹ:


– Vì thương đứa con trong bụng nên con phải gắng gượng sống, con mà tự tử bây giờ thì nhà ta mang tội ba đời thầy u có biết cho con chăng?… Giời ơi!

Trước phiên xử ba blogger, nghĩ về “quyền được biết”

26-12-2012

Blog Nhà báo Đoan Trang



 


Trước phiên xử ba blogger, nghĩ về “quyền được biết”




Đoan Trang






Bức ảnh này (không rõ nguồn), với tôi, thể hiện rõ cuộc đối đầu giữa một bên là một cá nhân nhỏ bé, đấu tranh vì tự do ngôn luận, với một bên là cả lực lượng công quyền hùng hậu, xuất phát từ ý thức “bí mật là sức mạnh của chúng ta” mà quan niệm rất rõ rằng “dân không cần biết những điều không cần biết”, “Đảng và Nhà nước đã có chính sách cả rồi”.




Với tôi, Điếu Cày như là hiện thân của nhu cầu mãnh liệt về “quyền được biết”, “quyền tiếp cận thông tin” của người dân.


Bạn. Có thể bạn làm công việc không tiếp xúc nhiều với thông tin hoặc quản trị thi thức. Có thể bạn ghét và/hoặc sợ chính trị. Có thể bạn thích sự ổn định và trật tự. Có thể bạn nghĩ những cá nhân như Điếu Cày là kẻ gây rối, làm loạn xã hội. Có thể bạn nghĩ người dân Việt Nam, nhất là dân nghèo, cần cái ăn cái mặc trước mắt hơn là cần những thứ nghe có vẻ trừu tượng là “thông tin”, xa hơn nữa là “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận”, “dân chủ”…


Bạn biết không, vào năm 1999, nhà kinh tế học nổi tiếng thế giới người Ấn Độ Amartya Sen (Nobel Kinh tế 1998) đã nói rằng thông tin mang tính quyết định sống còn đối với công cuộc phát triển và ngăn ngừa thảm họa (nạn đói, dịch bệnh, thiên tai…). Ông khẳng định rằng nạn đói chưa bao giờ xảy ra tại các quốc gia có một nền báo chí tự do, và dân chủ. “Báo chí tự do và lực lượng chính trị đối lập chủ động, hai yếu tố đó tạo nên hệ thống cảnh báo sớm tốt nhất mà mỗi nước bị nạn đói đe dọa lẽ ra đã phải có”.


Trong kỷ nguyên thông tin, những gì Amartya Sen nói về giá trị của thông tin càng đúng hơn nữa. Sự thịnh vượng và phát triển bắt nguồn từ tri thức. Tất cả các quốc gia giàu thông tin (tức là thông tin dồi dào, thông suốt, xã hội hướng đến minh bạch) đều là các nước giàu. Không có ngoại lệ.


Và, đồng thời với đó, “người nghèo không thể có quyền gì nếu họ không biết quyền của họ. Nếu họ không hiểu biết về luật pháp để có thể hưởng các quyền họ có, không hiểu về các cơ chế mà họ có thể sử dụng để chống lại đói nghèo, thì họ sẽ mãi mãi đói nghèo” (Sheila S. Coronel, 2001). Muốn hiểu biết thì họ phải có thông tin. Không chỉ là thông tin về các vụ trộm-nghiện-lừa-cướp-giết-hiếp, không chỉ là chuyện sao này lộ hàng, sao kia “thả rông” vòng 1, mà còn nhiều hơn thế, đa dạng hơn thế gấp bội. Từ thông tin quy hoạch, thông tin về các chính sách của nhà nước, nguyên nhân và ảnh hưởng tới các nhóm khác nhau trong xã hội, đến cơ chế vận động tranh cử, sử dụng nhân sự, cơ chế ra quyết định, đến cách tòa án xét xử một vụ việc cụ thể, cách vận dụng luật pháp để tranh biện… Ngay cả khi bạn nghĩ rằng những thông tin đó chẳng liên quan gì đến bạn, bạn không cần và không muốn can dự, thì một điều chắc chắn vẫn là, khi bạn hiểu, bạn biết tất cả những cái đó, là bạn đã tự nâng mình lên một tầm cao hơn hẳn so với trước.


Có lẽ một số rất lớn trong chúng ta không biết rằng mình có “quyền được biết”. Trước khi mọi người dân đều ý thức được quyền ấy, thì xã hội cần lắm những người mang thân phận viên gạch lót đường như anh: blogger Điếu Cày.




Đ.T.


