Ðứng trước ngõ hạnh

 


Cao Mỵ Nhân/Người Việt Utah


 


Ngõ hạnh vẫn chờ người nhổ cỏ


Ðể hoa nhân ái nở chan hòa


Tam quan buồn bã chờ năm đó


Giờ cũng như là chẳng ghé qua


 


Chim sẻ chíp chiu chào nắng sớm


Bờ lam thời khắc đổ cô liêu


Người đi năm tháng dần khôn lớn


CHÙA cũng như là tuổi mới yêu


 


Trở lại thềm lan sầu bất tận


Thơ xưa trên vách đã phai mờ


Ðọc thầm lời cũ sao hoang vận


TĂNG cũng như là bạn cõi mơ


 


Tất cả chao ôi, rồi tất cả


Còn gì trong chớp mắt trăm năm


ÐẠO TRÀNG mới đó theo muôn ngả


PHẬT cũng như là bóng cố nhân

Những mối tình thế kỷ



Cao Mỵ Nhân/Người Việt Utah


 


Cách đây mấy năm, có một vị chủ báo ở tận miền Ðông Hoa Kỳ, điện thoại hỏi thăm tôi vài chuyện, vì biết tôi thực sự quen biết với mấy nhân vật, mà cuộc đời của các nhân vật ấy, có đôi chút mơ hồ, để vô tình đi vào huyền thoại, khiến tha nhân cũng mặc nhiên… công nhận tính cách kỷ niệm phong phú, bâng khuâng… bởi nhà văn, nhà thơ tên tuổi, là người của đại chúng, tha nhân mến mộ ai thì tìm hiểu vậy thôi.


Ðiện thoại rằng:


Tôi biết bà quen với gia đình hai nhà thơ Ðinh Hùng và Vũ Hoàng Chương, vậy bà có nghe câu: “Tố của Hoàng ơi, Tố của ai?” Thế thì Tố là ai. Theo thơ Vũ Hoàng Chương kể chuyện đó đã lâu lắm rồi, nhưng tôi (vị chủ báo) vừa nhận được bài viết của một nhà văn Saigon trước 1975, nói là Tố đó di cư vào Nam năm 1954, và ngụ tại cư xá Bắc Hải, có nên đăng không?


-Bạn (vị chủ báo là phụ nữ) đăng hay không là quyền của bạn, còn tôi thì chỉ biết như vầy, cứ mỗi năm đến ngày 12 tháng 6 dương lịch, tôi thường đùa chị Thục Oanh, phu nhân thi sĩ Vũ Hoàng Chương, cũng đã quá cố ít năm nay, rằng: “Tố của Hoàng Ai” đâu rồi?


Cụ bà Vũ, lúc tôi trò chuyện, khoảng thời gian vài ba chục năm trước, nếu còn tại thế là đã quanh số trên, dưới 90, trẻ hơn cũng không thể nhỏ ngang cố thi sĩ Ðinh Hùng, vì thi sĩ Ðinh Hùng sinh năm 1920, năm nay ở tuổi 91 ông đã mất gần nửa thế kỷ nay, lại là em của cụ Thục Oanh.


-Tố bây giờ cũng thành cụ rồi, có liên lạc đâu mà biết, xưa lắm rồi, ông ấy thích làm thơ thì cứ làm, ông (thi sĩ Vũ Hoàng Chương) còn có bài ca tụng con bé đầm ở bên Tây, hồi đi họp Văn Bút trước 1975 nữa cơ mà, ôi dào, thơ thì cứ Thơ, Ðời thì cứ đời, dính dáng gì mà sợ.


-Sợ gì đâu, em hỏi cho biết thôi mà.


Mới đây, cụ thi sĩ Hà Thượng Nhân cũng mới mãn phần ở tuổi 91 trên cao nguyên San Jose, trời Thu muộn màng, ẩm ướt hơi sương, các văn nghệ sĩ thường tới, lui hiên thơ giá rét, lại có dịp làm thơ tán thán, tình tiết kỷ niệm nhớ nhung, lại được phô bày trên báo giấy, báo mạng, gia đình thì đã chu toàn lễ nghĩa tang ma, còn lại bạn thơ với mây bay, gió thổi, bâng khuâng. Nhà thơ Hà Huyền Chi từ tiểu bang Tây Bắc Hoa Kỳ trong bài phúng điếu thi lão Hà Thượng Nhân, với tất cả tấm lòng của Nhà Thơ đối với Nhà Thơ:


“Thơ không nuôi nổi nhà thơ



Nhà thơ về với hư không


Còn trên mặt báo vài dòng tiếc thương”


[Hà Huyền Chi]


Vâng, quả là vậy, nếu chỉ sống với Thơ thôi thì không biết làm sao… tồn tại được, vì thơ không nuôi nổi nhà thơ, nếu ở Hoa Kỳ không có các khoản tiền đãi ngộ tuổi già, bịnh và v.v… khác, thì chẳng biết có quý vị nào Vịn Thơ mà đứng dậy nổi, nhưng lạ quá chẳng những quý vị làm Thơ, đã đúng là Vịn Thơ đứng dậy, rồi còn khoác áo tâm tư tình cảm cho Thơ mình, thơ người để làm nên huyền thoại, chúng ta, loài người, khác muôn loài khác, là đã sống cho ta, mà còn sống cho người nữa.


Sau khi cụ thi sĩ Hà Thượng Nhân mơ màng về cõi vĩnh hằng thực sự rồi, những tay thơ của bốn phương hồ hải thi sĩ khác đang còn hiện diện ở Chốn Bụi Hồng này, nhìn nhau buồn bã, đếm gió, đếm mây, 91 lần khuê phòng tuyết giá, một vị lão thành lặng lẽ ngồi vào ghế điện toán, biên thảo đôi dòng nhắn gửi người thơ thuở trăng tròn của thi sĩ mới quá vãng Hà Thượng Nhân, không dám gọi Nàng Thơ, vì nàng thơ ấy cũng đã lên cụ cửu thập. Người thơ trăng tròn xưa là một bậc nữ lưu danh gia vọng tộc song tiểu thư sinh thơ ca nên đã ghép tên thật của nữ sĩ Hoàng Bích Dư, cùng tên thật của cố thi sĩ Hà Thượng Nhân là Hoàng Sĩ Trinh thành đôi thi khách Song Hoàng (vì cùng họ Hoàng), đồng thời tiểu thư con quan triều Huế còn ký vài bút hiệu khác như Bích Hoàng, Tương Ðàm.


Chỉ 24 giờ đồng hồ sau, nữ sĩ Tương Ðàm hay Bích Hoàng đã nhờ lưới điện chuyển qua vị lão thành (cũng là thi sĩ Ðường Thi) nêu trên, bài thơ phân ưu trước tin thi lão Hà Thượng Nhân từ biệt bạn thơ gần, xa khắp cõi.


Bài thơ phân ưu thi sĩ Hà Thượng Nhân của nữ sĩ Hoàng Bích Dư tức Bích Hoàng, Tương Ðàm, hiện nay được quý vị văn nhân, thi sĩ ở San Jose hết sức ngợi ca với hai lý do xác đáng:


Thứ nhất là một bài thơ chia buồn ý tình trọn vẹn nhất, ngôn từ đầy đủ tính chất lễ nghĩa, tình thơ không quá đà lãng mạn, xưng hô không lệch lạc nhân cách, mà vì cả hai cụ thi sĩ kẻ ở, người đi đều đã tròn vẹn tình cảm, gia đạo, địa vị xã hội v.v… mặc dầu kỷ niệm xưa vẫn trân quý.


Thứ hai là một mối tình thơ có chiều dài năm tháng, đậm đà, mà không dẫn tới điều tắc trách, xem như mối tình thế kỷ.


Tôi vốn hoàn toàn i tờ về máy điện toán, chẳng biết cái mạng lưới điện nó mang hình thức, nội dung thế nào. Ðược bạn hữu thân tình in từ net ra những bài bản cảm thấy không thể thiếu, tất nhiên là những tuyệt phẩm kiểu Hai Sắc Hoa Ti Gôn của TTKH, nay thơ cũ Tiếng Khóc Ðêm Tân Hôn của Tương Ðàm Nữ Sĩ viết năm 1943, và bài thơ phân ưu thi sĩ Hà Thượng Nhân quá cố 11 tháng 10, 2011 của bà thật… tuyệt tác. “Tiếng Khóc Ðêm Tân Hôn” là 10 bài thơ thất ngôn bất cú, nữ sĩ Tương Ðàm viết gởi nhà thơ Hà Thượng Nhân từ thời tiền chiến (1943), thời điểm của khá nhiều huyền thoại Hà Thành Thanh Lịch xa xưa, nào là Trống Mái, Tuyết Hồng Lệ Sử v.v… nếu như Trống Mái cho là chuyện hư cấu diễn tả thiếu nữ thành thị, cứ nhất định thích anh chàng ở làng chài ven biển khơi, chỉ vì anh ta to lớn, vạm vỡ, như thần trùng bão táp, thì Tuyết Hồng Lệ Sử lại là chuyện thật.


Tiểu thư Hà Nội Tuyết Hồng chính là chị gái thứ hai của nữ sĩ Thục Oanh, phu nhân thi sĩ Vũ Hoàng Chương, tức là chị nhà thơ Ðinh Hùng, được cụ cố họ Ðinh đã từng làm tham sứ ngoại giao Việt Nam đầu thế kỷ 20 ở Philippines, cho nên tờ khai sinh của nữ sĩ Ðinh Thục Oanh ghi nơi sinh là Philippines, thế thì Ðinh lão bá quyết định gả tiểu thư Tuyết Hồng cho bậc nam nhi trẻ tuổi, tuấn tú Võ An Ðạm (em cụ Võ Anh Ninh), thật môn đăng hộ đối. Nhưng ngày hôm sau đám cưới, cô dâu Tuyết Hồng sẽ về với chú rể Võ An Ðạm, thì ngày trước, tiểu thư Tuyết Hồng đã gieo mình xuống Hồ Tây, thiên tình sử đầy lệ này, tôi vẫn nghĩ là cũng ở trong bảng phong thần dân gian ngoài Bắc.


Nào ngờ, đầu năm 1984, chị Thục Oanh rủ tôi từ Úc Viên theo đường Nguyễn Minh Chiếu tới nhà cụ Võ An Ðạm, vốn cũng là một nam tài tử không chuyên thời trước 1975 ở Saigon, sau khi thăm viếng, hai chị em ra về, chị tâm sự với tôi: Lẽ ra bà Tuyết Hồng là chị của mình, làm vợ ông ấy (Võ An Ðạm) đấy, nhưng bà Tuyết Hồng tự trầm ở Hồ Tây, tạo nên câu chuyện Tuyết Hồng Lệ Sử, Cao Mỵ Nhân có nghe không?


-Có chứ ai mà ngờ thế, còn cụ bà Võ An Ðạm bây giờ thế nào?


-Thì mình vẫn tới lui thăm hỏi, sắp đi xuất ngoại rồi, ông bà ấy tử tế lắm.


Rồi thời gian rất ngắn sau, chỉ còn vài ngày nữa hai cụ Võ An Ðạm sẽ lên đường đi Mỹ hay Canada, tôi không nhớ, thì một buổi trưa mùa hạ năm đó, cụ Võ An Ðạm đã ngủ quên không dậy nữa, cụ bà phải vô nhà thương, và thân nhân tạm giấu chuyện cụ Võ mất, sau vẫn tiễn cụ bà ra sân bay xuất ngoại, đồng thời vẫn quàn cụ Võ An Ðạm ở chùa Ðại Giác, rồi một người cháu họ lo tang ma cho cụ.


Những thư mục Tiếng Khóc Ðêm Tân Hôn, Tuyết Hồng Lệ Sử v.v… là những tình tiết truyện, kiểu: Áo Người Trinh Nữ, Ðám Cưới Ma v.v… thực đấy mà hư cũng đấy. Chuyện đời đơn giản đã chẳng giản đơn, thì chuyện Thơ Tình Thơ lại càng huyền hoặc. Nếu cuộc đời, không có huyền thoại thì văn chương giảm đi phần nào ý nghĩa phong phú, thơ ca giảm đi nhiều mơ mộng, mỹ miều.

Luật Hỏi Ngã

 


Phan Lục/Người Việt Utah


 


Vì luật dùng dấu hỏi ngã có khác nhau giữa các loại từ tiếng Việt nên trước hết, ta phải biết phân biệt hai loại từ: từ Hán Việt và từ thuần Việt. Từ Hán Việt là những từ vay mượn trong tiếng Hán nhưng đọc theo giọng Việt. Từ thuần Việt hay còn gọi là từ Nôm tức là những từ thuần túy của người Việt Nam hoặc do người Việt Nam tạo nên với những tiếng mượn của nước ngoài nhưng đã Việt hóa.



 


Phân biệt tiếng Nôm và tiếng Hán Việt


 


– Từ Nôm là những từ nói sao hiểu vậy. Ví dụ: con dao, tờ giấy… Còn từ Hán Việt thường phải dịch ra bằng một từ thông dụng (tiếng Nôm) cho dễ hiểu hơn. Ví dụ: học đường (trường học), phi cơ (máy bay), bệnh nhân (người bịnh), v.v… Tuy nhiên, cũng có một số từ Hán Việt không dịch ra từ thông thường được nhưng vẫn có thể hiểu được. Ví dụ: thành công, hạnh phúc, kết quả, v.v… Có những tiếng đơn Hán Việt được dùng làm tiếng Nôm gọi là tiếng Nôm gốc Hán Việt. Ví dụ: lãnh, danh, đạo, pháp, lý, huyết, v.v…


– Nhìn ngữ pháp, ta có thể dễ dàng phân biệt được từ Nôm hay từ Hán Việt. Nếu từ đứng trước là hình dung từ làm rõ nghĩa cho danh từ đứng sau thì đó là từ Hán Việt (ngữ pháp giống tiếng Tàu). Ví dụ: thắng cảnh (cảnh đẹp), yếu điểm (điểm trọng yếu), tiểu quốc (nước nhỏ), v.v… Nếu hình dung từ đứng sau làm rõ nghĩa danh từ đứng trước thì đó là từ thuần Việt (từ Nôm). Ví dụ: cảnh đẹp, điểm yếu (nói theo tiếng Hán Việt thì là nhược điểm – chú ý: yếu điểm và điểm yếu không cùng nghĩa).


