‘Trật tự hậu chiến’ đã lung lay tại Nhật?

 


 Hùng Tâm/Người Việt


 


Sự hồi sinh của chủ nghĩa quốc gia Nhật


Mâu thuẫn Hoa-Nhật về các hòn đảo Ðiếu Ngư/Senkaku có thể đã che khuất nhiều chuyển động chậm rãi hơn trong lòng xã hội Nhật. Trước hết là sự thất thế chung của các chính đảng truyền thống đã từng lãnh đạo nước Nhật từ sau Thế Chiến II.


Thứ nhì là sự xuất hiện của nhiều đảng nhỏ từ các địa phương với một số chủ trương rất cục bộ và đôi khi cực đoan. Lồng trong đó là sự thắng thế của chủ nghĩa dân tộc nhuốm mùi cực hữu. Phải chăng, “Trật Tự Nhật” do Hoa Kỳ thiết lập sau Thế Chiến II đã bắt đầu lung lay? “Hồ Sơ Người Việt” sẽ tìm hiểu chuyện đó.


 


Luồng gió duy tân


Vì kích thước quá lớn và bản chất quá phức tạp của xã hội, dân chúng Hoa Kỳ thường ít để ý đến thời sự ngoài nước Mỹ. Thảng hoặc như có thấy báo chí nhắc đến thì cũng một cách hời hợt. Họ biết rằng có gì đó xảy ra ở nơi nào đó trên thế giới mà đa số không hiểu vì sao, và hậu quả sẽ là những gì. Trong bốn năm qua, nước Mỹ lại gặp khủng hoảng lớn về kinh tế và chi thu ngân sách, một vụ khủng hoảng bùng nổ vì nhiều nguyên nhân sâu xa tích lũy từ nhiều thập niên, lồng trong đó là hai năm chuẩn bị cho cuộc tổng tuyển cử 2012, cho nên người dân càng không chú ý đến nhiều biến động sẽ có hậu quả lâu dài cho cục diện thế giới.


Vì mối quan hệ với Việt Nam, người Việt chúng ta theo dõi những gì xảy ra tại Trung Quốc, nhưng cũng có thể bị ảnh hưởng bởi khuynh hướng chung của nước Mỹ mà ít chú ý đến nhiều khu vực khác. Trong đó có trường hợp Nhật, một cường quốc Ðông Á, đã từng liên hệ đến Việt Nam trong lịch sử cận đại.


Ngày 17 tháng 11 vừa qua, một lãnh tụ cực hữu của Nhật, cựu đô trưởng Tokyo từ 1999 đến 2012, đã có một quyết định lịch sử. Ông Shintaro Ishihara này nổi tiếng về lập trường quốc gia dân tộc và lãnh đạo đảng Thái Dương Nhật (Tachiagare Nippon) được thành lập từ năm 2010 với chủ trương hồi phục sức mạnh của Nhật. Ông quyết định sát nhập đảng Thái Dương với đảng Duy Tân Nhật (Nippon Ishin no Kai) do thị trưởng Osaka là ông Toru Hashimoto sáng lập từ Hội Duy Tân Thành Phố Osaka, một thành phố đứng hạng thứ ba về dân số.


Thời sự Mỹ không coi tin này là đáng kể, nhưng một chính đảng lớn của Nhật vừa xuất hiện để ngày 16 tới đây sẽ tranh cử vào Hạ Viện (Diet) Nhật. Trong khi ấy, hai chính đảng lớn còn lại thì chỉ là vang bóng.


Lên cầm quyền từ năm 2010, đảng Dân Chủ Nhật của Thủ Tướng Yoshihiko Noda bị phân hóa và suy yếu nên ông mới quyết định tổ chức bầu cử sớm mà có ít hy vọng. Ðảng Tự Do Dân Chủ Nhật cũng chẳng khá hơn dù đã từng liên tục lãnh đạo nước Nhật từ sau Thế Chiến II cho đến năm 1993 và Thủ Tướng Junishiro Koizumi cố xoay chuyển từ năm 2001 mà không thành công.


Sự kiện hai đảng nhỏ, có tính chất địa phương, mà đã thống hợp thành một đảng có tầm vóc quốc gia và có thể chiếm đa số là biến cố đáng chú ý.


Nó phản ảnh sự bất mãn của người dân Nhật về tình trạng trì trệ của xã hội và đất nước và sự hấp dẫn của những chủ trương ái quốc nhuốm mùi “đại chúng,” mị dân. Sự bất mãn ấy có thể được thấy từ trước, từ sự xuất hiện của nhiều đảng phái ở địa phương với những đòi hỏi cải cách và tinh thần thách đố chính quyền trung ương tại thủ đô Tokyo.


Nhưng vì sao lại có sự trì trệ đó?


 


Ổn định và trì trệ


Sau Thế Chiến II (1945) và suốt thời kỳ Chiến Tranh Lạnh (1948-1991), Nhật có nhiều thập niên ổn định và dồn sức cho công cuộc phát triển với sự yểm trợ và bảo vệ của Hoa Kỳ. Nước Mỹ yểm trợ nhờ chánh sách nâng đỡ kinh tế và giúp Nhật trở thành cường quốc xuất cảng của Châu Á và thế giới, và bảo vệ bằng sức mạnh quân sự trước sự bành trướng của Liên Bang Xô Viết và mối đe dọa từ Trung Quốc. Trong thời ổn định này, đảng Tự Do Dân Chủ Nhật (LDP) liên tục lãnh đạo từ năm 1955 đến 1993, với một bản Hiến Pháp do nước Mỹ soạn thảo với chủ đích giải giới nước Nhật. Nhật không có quân đội mà chỉ có một Lực Lượng Tự Vệ.


Thời kỳ ổn định kéo dài cũng dẫn đến sự trì trệ vì đảng cầm quyền không cải cách và thấy là khỏi cần cải cách. Sự kết hợp và thực tế là cấu kết tay ba giữa chính đảng cầm quyền, bộ máy hành chánh công quyền và các doanh nghiệp đã tạo ra phép lạ kinh tế Nhật mà cũng gây ra nhiều vấn đề, kể cả nạn tham nhũng. Tính chất thuần chủng và liên đới đùm bọc lẫn nhau nhờ sự nâng đỡ của nhà nước không ngăn ngừa được nhiều bài toán xã hội của một đất nước đã đổi thay rất mạnh. Khi Chiến Tranh Lạnh kết thúc năm 1991 với sự sụp đổ của Liên Xô, thì các bài toán xã hội đó đã bung khỏi khuôn khổ cũ và nhu cầu cải cách được đặt ra.


Trào lưu cải cách xuất hiện ngay từ trong đảng Tự Do Dân Chủ và từ nhiều chính đảng khác. Trước sức ép của bảy đảng nhỏ, đảng Tự Do Dân Chủ mất đa số vào năm 1993 và phải thỏa hiệp với các xu hướng và chính khách đối lập. Nhưng sự thỏa hiệp không có định hướng khiến Thủ Tướng Morihiro Hosokawa chỉ cầm quyền được tám tháng mà không thể cải cách. Mâu thuẫn và dị biệt quá lớn trong nội bộ là lý do chính.


Sau đó, Nhật đã qua thập niên bất ổn với cả chục thủ tướng và sáu lần kinh tế suy trầm, cho đến khi ông Junichiro Koizumi của đảng Tự Do Dân Chủ lên lãnh đạo và cũng muốn cải cách từ trong đảng. Từ phe thiểu số và có tinh thần duy tân, Thủ Tướng Koizumi cầm quyền được lâu nhất, từ 2001 đến 2006, và thực tế là dám tấn công vào thành trì của đảng để tạo ra thay đổi mà cũng chẳng thành công vì sự cưỡng chống ngay từ bên trong.


Chính là nỗ lực cải cách ấy đã gây phân hóa nội bộ đảng và các xu hướng kêu đòi cải tổ quy tụ vào đảng Dân Chủ, giúp đảng này thắng lớn vào năm 2009.


Nhưng đảng Dân Chủ Nhật cũng bị sâu xé nội bộ làm Thủ Tướng Yoshihiko Noda bị tê liệt. Sau trận thiên tai Tohoku năm ngoái, hàng loạt tai họa như động đất, sóng thần, sự sụp đổ của nhiều lò nguyên tử và phản ứng tuyệt vọng của dân chúng, v.v… càng gây thêm vấn đề chính trị cho đảng cầm quyền.


Ðã vậy, trong khi các chính đảng lớn bị phân hóa nội bộ trước đòi hỏi cải cách của dân chúng thì sự lớn mạnh của Trung Quốc lại đặt ra bài toán mới, từ bên ngoài. Ðấy là bối cảnh xuất hiện của các đảng phái địa phương, và cực hữu. Mà vì sao lại có các đảng phái địa phương?


 


Ðịa dư Nhật là định mệnh


Nhật là một quốc gia quần đảo, bên trong bốn đảo lớn lại có từng khu vực biệt lập. Hình thể đó là một thứ định mệnh tiên thiên khiến xứ này thường gặp bài toán chính trị là mâu thuẫn giữa quyền lực của trung ương với các địa phương và cả sự xung đột giữa các địa phương với nhau khi trung ương bị suy yếu. Tình trạng tập quyền hay tản quyền và thậm chí phân hóa và cát cứ là một thực tế của chính trị Nhật. Sau mỗi giai đoạn chiến chinh và hỗn loạn lại là một thời kỳ ổn định dài… Ðấy là lẽ hợp tan trong lịch sử Nhật.


Một trường hợp tiêu biểu là hệ thống cai trị của dòng Tokugawa, từ đầu thế kỷ 17 đến thời Minh Trị Thiên Hoàng Meiji. Dưới chế độ chính trị của tướng quân dòng Tokugawa, các tướng lãnh nắm giữ quyền lực tối cao, nhưng việc cai trị về kinh tế và chính trị được dành cho các lãnh chúa địa phương. Chính quyền trung ương trực tiếp kiểm soát các lãnh vực ngoại giao và ngoại thương và thực tế thì giới hạn luồng giao dịch hàng hóa và thông tin với bên ngoài.


Hệ thống chính trị đó chấm dứt với công cuộc duy tân của Minh Trị (Meiji Restauration, theo Anh ngữ) vào năm 1868. Quyền lực được tập trung về Thiên Hoàng, với hậu thuẫn của các tướng lãnh địa phương đã quá thất vọng về sự trì trệ của dòng Tokugawa.


Ðấy cũng là lúc Nhật theo đuổi chính sách bành trướng ngoại giao. Giai đoạn trung ương tập quyền đó kéo dài nửa thể kỷ và còn gia tăng từ những năm 1920 trở về sau khi kinh tế suy sụp, ngoại thương xáo trộn vì chánh sách bảo hộ mậu dịch và khi chủ nghĩa cộng sản chiến thắng tại Nga.


Cùng chính sách tập quyền là sự thắng thế của tinh thần quân phiệt và chủ nghĩa đế quốc Nhật. Chỉ sau khi bị Hoa Kỳ khuất phục năm 1945, Nhật mới chuyển hướng, từ bành trướng quân sự sang bành trướng kinh tế và tạo ra một “Trật Tự Nhật” khác. Tình trạng ổn định có thể đã chấm dứt.


Trong nhiều thập niên, chính quyền trung ương tại Tokyo đã kiểm soát được tất cả mà không kịp cải cách và sự trì trệ của bộ máy công quyền đầy tính chất thư lại đã gây phản ứng trong quần chúng. Phản ứng đó dẫn đến hai chuyện:


-Thứ nhất, các chính đảng lớn đã theo nhau cầm quyền đều mất uy tín và hậu thuẫn. Hai đảng Tự Do Dân Chủ và Dân Chủ Nhật chỉ được chừng 20% dân chúng ủng hộ.