Nguồn: http://trangridiculous.blogspot.com/2012/12/truoc-phien-xu-ba-blogger-nghi-ve-quyen.html

Hy vọng Bình An


 


Ngô Nhân Dụng


 


Kinh Thánh kể rằng khi chúa Giêsu ra đời, các thiên thần đã tới hát lên: Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dưới thế cho người thiện tâm.


Những người thiện tâm chắc phải là những người dễ đạt được tấm lòng bình an hơn những người không lo chăm bón, tưới tẩm hạt giống thiện. Tại sao chúng ta vẫn muốn nguyện cầu cho những người thiện tâm được bình an hơn nữa? Có lẽ vì tự thân phận nhỏ nhoi của con người chính chúng ta không có cái thước đo tuyệt đối về điều thiện; Vì thế không thể tự mình phán đoán lòng mình được bình an thật hay chưa. Một người dữ mà hành động ác chắc chắn gây đau khổ cho người khác. Nhưng một người nghĩ rằng mình thiện mà lòng không sáng suốt thì khi hành động sai lầm có thể còn gây đau khổ gấp trăm, gấp ngàn, gây thêm khổ đau cho hàng triệu người khác. Mà không thể sáng suốt được, nếu trong lòng không đạt cảnh bình an. Nếu như tham dự vào niiềm vui mùa Lễ Thiên Chúa Giáng Sinh có thể giúp cho mỗi người chúng ta bình an hơn, thì đó là một ơn sủng lớn, cho cả nhân loại.


Trong thế kỷ vừa qua loài người đã trải qua nhiều cuộc cách mạng mà những người khởi xướng thường bắt đầu với khát vọng hướng về điều thiện; nhưng kết quả lại mang lại thêm nhiều khổ đau hơn là mang lại an vui, hạnh phúc. Có những người tự coi mình là có thiện chí, rồi cầm dao sách súng đi giải phóng mọi người, khăng khăng bắt cả xã hội phải để cho mình giải phóng. Họ gây tàn hại như những bạo chúa khát máu. Bởi vì tự trong lòng họ, chính họ không bình an.


Khi đọc Kinh Bình An chúng ta thấy những lời cầu nguyện cho chính mình có khả năng đem tình yêu thương vào nơi oán thù, đối đãi với nhau với tấm lòng khoan dung, tha thứ. Khoan dung, tha thứ là cách biểu lộ tình yêu thương cụ thể, có cách nào khác tốt hơn không?


Đối với mỗi cá nhân, tập được đức khoan dung là điều khó. Nếu chúng ta có tôn giáo, tin tưởng ở một con đường cứu rỗi, chúng ta có thể nhìn ngẫm tấm gương của Chúa Giêsu, của Phật hay các vì thánh nhân khác, để tập sống đức khoan dung của các ngài, tập cho đến nhập tâm. Lúc đó chính lòng mình cũng bình an.


Nhưng vượt trên các cá nhân, cả tập thể, một gia đình, một nước, một xã hội, thì phải làm gì để thể hiện đức khoan dung?


Chắc có nhiều cách lắm. Loài người đã thử nghiệm nhiều phương pháp sống với nhau sao cho an lành. Có lúc phương pháp này đem lại kết quả tốt một thời gian, rồi lại sinh ra các biến chứng tai hại, phải tìm ra phương pháp khác. Cho đến thế kỷ 18, và kéo dài cho tới bây giờ, một cách sống chung mang lại nhiều kết quả tốt là chế độ dân chủ tự do.
Có nhiều thứ đáng nói về đặc tính của một chế độ dân chủ tự do, nhân ngày Giáng Sinh hãy nêu lên một đặc điểm, là trong một xã hội dân chủ tự do người ta có thể sống khoan dung với nhau. Dù mỗi cá nhân chưa tu tập đủ để sống khoan dung trong chính đời sống hàng ngày của mình; nhưng các định chế tự do dân chủ bảo đảm đức khoan dung được thể hiện trong pháp luật.


Chế độ dân chủ tự do đặt trên giả thiết rằng loài người rất phức tạp, mỗi người một ý, một sở thích, và quyền lợi thế nào cũng có lúc xung khắc. Không những thế, ngay cả khi mọi người đều đồng ý với nhau về các giá trị chung, như công bằng, bác ái, tự do, trật tự, hòa hợp, vân vân, thì ngay trong hệ thống giá trị đó, cũng có nhiều xung khắc, có lúc xã hội cũng phải lựa chọn giá trị này mà hy sinh giá trị khác. Khi nào thì chúng ta thấy tự do là điều tối quan trọng? Khi nào thì chúng ta phải hy sinh bớt tự do để sống hòa hợp và trật tự hơn? Khi nào thì việc thực hiện công bằng sẽ làm chúng ta thui chột tấm lòng bác ái? Biết bao nhiêu thứ giá trị chung của nhân loại tự chúng cũng xung đột; loài người phải chọn liều lượng gia giảm cho thích hợp với từng xã hội, từng thời điểm, từng nền văn hóa khác nhau.