– Nhìn từ ghép để phân biệt: tiếng Nôm ghép với tiếng Nôm, ví dụ: tươi tốt, mỏi mệt, v.v… và tiếng Hán Việt ghép với tiếng Hán Việt, ví dụ: họa sĩ, học sinh, giáo sư, v.v… Do đó, nếu biết chắc một từ là Nôm hay Hán Việt thì có thể quả quyết từ kia là Nôm hay Hán Việt. Ví dụ: biết ‘tốt’ là từ Nôm thì quả quyết từ “tươi” cũng là từ Nôm. Như vậy, “hóa” là từ Hán Việt thì chỉ có thể ghép với từ Hán Việt như “nông thôn hóa,” “xích hóa” v.v… chứ không thể ghép với từ Nôm như “mặn hóa,” “sạch hóa” v.v… (“mặn” và “sạch” là từ thuần Việt thì không thể ghép với “hóa” là từ Hán Việt). Cũng vậy, từ “siêu” là từ Hán Việt thì chỉ có thể ghép với từ Hán Việt như “siêu đẳng”, “siêu cường” v.v… chứ không thể ghép với từ Nôm như “siêu mỏng,” “siêu đẹp”…. (“mỏng”, “đẹp”… là từ Nôm)


– Nhìn thấy một từ có nghĩa nhưng không thể đứng một mình mà phải ghép với một từ khác mới có nghĩa đầy đủ thì đó là từ Hán Việt. Ví dụ: quốc gia, sơn hà, quan sát v.v… Khi gặp một từ ghép mà cả 2 tiếng đều mơ hồ về nghĩa, nhất là đối với những người có trình độ Hán học hạn chế, thì đó là từ Hán Việt. Ví dụ: cảnh giác, hy sinh v.v…


– Ðặc biệt trong từ thuần Việt có dạng tiếng đôi lấp láy là một cặp từ gồm một tiếng có nghĩa ghép với một tiếng không có nghĩa hoặc do hai tiếng không có nghĩa ghép lại nhưng giọng nghe hài hòa, thuận tai, dễ đọc. Ví dụ: mát mẻ, dễ dãi, đẹp đẽ v.v… (một tiếng không có nghĩa) – châu chấu, lải nhải, rù rì v.v… (hai tiếng không có nghĩa).


 


Dấu hỏi ngã trong từ Hán Việt


 


Như đã nói ở trên, nhận biết một từ Hán Việt thì sẽ rất có lợi vì phân biêt được một phần khá lớn những từ mang dấu hỏi ngã trong nhóm từ Hán Việt. Ta có thể tóm tắt luật hỏi ngã trong từ Hán Việt như sau:


1) Những từ Hán Việt bắt đầu bằng các phụ âm d, l, m, n, nh, ng, v thường viết dấu ngã (trừ một ngoại lệ duy nhất là ‘ngải cứu’). Ðể cho dễ nhớ 7 phụ âm đầu của các chữ viết dấu ngã thì nên học thuộc lòng câu sau đây:


“Mình Nên NHớ Vũ Là Dấu NGã”


Tuy nhiên, xin đừng nhầm lẫn từ Hán Việt với những từ Nôm sau đây: Lả (lả lơi, ẻo lả) – Lảng (lảng vảng) – Lảnh (lảnh lót) – Lảo (lảo đảo) – Lẩm (lẩm rẩm) – Lể (lể ốc) – Lưởng (lưởng thưởng) – Mả (mồ mả) – Mải (mải miết) – Mảnh (mảnh mai) – Mẩn (mê mẩn) – Mẫu (mẩu chuyện) – Ngả (ngả quỵ) – Ngủ (đi ngủ) – Nhả (nhả mồi, nhả tơ) – Nhãn (nhan nhản) – Nhỉ (vui nhỉ?) – Nhủ (khuyên nhủ) – Dẩn (dớ dẫn) – Dỉ (dỉ hơi) – Vãng (lảng vảng) – Vỉ (vỉ lò, vỉ bánh) – Viển (viển vông) – Vỏ (vỏ ốc, vỏ sò).


2) Ngoài các trường hợp kể trên, những từ Hán Việt bắt đầu bằng nguyên âm hoặc các phụ âm khác thì viết dấu hỏi, trừ những trường hợp ngoại lệ cần nhớ thuộc lòng:


b: bãi (bãi thị, bãi công, bãi nại) – bão (bão hòa, hoài bão) – bĩ (bĩ vận)


c: cữu (linh cữu) – cưỡng (cưỡng bách, cưỡng đoạt)


đ: đãi (bạc đãi, đãi bôi) – đãng (khoáng đãng, đãng tử) – đễ (hiếu đễ) – điễn (điễn khí) – đỗ (chim đỗ quyên, họ Ðỗ)


h: hãi (kinh hãi) – hãm (hãm hại) – hãn (hãn hữu) – hãnh (hãnh diện, kiêu hãnh) – hoãn (hoãn binh, hoãn đãi) – hỗ (hỗ trợ) – hỗn (hỗn tạp, hỗn mang) – huyễn (huyễn hoặc, huyễn mộng) – hữu (bằng hữu, hữu hảo, hữu lý)


k: kĩ (ca kĩ, kĩ sư, kĩ thuật, kĩ xảo)


ph: phẫn (phẫn nộ) – phẫu (phẫu thuật)


q: quẫn (quẫn bách) – quỹ (quỹ đạo, quỹ tích, ngân quỹ)


s: sĩ (bác sĩ, viện sĩ) – suyễn (suyễn tức)


t: tễ (dược tễ, dịch tễ) – tiễn (tiễn biệt) – tiễu (tiễu trừ, tuần tiễu) – tĩnh (tĩnh mịch, tĩnh dưỡng) – tuẫn (tuẫn tiết)


th: thuẫn ( mâu thuẫn) – thũng (phù thũng)


tr: trãi (tên một loài thú hoang đường, Nguyễn Trãi) – trẫm (tiếng vua tự xưng, trẫm triệu) – trĩ (ấu trĩ, trĩ nội, trĩ ngoại) – trữ (dự trữ, lưu trữ, tích trữ)


x: xã (xã hội, xã tắc)


 


Dấu hỏi ngã trong từ thuần Việt


 


Tiếng thuần Việt được chia thành 2 nhóm giọng (thanh):


– giọng Bổng gồm các giọng Không (dấu), Sắc và Hỏi.


– giọng Trầm gồm các giọng Huyền, Nặng và Ngã.


Dựa vào các bậc trầm bổng mà ta có thể rút ra luật hỏi ngã của từ thuần Việt như sau:


1) Khi hai tiếng Nôm có thể lấp láy với nhau thì hễ một tiếng không dấu hoặc có dấu sắc thì tiếng kia phải mang dấu hỏi và ngược lại, hễ một tiếng mang dấu huyền hoặc dấu nặng thì tiếng kia phải mang dấu ngã. Ví dụ: đẹp đẽ, mới mẻ, vui vẻ, vội vàng, vẻ vang, lạnh lùng, lững lờ, ngất ngưởng, thỉnh thoảng, đo đỏ, lở lói, vắng vẻ, nhão nhoẹt, lạnh lẽo, não nùng, ỡm ờ, v.v… Trừ ngoại lệ: bền bỉ, chàng hảng, hoài hủy, niềm nở, ngoan ngoãn, phỉnh phờ, sành sỏi, trễ nải, vỏn vẹn, ẻo ẹo, se sẽ, luồn lỏi, sửng sờ, v.v…


2) Khi một từ có thể chuyển thanh điệu sang từ không dấu hoặc có dấu sắc nhưng không thay đổi ý thì chắc chắn mang dấu hỏi; ví dụ: tan, tán, tản – len, lén, lẻn – can, cản – không, khổng – quăng, quẳng v.v… Ngược lại, khi một từ có thể chuyển sang thanh huyền hoặc thanh nặng thì chắc chắn mang dấu ngã; ví dụ: lời, lãi lợi – ngờ, ngỡ, ngợ – dầu, dẫu – cùng, cũng – chưa, chửa – đà, đã – đậu, đỗ – giẵm, giậm – trĩu, trịu – chõi, chọi – ngẫm, gẫm v.v…


Cũng tương tự, tiếng Nôm chuyển gốc từ tiếng Hán Việt thì phải theo dấu giọng của tiếng gốc. Ví dụ: hô (hấp) > thở – tu > sửa – giá (thú) > gả – giả (độc giả) > kẻ – hàng (hóa) > hãng (buôn) – dĩ (vãng) > đã – kỵ (mã) > cỡi v.v… Tuy nhiên, phải trừ những ngoại lệ: gõ/khỏ – hõm/hóm – kẻ/gã – rải/vãi – mặn/mẳn – làu/ lảu (thuộc) – lử/luỗi (mệt) – phồng/phổng – ngõ/ngả – quãng/khoảng – rõ/tỏ – trội/trổi – lõm/lóm.


3) Khi hai tiếng đứng gần nhau mà mỗi tiếng có nghĩa riêng thì giữ dấu riêng. Ví dụ: lú lẫn, mồ mả, mòn mỏi, trồng tỉa, ủ rũ, v.v…


4) Các tiếng nói gộp âm đều mang dấu hỏi. Tiếng nói gộp âm là tiếng gộp hai âm tiết thành một như: bà ấy > bả – ông ấy > ổng – bên ấy > bển – trong ấy > trỏng – hồi ấy > hổi – năm ấy > nẳm v.v…


5) Những từ bắt đầu bằng nguyên âm a, ă, â, e, ê, i, y, o, ô, ơ, u, ư đều mang dấu hỏi. Ví dụ: ả đào, ẳng ặc, ẻo lả, im ỉm, ỉa, ấp ủ, ỷ v.v… Trừ ngoại lệ: ẵm, ẽo ẹt, ễ, ĩnh, õng, ỡm, ĩ, ũi, ưỡn.


6) Các tiếng vay mượn từ tiếng nước ngoài và đã chuyển sang giọng tiếng Việt thì thường viết với dấu hỏi. Ví dụ: mỏa (moi = tôi), lủy (lui = nó), đi rỏn (ronde = đi tuần quanh), sở cẩm (commissaire de police = sở cảnh sát), làm cỏ vê (corvée = làm tạp dịch) v.v…


 


Vài quy tắc khác


 


– Các chữ là trạng từ đều mang dấu ngã. Ví dụ: cũng, đã, nữa v.v…


– Các chữ là tên quốc gia hoặc họ cá nhân đều mang dấu ngã. Ví dụ: A Phú Hãn, Bão Gia Lợi, Mỹ, v.v… (ngoại lệ: Bỉ) – Ðỗ ngọc Hà, Nguyễn văn Dũng, Lữ Văn Thiện, Sữ Duy Nhân, Giãn Thành Chung, Quãng Trọng Vịnh, Mã Giám Sinh, Vũ Ðại Phu v.v…


Tóm lại, viết sai dấu hỏi ngã sẽ làm sai lạc cả câu văn, có thể đưa đến sự hiểu lầm tai hại và làm mất giá trị của câu văn. Ðọc một đoạn văn viết sai dấu hỏi ngã cũng khó chịu như ăn miếng cơm mà gặp hạt sạn. Xin đơn cử một vài trường hợp viết sai dấu hỏi ngã làm thay đổi ý nghĩa câu văn như sau:


– Viết ‘mở mặt mở mày’ có nghĩa là được sống đàng hoàng, hãnh diện và tự hào với xung quanh nhưng nếu viết ‘mỡ mặt mỡ mày’ thì có thể hiểu là mặt mày có mỡ (mập).


– ‘Nhân sĩ’ (chữ sĩ với dấu ngã) có nghĩa là người trí thức có danh vọng trong xã hội nhưng nếu vô tình viết ‘nhân sỉ’ (chữ sỉ với dấu hỏi, có nghĩa là sỉ nhục) thì ý nghĩa sẽ bị đảo ngược.


– ‘Sửa chữa’ (sửa với dấu hỏi và chữa với dấu ngã) có nghĩa là sửa sang cái gì bị hư hỏng nhưng nếu viết ngược lại là ‘sữa chửa’ (sữa dấu ngã và chửa dấu hỏi) thì có thể hiểu là sữa của người đàn bà đang mang bầu.


Vì vậy, việc phân biệt dấu hỏi và dấu ngã thật khó khăn nhưng rất cần thiết để nâng cao trình độ hiểu biết về chuẩn mực ngôn ngữ của tiếng Việt. Muốn đạt kết quả tốt trong việc viết văn và giữ gìn cho tiếng Việt được trong sáng, chúng ta cần phải thực tập công phu và đều đặn trong việc áp dụng luật hỏi ngã. Làm sao cho việc viết dấu hỏi ngã trở thành thói quen mà không cần phải suy nghĩ nữa.

Tôi đi quảng bá phim ‘Hồn Việt’

 


Nguyễn Ngọc Bích du ký (2)


 


Ai chả biết, tiếp thị đâu phải là nghề của tôi. Vậy mà oái oăm thay, nhân vừa rồi tôi có dịp đi công tác ở một số nơi, các anh em trong Vietnam Film Club đã giao cho tôi một công việc hoàn toàn xa lạ đối với tôi: đi quảng bá phim “Hồn Việt.” Thế là tôi lên đường.


 


Ra mắt Nhìn Lại Sử Việt 3


 


Phần Houston, tôi đã kể lại trong tuần trước. Kỳ này, tôi xin kể lại những ngày ở Cali. Như đã thưa trong đoạn trên, công tác chính của tôi tại Nam Cali lần này là vụ ra mắt tập 3 bộ Nhìn Lại Sử Việt của tác giả Lê Mạnh Hùng, có tiểu tựa là “Tự chủ II: Từ thuộc Minh đến thống nhất,” tức từ năm 1407 đến 1802.


Phục hồi từ một cơn bạo bệnh, ông bạn tôi bị bác sĩ cấm không cho đi đâu trong sáu tháng. Nên khi anh được đi, không chỉ riêng gia đình anh mừng rỡ, các bạn bè của anh cũng náo nức muốn được gặp lại anh chị để cùng chung vui. Do đó mà Tổ Hợp Xuất Bản Miền Ðông (là nhà XB bộ NLSV) đã nghĩ ra cách, tốt nhất có lẽ là tổ chức ra mắt cuốn NLSV 3 trong dịp anh và chị Lê Phan sang Mỹ kỳ này. Như vậy, vừa độc giả vừa bạn bè có thể hội ngộ với anh chị qua mấy buổi ra mắt đó trong những ngày ngắn ngủi anh chị có mặt ở Hoa Kỳ.


Thế là ba buổi được dự kiến: hai buổi dưới hình thức “mạn đàm” cho nhẹ nhõm, một ở miền Ðông (Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2012 ở Hội Cao Niên vùng Hoa Thịnh Ðốn) và một ở Nam Cali (Chủ Nhật, 21 tháng 10 ở Viện Việt Học, Westminster, CA). Xen kẽ vào giữa là một buổi ra mắt trịnh trọng hơn do các bạn của anh tổ chức tại miền Bắc Cali (Chủ Nhật, 14 tháng 10 tại Trung Tâm VIVO của nhà thơ Ngô Ðức Diễm ở San Jose): Diễn giả hôm đó gồm những bộ mặt quen thuộc trong cộng đồng như các ông Nguyễn Ðức Cường, Khương Hữu Ðiểu, Hoàng Ðức Nhã, và một bài nói chuyện xuất sắc của Tiến Sĩ Tường Vũ (dạy ở trường Ðại Học Oregon) so sánh Nhìn Lại Sử Việt của tác giả Lê Mạnh Hùng với cuốn Việt Nam Sử Lược của cụ Trần Trọng Kim.