-Thứ hai, nhiều đảng địa phương đã vươn lên và sẽ trở thành đảng có kích thước quốc gia.


Cuối năm 2010, đảng Giảm Thuế Nhật (Genzei Nippon) thắng cử tại quận hạt Aichi và thành phố Nagona. Sau vụ thiên tai Tohoku năm ngoái, đảng này kết hợp với khuynh hướng chống nguyên tử và lớn mạnh thành đảng “Thoát Nguyên Nhật” (Zero Nuclear Party Datsu-Genpatsu). Ngày 28 tháng 11 vừa qua, đảng Thoát Nguyên chuẩn bị thống hợp với đảng Tương Lai Nhật (Nippon Mirai) để thành lực lượng thứ ba, ra tranh cử với hai đảng lớn kia là Tự Do Dân Chủ và Dân Chủ Nhật.


Nhưng đáng chú ý hơn vậy là sự thống nhất của hai đảng Thái Dương và Duy Tân, của (cựu) đô trưởng Tokyo là Shintaro Ishihara và thị trưởng Osaka là Toru Hashimoto.


Trong các cuộc thăm dò mới nhất, ông Hashinoto được hai phần ba dân chúng ủng hộ và trở thành chính khách sáng giá. Còn ông Ishihara là người đã từng viết cuốn “Nhật Dám Nói Không” với chủ tịch tổ hợp Sony là Akiro Morita từ năm 1989 để khẳng định rằng Nhật phải dám nói không với Hoa Kỳ. Ông chủ trương khôi phục lại sức mạnh cho Nhật chứ không mãi mãi lệ thuộc vào Hoa Kỳ. Tháng 4 vừa qua, ngay tại Mỹ, ông Ishihara còn đề nghị là thủ đô Tokyo nên mua lại của một gia đình tư nhân ba hòn đảo nhỏ trong cụm đảo Senkaku mà Trung Quốc nhận là của mình và gọi là Ðiếu Ngư Ðài.


Chính là đề nghị ấy mới châm ngòi cho vụ khủng hoảng với Trung Quốc!


 


Lẽ hợp tan và chủ nghĩa quân phiệt


Trong khung cảnh đang chuyển dịch này, các đảng phái Nhật từ trung ương đến địa phương phải xoay trở thế nào và hậu quả sẽ ra sao?


Trước sự nổi dậy của các đảng nhỏ ở nhiều địa phương, hai chính đảng cấp quốc gia là Tự Do Dân Chủ và Dân Chủ Nhật đều lo ngại. Lâm vào thế yếu, họ tìm cách thỏa hiệp khi áp dụng nhiều đề nghị của các đảng nhỏ: cải cách quy chế bầu cử, cải tổ hành chánh, chấp nhận sự hình thành và hoạt động của các chính quyền địa phương. Nhưng người ta chưa rõ là các đảng nhỏ có khả năng thoát xác hay chăng. Từ những đòi hỏi cục bộ – như giảm thuế, giải từ năng lượng nguyên tử và gia tăng quyền hạn địa phương – đến nhiều chủ trương ở cấp độ toàn quốc, các đảng nhỏ này cần được hậu thuẫn của cử tri để có đủ số phiếu trong Hạ Viện.


Liệu cử tri Nhật đã đồng ý với một cuộc cách mạng về hiến chế hay chưa? Chuyện cụ thể là tu chính lại bản Hiến Pháp và mở rộng phạm vi ngoại giao và quyền hạn quân sự của Nhật.


Nếu trào lưu cải cách thắng thế, kinh tế Nhật có thể bung khỏi 20 năm bại liệt với hậu quả sẽ đảo lộn Ðông Á. Với sự năng động kinh tế mới, và chủ trương bành trướng thế lực ngoại giao lẫn quân sự của cánh hữu, Nhật sẽ gây lo ngại cho các lân bang, trước nhất là Trung Quốc và Nam Hàn, hai quốc gia đã từng bị Nhật xâm chiếm trong thế kỷ 20. Thái độ hung hăng của Bắc Kinh càng dẫn đến phản ứng quốc gia dân tộc của người Nhật và giúp cho cánh hữu chiến thắng. Ðông Á sẽ đi vào một đổi thay lớn!


Ngược lại, nếu các chính đảng lớn vẫn giữ được quyền hành và duy trì tình trạng ổn định trong trì trệ, sự bất mãn của dân chúng tiếp tục gia tăng. Trong trường hợp đó, phe cực hữu và các tướng lãnh sẽ gặp hoàn cảnh cách nay 90 năm: phải đứng lên cứu nguy tổ quốc.


 


Kết luận ở đây là gì?


Từ nhiều thế hệ đã qua, đây là lần đầu tiên mà hai cường quốc Á Châu đều muốn khẳng định vai trò quốc tế của mình. Vì vậy, mâu thuẫn và nguy cơ xung đột sẽ chỉ tăng chứ không giảm. Các nước Ðông Á khác, kể cả Việt Nam, sẽ bị cục diện bất thường này chi phối.


Sau Thế Chiến II, Hoa Kỳ đã xây dựng được một “Trật Tự Nhật,” trật tự ấy có thể đã cáo chung với nhiều nguy cơ bất ổn vì Nhật không còn như xưa. Nhưng nước Mỹ mắc nợ đã ngó vào trong, và trong nhiều năm tới sẽ không còn khả năng can gián nước Nhật hoặc kiềm chế Trung Quốc.

Ðại diện ‘Triệu Con Tim, Một Tiếng Nói’ tiếp xúc Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ


GARDEN GROVE (NV) –
Ðể phát huy thành quả của chiến dịch “Triệu Con Tim, Một Tiếng Nói,” mà tính đến nay đã có hơn 120,000 chữ ký từ 59 quốc gia, vào ngày Quốc Tế Nhân Quyền, 10 Tháng Mười Hai, tới đây, một phái đoàn đại diện ban tổ chức chiến dịch sẽ có buổi tiếp xúc với bà Laura Dupuy Lasserre, chủ tịch Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, tại Geneva, Thụy Sĩ, để trao những thỉnh nguyện thư kêu gọi Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ, Liên Hiệp Châu Âu, cũng như các quốc gia tự do lên tiếng về tình trạng vi phạm nhân quyền trầm trọng đang diễn ra tại Việt Nam, thông cáo báo chí của ban tổ chức cho biết.









Ban tổ chức chiến dịch “Triệu Con Tim, Một Tiếng Nói” vận động chữ ký thỉnh nguyện thư tại Brisbane, Úc. (Hình: facebook.com/TrieuConTimMotTiengNoi)


Nhạc sĩ Trúc Hồ, tổng giám đốc đài truyền hình SBTN, một trong những người sẽ có mặt trong phái đoàn đến Geneva, nói với nhật báo Người Việt rằng: “Chúng tôi, bao gồm một số đại diện các cộng đồng Việt Nam ở Châu Âu, sẽ đưa cho bà Laura Dupuy Lasserre những chữ ký của đồng hương chúng ta.”


“Chúng ta sẽ yêu cầu Hội Ðồng Nhân Quyền biệt phái tới Việt Nam các đặc phái viên của Liên Hiệp Quốc và đại diện các sứ quán để điều tra về tình trạng giam giữ tùy tiện, ngược đãi trong tù và sự lạm dụng luật pháp tại đây,” nhạc sĩ Trúc Hồ nói. “Chúng ta cũng yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam tôn trọng Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và hủy bỏ các điều luật mơ hồ về an ninh quốc gia như Ðiều 79 và Ðiều 88 trong Bộ Luật Hình Sự, những điều luật đã được dùng làm lý cớ để bắt người và giam giữ tùy tiện, đồng thời, chúng ta đòi hỏi nhà cầm quyền Việt Nam phải lập tức trả tự do cho toàn thể tù nhân chính trị.”


Song song với buổi tiếp xúc tại Geneva, đại diện của chiến dịch cũng sẽ gặp các vị đặc trách vùng Ðông Nam Á của LHQ tại New York vào ngày 7 Tháng Mười Hai.


Ngoài ra, đại diện của ban tổ chức khắp nơi cũng sẽ có những buổi gặp gỡ với bộ ngoại giao quốc gia sở tại theo lịch trình như sau:


-Thứ Năm, 6 Tháng Mười Hai: Bộ Ngoại Giao Pháp, Paris.


-Thứ Sáu, 7 Tháng Mười Hai: Văn phòng Liên Hiệp Quốc, New York, Hoa Kỳ; Bộ Ngoại Giao Ðức, Berlin; Bộ Ngoại Giao Anh, London; Bộ Ngoại Giao Ðức, Berlin; Bộ Ngoại Giao Bỉ, Brussels; Bộ Ngoại Giao Na Uy, Oslo.


-Chủ Nhật, 9 Tháng Mười Hai: Bộ Ngoại Giao Úc, Canberra.


-Thứ Hai, 10 Tháng Mười Hai: Bộ Ngoại Giao và Quốc Hội Hoa Kỳ, Washington, DC; Bộ Ngoại Giao Hòa Lan, The Hague; Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, Ủy Ban Ðặc Biệt Bảo Vệ Các Nhà Tranh Ðấu Nhân Quyền và Tự Do Ngôn Luận, và Ủy Ban Ðiều Tra Về Bắt Giữ Tùy Tiện, Geneva, Thụy Sĩ.


Ðể hỗ trợ tinh thần cho những cuộc gặp gỡ nêu trên, vào ngày 8 và 9 Tháng Mười Hai, tại Washington, DC sẽ có một buổi tọa kháng, tuyệt thực, và biểu tình trước Tòa Ðại Sứ CSVN. Thêm vào đó, cộng đồng Việt Nam tại Úc sẽ tổ chức một buổi biểu dương lực lượng và trao thỉnh nguyện thư cho đại diện Bộ Ngoại Giao Úc tại Freedom Plaza, Cabramatta.


Anh Lý Vĩnh Phong, một thành viên ban tổ chức, cho biết: “Cuộc tuyệt thực trước Tòa Ðại Sứ CSVN sẽ kéo dài trong 24 tiếng, từ 10 giờ sáng Thứ Bảy đến 10 giờ sáng Chủ Nhật. Cho tới nay, đã có trên 20 người ghi danh tham gia, như chị Ngô Mai Hương (vợ của Tiến Sĩ Nguyễn Quốc Quân đang bị giam ở Việt Nam), anh Billy Lê (chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam Nam California), nhạc sĩ Trúc Hồ, ông Nguyễn Văn Lực (chủ tịch Cộng Ðồng Người Việt Quốc Gia San Diego)…”


“Chúng tôi ghi nhận có 200 người ghi danh có mặt tại Washington, DC, cùng với đồng hương ở các vùng lân cận tham gia cuộc tuyệt thực này,” anh Lý Vĩnh Phong nói thêm. “Ngoài tuyệt thực và biểu tình, chương trình còn bao gồm văn nghệ đấu tranh.”


Nhận xét về chiến dịch “Triệu Con Tim, Một Tiếng Nói,” nhạc sĩ Trúc Hồ chia sẻ: “Công việc rất tốt, hơn 120 đoàn thể, hội đoàn và đảng phái tham dự. Họ chính là những nhân tố vận động gom góp chữ ký tại các cộng đồng Việt Nam khắp thế giới. Ðiểm đặc biệt của chiến dịch là trong số các chữ ký, có hơn 5,000 chữ ký từ Việt Nam. Ðiều này thể hiện sức mạnh của cộng đồng chúng ta.”