Muốn sống được với nhau an lành thì loài người phải đặt ra một số quy tắc cho việc lựa chọn chung. Trong lịch sử đã có những vị minh quân đóng vai quyết định cho tất cả thần dân, nhiều người đã tạo được các triều đại bình an, thịnh vượng. Nhưng sau khi họ chết đi rồi, không có gì bảo đảm là con cháu họ sẽ tiếp tục những triều đại vàng son khác. Ông Nguyễn Hiến Lê trong cuốn Sử Trung Quốc đã nhận xét rằng trong các triều đại ở Trung Hoa có quá nhiều vị hoàng đế tàn bạo hay bất lực, nếu so sánh thì thấy thời Đế quốc La Mã có nhiều hoàng đế anh minh kế tiếp nhau nhiều hơn. Tại sao? Vì các hoàng đế Trung Hoa theo chế độ cha truyền con nối. Trong khi đó một thời đế quốc La Mã các vị hoàng đế phải được nguyên lão nghị viện bầu cử. người Trung Hoa nếu may mắn thì “gặp được” ông vua con tốt như ông vua bố; mà hiện tượng này có xác suất rất thấp. Nói theo sử gia Will Durant thì người dân phải chịu một canh bạc của di truyền học. Người La Mã chia quyền chọn hoàng đế cho nhiều người cùng quyết định. Họ không phải những người hoàn toàn, nhưng có nhiều người tham dự thì cũng tăng xác suất cho việc họ chọn được một minh quân! Đến khi người La Mã cũng chơi trò cha truyền con nối ở ngôi hoàng đế thì dân chúng lại phải gánh chịu trò đỏ đen của số mệnh!


Cho đến nay chế độ dân chủ tự do có những quy tắc tương đối hữu hiệu nhất để người dân một nước cùng với nhau lựa chọn kẻ cầm quyền. Nhờ thế tạo được bình an cho xã hội dễ hơn. Chế độ dân chủ đã định chế hóa đức khoan dung cho mọi người, nhờ thế mà tấm lòng khoan dung của mỗi người cũng dễ nẩy nở hơn. Chúng ta đã sống qua thế kỷ 20 với những người mơ mộng tính đem lại hạnh phúc cho muôn dân bằng cách bắt người ta xếp hàng vào trại cải tạo! Chính những người lãnh tụ đó, như Stalin, Mao Trạch Đông, như Pol Pot, trong lòng họ không bình an. Ví thử họ biết đem yêu thương vào nơi oán thù, biết khoan dung, tha thứ, thì người dân chắc may mắn được nhờ.


Chúng ta không thể đem đời sống cả xã hội làm trò đen đỏ. Cần phải ấn định các thủ tục, các quy tắc sống chung để xã hội được bình an, bảo đảm đức khoan dung được thể hiện, nghĩa là chấp nhận các ý kiến đối lập. Và sau cùng, đặt ra một luật chơi, để cho người dân bỏ phiếu tự do lựa chọn! Người dân có thể nhầm; mà sau mỗi cuộc bầu cử thì bên thua phiếu thường kết luận là bên đa số đã chọn lầm. Nhưng ít nhất dân chúng không sợ trở thành nạn nhân của các bạo chúa tiếm quyền, hay những người tưởng mình có từ tâm nhưng làm toàn những việc tác hại.


Trong ngày Giáng Sinh này có lẽ chúng ta nên nói về hy vọng nhiều hơn là ôn lại những quá khứ đen tối. Từ mấy chục năm gần đây phải nói rằng chế độ dân chủ tự do đã được đem ra áp dụng ở nhiều nước hơn. Các chế độ độc tài cũng cứ phải mạo danh dân chủ. Năm 1947 trên thế giới có khoảng 39 nước có thể coi là theo chế độ dân chủ tự do; năm 1970 có được 40 nước. Sau khi bức tường Berlin sụp đổ, con số đã tăng vọt lên. Năm 2007 có tới 123 quốc gia đang áp dụng thể chế dân chủ, gồm 58% dân số trên trái đất. Theo đà này thì chúng ta có thể tin trong thế kỷ 21 loài người sẽ sống khoan dung với nhau hơn, lòng người sẽ bình an hơn.


 

Tin mới cập nhật