Cả ba buổi đều được xem là rất thành công bởi không khí cởi mở, rất thẳng thắn và thân thiện giữa tác giả Lê Mạnh Hùng và cử tọa khá chọn lọc, đa phần là những thức giả thực sự quan tâm đến vấn đề sử học của nước nhà. Hình thức “mạn đàm” cũng cho phép tác giả trực tiếp trao đổi với các khách đến nghe, không phải qua trung gian của ai khác. Buổi mạn đàm ở Viện Việt Học còn cho thấy các khán thính giả đến nghe ngồi chật phòng, một số còn phải tràn cả ra ngoài hành lang. Có lẽ đây cũng là vì đài Little Saigon Radio thông báo là ngoài tác giả, còn có cả sự hiện diện của ký giả Lê Phan quen thuộc trong chương trình “Chào Bình Minh” của đài. Không ít người đến nói: “Vui quá! Chúng tôi được nghe giọng chị Lê Phan mỗi sáng trong bao nhiêu năm nay, bây giờ mới được gặp mặt.”


Tóm gọn, qua ba buổi, tác giả Lê Mạnh Hùng đã có cơ hội chia sẻ với cử tọa về quan niệm “những bước ngoặt” quan trọng trong lịch sử của một quốc gia hay dân tộc. Ông cho rằng chính những bước ngoặt này đã làm nên sắc thái và định nghĩa lịch sử của một nước như của chúng ta. Và dựa lên trên những kinh nghiệm lịch sử đó, chính chúng ta tạo nên cái căn cước chung của Việt Nam.


 


Gặp gỡ Câu Lạc Bộ Báo Chí Bắc Cali


 


Ngay ngày hôm sau, 22 tháng 10, tôi lấy xe đò Hoàng đi San Jose, nơi tôi có nhiều bạn bè và cả người nhà. Chiều cùng ngày, anh Tuấn Khanh, một tác giả đang nghiên cứu thâm sâu về cải lương, đã ra đón chúng tôi và ngày hôm sau, đã thu xếp cho tôi gặp nhà văn nhà báo Nguyễn Xuân Hoàng. Là chỗ quen biết từ khi ông định cư ở Virginia khi ông mới sang Mỹ, chúng tôi rất vui mừng gặp lại nhau. Hỏi tôi đang làm gì, tôi chia sẻ với ông là tôi đi chuyến này một phần chính cũng là để quảng bá một tin vui: Vietnam Film Club đã hoàn tất một bộ DVD rất ý nghĩa về Quốc kỳ và Quốc ca Việt Nam mang tên “Hồn Việt.”


Sau khi được xem phim 54 phút, ông Nguyễn Xuân Hoàng đã vui vẻ cho biết là ông tin tưởng đủ để sẽ viết bài giới thiệu phim “Hồn Việt” trên báo Viet Tribune của bà Trương Gia Vy và có thể cả vào trang Blog của ông trên Ðài VOA. Có mặt hôm đó còn hai anh Nguyễn Doãn Vượng và Michael Ðỗ của trường Việt Ngữ Văn Lang và ký giả Cao Sơn. Ít lâu sau, ký giả Cao Sơn lại mời được anh Hải, một bộ mặt quen thuộc ở miền Bắc Cali và nổi tiếng là có nhiều kinh nghiệm tổ chức những sinh hoạt thiện nguyện qui mô trong công đồng. Sau khi nghe tôi trình bày về yêu cầu có một buổi ra mắt DVD “Hồn Việt” ở Bắc Cali, anh Hải đã vui vẻ nhận lời. Anh hứa anh sẽ đi tìm chỗ và thông báo lại cho Vietnam Film Club sau. Anh phát biểu: “Ðây là một công tác có ý nghĩa chung cho cả cộng đồng nên tôi sẵn sàng góp một tay.”


Cũng trong tuần, tôi có dịp nói chuyện với một vài chị Trưng Vương (và cả Gia Long) ở đây cũng như đi gặp một vài người, như bà Việt Nữ, người đã sớm sủa ủng hộ Vietnam Film Club khi mới chỉ được nghe đến việc thành lập câu lạc bộ làm phim tài liệu này. Giờ được nghe là dự án đầu tiên của Vietnam Film Club đã hoàn tất, bà rất hoan hỉ và tặng tôi một số hồng (vừa hồng dai vừa hồng mềm) và Phật Thủ lấy từ vườn nhà của bà.


Có lẽ cũng nên thưa là trong hai ngày 24 và 25 tháng 10, xen kẽ giữa những cuộc gặp gỡ để quảng bá phim Hồn Việt, tôi cũng đã có dịp đi thăm ông bạn Nguyễn Ðức Cường và phu nhân Bùi Mỹ Dung là bạn của chúng tôi từ những ngày còn làm sinh viên ở New York (trong thập niên 60) và giờ là chủ hai tiệm Phở Wagon rất nổi tiếng ở đây. Sau đó, tôi cũng tranh thủ được mấy tiếng đến thăm cụ Ðặng Cao Ruyên, tác giả của ba cuốn sách về Nguyễn Du và Kiều do Tổ Hợp XB Miền Ðông Hoa Kỳ đã in ra. Nhân dịp này, chúng tôi còn bàn về cách nào tốt nhất in ra cuốn Mục lục chuyên đề về Nguyễn Du và Truyện Kiều của cụ mà giờ đây đã lên đến 5 nghìn trang.


 


Chiều Thứ Năm, 25 tháng 10, gặp Câu Lạc Bộ Báo Chí Bắc Cali


 


Vui nhất trong thời gian tôi ở Bắc Cali là cuộc gặp gỡ với Câu Lạc Bộ Báo Chí Bắc Cali do nhà báo Huỳnh Lương Thiện (báo Thằng Mõ) và nhà báo Lê Bình (Chủ tịch CLB) thu xếp để cho tôi được gặp với hơn 10 vị trong Câu Lạc Bộ.


Sở dĩ vui là vì cuộc họp diễn ra ở tiệm Hội An mà ông chủ không ai khác là Luật Sư Nguyễn Tâm, một sinh viên xuất sắc của Viện Ðại Học Cửu Long trước năm 1975. Bắt đầu buổi họp, anh Tâm đã chia sẻ: hồi đó anh theo học ở Cửu Long vì đó là một trong những trường hiếm có dạy về truyền thông đại chúng, một lãnh vực rất mới đối với VN vào thập niên 70, và anh đã biết tôi từ hồi đó.


Ðến lượt anh Lê Bình giới thiệu các thành viên Câu Lạc Bộ có mặt hôm đó. Từ nhà báo lão thành Giao Chỉ Vũ Văn Lộc đến GS Nguyễn Châu, nhà báo Nguyên Thanh, LS Nguyễn Tâm, nhà báo Huỳnh Lương Thiện, XNV Mây Lan, nhà báo Nguyễn Xuân Nam, nhà báo Duy Văn, nhà báo Vi Anh, Nhiếp ảnh gia Trương Xuân Mẫn, nhà báo Lê Bình, và một số thân hữu.


Cuộc họp mặt vui hẳn lên khi tôi nhận được ra nhiều người quen trong những vị có mặt: ông Vũ Văn Lộc đã sinh hoạt với Nghị hội trong nhiều năm, nhà báo Nguyên Thanh còn đem theo một số báo cũ với nhiều bài nói về Ðại hội Văn bút VN Hải ngoại từ năm 1997 trong đó ông ngồi chủ tọa (và cũng có nhiều hình của tôi), nhà báo Huỳnh Lương Thiện thì lại có duyên là đi học ở Nhật nhiều năm sau khi tôi cũng sang học ở Kyodai (Viện Ðại Học Kyoto) về văn học cổ đại Nhật Bản, v.v… Thành thử một lúc không khí gần như trong gia đình.


“Trong dịp nầy,” anh Lê Bình về sau tường trình trong báo Cali Today, “GS Nguyễn Ngọc Bích trình bày một số chi tiết về bộ phim Hồn Việt, do Vietnam Film Club thực hiện.”


Nhiều câu hỏi được đặt ra, và có lẽ vì tôi trả lời được tương đối cặn kẽ nên ngay tối hôm đó, sau bữa ăn, tôi đã được mời lên chương trình Radio Phố Ðêm, một chương trình radio được khá nhiều người nghe do báo Cali Today thực hiện. Phỏng vấn tôi chính là anh Lê Bình, CT Câu Lạc Bộ Báo Chí Bắc Cali, và LS Nguyễn Tâm và chúng tôi đã có nửa giờ trao đổi thật hứng thú trên đài.


Cũng trong thời gian ở San Jose, tôi được chị Ðồng Thảo của Ðài Vietnam Radio Tự Do 1500 AM phỏng vấn gần 1 tiếng đồng hồ về phim Hồn Việt vào chiều Thứ Năm, 25 tháng 10. Cuộc phỏng vấn lại được phát lại vào ngày hôm sau trong khi tôi sửa soạn lên đường về Nam Cali.

Lá thư chủ nhiệm: Giá trị lá phiếu cử tri gốc Việt

 



 


Công đồng người Việt ở Mỹ có dân số đứng hàng thứ tư trong các sắc dân gốc Á. Nhưng ảnh hưởng đến kết quả bầu cử tổng thống thì không mấy được cao. Dù vậy giá trị của lá phiếu của phe ta vẫn rất cần thiết cho mọi kỳ bầu cử. Chúng tôi xin nêu lên một số dữ kiện để cùng độc giả triển khai.


Theo vị trí địa dư, người Mỹ gốc Việt định cư đông nhất ở California và Texas. Tiểu bang California lúc nào cũng dồn phiếu cho đảng Dân Chủ. Tiểu bang Texas là thành trì của đảng Cộng Hòa. Do đó lá phiếu của số đông cử tri gốc Việt khó bề thay đổi tổng số phiếu của cử tri đoàn (electoral votes) cho sự lưa chọn tổng thống.


Tuy nhiên chúng ta phải đi bầu vì những yếu tố sau đây:


-Chứng tỏ người Việt có tiếng nói mạnh mẽ.


-Chúng ta sẽ có ảnh hưởng đến các ứng viên tiểu bang và địa phương.


-Có ảnh hưởng kết quả toàn thể cử tri (popular votes).


Do những yếu tố trên, chúng tôi rất mong quý độc giả và đồng hương tham gia đông đảo cho kỳ bầu cử ngày 6 tháng 11 năm nay.


Trân trọng


Huỳnh Sĩ Nghị


Chủ nhiệm

Nầy sinh viên ơi…!

 


Phan Văn Song


(Cựu sinh viên Saigon-Paris-Toulouse, 1961-1971)


 


1. Từ “Nầy sinh viên ơi, đứng lên đáp lời sông núi!…


Bức hình các sanh viên Việt Nam Cộng Hòa tại Paris xuống đường diễn hành ngày 27 Tháng Tư năm 1975 với bát nhang đi đầu, với những vành khăn tang, với những biểu ngữ đen… để báo cho quần chúng thế giới thờ ơ, vô cảm hay thân Cộng sản… rằng đất nước chúng tôi đang bị giặc xâm chiếm, chế độ tự do chúng tôi đang bị bức tử.









Tấm hình nầy từ nay đã và sẽ là tấm hình biểu tượng cho phong trào sanh viên Việt Nam tự do đang du học trên những đất nước tự do bạn nhưng lòng vẫn hướng về quê hương.


Cũng như bao thanh niên thanh nữ tại quê hương, sanh viên Việt Nam tự do du học phản ánh hình ảnh của tinh thần chiến tranh giữ nước của Việt Nam Cộng Hòa.


Sau Hội Nghị Genève, sau khi lãnh thổ Việt Nam bị chia cắt làm đôi, miền Nam Việt Nam, nửa nước tự do còn lại tiếp tục chiến đấu suốt 20 năm, để giữ cái phần hồn dân tộc, cái nghĩa đồng bào, cái tinh túy của người Việt tự do… Tuy phải chiến đấu giữ nước, nhưng thanh niên thanh nữ vẫn được tiếp tục trau dồi văn hóa kỹ thuật để xây dựng nước. Cần Võ để giữ nước, nhưng vẫn luyện Văn để xây dựng nước. Các trường trung học vẫn đầy học sanh; các lớp hè luyện thi Trung học, Tú tài, các lớp sanh ngữ, ngoại ngữ tràn ngập học sanh, sanh viên: nào Hội Việt Mỹ, nào Alliance francaise, nào British Council, nào Goethe Institute… Các đại học đa khoa được mở ra mọi nơi, thoạt tiên Saigon, Huế, Ðà Lạt, nay thêm Cần Thơ, Tây Ninh, và An Giang… rồi những đại học tư, rồi những đại học chuyên nghiệp, Kỹ Thuật Phú Thọ, Nông Lâm Súc,… Chánh Trị Kinh Doanh, Vạn Hạnh, Minh Ðức, Cửu Long, Tri Hành, Minh Trí… Và cứ như thế mà phát triển… Phát triển văn hóa, phát triển kỹ thuật, phát triển dịch vụ… trên gần 30 ngân hàng, hàng trăm nhà máy công ty,… sanh viên ra trường là có ngay công việc làm. Việt Nam Cộng Hòa những năm 70′ đang trên đà phát triển sôi sục,… mặc dù chiến tranh, mặc dù Cộng sản Bắc Việt vẫn hằng ngày xua hàng loạt thanh thiếu niên sanh Bắc tử Nam vượt Trường Sơn vào xâm chiếm miền Nam trù phú với đồng bằng sông Cửu Long vựa lúa miền Nam Ðông Nam Á lúc bấy giờ. Và tất cả dừng lại ngày 30 Tháng tư.


Ngày 30 Tháng Tư 1975, từ nay là Ngày Quốc Hận. Ðất nước miền Nam Việt Nam đang đà phát triển bổng khựng lại, và thụt lùi bước vào đêm tối… (chúng tôi không nói đến miền Bắc vì chưa bao giờ đi ra Bắc cả, nhưng cứ nhìn dáng vóc các cán bộ Cộng sản Bắc Việt lúc bấy giờ cũng thấy cái nghèo nàn của dân chúng miền Bắc – xin phép miễn bàn).


Ngày hôm nay, thế kỷ thứ 21, đường phố tuy có thay đổi, Việt Nam tuy có tân trang, đổi mới, cũng chẳng có chi là lạ cả! 37 năm hòa bình mà, 37 năm để xây dựng mà, 37 năm để phát triển mà, với 37 năm cầm quyền, nhà cửa phố xá cũng phải cất thêm thôi. Nhưng thực sự dân chúng có giàu thêm không? có hưởng thực sự tự do không? hay vẫn cửa quyền, cửa quan, vẫn bị bợp tai đá đít, vẫn bị hỏi giấy khi đi đường, vẫn phải đút, phải lót, như thời thuộc địa, như thời “bảo hộ.” Giáo viên phải kiếm sống thêm bằng ép học sanh học tư, cảnh sát phải “hỏi giấy” để thêm bổng lộc, có những công việc phải mua, phải thầu, cảnh sát mua khu vực ngon, hải quan mua cửa khẩu tốt, thậm chí cả cô tiếp viên hàng không phải mua con đường bay “ngon lành”…! Tất cả là buôn, tất cả là bán, từ chỗ ngồi trên chợ chòm hỏm đến bằng tiến sĩ tất cả phải mua, tất cả là thương mại.