Anh Lý Vĩnh Phong nhận xét: “Chiến dịch này cho thấy tính quần chúng rất cao, khắp nơi đều chuyển động trong ngày Quốc Tế Nhân Quyền, đưa công cuộc đấu tranh của chúng ta lên một mức cao hơn.”


“Chiến dịch này đã gây chú ý rất lớn, bây giờ là lúc chúng ta cùng làm việc với nhau. Ðây chỉ là viên gạch đầu tiên để tạo sức mạnh quần chúng,” nhạc sĩ Trúc Hồ nói. “Các đoàn thể tham gia sẽ tăng lên nữa, sẽ còn nhiều chiến dịch ‘Triệu Con Tim, Một Tiếng Nói’ nữa.”


Ông kết luận: “Chúng ta phải kiên trì mới tạo ra kết quả, như người ta thường nói: ‘Nước chảy đá mòn.’”


Ban tổ chức kêu gọi “đồng hương cùng tham gia thật đông đảo những sinh hoạt kể trên để cùng thể hiện tinh thần cương quyết đấu tranh cho tự do và nhân quyền tại Việt Nam, đặc biệt là để biểu tỏ sức mạnh đoàn kết mà cộng đồng Việt Nam thể hiện qua hàng trăm ngàn chữ ký của bản thỉnh nguyện thư.”


Ðể ký thỉnh nguyện thư, độc giả có thể vào trang web www.democracyforvietnam.net.


Mọi chi tiết xin liên lạc:


Các buổi tiếp xúc với LHQ và Bộ Ngoại Giao: Trúc Hồ, [email protected].


Buổi tuyệt thực tại Washington, DC: Võ Thành Nhân (301) 257-8496, Lý Vĩnh Phong (626) 759-2945.


Buổi trao thỉnh nguyện thư tại Úc: Nguyễn Ðỗ Thanh Phong 61 457 540 106. (Ð.D.)

Chấm dứt đình công ở cảng Los Angeles/Long Beach


LOS ANGELES (LAT) –
Công nhân cảng Los Angeles/Long Beach đã làm việc trở lại hôm Thứ Tư sau 8 ngày đình công làm tê liệt hoạt động của hải cảng hàng hóa bận rộn nhất Hoa Kỳ.









Container hàng hóa không được di chuyển cho đến hôm Thứ Ba, sau 8 ngày đình công ở cảng Los Angeles/Long Beach. (Hình: Kevork Djansezian/Getty Images)


Các cấp lãnh đạo phân bộ 63 công đoàn của 800 chuyên viên tiếp quản hàng hóa, đã đạt thỏa thuận sơ bộ sau những cuộc thương lượng không ngừng kết thúc vào đêm Thứ Ba. Thỏa thuận này chỉ mới là tạm thời và chỉ có giá trị chung quyết khi được toàn thể công đoàn phê chuẩn.


Thị trưởng Los Angeles, ông Antonio Villaraigosa, một cựu lãnh tụ công đoàn, phải can thiệp và đưa hai điều giải viên liên bang đến thương lượng mới khai thông được bế tắc.


Những tranh chấp đưa đến đình công bao gồm vấn đề lương bổng và việc các thành viên công đoàn tố cáo giới chủ nhân sử dụng công nhân ngoài. Rất ít chi tiết trong thỏa hiệp được hai phía cũng như điều giải viên và thị trưởng Los Angeles tiết lộ.


Kể từ khi cuộc đình công xảy ra, 20 tàu hàng được chuyển tới các hải cảng Oakland, Ensenada và Panama trong khi một số tàu khác neo ngoài khơi chờ giải quyết.


Cuộc đình công khiến 10 trong số 14 bến cảng tiếp nhận container phải ngưng hoạt động. (HC)

Mẫu ‘Chứng Minh Nhân Dân’ mới: Trái luật mà vẫn làm


HÀ NỘI (NV) –
Dù đã được khuyến cáo từ trước là trái luật, trái cả công ước quốc tế về quyền của trẻ em mà Việt Nam ký kết, Bộ Công An CSVN vẫn tiến hành việc cấp phát thẻ “Chứng Minh Nhân Dân” mới (tức căn cước) cho người dân, trên đó có ghi cả tên cha mẹ.










Làm thủ tục cấp CMND mới ở Hà Nội. (Hình: Người Lao Ðộng)


Bắt đầu từ ngày 21 tháng 9, 2012 vừa qua, việc cấp “CMND” mới được Bộ Công An bắt đầu “thí điểm” tại Hà Nội rồi sẽ lan ra các tỉnh miền Bắc trước khi cho cả nước.


Dư luận đã phản ứng chống đối khá mạnh trên nhiều tờ báo ngay cả trước thời điểm này nhưng không có tác dụng.


Ngày 4 tháng 12, 2012, báo Người Lao Ðộng thuật lời ông Lê Hồng Sơn, cục trưởng Cục Kiểm Tra Văn Bản của Bộ Tư Pháp CSVN cho hay “…sau khi nghiên cứu quy định cho phép đưa tên cha mẹ lên CMND, cục đã phát hiện điều này trái với Bộ Luật Dân Sự và Công Ước Quốc Tế về quyền trẻ em mà Việt Nam đã ký tham gia từ năm 1989. Hơn nữa, điều 38 Bộ Luật Dân Sự 2005 về quyền bí mật đời tư thì người mẹ có quyền giữ kín thông tin về người cha và nếu thủ tục hành chính yêu cầu ghi tên cha mẹ đứa bé thì sẽ xâm phạm quyền bí mật đời tư được quy định tại điều này.”


Tờ Người Lao Ðộng thuật lời ông Phạm Quốc Anh, chủ tịch Hội Luật Gia Việt Nam, cho rằng việc đưa thêm họ tên cha mẹ lên CMND rõ ràng không cần thiết bởi từ trước tới nay, các thông tin trên CMND đã khá đầy đủ.


“Ðiều cần thiết ở CMND mới là kỹ thuật in ấn, công nghệ hiện đại, bảo mật và bền đẹp hơn trước. Khi đi làm các thủ tục, kèm CMND, người dân vẫn phải xuất trình một số giấy tờ khác, công an đã có thể nắm rõ lý lịch tư pháp của họ thì đâu cần thiết phải đưa tên cha mẹ họ lên đó,” ông Anh nói.


Còn ông Nguyễn Ðình Lộc, nguyên bộ trưởng Bộ Tư Pháp CSVN cũng cho rằng việc đưa tên cha mẹ lên CMND là “không cần thiết và phải dừng ngay.”


Thêm nữa, theo tờ báo, “Việc đưa nguồn gốc con người lên CMND rất dễ gây xúc động, tâm lý không tốt với nhiều người đã có cha mẹ mất từ lâu, thiếu cha, mẹ hoặc sinh ra đã không biết cha mẹ là ai. Dù Bộ Công An giải thích những trường hợp này có thể để trống nhưng thử hỏi khi ấy công dân sẽ cảm thấy tủi thân, xấu hổ ra sao khi đưa CMND ra cho người khác xem.”










Mẫu mới thẻ căn cước ghi tên cha mẹ, bị coi là trái luật. (Hình: Thanh Niên)


Hôm Thứ Tư, 5 tháng 12, 2012, báo Người Lao Ðộng thuật lời ông Nguyễn Sỹ Cương, thường trực Ủy Ban Pháp Luật của Quốc Hội CSVN, cho biết, “khi dự thảo nghị định về cấp CMND mẫu mới được đưa ra bàn thảo, đã có rất nhiều ý kiến phản đối việc đưa họ tên cha mẹ công dân lên CMND. Ðáng tiếc, Bộ Công An vẫn quyết tâm triển khai…”


Năm 2006, khi Bộ Công An CSVN đưa dự luật “Luật Cư Trú” buộc người dân phải cư trú theo chế độ “hộ khẩu,” ông Nguyễn Ðình Lộc phản đối vì nó trái với Hiến Pháp (công dân có quyền tự do đi lại, cư trú) nhưng nó vẫn được biểu quyết thông qua, hiện vẫn đang áp dụng. (TN)

Trung Quốc xét tàu trên Biển Ðông chỉ nhắm vào Việt Nam


BẮC KINH (NV) –
Việc cảnh sát biên phòng của Trung Quốc xét và xua đuổi tàu nước ngoài trên Biển Ðông chính yếu chỉ nhằm đối phó với tàu của Việt Nam, đặc biệt là tại khu vực quần đảo Hoàng Sa.









Ðảo Phú Lâm mà Trung Quốc gọi là Vĩnh Hưng đảo trong quần đảo Hoàng Sa Bắc Kinh cướp của Việt Nam đang được tăng tốc xây dựng rất nhiều cơ sở. (Hình: STR/AFP/Getty Images)


Ngô Sĩ Tồn, một viên chức của tỉnh Hải Nam nói như vậy được thuật lại trên báo Wall Street Journal (WSJ) hôm Thứ Tư, 5 tháng 12, 2012 nhằm nói rõ hơn về cái quyết định đưa ra gần đây làm nhiều nước trong khu vực phẫn nộ.


Tờ Trung Quốc nhật báo, bản Anh ngữ, hôm 28 tháng 11, 2012 đưa tin cảnh sát biên phòng tỉnh Hải Nam được lệnh lên tàu và khám xét các tàu bị coi là “xâm nhập bất hợp pháp” vào vùng biển thuộc thẩm quyền tỉnh này.


Quyết định, có hiệu từ đầu tháng 1 năm 2013, đã được nhà cầm quyền tỉnh Hải Nam thông qua hôm Thứ Ba, 27 tháng 11 năm 2012, cho quyền cảnh sát biên phòng leo lên tàu nước ngoài “xâm phạm bất hợp pháp vùng biển chủ quyền” hoặc ra lệnh cho những tàu đó “hoặc đổi hướng hoặc ngừng chạy.”


Lập tức, nhiều nước liên quan đến Biển Ðông đã đả kích mạnh mẽ cái “quyết định” ngang ngược này. Tổng thư ký sắp mãn nhiệm của ASEAN, Tiến Sĩ Surin Pitsuwan, cảnh cáo hành động leo thang gây hấn này có thể sẽ dẫn đến xung đột.


Việc loan báo xét tàu nước ngoài “xâm phạm” của Bắc Kinh diễn ra trong khi dư luận các nước đang phẫn nộ với cái hình bản đồ Biển Ðông với “Lưỡi Bò” in trên hộ chiếu của người Trung Quốc.


Sự mù mờ của quyết định lục soát tàu ngoại quốc ở các vùng biển nếu trong phạm vi 12 hải lý của đường cơ sở (biển) với đất liền hay thế nào, không thấy cái quyết định đó nói ra.


Hiện Việt Nam vẫn luôn luôn tuyên bố chủ quyền lãnh thổ đối với cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và các vùng biển chung quanh “với các bằng chứng lịch sử và pháp lý không thể tranh cãi.” Nhưng quần đảo Hoàng Sa đã bị Trung Cộng lấn chiếm năm 1974 và đến năm 1988 thì bị Bắc Kinh xua tàu tới cướp một số bãi đá ngầm và đảo nhỏ ở Trường Sa.