Ngày nay, Cộng sản Bắc Việt bán cả non sông đất nước, từ những hải đảo Hoàng Sa, Trường Sa đến những đỉnh cao vùng biên giới Việt-Trung. Từ Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan đến bình nguyên Boloven. Cho Tàu thầu khai thác Bô xít, cho Tàu thầu xây dựng nhà máy than, nhà máy điện nguyên tử tương lai, cho Tàu thuê rừng để khai thác gỗ và trồng cây bạch đàn làm giấy, bất cần bạch đàn làm nghèo đất, xấu đất canh tác… tài sản Việt Nam nay còn đâu? Ðất nước tuy được mang tiếng là Việt Nam, nhưng cái tinh túy Việt Nam nay còn đâu? Bừa bãi, hỗn loạn, dơ bẩn, và “thiếu văn minh” là những tĩnh từ vẫn được nghe thấy khi hỏi một người bạn vừa đi “du lịch” Việt Nam. Còn đâu những tĩnh từ xưa như “văn hóa, kín đáo, tế nhị, hiền hòa, lễ độ…” Vì hiểu lầm cái tử tế với cái tự ti, nên văn hóa trong nước ngày nay không dạy con em Việt Nam biết hai chữ đầu môi của người tử tế là “xin lỗi” và “cám ơn”…! (Chính một người cháu du học sanh trẻ, gặp lại sau bao năm xa cách, khi mình bảo cháu xin lỗi khi đụng phải người trong một cửa hàng trả lời, “Cháu đâu có lỗi gì mà cháu phải xin lỗi, chính ông ấy đụng vào cháu chớ.” Mình buộc cháu phải xin lỗi người khách trong nhà hàng ấy. Cậu bé ấm ức nói với mình, “Bác buộc thì cháu nghe lời bác, chứ bác như vậy là sai rồi, vì bác sợ Tây, cứ thấy người Tây là mình phải xin lỗi sao?” Ngao ngán miễn bàn, chỉ biết chia sẻ với quý vị độc giả)


Việt Nam tuy rất tự hào dân tộc, “đỉnh cao trí tuệ loài người,” nhưng ngày nay cũng đành phải gởi sanh viên đi du học các quốc gia tiên tiến, hãnh diện có nhiều bác sĩ, hãnh diện có nhiều tiến sĩ nhưng nếu vẫn với cái não trạng “không xin lỗi, không cám ơn” thì e rằng vẫn còn vướng vít trong cái tự ti của một dân tộc chậm tiến. Người Việt tỵ nạn tại hải ngoại, sau bao năm tháng làm lại cuộc đời, xưa chủ nay tớ, xưa ông nay thằng, làm đủ nghề, nhà hàng chạy bàn, nấu bếp múa chảo, đứng quầy, mở tiệm tạp hóa, mở nhà ngủ, ô-ten khách sạn, làm thợ, làm thuyền, làm công, làm tư, có kẻ làm chủ vẫn nghèo, có kẻ chỉ làm công nhưng nhưng lại lắm địa, nhưng tất cả được những các con các cái “du học sanh tại chỗ,” vì vẫn còn Việt học trường Tây, ngày nay thành công! Thành công không phải là có bằng có cấp tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư, vì đó chỉ là những học vị đánh giá cái chuyên khoa nghề nghiệp thôi! Thành công là có vừa góp mặt trong xả hôi quốc gia nước bạn, vừa đóng góp trong cộng đồng người Việt tỵ nạn. Và thành công hơn nữa là những người công dân tử tế, sống trong một giai cấp trung bình, bình thường (middle class, classe moyenne), biết làm ăn, tử tế, lương thiện.


2. Qua “Nầy thanh Niên ơi!….


Bài hát “Tiếng gọi Sanh viên – La Marche des Étudiants” năm xưa do các sanh viên yêu nước Ðại Học Hà Nội đặt lời với những notes nhạc của sanh viên Lưu Hữu Phước, được sanh viên y khoa Nguyễn Tôn Hoàn trưởng ban âm nhạc đưa cho hai nữ sanh viên khoa hộ sản Phan Thị Bình và Nguyền Thị Thiều đồng ca tại Nhà Hát Lớn Hà Nội, đánh dấu, qua bài hát nầy, lời phát biểu tâm huyết của lòng yêu nước sanh viên Việt Nam trước cử tọa và thính giả người Pháp. Ðây là một đóng góp lớn của phong trào sanh viên yêu nước trăn trở trước đại cuộc giải phóng Việt Nam, trước thời Thế Chiến 2. Ðồng thời sanh viên luật khoa Trương Tử Anh cùng với các đồng chí, sanh viên y khoa Nguyễn Tôn Hoàn, sanh viên kỹ sư công chánh Cung Ðình Quỳ, sanh viên y khoa Phan Thanh Hòa,… cùng nhau với các nhà trí thức yêu nước, năm 1939, thành lập Ðại Việt Quốc Dân Ðảng và cho ra đời Chủ Thuyết Dân Tộc Sanh Tồn.


Bài ca nầy lớn mạnh nhờ phong trào sanh viên phổ biến, và Ðảng Ðại Việt và các đảng phái quốc gia cũng lớn mạnh qua bài ca nầy… Chẳng mấy năm sau, tiếng gọi sanh viên biến thành tiếng gọi thanh niên: “Nầy thanh niên ơi!…


Từ đấy “Nầy thanh niên ơi, đứng lên đáp lời sông núi… là tiếng gọi bao thế hệ thanh niên kẻ xếp bút nghiên, người bỏ hãng bỏ xưởng, bỏ gia đình đứng lên kháng chiến chống chế độ thực dân. Thế nhưng quý vị cũng đã biết, lịch sử cũng đã chứng minh, Ðảng Cộng sản Việt Nam núp dưới chiêu bài Việt Minh kháng chiến chống Pháp giành độc lập, đã lừa thanh niên Việt Nam lúc bấy giờ. Với phương tiện dồi dào của Komintern, Ðảng Cọng sản quốc tế và Liên sô nên chẳng chốc, với những cán bộ – agents prop – được đào tạo bởi Trường Ðảng tại Mạc Tư Khoa Việt Minh đã chiếm trọn phong trào thanh niên yêu nước để phục vụ cho quyền lợi Ðảng Cộng sản Ðông dương và Ðảng Cộng sản quốc tế!










Trần Văn Bá và các bạn, với vành khăn trắng, ngày 27 tháng 4, 1975, quartier Latin.


Thanh niên và quần chúng Việt Nam lúc bấy giờ vì quá ngây thơ, lầm lẫn, lẫn lộn tình yêu nước và giải phóng quốc gia, vô tình giao trứng cho ác, giao mạng cho ba Ông Tây râu xồm Các-Mác, Lênin và Xì-ta-lin giựt dây. (Ba khuôn mặt chụp nghiêng được đặt vào vị trí, thế chỗ của bàn thờ Tổ quốc – thế mà các cụ các bác các đàn anh của chúng ta vẫn bị Cộng sản lường gạt, cả tin và vái tụng cả đến ngày nay, vào thế kỷ thứ 21, bức tường Bá Linh đã sập, chủ thuyết Mác Lê đã sụp đổ tiêu tùng, tượng Xì-ta-lin đã bị giựt sập, thế mà vẫn còn tín đồ Cộng sản… thật hết ý kiến, thật là ngao ngán!


1946, Phong trào Thanh Niên Tiền Phong trong miền Nam bị Cộng sản chiếm trọn. Ngoài miền Bắc Ðảng Cộng sản bắt đầu giết các thủ lãnh các đảng phái không cùng phe với mình, đảng trưởng Ðại Việt Trương Tử Anh, đảng viên Ðại việt Phan Thanh Hòa,… các thành viên bạn bè quen biết với các nhóm cách mạng quốc gia đều bị thủ tiêu… cụ Phạm Quỳnh, nhà văn Khái Hưng, họa sĩ Cát Tường-Le Mur người sáng chế ra chiếc áo dài và cái quần y phục Việt Nam tân thời… Trong Nam Ðảng Cộng sản giết cả các đồng chí Cộng sản đệ tứ quốc tế như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Phan Văn Chánh… hay những lãnh tụ kháng chiến quốc gia như Ðức Thầy Huỳnh Phú Sổ… Nhỡ vậy, Cộng sản Việt Nam, chư hầu Cộng sản đệ tam quốc tế từ nay độc quyền giải phóng Việt Nam khỏi tay thực dân Pháp, độc quyền cướp nước và cai trị để nhuộm đỏ Việt Nam, hầu mở đường nhuộm đỏ Ðông Nam Á xuống tận đến mũi Singapore, theo chủ thuyết của Andrei Jdanov tên đệ tử ruột của Xì-ta-lin tuyên bố tại hội nghị Kominform năm 1947…


3. đến “Nầy công dân ơi!…”


Năm 1948, Pháp thật sự qua Hiệp Ước Élysée, nhìn nhận trả độc lập lại cho Việt Nam. Chiếm Việt Nam trong tay Vua Tự Ðức, nhà Nguyễn 1884, Pháp trao trả Việt Nam lại cho vua nhà Nguyễn, Bảo Ðại năm 1948. Thật sự, Vua Bảo Ðại đã lấy lại độc lập cho Việt Nam ngay vào năm 1945 rồi. Sau khi Nhật xóa bỏ sự có mặt của Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945. Việt Nam ta đã hiển nhiên “de facto” độc lập rồi. Ngày 11 tháng 3, dưới sự chứng kiến (témoignage) của quân đội Nhật, Hoàng Ðế Bảo Ðại tuyên bố lấy lại chủ quyền cho Việt Nam, bổ nhiệm Cụ Trần Trọng Kim làm thủ tướng và tuyên bố bãi bỏ tất cả những hiệp ước liên hệ đến sự chiếm đóng Pháp thuộc… Như vậy, khi Hồ Chí Minh tuyên bố ngày 2 tháng 9, sau khi quân đội Nhựt đầu hàng, và gọi rằng cướp chánh quyền để dài Thực và tuyên bố Ðộc lập là hoàn toàn sai! vì Việt Nam đã Ðộc lập rồi! Và Hồ Chí Minh chỉ làm một Coup d’État – đảo chánh cướp chánh quyền trong tay Hoàng đế Bảo Ðại và chánh phủ Trần Trọng Kim. Bằng chứng là Trần Huy Liệu đã được phái đến tiếp thu ấn kiếm, biểu tượng của nhà vua, buộc nhà vua phải từ ngôi. Năm 1948, Hiệp Ước Élysée xác nhận chánh thức, hợp pháp hóa “de jure” chủ quyền Việt Nam, hiệp ước độc lập được ký kết giữa hai nguyên thủ quốc gia Tổng Thống Vincent Auriol và Cựu Hoàng Bảo Ðại (hoàng đế đã từ ngôi năm 1945 khi Hồ Chí Minh cướp chánh quyền).


Quốc gia Việt Nam ra đời ngày 1 tháng 7 năm 1949, quốc kỳ là cờ Vàng ba sọc đỏ và Quốc ca là bài Tiếng Gọi Sinh Viên năm xưa nay trở thành bài quốc ca “Tiếng Gọi Công Dân,” và cựu hoàng là quốc trưởng.


Nầy công dân ơi đứng lên đáp lời sông núi…!


Và từ đó những công dân quốc gia Việt Nam xếp bút nghiên tòng quân be bờ chống Cộng, bảo vệ quê hương: các trường sĩ quan Việt Nam được thành lập, Trường Võ Bị Liên Quân Ðà Lạt, các trường Sĩ Quan Thủ Ðức, Nam Ðịnh, Ðập Ðá… các sanh viên, các thanh niên, các công dân tòng quân chận làn sóng đỏ. Những tiểu đoàn Khinh Quân, những tiểu đoàn Nhảy Dù được được lần lượt thành lập, được chỉ huy bởi những sĩ quan Việt Nam. Nhưng quốc gia Việt Nam vẫn còn non yếu, quân đội Pháp vừa ra khỏi Ðệ Nhị Chiến Tranh chưa hoàn toàn chấn chỉnh. Làn sóng đỏ tràn ngập, hàng ngàn chí nguyện quân Trung Cộng được tung vào Việt Nam để đè bẹp quân đội Pháp đang tìm đường rút chưn khỏi Việt Nam, với một quân đội Quốc gia Việt Nam đang còn tập tễnh.


Ðiện Biên Phủ thất thủ, vì thế giới tự do không đồng nhứt, thờ ơ không cương quyết be bờ chống Cộng. Pháp không đủ phương tiện chống giữ được làn sóng đỏ đang tràn vào Việt Nam. Ðất nước đành bị chia đôi nhưng nhờ vậy lằn ranh Quốc Cộng được phân chia rõ ràng. Một cuộc bỏ phiếu bằng chưng lựa chọn chánh tà đã diễn ra: 1 triệu đồng bào miền Bắc bỏ nhà bỏ làng bỏ xứ, chạy vào miền Nam tỵ nạn. Ðất lành chim đậu miền Nam tuy có khó khăn, nhưng vẫn cưu mang đùm bọc và tạo một khung trời yên ổn cho các anh chị em miền Bắc. Và trong không khí an lành nầy, một nền văn hóa mới, một nền văn minh mới được xây dựng: tự do, phóng khoáng, dân chủ,….


Và cũng như những sinh viên, trí thức của Ðại Học Hà Nội năm nào, những sinh viên trí thức của thế hệ sau… Trần Văn Văn, Nguyễn Văn Bông, Nguyễn Ngọc Huy cũng từ hải ngoại trở về tiếp tục đấu tranh xây dựng đất nước mới dân chủ tự do, đa nguyên… Một làn gió mới được thổi đến trên một mô hình một Việt Nam mới đang thành tựu. Trong vòng hai mươi năm, một Việt Nam tân thời, nhưng hài hòa, đàng hoàng, tử tế.. đã thành hình, chưa thật sự hoàn toàn, nhưng đã có những cơ bản về tập tục dân chủ, những nét sanh hoạt văn hóa… được tự do hơn, cởi mở hơn sáng tạo hơn… hình ảnh Việt Nam tự do đáng yêu, dễ thương ấy, từ Quốc gia Việt Nam 1949 đến hai chế độ Cộng Hòa đến ngày bức tử 30 Tháng Tư năm 1975, từ nay đã mất, và cũng không có hy vọng gì tìm lại được.