Trong bản tin của WSJ, Ngô Sĩ Tồn (vừa là giám đốc Sở Ngoại Vụ tỉnh Hải Nam vừa là viện trưởng Viện Nghiên Cứu Biển Nam Hải) nói rõ hẳn là “mục đích chính là đối phó với các tàu đánh cá của Việt Nam hoạt động gần đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa” (mà Bắc Kinh gọi là Vĩnh Hưng đảo thuộc Tây Sa quần đảo).


Ngô Sĩ Tồn nói cảnh sát biên phòng Trung Quốc sẽ lục soát và trục xuất những tàu nào xâm phạm vào bên trong đường cơ sở (biển) 12 hải lý. Năm 1996, Bắc Kinh đã loan báo đường cơ sở biển 12 hải lý tại quần đảo Hoàng Sa vì đã cướp trọn rồi, nhưng với quần đảo Trường Sa thì còn vướng nhiều nước khác tranh chấp và cũng chỉ mới cướp được ít bãi đá ngầm nên vẫn chưa dám tuyên bố.


“Ðối với những đảo mà đường cơ sở biển chưa được loan báo vì không thể định nghĩa bề rộng của lãnh hải, vấn đề trên không tồn tại.” Ngô Sĩ Tồn nói. “Thế giới bên ngoài không nên phản ứng quá độ về sự nhắc nhở của quy định hoặc hoặc suy luận quá nhiều, hoặc ai đó đưa ra giải thích một chiều hay bóp méo.”


Thật ra, suốt từ nhiều năm nay, ngư dân Việt Nam đã vô cùng điêu đứng khi khai thác hải sản gần quần đảo Hoàng Sa. Rất nhiều tàu ngư dân Việt Nam đã bị tàu tuần Trung Quốc đâm chìm hoặc bắt giữ, kéo về đảo Phú Lâm đòi tiền chuộc. Không ít ngư dân Việt Nam đã mất nghiệp vì bị Trung Quốc cướp mất tàu.


Hàng năm, Bắc Kinh còn ngang ngược ra lệnh cấm đánh cá từ giữa tháng 5 đến đầu tháng 8 trên Biển Ðông, mùa đánh cá chính của ngư dân Việt Nam.


Ngày 30 tháng 11, 2012 vừa qua, hai tàu Trung Quốc giả dạng tàu đánh cá đã cắt cáp thăm dò dầu khí của tàu Bình Minh 2 thuộc tập Ðoàn Dầu Khí Việt Nam (Petro Vietnam), chỉ cách đảo Cồn Cỏ (ngoài khơi Quảng Trị) khoảng 43 hải lý. Bộ Ngoại Giao CSVN hôm 3 tháng 12, 2012 đã triệu đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội tới để đưa công hàm phản đối nhưng ông Ðỗ Văn Hậu, chủ tịch Petro Vietnam lại chống chế giùm cho Trung Quốc khi nói vụ cắt cáp chỉ là “tình cờ” (nguyên văn Anh ngữ câu trả lời của ông Hậu trên bản tin Bloomberg là “by accident” tức không cố ý.


Vậy là có chuyện trống đánh xuôi, kèn thổi ngược giữa Bộ Ngoại Giao Việt Nam với lãnh đạo Petro Vietnam.









Ðoàn tàu đánh cá Trung Quốc từ Hải Nam được lùa xuống khu vực Trường Sa giữa tháng 7, 2012 biểu diễn “chủ quyền” khi chạy ngang bãi đá ngầm cướp của Việt Nam năm 1988 mà Bắc Kinh đặt tên lại là đảo Chử Bích. (Hình: AP photo)


Khi bị báo chí quốc tế chất vấn, Hồng Lỗi, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc nói trong cuộc họp báo ở Bắc Kinh hôm Thứ Ba, 4 tháng 12, 2012 là nhà cầm quyền của họ đang điều tra vụ cáo buộc của PVN vì 2 tàu cá Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh 02.


Tuy nhiên, ông này lại nói, “Theo hiểu biết ban đầu của chúng tôi, vụ việc xảy ra tại vùng tuyên bố chủ quyền chồng lấn giữa hai nước. Các tàu đánh cá Trung Quốc hoạt động bình thường ở vùng biển đó.”


Lời nói ngang ngược này phủ nhận bản Hiệp Ước Phân Ðịnh Vịnh Bắc Bộ mà Việt Nam và Trung Quốc ký cuối năm 2000. (TN)

Bắt 4 nghi can trong vụ 4 người bị bắn chết ở Northridge


LOS ANGELES (LAT) –
Các nhân viên điều tra của cảnh sát hôm Thứ Ba đã bắt giữ bốn người, hai nam và hai nữ, trong một sòng bài ở Las Vegas, bị coi là có dính líu với vụ bắn chết bốn người bên ngoài một căn nhà tại Northridge, Los Angeles County, cuối tuần trước,









Cảnh Sát Trưởng Charlie Beck thông báo vụ bắt bốn nghi can, tại một cuộc họp báo. (Hình: AP Photo/Damian Dovarganes)


Cảnh sát trưởng Los Angeles, ông Charlie Beck, trong cuộc họp báo hôm Thứ Tư, cho biết bốn nghi can bị bắt tại Siverton Hotel and Casino không có kháng cự gì. Tuy nhiên, ông từ chối trả lời những câu hỏi chi tiết trong vụ án cũng như không nói lý do được dự đoán về hành động sát nhân.


Các nguồn tin từ giới công lực cho tờ Los Angeles Times biết rằng dường như nguyên nhân là từ chuyện tranh chấp tài sản riêng và các thám tử điều tra cũng ngạc nhiên là có thể đưa tới cái chết của nhiều người như vậy.


Cảnh sát công bố danh tánh bốn nghi can là Ka Pasasouk, 31 tuổi, ở Los Angeles; Howard Alcantara, 30 tuổi, ở Glendale; Dona Rabulan 30 tuổi, ở Los Angeles; và Christina Neal, 33 tuổi, ở Los Angeles.


Bốn nghi can hãy còn bị giam ở nhà tù Clark County, Nevada, và có lẽ sẽ được giải về Los Angeles trong mấy ngày nữa. FBI, cùng với cảnh sát Las Vegas và Henderson, trợ lực cho việc bắt giữ này.


Hôm Chủ Nhật, khoảng 4 giờ 25 phút sáng, cảnh sát nhận điện thoại 911 từ một người báo tin nghe thấy tiếng kêu và súng nổ, đã đến căn nhà ở dãy 17400 Devonshire Street. Tại đây, có bốn người bị bắn chết bên ngoài nhà, ba tử thi nằm gần nhau đều có ít nhất một phát đạn trúng đầu và tử thi thứ tư nằm xa hơn một chút có lẽ đã chạy trốn.


Danh tánh các nạn nhân, hai nam và hai nữ, chưa được cảnh sát tiết lộ. (HC)

Citigroup sa thải 11,000 nhân viên


NEW YORK (NYT) –
Citigroup hôm Thứ Tư loan báo cắt bỏ 11,000 công việc và sa thải khoảng 4% nhân viên của đại công ty ngân hàng này trong kế hoạch tiết giảm chi phí.










Trụ sở chính của Citibank ở Mahattan, New York. (Hình: Mario Tama/Getty Images)


Theo dự trù, 1,900 việc làm sẽ được bớt đi ở bộ phận khách hàng, 6,200 trong dịch vụ thương mại của ngân hàng và 2,600 trong các bộ phận chuyên môn khác,


Từ 2007, ngân hàng Citigroup giảm bớt 33% nhân sự và hiện nay còn khoảng 250,000 nhân viên.


Biện pháp mới được đưa ra sau khi vị chủ tịch nhiều quyền lực, ông Michael E. O’Neil, tìm cách loại Tổng Giám Ðốc Vikram S. Pandit hồi Tháng Mười và chỉ định phụ tá Michael L.Corbat thay thế. Sự chuyển đổi quyền lực này làm giới tài chánh Wall Street ngạc nhiên và người ta đã dự đoán Citigroup sẽ có nhiều thay đổi quan trọng trong đường lối.


Ông Corbat giải thích rằng đây là một bước hợp lý trong tiến trình cải tổ ngân hàng để tập trung nỗ lực vào những hoạt động có lợi nhuận cao. Trong thông báo đưa ra hôm Thứ Tư, Citibank cũng cho biết 84 chi nhánh ngân hàng trên thế giới sẽ phải đóng cửa. (HC)

Cụ bà lớn tuổi nhất thế giới qua đời tại Georgia


MONROE, Georgia (AP) –
Một cụ bà từng được coi là người cao tuổi nhất thế giới đã qua đời hôm Thứ Ba trong một nhà dưỡng lão, thọ 116 tuổi.










Cụ bà Besse Cooper, 116 tuổi, vừa qua đời. (Hình: AP Photo/David Goldman, File)


Cụ Besse Cooper chết một cách thanh thản vào trưa Thứ Ba tại thành phố Monroe, theo người con trai của cụ là ông Sidney Cooper. Monroe nằm cách thành phố Atlanta khoảng 45 miles về phía Ðông.


Ông Cooper cho hay mẹ của ông bị đau yếu thời gian gần đây, nhưng cảm thấy khỏe hơn hôm Thứ Hai. Hôm Thứ Ba ông cho hay bà được chải tóc và xem một cuốn video Giáng Sinh, nhưng sau đó bị khó thở. Bà được cho dùng bình trợ khí oxygen và qua đời trong phòng lúc 2 giờ trưa, theo ông Cooper.


Cụ Besse Cooper được vinh danh là người cao niên nhất thế giới hồi Tháng Giêng năm 2011. Vào Tháng Năm 2011, tổ chức Guinness World Records biết được rằng cụ bà Maria Gomes Valentin ở Ba Tây mới là người già nhất vì sinh ra sớm hơn 48 ngày. Tuy nhiên, cụ Valentin qua đời chỉ một tháng sau đó.


Năm ngoái, vào ngày sinh nhật thứ 115, cụ Cooper đã đón mừng với bạn bè và gia đình, ăn hai miếng bánh nhỏ và được một ca sĩ ở Nashville hát tặng bài “Tennessee Waltz.”


Danh hiệu người cao niên nhất thế giới nay thuộc về cụ bà Dina Manfredini, 115 tuổi, ở Johnston, tiểu bang Iowa. Người từng giữ kỷ lục sống lâu nhất thế giới là một cụ bà người Pháp, Jeanne Calment, qua đời năm 1997 lúc 122 tuổi. (V.Giang)

‘Bar-Club photographer,’ nghề mới ở Sài Gòn


Thanh Tú/Người Việt


 


“Nghề này nhiều người cứ tưởng là kiếm tiền, kiếm gái dễ dàng chứ họ đâu biết những nỗi nhọc nhằn. Phải thức khuya, phải chịu áp lực với tiếng ồn, khói thuốc là và bia rượu.” Hưng một bar-club photographer đã nói về công việc của anh đang làm như vậy.









Nhiều ca sĩ nổi tiếng thường diễn ở bar do chủ bar mời họ hoặc do các công ty rượu, thuốc lá mời để thu hút khách đến bar. (Hình: Thanh Tú/Người Việt)


“Bar-club photographer,” nôm na trong tiếng Việt là thợ chụp hình trong các quán bar, vũ trường.


Chỉ xuất hiện ở Việt Nam khoảng ba năm trở lại đây nhưng nghề này đang rất thịnh hành và là sự thèm muốn của rất nhiều người.


Không cần bằng cấp, không cần trình độ. Ai cũng có thể trở thành một bar-club photographer. Chỉ cần là một người trẻ chưa quá 40 tuổi, có một máy ảnh khá xịn, biết chỉnh sửa ảnh là đã có thể có một công việc mà nhiều người thèm muốn với mức lương trung bình khoảng 10 triệu đồng Việt Nam/tháng.