Nhưng mẫu người Việt Nam mới, chịu chơi, hùng dũng, phóng khoáng, những người Việt tự do, những chiến sĩ can trường của quân dân cán chánh của thời đại, của thế hệ Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn. Vẫn còn qua hình ảnh một Trần Văn Bá và các bạn sanh viên của Tổng Hội Sanh Viên Việt Nam Paris của Bá, họ là một điển hình. Họ đã tiếp tục cuộc chiến chống Cộng, không chấp nhận, mặc dầu cả thế giới đã bỏ rơi Việt Nam. Trong lúc cả thế giới đang ca tụng chiến thắng Cộng sản, trong lúc nhà cầm quyền Paris đang bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa, ủng hộ cái gọi là Cộng Hòa Miền Nam, mong tìm quyền lợi kinh tế, thì các sanh viên Việt Nam Cộng Hòa xuống đường để tang cho miền Nam đang bị bức tử giãy chết. Các lớp cựu sanh viên học Pháp, lớp đàn anh như chúng tôi, lúc ấy đang ở Sài Gòn cũng đang bị bỏ rơi, mỗi người trong mỗi hoàn cảnh.


Vẫn còn con người Việt Nam mới, còn cả một thế hệ người công dân Việt Nam Cộng Hòa gan dạ anh hùng. Một thế hệ dám vượt biển đi tìm tự do. Vượt trên những chiếc thuyền mong manh, đi tìm tự do trong cái chết. Hai mươi năm đấu tranh để giữ tự do, trong lửa đạn, trong tàn phá, bom đạn, không bao giờ bỏ Việt Nam, chúng tôi được dịp đi du học ngoại quốc vẫn trở để phục mặc dù trong binh lửa. Nhưng nay hòa bình rồi, hết nguy hiểm rồi, vẫn lao vào cõi chết để để không làm nô lệ độc tài, dù phải làm lại cuộc đời, chỉ để đi tìm hai chữ tự do.


Bốn người vượt biên, chỉ một người đến. Cái giá phải trả có cao đấy, nhưng cũng phải đi! Cũng như phải tạo một Quốc gia Việt Nam, người Việt Nam Cộng Hòa tỵ nạn tạo lại một quốc gia mới, nước Việt Nam hải ngoại, xuyên quốc gia, với những cái tập tục, cầu kỳ dễ ghét, nhưng cũng dễ yêu. Chưa bao giờ Việt Nam Cộng Hòa được nâng niu như vậy, chưa bao giờ những quân dân cán chánh, những chiến sĩ Cộng Hòa được cưng như vậy, lá quốc kỳ Vàng với ba sọc đỏ hiên ngang được chào hàng tuần, và từ nay, hằng tuần hầu như Chúa Nhựt nào, Thứ Bảy nào cũng có một dịp để chúng ta ca bài Quốc ca “Nầy công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi…” và lá cờ Vàng ba sọc vẫn được dịp phất phới tung bay ngạo nghễ. Ta thua trận, nhưng vẫn phất cờ ngạo nghễ, cất cao lời hát “Nầy công dân ơi…” Bọn Việt cộng thắng trận nhưng ở hải ngoại lâu lâu mới thoáng thấy lá cờ đỏ.


Việt Cộng giết Trần Văn Bá, vì Bá đã dám về Việt Nam, giết Trần Văn Bá tưởng để bịt miệng tiếng nói dân chủ tự do đâu ngờ đã biến Trần Văn Bá thành một anh hùng, một biểu tượng sự dũng cảm phấn đấu để mãi mãi tiếng có tiếng nói dân chủ tự do. Trần Văn Bá, lá cờ Vàng ba sọc, bài Công Dân Ơi, nay đã trở thành quốc ca những biểu tượng mãi mãi.


Việt Cộng dù có giết tất cả những biểu tượng sanh viên và trí thức từ cụ Phạm Quỳnh, đến các lãnh tụ sanh viên như Trương Tử Anh, Phan Thanh Hòa, Bửu Hiệp, Khái Hưng của thời sanh viên Ðại Học Hà Nội, đến Trần Văn Văn, Nguyễn Văn Bông và đến cả Trần Văn Bá của thời sau 1975 cũng không làm tắt được ngọn lửa yêu nước và quyết tâm giải trừ Cộng sản.










Phan Văn Song, Mai Thanh Truyết, Lê Tài Ðiển, những cựu sinh viên Paris thời 60-70. Còn tiếp tục… và sẽ còn tiếp tục.


30 Tháng Tư 2012, ngày quốc hận thứ 37 vừa qua. Thêm một ngày giỗ. Mà ngày giỗ, ngày kỵ là ngày ta tưởng nhớ đến những anh hùng đã nằm xuống cho Việt Nam tự do. Những anh hùng, những gương sáng, luôn luôn nhắc nhở chúng ta phải tiếp tục cái truyền thống đấu tranh chống Cộng sản chống bạo lực, chống độc tài, chống bất công và chống ngoại xâm. Truyền thống đấu tranh nhắc nhở chúng ta chỉ nên tin vào chúng ta.


Những ngày qua, tại Paris, trong cuộc bầu cử tổng thống vừa qua, cộng đồng Việt Nam lại được các đảng phái ứng cử viên ve vãn. Chúng ta phải thận trọng và chớ có quên, chánh phủ nào đã khuất nhượng yêu sách Cộng sản Hà Nội cấm cộng đồng chúng ta không được đặt bia vinh niệm cho anh hùng Trần Văn Bá ở quận 13 Paris vào tháng 9 năm 2008. Chúng ta không lựa chọn đảng cầm quyền tại Pháp, tại Mỹ tại Ðức hay tại một quốc gia nào chúng ta cư ngụ… chúng ta phải làm như các cộng đồng khác, như Cuba ở Mỹ chẳng hạn, tham gia có mặt ở tất cả các đảng chánh trị của một quốc gia, và chỉ ủng hộ đảng nào đấu tranh phụ chúng ta giúp chúng ta tìm lại tự do, độc lập và nhơn quyền cho một Việt Nam tương lai không còn người Cộng sản cầm quyền.

Giới thiệu thương mại: Hội Báo Chí Thiểu Số



 


Mai Hoàng


 


Dựa theo tiêu chuẩn “Hợp tác để yểm trợ lẫn nhau để trường tồn và phát triển,” nhóm báo chí của người thiểu số tại tiểu bang Minnesota đã thành lập một tổ chức lấy tên là Minnesota Multicultural Media Consortium (MMMC) vào năm 1988. Liên tục từ đó đến nay tổ chức này đã tạo được nhiều thành quả đáng kể, cũng như phát triển mạnh mẽ.


Có thể nói MMMC là một tổ chức đặc biệt có sự hợp tác tương kính giữa 4 sắc dân Mỹ gốc Á Châu (Asian), Phi Châu (African), La tinh (Hispanic) và Da đỏ (Native). Thành phần tham dự gồm đại diện của các cơ sở như ASIAN AMERICAN PRESS, INSIGHT NEWS, LATINO MIDWEST NEWS, CIRCLE và khoảng 12 tuần báo, nguyệt san khác.


Ngoài việc yểm trợ các hội viên về nguồn bài vở, quảng cáo – MMMC còn liên hệ đến 3 chương trình giúp người dân thiểu số. Trong lãnh vực giáo dục, MMMC cùng với Ðại Học Minnesota và 11 trung tâm điện toán công cộng nhận lãnh ngân khoản $2.9 triệu từ Bộ Thương Mại Hoa Kỳ dùng cho việc giảng dạy điện toán cho người có lợi tức thấp. Hội cũng có hợp đồng với thành phố St. Paul cho việc mời gọi tham gia các nhà thầu xây dựng và chuyên viên địa ốc thuộc thành phần thiểu số và nhất là mời người mua nhà nhắm vào những người có lợi tức thấp. Một dự án giúp huấn luyện và điều hành (capacity building) các tổ chức vô vụ lợi (Non-profit organizations) cũng được ST. Paul Foudation tài trợ.


Ðại diện tổ chức gồm 9 người thuộc Hội Ðồng Quản Trị, mà chủ tịch (Chairman) là ông Al McFarlane và giám đốc điều hành (President) là nhà báo Huỳnh Sĩ Nghị.


Ðịa chỉ của hội: MMMC


417 University Avenue W., St. Paul, MN 5510


Phone: 651-287-3091, Fax: 651-224-7032, Email: [email protected]


Websites: www.multiculturalmedia.orgwww.multiculturallife.org

Giới thiệu sách: Việt Sử Ðương Ðại

 


Trăng Vàng phụ trách


 


Ðây là ấn bản lần thứ 2 (“có tu biên kỹ”) của một cuốn sách mà tên đầy đủ là Việt Sử Ðương Ðại qua 200 câu vè bất hủ in ra vào đầu năm 2007 và đã tuyệt bản trong một thời gian kỷ lục. Do nhiều độc giả yêu cầu, tác giả đã tăng bổ hơn 100 trang so với bản in trước.


 Sách có một thư mục khá đầy đủ (12 trang) về VN dưới thời Cộng sản, và một bản sách dẫn thật chi tiết để người đọc có thể tìm về những đề tài mình muốn biết.


Cuốn sách được đón nhận nồng nàn bởi nhiều học gỉả như Minh Võ (ở Mỹ), Phan Lạc Phúc (Úc), Nghiêm Văn Thạch (Pháp), v.v…


Trăng Vàng hân hạnh giới thiệu đến đọc gỉả Việt Sử Ðương Ðại của Nguyễn Ngọc Phách.


Sách dày 458 trang. Bìa cứng.


Ấn phí 20 Mỹ kim.


Mọi chi tiết, liên hệ với:


Tổ Hợp Xuất Bản Miền Ðông Hoa Kỳ &


Cành Nam Publishers


2607 Military Rd.


Arlington, VA, 22207-USA


Tel: 703-525-4538

Tin ngắn Song Thành


Khóa Huấn Luyện Báo Chí Kỳ II


Thời gian: 2PM, các ngày Thứ Bảy, 6 tháng 10- 8 tháng 12, 2012


Ðịa điểm: Viện Báo Chí Á Châu, 417 University Ave. W., St. Paul, MN 55103


Chương trình: Ðiện toán, Báo in, Báo mạng, Truyền thanh, Truyền hình.


Lễ tốt nghiệp: 8 tháng 12, 2012 – Nhà hàng Hoa Biển


Liên lạc: ACMI (651) 224-0242


 


Lớp Việt Ngữ


Hột Thánh Tin Lành Việt Nam tại Song Thành sẽ khai giảng trở lại các lớp dạy tiếng Việt từ ngày 9 tháng 9, 2012.


Chi tiết như sau:


– Thời gian: Từ 12g30 trưa tới 1:30 chiều mỗi ngày Chúa Nhật


– Ðịa điểm: Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Minnesota, 3100 Grand Avenue S., Minneapolis, MN 55408


– Các lớp học:


Lớp Thiếu nhi 1 (từ 6-8 tuổi)


Lớp Thiếu nhi 2 (từ 9-12 tuổi)


Lớp Thiếu nhi 3 (từ 13 tuổi trở lên)


– Liên lạc: Quốc Phạm- 651-338-2152 để biết thêm chi tiết hoặc vào mạng: http://www.tinlanhmn.org/ui/home/Programvietnameseclass.aspx


 


Giọng Ca Vàng 2012


-Ngày giờ: 7PM ngày Thứ Bảy, 10 tháng 11 năm 2012


-Ðịa điểm: Grand Casino, Hinckley, MN


-Chương trình ca nhạc gồm: Lâm Nhật Tiến, Nguyễn Hồng Nhung, Hà Thanh Xuân, Cardin, Ðan Nguyên, Ðặng Thế Luân & Ban nhạc Y2K.


Ðặc biệt có sự xuất hiện của 14 thí sinh Giọng Ca Vàng.


-Liên lạc: Ðạt (612) 229-9511 hoặc Loan (612) 868-7660.


 


Ủy Ban Yểm Trợ Phim Tài Liệu Việt Nam


Qua 2 buổi thuyết trình của GS Nguyễn Ngọc Bích, chủ tịch nghị hội vào ngày 30 tháng 3, 2012 và đạo diễn phim Chu Lynh, giám đốc Câu Lạc Bộ Phim Tài Liệu Việt Nam vào ngày 3 tháng 5, 2012 tại Cơ Quan Xã Hội Việt Nam/MN, Các thiện nguyện viên trong cộng đồng Việt Nam MN dã ủng hộ dự án phim tài liệu bằng cách thành lập Ủy Ban YTPTLVN với thành phần như sau:


Trưởng ban: Phạm Văn Vy, Phó TP: Vĩnh Ðại, Thủ quỹ: Lisa lan Thái, Thư ký: Trần An, Cố Vấn: Cha Minh


Ủy Viên; Phạm Văn Yến, Dương Văn Ngự, Bùi Ngọc Tuấn, Trần Phước, Phan Thanh Tâm, Nguyễn Minh Phan, Phạm Vinh, Phạm Ðễ, Nguyễn Văn Tom, Khánh Vân và Huỳnh Sĩ Nghị.


Phiên họp ngày 16 tháng 6, 2012 ủy ban đã được tường trình nhiều tiến triển khả quan từ Ủy Ban cũng như Câu Lạc Bộ Phim Tài Liệu Việt Nam như phim Quốc kỳ và Quốc ca Việt Nam Cộng hòa đồng thời bàn thảo nhiều vấn đề then chốt về sự liên hệ giữa Ủy Ban và Câu Lạc Bộ Phim Tài Liệu Việt Nam. Phiên họp 14 tháng 7, 2012 rất khích lệ cho các sinh hoạt tương lai.


Phiên họp kế là ngày Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2012 lúc 11AM tại Cơ Quan Xã Hội Việt Nam/MN với các tài liệu và phim bản đặc biệt.


Những chương trình sinh hoạt sẽ được chọn lựa vào phiên họp Thứ Bảy, 20 tháng 10, 2012 tại CQXHVN/MN.


Ðể biết thêm chi tiết về sinh hoạt của nhóm, Xin liên lạc: Huỳnh Sĩ Nghị (651) 755-6864, [email protected]


 


Chương trình ca nhạc gây quỹ trợ giúp thương phế binh QLVNCH


Thời gian: 18 giờ Thứ Bảy, ngày 20 tháng 10 năm 2012.


Ðịa điểm: Nhà hàng Hoa Biển, 1105 University Avenue W, St. Paul, MN 55104.


Chương trinh: Ca nhạc, ẩm thực và khiêu vũ.


Vé ủng hộ: $25.00.


Liên lạc: Ông Ngô Trọng Phục (952) 457-0365 Hội Cựu Chiến Sĩ QLVNCH/MN


 


Chích ngừa Cúm miễn phí


Thời gian & Ðịa điểm:


Từ 10:30am-12:30pm, ngày 26 tháng 10, 2012, Chùa Phật Ân, 475 Minnesota Ave., Roseville MN 55113


Từ 10 am- 12:30 pm, ngày 4 tháng 11, 2012, Nhà thờ St. Columba, 1327 Lafond Ave., St. Paul, MN 55104


Từ 10:30am-12:30 pm, ngày 11 tháng 11, 2012, Nhà thờ St. Adalbert, 265 Charles Ave., St. Paul, MN 55103


Từ 2:00pm-4:00pm, 13 tháng 11, 2012, Cơ quan Xã hội VN/MN, 277 University Ave., St. Paul MN 55103


Liên lạc: Dung Phạm hoặc Pauline Phượng Nguyễn (651) 641-7270 hoặc (651) 917-2945


 


Lễ ra mắt/phát hành phim Hồn Việt


Thời gian: 5PM, Thứ Bảy, ngày 17 tháng 11 năm 2012


Ðịa điểm: Nhà hàng Hoa Biển, 1105 University Ave., St. Paul, MN 55103


Chương trình: Tiếp tân, dạ tiệc, giới thiệu chiếu phim (trích đoạn)… phát hành phim, văn nghệ.


Có sự tham gia của GS Nguyễn Ngọc Bích từ Hoa Thịnh Ðốn (WDC)


Vé ủng hộ $25, vé VIP $40


Liên lạc giữ chỗ/mua vé: Vĩnh Ðại (612) 532-9396, Huỳnh Sĩ Nghị (651) 755-6864, Trí Tang (612) 501-3613 và Phạm Ðễ (952) 281-3612.


 


Lễ Tốt Nghiệp Báo Chí


Thời gian: 5PM Thứ Bảy, ngày 8 tháng 12, 2012


Ðịa điểm: Nhà hàng Hoa Biển, 1105 University Ave., St. Paulo, MN 55104


Chương trình: Tiếp tân, dạ tiệc, văn nghệ, phát bằng tốt nghiệp.


Có sự tham gia của nhà báo nổi tiếng Phạm Trần, cựu trưởng phòng Tin Tức đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA)


Vé ủng hộ: $25/1vé


Liên lạc: Phạm Ðễ 952-281-3612, Trần An 952-564-0204, Nguyễn Văn Tom 763-300-8565, Tang Trí 612-501-3615, Huỳnh Sĩ Nghị 651-755-6864, Asian Community Media Institute 651-224-0242.

Tản Mạn Thơ Văn

 


Hãy đến với thơ


 


Mỹ Trinh


 


Ai chẳng một lần đi qua giông bão


Trên muôn chặng đường cát bụi gió sương


Có nhiều khi là quẩn khúc đoạn trường


Và nhiều lúc mộng thường thôi cũng vỡ


 


Ai chẳng những lần hoang mang lo sợ


Nếu đã lần lầm lỗi chuốc ưu phiền


Là những lúc đôi chân ta ngã quỵ


Những niềm tin rơi xuống cõi vô biên


 


Anh hãy đến thả lòng cùng ngọn gió


Gửi những gì cất giữ ở trong tim


Chiều mây bay về nơi chân trời tím


Thơ về thăm vùng kỷ niệm một thời


 


Dù ở phương trời dù xa cách biển


Nghe hơi thơ từ dòng chữ vọng về


Dù ở đâu chân trời hay góc bể


Ðời không nhau mà tựa có nhau hoài


–––––––––


 


Ngược xuôi xuôi ngược


 


Mỹ Trinh


 


Bên dòng đời xuôi ngược


Vướng chân sợi nắng chiều


Anh đi hoài không đặng


Phải chăng sợi tình yêu


 


Câu thơ em về ngược


Tháo sợi sầu khơi hương


Tìm nhau sương khói mỏng


Tìm trao hạt tình thương


 


Dẫu đường đời lối ngược


Lòng thương vẫn còn thương


Ðâu xóa nhòa anh nhỉ


Ðâu như chuyện bình thường


 


Em đi về xuôi ngược


Nhỏ lệ khóc mùa thương


Thêm lần này lần nữa


Lỡ mai đã vô thường


––––––––––


 


Ðánh cắp con tim


 


Mỹ Trinh


 


Xin lỗi anh lòng tham em đánh cắp


Trái tim anh tội nghiệp vẫn nằm đây


Bên ngực trái cùng tim em nhịp thở


Muốn trả hoài mà tim nói thơ ngây


 


Muốn trả hoài mà anh không thèm nhận


Lỡ một chiều hạt nắng ấm lên men


Lỡ một ngày mà tim quen hơi ấm


Bóng tìm hình cho em thức chong đèn


 


Rồi từng Thu mùa đi theo lá đổ


Rồi từng Ðông tim ủ ấm vần thơ


Những mùa Xuân về hoài thăm lòng phố


Hạ thân quen hạt nắng đón tình cờ


 


Thôi đừng trả thôi thì em không trả


Ở lại đi anh ngày đã thân quen


Ở lại đi anh đêm vẫn êm đềm


Tim phù phiếm tim xa hoa như đã


––––––––––


 


Em sẽ bắt đền


 


Mỹ Trinh


 


Vì em đừng để phôi phai


Hãy để tim thở giọt say men tình


Mặc mây mặc gió phiêu linh


Xin vì em giữ điệu tình ru thơ


 


Vì em hứng lá thu mơ


Rơi về tiền kiếp dấu hò hẹn xưa


Tim anh ở đó vui đùa


Buổi sáng chim chóc gió đưa mộng lành


 


Vì em nuôi hy vọng xanh


Em tưng tiu giữ tim anh trong lòng


Gió bay về phía trời hồng


Tim anh ở đó ngọt dòng thơ ru


 


Vì em cho đến thiên thu


Ướp tình huyền thoại tương tư ngọt ngào


Ðền anh nghìn giấc chiêm bao


Ðền anh vũ trụ trăng sao thơ tình…


–––––––


 


Vì em,… nuôi hy vọng xanh


 


Thơ: Chân-Trời-Chân-Mây


 


Nhận được lời, Em sẽ bắt đền,


Trái tim thoi thóp cảm thiêng linh.


Bao nhiêu ngôn ngữ đều bay sạch,


Những đắng cay nào,… thôi cũng quên!


 


Thị phi đường phố chẳng ăn nhằm,


Anh qua lề trái kiếm tìm thăm.


Em ơi lề phải niềm tâm sự,


Ðôi lứa tình Thu ngập bóng rằm!


 


Em đưa các cháu đi/về học,


Lái xe lề phải nhớ giùm nhau.


Hy vọng màu xanh ôm Trái Ðất,


Lạc quan truyền tiếp vạn đời sau!


 


Anh vẫn trong tim người thục nữ,


Có gì mơ mộng… nói nhau nghe.


Kin trang lưu bút,giòng hoan lạc,


Trang điểm đời đau… ngọc ước thề!


 


Những ước thề xưa, Anh soạn sẵn,


Chỉ chờ Em nhắn… bật đèn xanh.


Thì thơ hòa nhạc: Chung tình điệu,


Vạn hồ rưng rức sóng lung linh!


 


Thái Văn


(Vạn Hồ, Hồng Ân Tịnh Lầu, Maple Grove, 22 tháng 10, 2012)


–––––––


 


Nghe tin… heart attack


 


Thơ: Cát Ðằng


 


Bổng nghe tin dữ bàng hoàng,


Em như chết đứng hai hàng lệ tuôn.


Giữa Thu vạn vật trần truồng,


Ðời yêu, sao vội thua buồn muốn đi!


 


Lá khô ấp ủ câu gì,


“Chờ hoai chăm bón hoa Quỳ… mai sau!”


 


Cơn mưa đất thảm trời sầu,


Thưa Anh, Em vẫn ngóng đầu… theo Anh!


Có ba hoa tím chân tình,


Còn tươi, Em vẫn giữ gìn cho nhau!


 


(North Memorial Hospital, 25 tháng 10, 2012)


–––––––––-


 


Tâng tiu…


 


Thơ: Chân-Trời-Chân-Mây


 


Cảm ơn Em lắm bạn lòng,


Năm mươi năm vẫn tròn vòng… quặn đau!


Hôm qua Anh nghẹn máu đào,


Hai chân khụy xuống, nát nhầu tâm tư!


 


Quới nhân người Mỹ hiền từ,


Cõng Anh vào viện Emergency.


Hoang mang chưa trả lời gì,


Quanh mình y, dược… lương tri đông vầy.


Những người tim nghẹn vào đây,


Chớ lo, ngày một ngày hai… thì về!


 


Anh còn bay, rớt cơn mê,


Hình như tiên nữ ba bề bủa vây!


Tâng tiu chăm sóc tim này,


Giống thơ cô bạn tuyệt vời hiền minh!


Ban đêm không ngủ một mình,


Ba cô tiên trắng… giật giành tâng tiu.


 


Sáng ăn khoái cảm, ăn chiều,


Tối ôm giấc ngủ nuôi nhiều ước mơ.


Việt Nam mình biết bao giờ,


Có tiên, trong bệnh viện, chờ… tâng tiu!


 


(Xuất viện trưa Thứ Sáu, 26 tháng 10, 2012)

GS Nguyễn Mạnh Hùng nói gì về bầu cử tổng thống 2012 và chính sách Mỹ ở Biển Ðông?


Người Việt Khắp Nơi


 


Phạm Trần


 


Lời mở đầu – Cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc năm 2012 giữa đương kim Tổng Thống Dân Chủ Barack Obama và đối thủ Cộng Hòa, Cựu Thống Ðốc Massachusette Mitt Romney đã đến những ngày sau cùng trước quyết định của cử tri tại phòng đầu phiếu ngày 6 tháng 11, 2012










GS Nguyễn Mạnh Hùng


Các cuộc thăm dò dư luận cho thấy ngăn cách thắng bại giữa hai ông chỉ còn gang tấc, nhưng theo phân tích của Giáo sư Chính trị và Bang giao Quốc tế của Ðại Học George Mason, ông Nguyễn Mạnh Hùng, thì cả hai ứng cử viên đều có những ưu và khuyết điểm về đối nội và đối ngoại có thể làm thay đổi cán cân vào phút chót.


Cuộc phỏng vấn Giáo Sư Nguyễn Mạnh Hùng của nhà báo Phạm Trần dành cho bản tin Hoa Thịnh Ðốn sẽ được trình chiếu trên hệ thống đài truyền hình SBTN vào lúc 11 giờ đêm ngày Thứ Sáu (26/10/2012) giờ Ðông bộ Hoa Kỳ hay 8 giờ tối giờ California.


 


Sau đây là toàn văn cuộc phỏng vấn:


 


H: Thưa giáo sư, so với cuộc tranh cử tổng thống Mỹ 4 năm trước đây giữa hai Thượng Nghị Sĩ Dân Chủ Barrack Obama và Cộng Hòa John McCain thì năm nay ông có thấy cựu thống đốc Cộng Hòa tiểu bang Massachusett Mitt Romney là đối thủ “đáng sợ” hơn của đương kim Tổng Thống Obama không?


Ðáp: Ðúng vậy. Năm 2008, ông McCain, vì là ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng Hòa, phải biện hộ cho những thành tích ngoại giao và kinh tế tồi tệ của ông Bush, nên khó thắng. Ngoài ra, chính ông McCain cũng phạm hai lỗi lầm chính: 1) đưa bà thống đốc tiểu bang Alaska, Shara Palin, có khuynh hướng bảo thủ quá khích, làm ứng viên phó tổng thống; và: 2) đề nghị ngưng tranh cử để về Washington bỏ phiếu về luật giải quyết khủng hoảng tài chính nên bị ông Obama chê rằng McCain thiếu khả năng giải quyết nhiều việc một lúc, một đòi hỏi căn bản của người lãnh đạo nước Mỹ.


Năm nay, đến lượt ông Obama phải bênh vực cho thành tích của mình trong 4 năm qua, và thành tích ấy về mặt kinh tế không đủ để giảm mức độ thất nghiệp. Trong quá khứ không có tổng thống nào đắc cử nhiệm kỳ 2 nếu tỷ số người thất nghiệp lên quá 8%. Trong trường hợp của ông Obama, tỷ số thất nghiệp luôn trên 8% và chỉ mới xuống 7.8% vào đầu tháng nay.


H: Bây giờ nói về chương trình tranh cử của đôi bên thì giáo sư thấy Tổng Thống Obama có ưu và nhược điểm nào khi phải đương đầu với ông Romney, một người tuy không có nhiều kinh nghiệm đối ngoại nhưng mà theo các cuộc thăm dò dư luận thì nhu cầu phục hồi nền kinh tế là mối quan tâm hàng đầu của cử tri và ông Romney có lợi thế hơn ông Obama, Giáo sư có thấy như thế không?


Ðáp: Ông Romney có lợi thế vì tình hình kinh tế không khả quan của Mỹ, dù chính quyền Obama đã chặn đứng được đà tuột dốc kinh tế gây ra bởi chính quyền Bush. Trong cuộc vận động tranh cử, ông chỉ việc nhắc đi nhắc lại tỷ số người thất nghiệp và sự thất bại của chính quyền Obama trong việc cải thiện tình trạng kinh tế và thâm thủng ngân sách. Ông chỉ cần đưa ra lời hứa sẽ tạo việc làm cho thêm 12 triệu người mà không phải đưa ra chính sách, chương trình cụ thể, cũng đủ hấp dẫn đám đông.


Ðối với người hiểu biết thì ông Obama có công đưa Hoa Kỳ ra khỏi hai cuộc chiến dai dẳng, tốn kém, làm kiệt quệ ngân quỹ; có chính sách ngoại giao chín chắn, không bị người dân nhiều nước khác coi là “đe dọa cho hòa bình thế giới,” đồng thời cho phép Mỹ dư khả năng và phương tiện chuyển quân để giữ vững địa vị ở những vùng quan yếu khác, như Á Châu-Thái Bình Dương. So với Obama, Romney là người thiếu kinh nghiệm và hiểu biết về ngoại giao, đã có hành động và tuyên bố hố, như chê Anh không có khả năng tổ chức Thế Vận Hội 2012, hoặc hấp tấp chỉ trích chính quyền Obama khi chính quyền đang phải đối phó với biểu tình trước tòa đại sứ ở Ai Cập và vụ sát hại 4 nhân viên ngoại giao, gồm cả một đại sứ, ở Lybia…


Nhưng người dân Mỹ, trừ trường hợp hết sức đặc biệt, không bỏ phiếu vì chính sách ngoại giao mà vì tình hình kinh tế, nhất là nhưng vấn đề liên quan mật thiết đến cơm áo của họ


 


Các khối cử tri


 


H: Kinh nghiệm tranh cử tổng thống ở Hoa Kỳ cho thấy các cuộc tranh luận truyền hình giữa hai ứng cử viên tổng thống có ảnh hưởng rất lớn đối với khối cử tri “Ðộc Lập” nhưng ít khi thay đổi được lập trường của các nhóm cử tri thuộc thành phần thiểu số, phụ nữ, di dân và giới trẻ vì phần đông lá phiếu của những cử tri này đã được quyết định dựa trên quyền lợi riêng của từng nhóm.


Như vậy, theo giáo sư thì khuynh hướng này có thay đổi trong cuộc bầu cử tổng thống năm nay không và căn cứ vào chính sách tranh cử của hai ông Obama và Romney thì ai có hy vọng chiếm được nhiều phiếu của các thành phần này?


Ðáp: Trong tình trạng phân hóa của chính trị Hoa Kỳ hiện nay, những người ủng hộ Obama hay ủng hộ Romney là những người đã quyết định bỏ phiếu theo chiều hướng nào rồi. Số chưa quyết định còn lại rất ít, đa số là phụ nữ. Vì thế, trong những cuộc tranh luận vừa qua và trong những ngày gần đây, các ứng cử viên đều tìm cách lấy sự ủng hộ và phiếu của phụ nữ.