Kể từ lúc nhà cầm quyền Việt Nam thoải mái cấp giấy phép cho những nhà kinh doanh vũ trường, các bar-club mọc lên như nấm. Sự nới rộng này phần nào đáp ứng một phần nhu cầu giải trí của giới trẻ Việt Nam, khi họ đã tiếp xúc quá nhiều với văn hóa giải trí ở nước ngoài.


Song song với các quán bar-club được mở ra là tệ nạn xã hội diễn ra khắp nơi. Ði kèm với nó là thuốc kích thích, ma túy, rượu và gái…


Hưng cho biết, anh chỉ mới theo nghề này khoảng độ hơn 2 năm nay. Từ cái thú thích chụp ảnh, anh đã đầu quân cho những công ty chuyên tổ chức sự kiện. Công việc ban đầu của anh là chụp hình những sự kiện mà công ty của anh đứng ra tổ chức. Dần dà, anh chuyển sang chụp hình ở trong những bar-club lúc nào chẳng hay.


Chủ của những quán bar-club thường là một người có máu mặt, quen biết từ chính quyền đến giới bảo kê. Việc này rất quan trọng vì họ sẽ có thể đảm bảo mặt ổn định, an ninh cho bar-club của mình.


Cùng với việc này là họ phải chi trả một số tiền rất lớn để đổi lại sự an toàn. Có rất nhiều bar-club mới mở ra liên tục xảy ra những vụ ẩu đả, đánh nhau, thậm chí đến cả giết người. Ðiều đó một phần cũng là do băng nhóm tranh giành lãnh địa, bảo kê. Nếu có gọi cho công an thì còn lâu họ mới đến để can thiệp xô xát. Chủ bar-club phải chịu chi một khoản tiền lớn cho trưởng công an phường để luôn được công an bảo vệ.


Rượu, thuốc lá là những mặt hàng bị cấm quảng cáo trên các phương tiện truyền thông tại Việt Nam. Vì vậy để khuếch trương sản phẩm, các hãng thường đẩy mạnh công tác quảng cáo trong những quán bar-club. Và đó là nơi mà họ chi rất mạnh.


Những sự kiện được tổ chức thường xuyên nhằm giới thiệu đến khách các mặt hàng mới của mình. Họ chi tiền mời về những ca sĩ nổi tiếng, những hotboy, hotgirl mới nổi để diễn, hát trong các quán bar-club.


Ðương nhiên cũng có những show diễn của các ca sĩ là do chủ bar-club bỏ tiền ra mời để thu hút khách trong những mùa vắng khách. Trong những sự kiện đó, các bar-club photographer được mời đến để chụp hình, lưu lại hình ảnh cho quán bar-club và cho các công ty tổ chức sự kiện.


 


Công việc của một bar-club photographer


 


Bắt đầu từ 10 giờ tối và thời gian kết thúc thường không thể nói trước được. Có những show diễn ra rất chóng vánh, nhanh chóng thì công việc của họ cũng chỉ trong khoảng 1-2 giờ đồng hồ. Song cũng có những show kết thúc lúc 2 giờ sáng. Sau khi chụp hình xong, một bar-club photographer phải xử lý số hình ảnh ngay trong đêm để email cho chủ quán bar-club hoặc cho công ty đứng ra tổ chức sự kiện. Số hình ảnh đó thường là những hình ảnh quan trọng, để họ có thể upload nó lên trên trang web ngay trong đêm, hoặc hôm sau phải có trên mạng Internet.









Các bar ở Sài Gòn nói riêng và Việt Nam nói chung luôn luôn chật kín chỗ vào các dịp cuối tuần hay lễ tết. (Hình: Thanh Tú/Người Việt)


Với những show lớn, khách mời, ca sĩ là những nhân vật quan trọng đó là lúc công việc của bar-club photographer mệt mỏi nhất. Có rất nhiều hình ảnh cần phải làm ngay trong đêm. Cứ cho mỗi bức ảnh được xử lý trong thời lượng 10-30 phút thì có khi phải thức cả đêm để chỉnh sửa.


Ngoài việc chụp cho các ca sĩ, khách mời, các bar-club photographer còn chụp hình cho khách đến bar-club. Những vị khách này thường rất nhiều và không quan trọng thành ra cũng dễ chụp. Tuy thế không phải vị khách nào cũng mặn mà trước ống kính. Nếu không được sự đồng ý của khách, các bar-club photographer tuyệt đối không được chụp. Thông thường trước khi chụp hình, họ thường ra dấu với khách xem thử có đồng ý chụp hay không.


 


Mặt trái của nghề


 


Thoáng nhìn qua thì thấy công việc của một bar-club photographer khá đơn giản, nhưng chỉ có họ mới thấy được những mặt trái của nghề này.


Long – một photographer cho các quán bar và vũ trường cho biết: “Với mật độ làm việc dày đặc, lại phải tiếp xúc thường xuyên với tiếng ồn, khói thuốc lá, rượu là những thứ tác động trực tiếp đến sức khỏe của tôi. Thường xuyên thức khuya nên nhịp sinh hoạt cũng bị xáo trộn. Ðến nỗi có nhiều đêm không đến bar chụp hình nhưng tôi cũng không thể nào ngủ được.”


Ngoài những thứ đã kể trên, các thợ chụp hình còn phải đối mặt với những thứ cám dỗ khác. Trong quán bar-club là nơi tập trung của rất nhiều cám dỗ như ma túy và gái. Vì thường xuyên tiếp xúc với những người như vậy thành ra dần dần giữa họ có những mối quan hệ thân thiết. Nếu không đủ bản lĩnh để tránh xa thì dần dà trở thành nạn nhân của các chất gây nghiện.


Hưng kể về một tai nạn nhớ đời trong nghề chụp hình trong quán bar của mình: “Lần đó tôi đưa máy lên chụp một cô gái rất đẹp, cho dù tôi đã giơ tay ra dấu và nhận được sự đồng ý của cô ta, nhưng bạn trai cô ấy lại ghen tuông, cộng thêm tác động của rượu mạnh, nên tôi đã phải nhận một cú đấm từ bạn trai của cô ấy.”


Với những trường hợp như vậy, các thợ chụp hình chỉ biết nhịn nhục mà bỏ qua. Vì chủ quán bar-club trước sau gì cũng sẽ được thuật lại những xích mích nhỏ, to trong quán của mình. Họ không chấp nhận những thợ chụp hình đánh trả lại khách hàng, những người sẽ trả tiền cho họ.


Ðầu tiên, các thợ chụp hình sẽ đầu quân cho các công ty chuyên tổ chức sự kiện. Dần dà cùng với sự quen biết, giới thiệu họ móc nối với chủ quán bar-club để ra làm riêng.


Anh Hưng, có gần 1 năm làm thuê cho các công ty tổ chức sự kiện nói: “Những công ty tổ chức sự kiện là kẻ ăn trên ngồi trốc. Với một show chụp hình cho các sự kiện trong bar-club, người chủ sẽ trả cho các công ty ít nhất là 2 triệu/show. Nhưng khi đến tay chúng tôi chỉ còn có 700 ngàn/show. Với 700 ngàn đó chúng tôi phải thức cả đêm để kịp giao hình cho công ty và chủ bar-club.” Quả thực, chỉ có những tay thợ chụp ảnh có chút quen biết, mối mai mới trực tiếp làm việc với chủ bar-club. Còn những người mới vào nghề đều phải thông qua những công ty tổ chức sự kiện và bị họ “bóc lột” một cách không thương tiếc.


Như đã nói trên, công việc chụp hình trong các bar-club không đòi hỏi bằng cấp, học vấn. Vậy nên càng ngày càng có nhiều người nhảy vào công việc này. Trung bình mỗi tháng có từ 5-6 show họ đã dễ dàng bỏ vào túi hơn 10 triệu. Có rất nhiều tay máy trẻ sẵn sàng phá giá để được nhận chụp hình trong các quán bar. Từ đó đã làm cho giá thành của các thợ chụp hình trong bar-club hạ xuống thấp. Họ tự hại lẫn nhau.










Bar là mảnh đất màu mỡ của các hãng rượu và thuốc lá. (Hình: Thanh Tú/Người Việt)


Nghề chụp hình trong quán bar-club cũng gặp đủ thứ rắc rối. Theo kinh nghiệm của Hoàng, quán bar-club nào cũng có những phòng VIP, đó là nơi mà quan chức, an ninh, công an, đầu gấu, giới thượng lưu thường vào để chơi bời.


Với họ, những ống kính, máy quay là điều cấm kỵ. Họ không muốn việc chơi bời của mình bị bêu riếu trên mạng, trên báo. Thành ra, thợ chụp hình phải biết khôn mà tránh xa những phòng VIP nếu không muốn bị đánh hoặc bị chủ đuổi.

Chị Faustina Bùi Nguyệt Nga

Bà Maria Faustina Bùi Nguyệt Nga

Hai phe thân, chống chính phủ đối đầu tại Ai Cập


CAIRO (Reuters) –
Ðảng Huynh Ðệ Hồi Giáo kêu gọi dân chúng kéo đến biểu tình bày tỏ sự ủng hộ dành cho Tổng Thống Mohamed Mursi trước dinh tổng thống ngày Thứ Tư, trong khi phía đối lập cũng dự trù mở ra cuộc biểu tình chống lại, tạo sự lo ngại sẽ có đụng độ trong cuộc khủng hoảng liên quan đến cải tổ Hiến Pháp.









Người biểu tình Ai Cập đứng bên ngoài một tòa nhà của đảng Huynh Ðệ Hồi Giáo bị đốt cháy ở Ismailia, Ai Cập. (Hình: Stringer/AFP/Getty Images)


Ông Mursi quay lại làm việc tại dinh tổng thống một ngày sau khi nơi này bị dân chúng biểu tình bao vây để phản đối ý định của ông nhằm nhanh chóng thông qua một bản Hiến Pháp mới qua cuộc trưng cầu dân ý ngày 15 Tháng Mười Hai tới đây.


Các nơi khác trong thủ đô Ai Cập lúc này hiện vẫn yên tĩnh dù đang có sự sôi sục trong chính trường Ai Cập sau khi Tổng Thống Mursi ban hành một sắc lệnh hôm 22 Tháng Mười Một cho ông thêm nhiều quyền hành mà Tối Cao Pháp Viện không được quyền phán xét xem có hợp hiến hay không.


Các quan sát viên chính trị cho rằng phía đối lập ít có hy vọng ngăn cản cuộc bỏ phiếu tuần tới. (V.Giang)

Lâu đài thế kỷ 18 của Pháp bị phá sập vì lầm lẫn


PARIS (AP) –
Dân chúng tại một ngôi làng ở vùng Bordeaux nước Pháp đã bàng hoàng khi nhận ra rằng tòa lâu đài có từ thế kỷ thứ 18 của họ hoàn toàn bị ủi sập vì “lầm lẫn.”


Thị trưởng làng Yvrac hôm Thứ Tư cho hay công nhân một công ty được thuê để tu bổ tòa lâu đài rộng 13,000 mét vuông và phá sập một tòa nhà nhỏ hơn trong khuôn viên nơi này đã làm ngược lại ý muốn của chủ nhân.


“Lâu đài Chateau de Bellevue là niềm hãnh diện của làng Yvrac,” theo lời cựu chủ nhân Juliette Marmie.