Các cuộc thăm dò dư luận sau các cuộc tranh luận truyền hình cho thấy chúng có ảnh hưởng đến khuynh hướng bỏ phiếu của người dân và giới phụ nữ, nhất là cuộc tranh luận đầu tiên. Sau cuộc tranh luận đầu, Romney đã thu hẹp khoảng cách ủng hộ Obama của cử tri độc lập và của giới phụ nữ.


H: Thông thường cử tri không quan tâm lắm đối với ứng cử viên phó tổng thống, nhưng có vẻ như “định kiến” này đã thay đổi trong dư luận đối với Phó Tổng Thống Joe Biden vì có thể ông sẽ là ứng viên tổng thống của đảng Dân Chủ vào năm 2016 trong khi đối thủ của ông là Dân Biểu Paul Ryan, chủ tịch Ủy Ban Ngân Sách Hạ Viện Mỹ, một người trẻ, năng động và được phe bảo thủ của đảng Cộng Hòa ủng hộ, và điều này có thể giúp liên danh Romney Ryan thắng cử, giáo sư nghĩ sao?


Ðáp: Ông Biden lúc ấy quá già để ra tranh cử tổng Thống. Ông Ryan được sự ủng hộ của phe bảo thủ quá khích, thành phần tôn giáo cực đoan, và Tea Party. Ðó là đóng góp của ông cho liên danh Romney Ryan. Ngược lại chính sách thuế khóa cứng rắn của ông – cắt thuế, giảm chi – khiến ông trở thành đe dọa cho thành phần chính trị ôn hòa ở trong cả hai đảng.


Cuối cùng thì ứng cử viên TT chứ không phải ứng viên PTT đóng vai trò quyết định.


 


Tea Party cử tri da mầu


 


H: Thưa giáo sư, trong cuộc tranh cử tổng thống năm nay tôi không thấy nói nhiều đến Tea Party và như ông cũng biết là trong cuộc tranh cử Quốc Hội năm 2010, nhiều người của Tea Party đã thắng cử vào Quốc Hội giúp cho đảng Cộng Hòa chiếm đa số tại Hạ Viện và cũng chính những người này đã gây khó khăn cho ông Obama trong hài năm qua, vậy tại sao Tea Party đã bị “lu mờ” trong cuộc tranh cử năm nay?


Ðáp: Tea Party bị coi là cực đoan, hành động của họ trong Quốc Hội cản trở sự hợp tác lưỡng đảng, đặc biệt là thỏa hiệp về ngân sách lúc đầu giữa Tổng Thống Obama và Chủ Tịch Hạ Viện Boehner. Họ vẫn còn ảnh hưởng và đưa ra được nhiều người ra ứng cử vào Quốc Hội năm nay, đồng thời cũng là một lực lượng quan trọng mà Romney cần sự ủng hộ. Vì Romney muốn lấy phiếu của phần tử ôn hòa trong đảng Cộng Hòa và các cử tri độc lập nên không muốn họ có vai trò nổi bật.


H: Nhân khi ông nói đến những tiếng nói và họat động tích cực nhưng thầm kín của Tea Party trong cuộc tranh cử hiện nay thì nhân đây tôi muốn ông cho biết về ảnh hưởng của các cư tri người da mầu trong cuộc tranh cử tổng thống vì theo các cuộc thăm dò dư luận thì chắc chắn là liên danh Cộng Hòa Romney Ryan sẽ không được phiếu của người da mầu, đặc biệt mà người Mỹ gốc Phi Châu. Ông có nghĩ như vậy không?


Ðáp: Người da mầu ở Mỹ thuộc nhiều chủng tộc khác nhau. So với người da trắng thì đa số họ thuộc thành phần yếu kém trong xã hội nên họ thường bỏ phiếu cho đảng Dân Chủ vì họ tin rằng đảng này có chính sách giúp họ hơn. Người Mỹ da đen gốc Phi Châu thường bỏ phiếu cho đảng dân chủ. Thêm vào đó, lần này cũng như lần trước, đại đa số ủng hộ cho Obama vì ông là người da đen. Romney không tranh phiếu này được. Những sắc dân da màu khác, hoặc đến từ Nam Mỹ, hoặc đến từ Á Châu thường bỏ phiếu theo quyền lợi của họ, hoặc vì lý do kinh tế, hoặc vì chính sách ngoại giao, hoặc vì lý do tôn giáo. Về phương diện kinh tế, người nghèo thường bỏ phiếu cho Dân Chủ, người giàu thường bỏ phiếu cho Cộng Hòa, tuy rằng cũng có trường hợp biệt lệ.


 


Do Thái-Iran


 


H: Ông có thể giải thích tại sao trong tất cả các cuộc bầu cử tổng thống ở Mỹ thì ứng cử viên của cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ đều rất quan tâm đến việc bảo vệ Do Thái. Tại sao, thưa giáo sư ?


Ðáp: Vì hai lý do chính. Thứ nhất là mặc cảm tội lỗi vì trong thời Thế Chiến II, Tây phương, trong đó có Mỹ, đã gần như làm ngơ để cho Hitler thi hành chính sách diệt chủng đối với dân Do Thái. Thứ hai, vì người Mỹ gốc Do Thái có ảnh hưởng lớn trong giới tài phiệt và truyền thông ở Mỹ. Vì cần tiền và cần được quảng cáo, không một chính trị gia nào muốn bị lực lượng này chống đối.


H: Trong cuộc tranh luận cuối cùng giữa hai ông Obama và Romney hôm 22 tháng 10 vừa qua, Tổng Thống Obama thì nói đe dọa đối với nước Mỹ hiện nay là “lực lượng khủng bố”, trong khi ông Romney lại coi Iran là mối đe dọa đối với nước Mỹ. Tại sao lại có sự khác nhau như thế?


Ðáp: Từ biến cố 9/11, suốt từ chính quyền Bush đến chính quyền Obama, “khủng bố xuyên quốc gia” (international terrorism) luôn được coi là mối đe dọa cho nền an ninh của Mỹ. Chương trình nguyên tử của Iran đã là mối quan tâm của Mỹ từ thời Bush, một mặt vì sợ một khi Iran có vũ khí nguyên tử, họ có thể chuyển vũ khí này cho quân khủng bố; mặt khác Do Thái coi một Iran có bom nguyên tử như là mối đe dọa sinh tử của họ. Obama nói đến đe dọa khủng bố để nhắc đến công ông đã giết được Osama bin Laden, và cũng nói đến công của ông đã chấm dứt chiến tranh ở Iraq và rút quân ở Afghanistan để có thể tái phối trí lực lượng sang vùng Á Châu-Thái Bình Dương, một trung tâm kinh tế và chiến lược đang lên. Ông Romney không có gì để khoe và cũng khó chỉ trích chính sách của Obama một cách thuyết phục nên nêu ra mối đe dọa Iran, ngầm chỉ trích Obama chưa đủ ủng hộ Do Thái hầu lấy phiếu và tiền của nhóm quyền lợi Do Thái.


 


Quốc Phòng Biển Ðông


 


H: Sau 3 cuộc tranh luận truyền hình, Ông đánh giá chính sách ngoại giao và quốc phòng của hai ông Obama và Romney giống nhau ở điểm nào và khác nhau như thế nào?


Ðáp: Trong cuộc tranh luận cuối cùng, ông Romney gần như đồng ý với ông Obama trong các chính sách ngoại giao quan trọng, bởi vì người ta khó mà chỉ trích một đường lối ngoại giao chín chắn và tương đối thành công. Romney cũng muốn tránh bị mang tiếng “diều hâu” sẵn sàng đưa Hoa Kỳ vào một cuộc phiêu lưu quân sự mới.


Về quốc phòng, Romney chủ trương giảm thuế, giảm mức công chi, nhưng lại tăng ngân sách quốc phòng. Chính sách này sẽ đưa đến hoặc thâm thủng ngân sách quốc gia hoặc cắt giảm các chương trình cần thiết cho người già, người nghèo, và những người đi học, chưa làm ra tiền.


Một điểm đặc biệt khác là, nhiều cố vấn ngoại giao của Romney thuộc thành phần tân bảo thủ từng làm việc với Tổng Thống Bush, đặc biệt là Dick Bolton, một diều hâu nổi tiếng, từng tuyên bố trụ sở Liên Hiệp Quốc có 38 tầng, nếu 10 tầng bị sập cũng không sao cả. Nhóm tân bảo thủ dưới thời Bush đã đưa nước Mỹ vào vũng lầy Iraq. Với Romney, họ có thể dẫn nước Mỹ vào một sa lầy mới ở Trung Ðông.


H: Bây giờ tôi muốn quay qua Á Châu. Như giáo sư đã biết, cả hai ông Obama và Romney đều có nhắc đến Trung Quốc trong cuộc tranh luận về ngoại giao hôm 22 tháng 10, nhưng cả hai đều chú trọng đến chuyện mậu dịch giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc cũng như chuyện Trung Quốc không chịu hạ thấp giá trị của đồng Nhân dân tệ, đồng bạc của Trung Quốc, khiến Mỹ bị thiệt thòi khi buôn bán với Trung Quốc. Ngược lại, tôi không thấy họ bàn đến tình hình an ninh ở Biển Ðông và mối đe dọa quân sự của Trung Quốc ở vùng biển này, nơi mà các nước Ðông Nam Á, trong đó có Việt Nam rất quan tâm. Ông có thể giải thích tại sao vấn đề Biển Ðông không được hai ông Obama và Romney thảo luận, thưa giáo sư?


Ðáp: Họ không thảo luận vì điều hợp viên không hỏi, và thời gian trả lời bị giới hạn. Trên thực tế, chính quyền Obama rất quan tâm đến vùng Á Châu-Thái Bình Dương. Ðiều này được thể hiện qua chính sách “quay” sang Á Châu (pivot to Asia) và nhiều cuộc công du của các viên chức cao cấp nhất của Mỹ sang nhiều nước Á Châu để củng cố những quan hệ chiến lược cũ hoặc đặt những quan hệ chiến lược mới. Tranh chấp Biển Ðông cũng là một mối quan tâm của Mỹ nhưng chưa phải là đe dọa sinh tử, và Mỹ cũng không muốn bị lôi cuốn vào một cuộc đụng độ quân sự với Trung Quốc. Tranh chấp về thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ không phải là một điều mới, và cũng chỉ là điều nhỏ so với vấn đề chiến lược. Nhưng nhu cầu tranh cử khiến ông Romney nêu chính sách “kìm lãi suất thấp” của Trung Quốc để liên kết nó với tình trạng thiếu công ăn việc làm dưới thời Obama, và ông Obama phải trả lời.


 


Ai có cơ may?


 


H: Sau cùng, dựa trên những điều ông nói trong cuộc phỏng vấn này và dư luận của cử tri thì cho đến thời điểm này liệu giáo sư có thể đóan được Tổng Thống Obama hay Thống Ðốc Romney có nhiều yếu tố thuận lợi trong cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc?


Ðáp: Các cuộc thăm dò dư luận cho thấy đây là một cuộc tranh cử sát nút, không ai giành được phần thắng rõ rệt. Nhưng con đường đi đến Bạch Cung của Romney khó hơn. Trong quá khứ, tiểu bang nào có nhiều cử tri Dân Chủ thì Dân Chủ thắng, tiểu bang nào có nhiều cử tri Cộng Hòa thì Cộng Hòa thắng. Căn cứ vào mô hình ấy thì hiện nay Obama có chắc 237 phiếu cử tri đoàn và Romney có chắc 191 phiếu. Muốn thắng phải có 270 phiếu cử tri đoàn. Trong số những tiểu bang còn đang trong vòng tranh chấp, Obama chỉ cần thắng thêm Ohio (18 phiếu) và Wisconsin (10 phiếu) là những nơi ông đang dẫn đầu. cộng với Iowa (6 phiếu) là đủ; trong khi đó thì Romney phải thắng ở Florida (29 phiếu) North Carolina (15 phiếu), Virginia (13 phiếu), và Ohio (18 phiếu) mới tới 266 phiếu.


Tình hình thất nghiệp lợi cho Romney, nhưng ông không khai thác được tối đa vì chính sách tài chính, thuế khóa, và ngoại giao của ông, trong những nét chính, chỉ lặp lại chính sách thất bại thời Bush, cộng thêm với ảnh hưởng của phe Tea Party đối với ông khiến nhiều người quan ngại.


Nếu người dân chỉ nghĩ đến vấn đề thất nghiệp thì điều này lợi cho ông Romney. Nếu người dân nghĩ xa đến hậu quả mà chính sách của ông Romney có thể đem lại cho Mỹ thì ông Obama có lợi thế.


Phạm Trần: Tôi xin cảm ơn giáo sư.

Nationwide Viet Radio khai trương văn phòng ở EDEN Center


Khu thương mại Eden kể từ hôm Thứ Bảy, 27 tháng 10 năm 2012, có thêm một đài Radio đã chính thức khai trương trụ sở phát sóng qua hệ thống HD 24/24.


 






Chủ Nhiệm Người Việt Ðông Bắc, Lê Kỳ Quốc; xướng ngô viên Nam Anh, Tổng Giám Ðốc NVR Lưu Lệ Ngọc và nghệ sĩ Ngụy Vũ trong phòng thu mới tại EDEN center. 


Trước đây đài này có tên VNDC-Washington DC Radio. Nhân dịp khai trương văn phòng mới, đài này cũng chính thức đổi tên mới để trở thành một cơ sở truyền thông có định hướng phát triển trên toàn quốc Hoa Kỳ.


Ðây cũng là dấu ấn lớn trong lãnh vực truyền thông của người Việt ở thủ đô Washington DC khi đài này có đủ thực lực để chọn một chỗ đứng ngay tại một trung tâm thương mại lớn như EDEN center.


Bà Lưu Lệ Ngọc, tổng giám đốc hệ thống Nationwide Viet Radio (NVR) cho biết với kỹ thuật HD (High-Definition) làn sóng này sẽ đóng vai trò như là một cuộc cách mạng truyền thông Việt Ngữ trên nước Mỹ và ngay trong nhiều cộng đồng Việt Nam ở các địa phương. Các chương trình trên làn sóng HD Radio của đài NVR từ nay sẽ phát triển mạnh mẽ 24 tiếng một ngày mà không phải thuê bao từng giờ như ở California hoặc Texas trước đây.


Từ nay, trên các loại xe hơi đời mới, HD Radio sẽ thuận tiện cho người sử dụng, không cần mua receiver mà có thể nghe các chương trình radio Việt Ngữ một cách phổ biến hơn.


 


Philadelphia và New Jersey đều nghe được NVR


 


Trong nỗ lực phát triển truyền thông qua hệ thống HD Radio, NVR cũng sẽ phát sóng tại Philadelpphia và New Jersey 24/24 vào ngày 01 tháng 11 năm 2012.