“Cả làng đều hết sức bàng hoàng. Tại sao một công ty xây cất có thể sai lầm như vậy?”


Nguồn tin từ giới truyền thông địa phương cho hay công ty xây cất hiểu lầm kế hoạch tu bổ của người chủ hiện nay là một doanh gia người Nga, ông Dmitry Stroskin.


Ông Stroskin đi vắng khi vụ phá lầm nhà xảy ra, tuy nhiên sau đó nói với dân làng sẽ dựng lại tòa lâu đài mới với kiến trúc y như cũ. (V.Giang)

Ðại sứ Serbia ở NATO nhảy lầu tự tử


BRUSSELS, Bỉ (Reuters) –
Ðại sứ Serbia tại NATO đã nhảy xuống từ một tầng cao khoảng 10 mét trong nhà để xe ở phi cảng quốc tế Brussels và chết đêm Thứ Hai.









Ðại sứ Serbia ở NATO, ông Branislav Milinkovic, nhảy lầu tự tử tại phi cảng quốc tế Brussels, Bỉ, đêm Thứ Hai, nguyên nhân không rõ. (Hình: NATO Photos/AFP/Getty Images)


Ông Branislav Milinkovic, 52 tuổi, chết trong lúc NATO đang có cuộc họp của bộ trưởng ngoại giao các quốc gia thành viên, tuy nhiên, theo lời các giới chức thẩm quyền thì không có liên quan gì giữa cuộc họp và chuyện ông đại sứ tự tử.


Chính phủ Serbia ca ngợi ông Milinkovic là một viên chức ngoại giao xuất sắc và loan báo đã cho mở cuộc điều tra, nhưng chưa có thêm chi tiết nào được đưa ra. Ông được cử làm đại sứ năm 2009, nhưng đã làm việc ở Brussels từ năm 2004 với tư cách đặc phái viên của liên bang Serbia/Montenegro.


Một nữ phát ngôn viên NATO nói rằng Tổng Thư Ký Anders Fogh Rasmussen “rất đau buồn về cái chết bi thảm của đại sứ Serbia.”


Văn phòng biện lý Bỉ xác định rằng đây là một trường hợp tự sát và do đó sẽ không cho mở cuộc điều tra. (HC)

Gần 300 người Philippines thiệt mạng vì bão Bopha


NEW BATAAN, Philippines (AP) –
Cha mẹ thẫn thờ tìm kiếm các đứa con mất tích của mình trong số xác người phủ đầy bùn đất, xếp thành hàng dài, được phủ lá chuối lên mặt, trong khi những người sống sót mang đồ đạc còn sót lại của họ ra phơi bên lề đường hôm Thứ Tư, một ngày sau khi trận bão lớn kéo đến làm thiệt mạng gần 300 người ở vùng phía Nam Philippines.










Một căn nhà ở New Bataan, bị bão làm hư hại. (Hình: Ted Aljibe/AFP/Getty Images)


Giới hữu trách lo ngại rằng sẽ còn thấy thêm nhiều xác người nữa khi lực lượng cứu nạn tiến vào các khu vực bị thiệt hại trầm trọng nhất hiện đang bị cô lập vì đất chuồi, lụt lội và mất liên lạc viễn thông.


Có ít nhất 151 người chết ở vùng Compostela Valley khi bão Bopha tiến vào đất liền hôm Thứ Ba, kể cả 78 dân làng và binh sĩ chết do lụt bất ngờ.


Các cơ quan cứu trợ cho hay có 284 người thiệt mạng trong vùng và 14 người chết ở các nơi khác do bão.


Khoảng 80 người bị thương do bão Bopha tại vùng New Bataan, trong khi có khoảng 319 người bị mất tích, theo lời Bộ Trưởng Nội Vụ Mar Roxas, khi đến thị sát nơi này. (V.Giang)

Starbucks sẽ mở thêm 1,500 cửa hàng tại Mỹ


NEW YORK (AP) –
Starbucks Corp., công ty cà phê lớn nhất với khoảng 18,000 tiệm ở khắp nơi trên thế giới, nói rằng theo dự tính sẽ tăng lên tới 20,000 vào năm 2014.










Trụ sở trung ương của công ty Starbucks ở Seattle, Washington. (Hình: Mark Ralston/AFP/Getty Images)


Tại Hoa Kỳ, Starbucks có 11,000 tiệm hiện nay và dự trù sẽ mở thêm 1,500 tiệm nữa trong vòng năm năm tới. Theo lời Tổng Giám Ðốc Howard Schultz, kế hoạch phát triển tại Hoa Kỳ căn cứ trên tình thế kinh doanh vững mạnh của công ty hiện nay.


Trong thời kỳ kinh tế suy thoái, Starbucks phải đóng cửa một số tiệm, trước đó, trung bình Starbucks có thêm 1,000 tiệm mỗi năm.


Doanh thu của mỗi tiệm mới mở hiện nay là $1 triệu một năm và phí tổn lập ra một tiệm Starbucks mới khoảng $450,000.


Gần đây, Starbucks tìm cách phát triển và bán thêm đồ ăn ngoài bánh ngọt, từ pastry đến sandwich. Hồi Tháng Sáu, Starbucks Corp. mua Bay Bread, LLC, ở San Francisco kể cả thương hiệu La Boulange với giá $100 triệu.


Starbucks cũng dự định mua Teavana, hệ thống có 300 tiệm trà trong các thương xá. Ông Schultz cho biết có dự định mở rộng Teavana ra ngoài các thương xá và muốn áp dụng những gì đã làm tại Starbucks vào các tiệm trà này. (HC)

Cộng đồng Công Giáo tổ chức nhạc hội Giáng Sinh



Nguyên Huy/Người Việt


 


GARDEN GROVE (NV) – Một đêm nhạc hội Giáng Sinh tưng bừng của cộng đồng Công Giáo Việt Nam năm nay sẽ được tổ chức từ 5 giờ 30 chiều đến nửa đêm Thứ Sáu, 7 Tháng Mười Hai, tại Nhà Thờ Kiếng (Crystal Cathedral), 13280 Chapman Ave., Garden Grove, CA 92840, với chủ đề “Loan Báo Tin Mừng.”









Nhà Thờ Kiếng ở Garden Grove, nơi nhạc hội Giáng Sinh sẽ diễn ra vào Thứ Sáu, 7 Tháng Mười Hai. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)


Ðêm nhạc hội Giáng Sinh này do Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam, Giáo Phận Orange, cùng Linh Mục Nguyễn Thái, linh hướng và điều hành Trung Tâm Công Giáo Việt Nam, tổ chức.


Theo tin tức được loan báo trong bản tin hàng tuần Hiệp Thông của Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam, số ra ngày 25 Tháng Mười Một, buổi đại nhạc hội này còn có sự linh hướng thánh nhạc của Linh Mục Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Tuyên và được sự chủ tọa của Giám Mục Mai Thanh Lương, giám mục phụ tá Giáo Phận Orange.


Ca đoàn Magnifica Chorale, với nhạc trưởng Trần Chúc, và ca đoàn Orange High School Concert Choir anh Chamber Singers, cùng dàn nhạc giao hưởng lừng danh với sự điều khiển của nhạc trưởng Michael Short, sẽ trình bày những ca khúc Giáng Sinh bất hủ mà chúng ta thường được nghe mỗi lần Giáng Sinh về.


Cũng trình diễn trong đêm nhạc hội Giáng Sinh này là một dàn ca sĩ nổi danh trong cộng đồng người Việt hải ngoại như Carol Kim, Tâm Ðoan, Tiến Dũng, Anh Dũng, Như Mai, Trần Ngọc, Hằng Nga, Ðoàn Phi… qua những bài Thánh Ca vượt thời gian trong kho tàng Thánh Nhạc Việt Nam.


Trong nỗi vui mừng Chúa ra đời của nhân loại hàng năm, hầu như không còn là một lễ tôn giáo của riêng các tín đồ Công Giáo, mà là niềm vui chung của mọi người. Biểu tượng niềm vui chung đó là những bản nhạc về Giáng Sinh được rất nhiều các nhạc sĩ trên khắp thế giới sáng tác trong niềm cảm hứng vô biên của mình. Nhiều bản nhạc đã đi vào “thông lệ” trong không khí Giáng Sinh.


Bên cạnh những Thánh Ca ca tụng ngày Chúa ra đời cứu rỗi nhân loại là cả một rừng nhạc Giáng Sinh mô tả tâm tình con người muốn dâng lên Chúa nỗi khổ đau của mình để “xin Chúa thấu lòng con ban cho con ơn phước.”


Ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975, có lẽ là thời gian xuất hiện nhạc Giáng Sinh phong phú, dồi dào và được phổ thông nhất. Tác giả những bản nhạc trong loại nhạc được gọi là “nhạc Giáng Sinh” có nhiều người không phải là con chiên của Chúa nên đã biến cải những giai điệu “nhà thờ” thành những giai điệu của tình cảm lãng mạn lồng trong những mối tình trắc trở.


“Lậy Chúa, con là người ngoại đạo,” “Chúa ơi, Chúa ơi, con người không đạo” nhưng lại có niềm tin rằng “có Chúa ở trên cao” nên cứ giãi bày những khổ đau, khổ đau vì tình của người ngoại đạo, khổ đau của những chia lìa chiến tranh…


Tất cả đã hình thành nên loại nhạc Giáng Sinh mà cho đến bây giờ đã gần 40 năm qua, mùa Giáng Sinh nào ở hải ngoại, người dân Việt cũng được nghe lại những khúc ca Giáng Sinh khắc đầy kỷ niệm để bồi hồi nhớ tiếc những mùa Giáng Sinh trước.


Từ hàng chục năm qua, Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam năm nào cũng tổ chức Ðêm Giáng Sinh cho cộng đồng người Việt vui chung niềm vui mừng Chúa ra đời. Những năm đầu còn tổ chức tại Trung Tâm Công Giáo, Santa Ana, khi ấy, hàng ngàn người cả tín đồ Công Giáo lẫn người ngoại đạo cũng đều đến chen chân nhau chia vui trong ngày hội Giáng Sinh. Trên sân khấu giữa trời trước Trung Tâm Công Giáo, trong giá lạnh của mùa Noel, các ca sĩ nổi danh thuộc nhiều thế hệ thay nhau gửi đến mọi người đang run rẩy trong cơn gió buốt những lời Thánh Ca êm đềm, những giai điệu du dương qua những tình ca Giáng Sinh để nhớ lại “Mùa Noel đó, chúng ta quen bên giáo đường,” “nhưng nay, mùa Noel đến rồi, mình tôi im đứng nguyện cầu, cầu cho hai đứa bên nhau…”


Ðược ít năm, những đêm nhạc Giáng Sinh không còn được tổ chức tại Trung Tâm Công Giáo nữa mà được đưa về nơi các thính đường của các trường đại học trong vùng để tránh cái lạnh thấu xương cho bà con đến tham dự. Dĩ nhiên tổ chức tại những nơi này phải chi phí nhiều hơn nên ban tổ chức đành phải bán vé.


Năm nay, Giáo Phận Orange mới mua lại được Nhà Thờ Kiếng nên ban tổ chức đã mạnh bạo tổ chức đêm nhạc Giáng Sinh cho cộng đồng người Việt ở Nam California, không kể người có đạo hay người ngoại đạo ở một nơi rất đẹp và nguy nga.


Ông Nguyễn Văn Liêm, chủ tịch Ban Thường Vụ Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam, Giáo Phận Orange, cho biết: “Ðến Tháng Sáu năm tới, giáo phận mới chính thức quản trị Nhà Thờ Kiếng, nay vẫn còn trong sự quản trị của bên Tin Lành nên tổ chức tại đây chúng ta phải tốn một số chi phí. Nhưng cho dù là ai quản trị thì khi chúng ta tổ chức cũng phải tốn kém để ban quản trị điều hành được cơ sở rộng lớn này.”


Ông Liêm cũng cho biết thêm là hai năm nay, cộng đồng Công Giáo đã tạm không tổ chức đêm nhạc Giáng Sinh vì “một số khó khăn, nay thì chúng ta lại tiếp tục được để bà con trong cộng đồng có dịp vui chung mừng Chúa ra đời.”










Khung cảnh nguy nga tráng lệ bên trong Nhà Thờ Kiếng. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)


Ðược biết giáo dân người Việt ở Orange County nay đã lên tới hơn 40,000 người, sinh hoạt trong nhiều cộng đoàn khác nhau tùy theo nơi mình cư ngụ, nhưng Trung Tâm Công Giáo vẫn là nơi gặp gỡ chung trong những dịp lễ Tết. Trung tâm không phải là một giáo xứ, nhưng có một đền thánh thờ 117 Thánh Tử Ðạo Việt Nam, nên cũng vẫn có những buổi lễ trong những ngày nghỉ.


Giá vé đồng hạng $20, VIP $50 có bán tại ban chấp hành các cộng đoàn, đoàn thể, Trung Tâm Công Giáo, Le’s Florist (714) 531-0341, Nhà Sách Tự Lực (714) 531-5290, Nhà Sách Tú Quỳnh (714) 531-4248 và Trung Tâm Băng Nhạc Bích Thu Vân trong khu Phước Lộc Thọ (714) 897-4519.


 


––


Liên lạc tác giả: [email protected]

Nguyễn Tấn Dũng: Dồn sức chống ‘thế lực thù địch’ và giữ lãnh thổ’


HẢI PHÒNG (NV) –
Nhà cầm quyền CSVN thường xuyên phải đối diện với ‘sự đánh phá của các thế lực thù địch” trong khi còn “dồn lực lượng” để “bảo toàn lãnh thổ,” theo lời ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói với “cử tri” ở thành phố Hải Phòng chiều ngày Thứ Ba, 4 tháng 12, 2012.









Ông Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng bắt tay các “cử tri” trong buổi tiếp xúc tại Hải Phòng ngày 4 tháng 12, 2012. (Hình: Tuổi Trẻ)


Ông Nguyễn Tấn Dũng là một trong 9 “đại biểu Quốc Hội” của tỉnh Hải Phòng đều là đảng viên đảng CSVN. Một số nhà bình luận thời sự cho rằng ông là người nhiều thế lực và vây cánh mạnh nhất tại Việt Nam. Bởi vậy, ông vẫn không bị gạt khỏi cái ghế thủ tướng tại các lần đấu đá nội bộ rất mạnh mẽ của các phe cánh khác khi họp đảng.


Một số báo tường thuật cuộc “tiếp xúc cử tri” của ông Nguyễn Tấn Dũng ở quận Hồng Bàng nói ông nêu ra hai thế lực mà chế độ phải đương đầu lâu nay: “Một mặt là thế lực phản động, âm mưu diễn biến hòa bình, gây mất ổn định xã hội. Mặt thứ hai là sự đe dọa, xâm phạm về chủ quyền quốc gia, trên biển đảo của chúng ta,” theo báo Thanh Niên kể lại.


Ông Dũng kêu là “nước ta lúc nào cũng bị đe dọa.” Sự tồn vong của chế độ lúc nào cũng bị “những nhóm từ bên ngoài kích động biểu tình, bạo loạn, lật đổ. Chúng ta phải có lực lượng và phương án để xóa ngay những ổ nhóm từ manh nha, không chỉ là bắt giam, xử án mà cả bằng đấu tranh, thuyết phục…”


Ông nói với mấy người “cử tri” chọn lọc là khoảng giữa năm 2013, Việt Nam sẽ nhận chiếc tàu ngầm đầu tiên mua của Nga.


Dịp này, ông khoe là từ đầu năm đến nay, đảng và nhà nước CSVN đã “kỷ luật” 15,800 cán bộ đảng viên trong khi năm 2011 có 13,700 đảng viên bị kỷ luật. Ông trả lời cho các câu hỏi “một bộ phận không nhỏ” đảng viên, cán bộ tham nhũng ở đâu là “Ðây chính là bộ phận không nhỏ đó.”


Tất cả đều là đảng viên cấp thấp và chỉ có một vài đảng viên cấp tỉnh là bị “kỷ luật” mà hầu hết không bị trừng phạt hình sự. Bởi vậy, trong một cuộc họp gần đây ở Quốc Hội, ông đại biểu Dương Trung Quốc đã phải kêu chương trình kế hoạch chống tham nhũng của chế độ là “kế hoạch chống tham nhũng của ta rất hoành tráng. Súng nổ rất to nhưng chẳng ai bị thương vì đạn bắn không có đầu.”


Ngày 5 tháng 12, 2012, Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế (Transparency International) tại Ðức công bố bảng xếp hạng 176 quốc gia trên thế giới về tham nhũng thì Việt Nam xếp hạng 123, tụt 11 so với năm ngoái.


Hai tuần trước, tại Hà Nội, ông Nguyễn Tấn Dũng đã chủ tọa “Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện công tác phòng, chống khủng bố trong tình hình mới.” Ông yêu cầu các địa phương “nắm chắc tình hình, chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động khủng bố, phá hoại của các thế lực thù địch và bọn tội phạm khác, sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.” (TN)

Một lời thú nhận thật thà


Nguyễn Hưng Quốc


(Nguồn: VOA)


 


Trong những năm gần đây, trong giới lãnh đạo Việt Nam, ông Trương Tấn Sang nổi bật hẳn lên như một người cầm ngọn cờ đầu trong công cuộc chống tham nhũng. Tôi không biết gì về chuyện ông có tham nhũng hay không, có lợi dụng chức quyền của mình để làm giàu cho bản thân và cho gia đình hay không.









Văn phòng tập đoàn quốc doanh Vinashin của Việt Nam ở Hà Nội. Tập đoàn này nổi tiếng vì những thương vụ làm ăn thua lỗ và có dấu hiệu tham nhũng có hệ thống. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)


Với những chuyện ấy, thú thực, tôi hoàn toàn mù tịt. Tôi không có điều kiện để tìm hiểu và cũng không mấy tò mò tìm hiểu. Tôi chỉ biết, qua các bài tường thuật trên báo chí trong nước, thời gian gần đây, khi tiếp xúc với dân chúng, ông hay nhấn mạnh một số điểm:


Một, ông thừa nhận tham nhũng là một hiện tượng phổ biến, không phải chỉ là một con sâu, mà là cả một bầy sâu, sau đó, ấn tượng hơn, ông tuyên bố: đó là cả một tập đoàn sâu.


Hai, ông cũng thừa nhận nạn tham nhũng ấy là một đại họa của đất nước: Một con sâu đã làm rầu nồi canh; cả một bầy sâu thì đất nước còn gì nữa?


Ba, ông dõng dạc tuyên bố là ông quyết tâm chống tham nhũng. Ông hứa hẹn là “Khi thấy mình nhu nhược thì tôi sẽ làm đơn xin nghỉ […]Thậm chí khi về quê, tôi sẽ trả lại nhà cho Ðảng. Nhà tôi nhỏ thôi, 51 mét vuông, khi về hưu dứt khoát tôi không lấy một mét vuông đất nào.”


Và bốn, ông kêu gọi mọi người cùng quyết tâm chống tham nhũng.


Về ba điểm đầu, trên nguyên tắc, không có gì đáng bàn. Làm lãnh tụ, nói năng như thế cũng phải. Nó phản ánh đúng, dù chỉ một phần, thực trạng của đất nước. Và, nó dễ làm mát lòng dân, những người từ lâu đã là nạn nhân hoặc ít nhất chứng nhân của nạn tham nhũng vốn đang hoành hành và tàn phá đất nước ở mọi cấp với mức độ rất đáng sợ.


Vấn đề là: Họ có làm được những gì họ nói hay không? Trước, Hồ Chí Minh đã nói đến chuyện chống tham nhũng. Rồi Lê Duẩn. Rồi Trường Chinh. Rồi Nguyễn Văn Linh. Rồi bao nhiêu đời tổng bí thư và chủ tịch nước đã nói về cái vấn đề mà người ta cho là quan trọng và khẩn cấp ấy. Trong bài “Thế bao giờ mục đích chính là bắt sâu?” nhà văn Nguyễn Quang Lập nhắc lại một nhận định của ông Lê Khả Phiêu, lúc đang còn là tổng bí thư, khi nói về tham nhũng: “Thực trạng đã nặng lắm rồi, như căn bệnh ung thư.” Từ mấy chục năm nay, đảng Cộng sản Việt Nam chống lại tập đoàn sâu hay cái căn bệnh ung thư tham nhũng ấy ra sao? Ông Trương Tấn Sang thừa nhận “Chưa làm được bao nhiêu.”


Bởi vậy, điểm thứ tư ở trên mới là quan trọng: Làm sao để chống tham nhũng? Trong các bài phát biểu gần đây, ông Trương Tấn Sang nói đến hai biện pháp chính:


Thứ nhất, thông qua cơ chế, đặc biệt với quyết định Quốc Hội và các Ủy Ban Nhân Dân sẽ bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người lãnh đạo cao cấp nhất từ trung ương xuống địa phương. Ông hứa hẹn: “Nếu làm tốt, đúng đắn, có hiệu quả chắc chắn sẽ xoay chuyển tình thế.”


Có lẽ tự biết là chả mấy ai tin tưởng vào cái cơ chế ấy (xin lưu ý chữ “Nếu” trong câu trên), ông Trương Tấn Sang chuyển sang biện pháp thứ hai: Khuyến khích dân chúng tích cực tố giác tham nhũng.


Nhưng ở đây lại có hai vấn đề: một, làm cách nào để bảo đảm việc tố giác ấy sẽ được giải quyết thỏa đáng và có hiệu quả; và hai, làm sao để tránh tình trạng những người tố giác khỏi bị trù dập?


Ðó là hai vấn đề được dân chúng phát biểu nhiều nhất trong các buổi ông Trương Tấn Sang tiếp xúc với cử tri.Với hai vấn đề ấy, ông Trương Tấn Sang nêu lên hai biện pháp giải quyết:


Thứ nhất, ông tin vào sức mạnh của đám đông. Ông kêu gọi: “Bà con làm ơn làm phước mạnh dạn, thẳng thắn chỉ ra kẻ tham nhũng, kẻ suy thoái, biến chất trong một bộ phận lớn có chức có quyền”. Rồi ông nhắn nhủ: “Nếu người dân không tin chính quyền địa phương hoặc phát hiện nhưng không ai giải quyết thì hãy gửi đơn cho chúng tôi.” Ông khẳng định: “Một người có thể bị trù úm, mươi người có thể bị trù úm, nhưng cả dân tộc này cùng chống tham nhũng thì không có gì phải sợ.”


Thứ hai, ông tin tưởng vào lý tưởng và đạo đức. Ông kể: “Tôi biết có anh em thân cô, thế cô bị trù úm. Tôi nói thật, cá nhân chúng tôi trong quá trình làm cách mạng cũng từng bị trù dập. Họ dùng công cụ là không cho mình lên chức, lên lương.” Nhưng rồi ông đề ra ngay liệu pháp: “Mình không cần những thứ đó thì người ta không còn công cụ nào để khống chế mình.”


Hai biện pháp ấy không có gì mới mẻ. Và cũng không có gì bảo đảm là có hiệu quả. Chúng chỉ là những lời kêu gọi suông. Tuy nhiên, vấn đề là: Khi sử dụng hai biện pháp ấy, ông Trương Tấn Sang, với tư cách chủ tịch nước và ủy viên Bộ Chính Trị, một trong ba bốn người được xem là có quyền lực nhất nước, tự thú nhận là mình đã bất lực. Tại sao ông cần dân chúng tố giác tham nhũng trong khi bằng chứng của tham nhũng đã rành rành, sờ sờ, tràn lan ra đấy? Ở khắp nơi. Một số chính phủ ngoại quốc, đặc biệt là Nhật và Úc, đã từng nêu lên nhiều trường hợp tham nhũng ở Việt Nam với những bằng chứng không thể chối cãi được, tại sao ông không sử dụng chúng để trừng trị tham nhũng? Ông nói đến sức mạnh của lý tưởng và đạo đức, hai yếu tố giúp người ta vượt qua sự sợ hãi khi đương đầu với tham nhũng, nhưng tại sao chính ông lại vẫn chỉ dám nói đến “đồng chí X” nào đó thay vì thẳng thắn vạch mặt chỉ tên cái kẻ đứng đầu trong các tập đoàn tham nhũng tại Việt Nam?


Mà không phải chỉ một mình ông Trương Tấn Sang. Cả Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng cộng sản cũng bó tay.


Tất cả đều bất lực.


Ông Trương Tấn Sang, khi hăng hái hô hào chống tham nhũng, đã thừa nhận sự bất lực ấy.

Vương Hồng Sển (1902-1996), lịch sử nhân văn miền Nam


Viên Linh


 


Mỗi lần nhắc đến nhà cổ ngoạn Vương Hồng Sển tôi lại nhớ tới di chúc của cụ – cống hiến nhà nước toàn bộ Phủ Vân Ðường, ngôi nhà to lớn ở quận Bình Thạnh, Gia Ðịnh (một viện khảo cổ và thư viện tư lớn nhất ở Việt Nam), nhưng phải lo chỗ ở cho con trai cụ, và không được di dời các thứ ở bên trong (hơn 800 cổ vật có danh sách) – mộng của cụ là nơi đó sẽ trở thành một viện bảo tàng, nơi cụ sống cả đời và gom góp cả đời biết bao quí vật, kể cả chiếc giường của Dương Quí Phi đời nhà Ðường bên Tầu (thế kỷ VII-VIII), và các đồ sứ đời Tống (thế kỷ X-XIII), không kể vô vàn những di vật lịch sử của Việt Nam, của miền Nam, của tác giả những “Thú Chơi Sách, 1 và 2, 1960”, “Sài gòn Năm Xưa, 1962”, “Sài Gòn Tả Pí Lù,” của lịch sử “Năm Mươi Năm Cải Lương, 1968” của “Hơn Nửa Ðời Hư” [!],cuốn hồi ký của cụ Vương.









Tác giả Vương Hồng Sển (1902-1996), ảnh chụp tại Gia Ðịnh một năm trước khi mất. (Hình: Lê Phương Chi)


 Hơn 15 năm sau khi cụ Vương qua đời, ngôi nhà của cụ nghe nói nay sắp sụp đổ, nó không được biến thành viện bảo tàng, đồ vật bên trong đã phát tán gần hết, không biết đi những đâu, con trai cụ đã chết, và tin mới nhất người viết nghe được trong tháng qua, là cái viện bảo tàng cụ Vương mong ước nay là nơi bán hủ tiếu, hay phở, hay đủ thứ, và bên trong đã bị/được chiếm ngụ bởi ít ra là 15 hộ khẩu khác nhau.


Vương Hồng Sển trước sau là một tác giả lớn của miền Nam, người Sa Ðéc, sống và viết ở Sài Gòn, những gì cụ viết ra là đời sống của cụ, là lịch sử biên niên từ nhỏ tới lớn, tới khi qua đời, và về những gì cụ thấy, trước và sau cuốn sách, đó là lich sử của một nền văn hóa nhân văn được viết lại bởi một tấm lòng chân thành, đơn giản, với kinh nghiệm thực tế “điền dã,” và với tâm tình ưu ái về các thế hệ sau, và vì không phải một thương gia, một chính ủy, một nhà cai trị, mà thông suốt cuộc đời sống với sách vở quí, với mỹ thuật nghìn đời, vừa chơi sách chơi cổ ngoạn vừa viết sách và thu thập bảo trì, nên lịch sử đời Vương Hồng Sển là lịch sử nhân văn Sài Gòn, lịch sử nhân văn miền Nam.


Theo phỏng vấn của Nguiễn Ngu Í, họ Vương có gốc gác ở Phúc Kiến Trung Hoa, tổ tiên di cư qua Sóc Trăng, sinh ông ở đây vào năm 1902, nhưng khi làm khai sinh rút đi hai tuổi, thành 1904, và tên ông viết là Vương Hồng Thịnh, song khi phát âm, nhân viên hộ tịch nghe ra là Sển, hóa thành cái tên đó suốt đời. Ông bà nội là Hoa Việt, cha ông lai Hoa Việt, lấy vợ Miên, nên trong dòng máu ông có cả ba chủng tộc, là Hoa Việt Miên. Họ Vương con nhà khá giả, lên Sài Gòn học trường Tây Chasseloup-Laubat, trở thành công chức trường Kỹ Thuật Á Châu ở Sài Gòn, rồi làm chánh thông ngôn hành chánh. Ông làm việc như một công chức chính ngạch ở các tòa tỉnh Cần Thơ, Sa Ðéc, trở thành một công tử hào hoa, ưa hát xướng, trọng mỹ thuật, cổ ngoạn, mua sắm ê hề, riết rồi trở thành nhân viên Viện Bảo Tàng Sài Gòn. Cô đào sân khấu Năm Sa Ðéc khét tiếng chính là bà Vương Hồng Sển. Trước năm 1963, ông trở thành giám đốc Viện Bảo Tàng thủ đô Sài Gòn, và về hưu với chức vị này. Những tác phẩm của Vương Hồng Sển thấm đượm cuộc sống thật của ông, được viết ra với văn phong sinh hoạt, trở nên linh động nhờ đối thoại (vì sinh hoạt là trao đổi, đối thoại), khác hẳn với những cuốn sách cùng đề tài, viết bởi các nhà biên khảo, hay những con mọt sách. Ðọc văn Vương Hồng Sển người ta tưởng mình đang nghe ông nói chuyện, cùng lời pha trò và những tiếng cười. Nhịp sống miền Nam, nhất là Sài Gòn, là nhịp sống của một xã hội cởi mở (xã hội nào có hải cảng mở ra đại dương phần lớn là xã hội cởi mở, vì nó tứ chiếng (bốn phương, bốn hướng tụ vào). Sài Gòn tiền chiến là một Sài Gòn xa hoa, phong phú, làm một ngày ăn một tuần, luôn luôn vang tiếng cười và tiếng sênh phách, và tiếng xe tàu ròn rã. Có thể từ đó hình dung ra văn chương Vương Hồng Sển, ở mọi chủ đề: Ngoài mấy cuốn đã kể ở trên, còn có: Phong Lưu Cũ Mới (1970), Thú Chơi Cổ Ngoạn (1971), Khảo Về Ðồ Sứ Cổ Trung Hoa (1972), Cuốn Sổ Tay Của Người Chơi Cổ Ngoạn (1972), Hơn Nửa Ðời Hư ( 1992), Nửa Ðời Còn Lại (1995)…


Người viết bài này có dịp phỏng vấn Vương Hồng Sển về một đề tài do mình chọn rồi đem hỏi ông, và một dịp khác quí báu hơn, trải qua nửa ngày với ba bậc đàn anh trong giới văn nghệ là Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Vỹ, và cao tuổi nhất, Vương Hồng Sển, nơi một ngôi chùa đã được liệt kê vào danh lam thắng cảnh của thủ đô đất nước Cộng Hòa: Phụng Sơn Tự. Ðể tưởng nhớ cụ Vương, vào ngày kỵ 9 tháng 12 năm nay, 16 năm sau khi cụ qua đời (9 tháng 12, 1996) mà di chúc bị phản bội, xin mời quí độc giả đọc đoạn văn sau đây, tôi viết từ 1999:


 


Hình như do cụ Vương Hồng Sển mà chúng tôi đã trải qua nửa ngày với nhau tại Phụng Sơn Tự, ngôi chùa cổ khoảng 200 năm, ngay tại cuối đường Lý Thái Tổ (hay Trần Quốc Toản), trong Chợ Lớn. Ðâu như năm 1970. Có mặt hôm đó, từ sáng tới chiều, là các anh Nguyễn Vỹ, Vũ Hoàng Chương, và một hai người nữa lớp tuổi tôi, lớp tuổi mà nếu không sinh hoạt với thơ văn, tôi đã không thể gọi những người đó bằng anh, xưng tôi, như tôi đã gọi. Cụ Vương, anh Nguyễn, anh Vũ nay đã không còn. Cái còn, trong nhí nhớ mờ mịt nổi trôi, là một ngày ngược về lịch sử, ngửa cổ nhìn những tàng cổ thụ bao la cao vút, thân mộc sần sùi nứt nẻ, lắng nghe một cánh phượng hoàng đáp xuống nóc chùa, và giọng tâm sự của anh Vũ Hoàng Chương.


Cụ Vương chỉ con lạch sau chùa, khuất lấp dưới những tàng cây, con lạch biến Phụng Sơn Tự thành một hòn đảo đối với khoảnh đất phía bên kia, nói:


“Dáng chừng là cái chỗ kia đó mà Nguyễn Ánh lội qua chớ còn chỗ nào cà?”


Cụ kể chúng tôi nghe về bước đường bôn tẩu của người sau này trở thành Thái tổ nhà Nguyễn, Vua Gia Long. Ông ta chạy qua ngôi chùa này, vượt con lạch kia, rồi chạy tuốt luốt xuống miền Lục tỉnh.


“Hồi đó chùa chưa có tên là Phụng Sơn Tự. Cũng chưa lớn như bay giờ. Những người nhiều chuyện thì nói rằng một hôm có con chim phượng hoàng nghỉ cánh đáp xuống nóc chùa, nên chùa mới có tên là Phụng Sơn Tự. Phụng là phượng. Sơn Tự là ngôi chùa trên ngọn đồi này,” cụ Vương nói.


Nhưng mà theo tôi, Hoàng đế là con Phụng đó. Người ta đổi tên chùa là Phụng Sơn Tự để ghi nhớ rằng Vua Gia Long đã từng đặt chân qua đây, trên đường bôn tẩu.


 


Chép lại đoạn văn và tưởng lại người xưa, người viết hình dung ra một tác giả tiền bối, và với cụ Vương, ở gần cụ nửa ngày, tôi được biết thêm nhiều, và sau này còn tới gặp cụ nữa. Một khoảnh khắc qua, có lịch sử đổi dời, và 16 năm đã qua, mọi sự đang trở thành bùn đất.


(VL – viết để nhớ chủ nhân Phủ Vân Ðường, viện khảo cổ và thư viện đã biến thành quán hủ tiếu vào thế kỷ XXI. 5 tháng 12, 2012)

Tin mới cập nhật