Bà Lưu Lệ Ngọc cũng cho biết chương trình của đài sẽ rất phong phú với các tiết mục Tin tức tổng hợp, Bình luận, Phân tích, Thể thao, Văn nghệ văn hóa, Ðời sống, Thông tin thương mại, Sức khỏe gia đình.


Xem EDEN center như là một trung tâm văn hóa thương mại của cộng đồng người Việt vùng Ðông Bắc Hoa Kỳ, NVR sẽ là một nhịp cầu giữa các cơ sở thương mại và cộng đồng Việt Nam.


Nội dung và chương trình của Nationwide Viet Radio được phụ trách bởi Ngụy Vũ, một nhân vật nổi tiếng của truyền thanh và truyền hình đến từ Nam California. Xướng ngôn viên Ngụy Vũ, người được mệnh danh là “Larry King Bolsa” đã đến hẳn Washington DC để tổ chức và phát triển trong những ngày tháng đầu với vai trò là một General Menager Programmer. Nhiều nhân sĩ trong vùng Washington DC đã nhận định rằng, sự chuyên nghiệp gần 20 năm trong ngành truyền thông và với uy tín của một người đã có những đóng góp lớn lao cho trang sử thuyền nhân Việt Nam, Ngụy Vũ sẽ là nét đặc sắc riêng biệt khó có đài nào trong vùng Washington DC bắt kịp.


Lê Kỳ Quốc, chủ nhiệm báo Người Việt Ðông Bắc từng nghe đài VNDC, tiền thân của NVR qua iphone nhận xét rằng đây là đài có nhiều chương trình gần gũi với cuộc sống. Cũng theo lời Lê Kỳ Quốc, chiến lược phát sóng qua hệ thống HD Radio sẽ là một cuộc đua mới về các chương trình truyền thông tạo nên một lợi ích lớn to lớn về mặt văn hóa cộng đồng.


Về đài truyền hình, hiện nay đài SBTN của nhạc sĩ Trúc Hồ đã phủ sóng tạo nên bầu không khí văn hóa hình ảnh quan trọng. NVR thì thính giả có thể nghe được ngay cả trên xe hơi – điều này chắc chắn sẽ làm các sinh hoạt văn hóa cộng đồng ở những nơi như Philadelphia, New Jersey càng trở nên đa dạng và phong phú.


Giám đốc chương trình vùng Virginia, bà Nam Anh cho biết, hiện nay đài đang ở trong giai đoạn ra mắt do đó các cơ sở kinh doanh trong vùng EDEN center có thể liên lạc với đài để có những tiết mục quảng bá thông tin thương mại miễn phí coi như là sự giao thiệp về mặt truyền thông với khu EDEN. Ðây cũng là cơ hội đặc biệt để đưa nhịp sống EDEN Center lên làn sóng.


Về lâu về dài, chiến lược quảng cáo của đài là tạo nên một nhịp cầu quảng bá thông tin thương mại Việt Mỹ tạo điều kiện cho các cơ sở, đại lý hàng hóa Hoa Kỳ muốn nhắm vào thị trường người Mỹ gốc Việt.


Ngoài ra, ở vùng Washington DC, Virginia, và Maryland, nơi các cuộc vận động mang tính xã hội như bầu cử, các tổ chức cộng đồng hoạt động nhộn nhịp. Các cuộc vận động cũng trở thành sản phẩm quảng cáo quan trọng sẽ rất cần tới đài phát thanh.


Ban giám đốc của đài rất tự tin về chiến lược và kế hoạch phát triển.


Ðài NVR hiện được phát sóng trên làn sóng FM 100.3 HD2 và FM 92.5 HD3.


Trần Ðông Ðức

Hoa Nở Muộn (Ky 3)

 


(Tiếp theo kỳ trước)     
    


Trường hợp của ông Cảnh chưa rơi vào những hoàn cảnh nguy hiểm như trên nhưng ông đau lắm. Ông đau là vì ông tiếc người tiếc của. Hồi mới quen nhau ông cũng nghĩ là chỉ bồ bịch cho đời thêm vui thôi. Cho giống như những Việt Kiều khác như ông.


  Ông muốn làm Dân Chơi. Ngày xưa lam lũ thì khác, bây giờ có tiền rồi, ông kỵ hai chữ “Nhà Quê” lắm. Hai chữ “Dân Chơi” được hiểu theo cách nghĩ riêng của mỗi người. Ông có vài người bạn nói là: “Nếu không biết cách ăn mặc, không lịch sự, không đẹp đẽ không thể gọi là dân chơi được.” Cũng có người nói: “Nếu không biết về mốt, không biết nhảy đầm, không ăn nhậu thì chưa gọi là dân chơi.” Với ông thì khác. Thằng nào không về Việt Nam ăn phở, chưa biết có bồ nhí, thì thằng đó chưa thể gọi là dân chơi. Khi mới quen Thu Tuyết, ông cứ ngỡ là chỉ quen cho vui thôi, cứ như người ta nói thì là ăn bánh trả tiền. Ông có tiền thì nàng có… bánh. “Tình anh là gái tình em là tiền.” Nhưng không phải, với sự yêu, ông chỉ biết hiến dâng mà không bao giờ đòi hỏi ở nàng, nàng đã chinh phục được ông. Thu Tuyết không bao giờ hỏi xin ông bất cứ một thứ gì mà ngược lại, bất cứ thứ gì ông muốn nàng đều tìm cách chiều chuộng ông. Hãy thử nghĩ coi Việt kiều ở Mỹ như ông, về Việt Nam thì họ muốn cái gì? Tất cả những thứ ông cần, bên Mỹ đều có đầy đủ và tốt hơn ở Việt Nam, Ðối với ông, chỉ có hai thứ Mỹ thua Việt Nam đó là gái tơ và những món ăn quê hương. Tất nhiên, cái ông cần, Thu Tuyết thừa sức thỏa mãn ông. Những món ăn quê hương thì nàng khỏi phải nhọc công nấu nướng vì có bán đầy ngoài đường cả ngày lẫn đêm. Thích thì đi mua, không thích thì gọi phone, mọi thứ cần thiết sẽ được mang tới ngay. Hoặc nàng có thể gọi xuống quầy tiếp tân để nhờ người đi mua giùm, nàng chẳng cần phải nhọc công. Khi có tiền thì muốn ăn cái gì mà không được! Bất cứ món gì, ông cần thì nàng cũng tìm cách mua được cho ông. Còn cái khoản thứ hai kia thì quá dễ với nàng rồi. Vì là nàng chẳng phải đi đâu mua bán gì cả, cũng chẳng cần phải nhờ ai. với vốn sẵn có, nàng sẽ cung cấp cho ông mọi lúc mọi nơi, mọi kiểu mọi cách, bất cứ kiểu gì ông muốn, với những uốn éo lắc lư, những hơi thở hổn hển đồng tình và những tiếng rên rỉ sung sướng, nàng cho ông cái cảm giác đê mê tới tận mười tám tầng mây. Quan trọng hơn nữa là nàng cho ông cái cảm giác ông là người hùng, vì luôn luôn ông làm nàng hạnh phúc. Nàng chỉ cần giả vờ sung sướng và thỏa mãn, nàng sẽ có được những gì nàng muốn. Cứ thế, nàng chỉ biết chiều chuộng và cung phụng ông, cho ông nhiều cảm giác tuyệt đỉnh ái ân mà vợ ông chẳng bao giờ biết để mà cho ông. Ðơn giản một điều là vợ ông không phải là gái bao chuyên nghiệp làm tiếp viên trong quán karaoke.


Trường đời càng học muộn bao nhiêu, cái giá phải trả càng đắt bấy nhiêu. Trong những đam mê của ân ái, trong hạnh phúc của cảm giác làm người hùng luôn luôn là kẻ chiến thắng ở… trên giường, ông Cảnh không nhận ra một điều là nàng chỉ cần phải ở với ông khoảng một tháng, sau khi ông trở lại Mỹ, ít nhất nàng cũng có được dăm ba ngàn để tiêu vặt. Khi ông không có mặt ở Việt Nam hàng tuần nàng chỉ phải nói chuyện với ông qua điện thoại vài lần thôi, như thế, lâu lâu nàng có thể: “Ôi, tuần trước em của em lái xe đụng người ta gãy chân, gia đình phải đền hết mười triệu (khoảng bảy trăm đô thôi) Em không tính nói cho anh làm anh lo, nhưng buồn quá không biết tâm sự cùng ai, em chỉ có mỗi một mình anh thôi à.” Hoặc như lần nào đó, nói phone với ông nàng chỉ cầm làm giọng cho thật buồn nếu cần thì rưng rưng thêm vài giọt nước mắt nữa: “Em buồn quá, má em nhập viện hơn tháng nay mà vẫn chưa đỡ, bác sĩ nói kỳ này có thể phải mổ. Tuần trước em phải cắn răng bán cái lắc mà anh cho em lần sinh nhật vừa rồi. Nếu kỳ này phải mổ thì có lẽ em phải bán cái xe này thôi. Em không muốn bán những kỷ niệm của anh cho em nhưng thương má em quá chừng. Tội nghiệp má em, công ơn nuôi tụi em ăn học mà con cái chưa ai báo hiếu được ngày nào.”


Cứ thế, ngay lập tức ngày hôm sau nàng sẽ có được số tiền mà nàng muốn. Ấy là mới hai năm nay thôi chứ nếu ông quen nàng lâu hơn nữa, có thể ông sẽ thấy: “Ba em bị té cầu thang, em của em cần thay thận hoặc nhà má em ở dưới quê bị bão làm sập rồi. vân vân và vân vân. Bài ca con cá nó sống vì nước sẽ được nàng hát triền miên liên khúc.


Cũng mới chỉ có hai năm mà nàng đã có xe Dylan đời mới trị giá gần tám ngày đô. Chưa kể bốn ngàn hồi Hè năm ngoái ông gửi về cho nàng để lợp lại mái nhà tưởng tượng cho cha mẹ nàng. Thu Tuyết thật ra chưa bao giờ ở dưới quê. Cái chuyện ở dưới quê chỉ xảy ra khi có tay Việt kiều nào muốn chứng tỏ là người đạo đức, có ý muốn thương hại nàng. Lúc đó nàng mới cần ở quê, vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, nàng mới phải bươn chải bon chen vào cõi đời ô trọc ở thành phố này để kiếm tiền phụ giúp gia đình. Sự thật thì gia đình Thu Tuyết ở ngay tại Sài Gòn. Gia đình nàng chỉ mới chuyển ra Ðàng Nẵng để mua lại một tiệm phở của người bà con đang chuẩn bị đi định cư ở Mỹ theo diện bảo lãnh. Gia đình nàng chuyển đi trong khi nàng còn đang theo học trường Cao Ðẳng Mỹ Thuật năm thứ hai. Ba tháng sau khi sống tự do xa gia đình, nàng bỏ học. Lý do không phải vì nàng theo học không được mà là vì nàng có nhiều nhu cầu cần phải được đáp ứng, mà nhà trường thì không thể cho nàng. Với nhan sắc mặn mà, thân hình hấp dẫn có thể làm nghiêng ngả bất cứ thằng đàn ông nào, nàng chỉ cần thêm một chút thông minh nữa là nàng sẽ có một cuộc sống sung sướng. Cái trí thông minh đó nàng có thừa. Con đường đi đến sung sướng mau nhất của nàng là kiếm tiền từ những người đàn ông có thừa tiền, đàn ông càng dại gái bao nhiêu, càng chịu chi bấy nhiêu.


Xã hội Việt Nam bây giờ, nhiều cô gái trẻ chấp nhận làm vợ nhí, vợ lẽ hay là cái mà nhiều người gọi là “gái bao” không còn phải là chuyện lạ lẫm hiếm hoi. Nhưng Thu Tuyết không muốn làm vợ nhí hay bồ nhí của các sếp lớn hay các đại gia, vì hàng ngày, nàng vẫn nghe nói hoặc chứng kiến cái cảnh đánh ghen vô cùng dã man của những bà vợ có máu hoạn thư bằng cách rạch mặt, tạt a-xit, hoặc ít nhất cũng bị đánh đập, xé nát quần áo giữa đường ngay thanh thiên bạch nhật. Nàng khôn hơn những cô gái dại khờ kia. Ðối tượng của nàng là Việt kiều, đám đó thì ai cũng có nhiều Dollar. Và mục đích chung rất cao cả của đại đa số những người đó là về quê hương kiếm gái để gỡ gạc, bù lại cuộc sống thua thiệt của đời tị nạn tha phương, luôn luôn bị đàn bà bản xứ coi thường kỳ thị. Cái đám đàn ông Việt kiều đó cho dù nếu có vợ thì các bà vợ đó cũng ở quá xa để mà đánh ghen. Mà cho dù các bà vợ ấy có bay về đến tận đây để ghen tuông cũng không thể làm dữ được gì, vì rừng nào cọp nấy. Cùng lắm thì mấy bà chỉ dám cào xé chồng mình là cùng, sức mấy mà dám động đến một cọng lông chân nàng. Nàng chỉ cần mang cái mác “Con ông cháu cha ra” mà hù là mấy bà sợ té đái ra quần. Bản chất người Việt Nam vốn sợ quan quyền. Cứ thấy công an cảnh sát là sợ rồi, mặc dù mình chẳng hề phạm pháp. Có lẽ tại vì sống quá lâu trong nhiều chế độ quan quyền cai trị lộng hành, luôn luôn bị quan quyền áp bức đã tạo cho người ta tâm lý đó. Con người ta chẳng còn ý thức được như thế nào là nhân quyền nữa. Ðiều này, chẳng phải tự bản thân nàng nhận thức ra mà đó là do một lần đọc báo, nàng đọc được ý kiến của một học giả nổi tiếng mà nàng quên mất tên.


Mấy bà về đây kể cả dân Sài Gòn chính hiệu ngày xưa cũng còn ngơ ngơ ngáo ngáo vì cuộc sống và thành phố bây giờ có quá nhiều đổi thay, Huống chi những ai ngày xưa không và chưa từng sống ở Sài Gòn. về đây, họ ngơ ngơ, bơ vơ là cái chắc. Hơn nữa, dân Việt kiều có tiền thường không muốn gây gổ ồn ào, có lẽ vì ngại cảnh chén kiểu đụng chén sành. Vì vậy, cặp bồ với Việt kiều an toàn hơn. Và cái nơi mà đám Việt kiều thường lui tới là những quán karaoke có nhiều nữ tiếp viên trẻ đẹp. Ông Cảnh gặp nàng ở nơi gặp gỡ của tình yêu khi đó nàng đã có bốn năm kinh nghiệm trong nghề… tiếp viên. Dĩ nhiên ông Cảnh không phải là người đầu tiên nàng quen, ông càng không phải là người duy nhất mà nàng đang quen. Vì không phải là người kém suy nghĩ nên nàng không bao giờ đi khách, cho dù người đó ra giá bao nhiêu đi chăng nữa sẽ bị nàng từ chối thẳng thừng và không bao giờ nàng chịu tiếp chuyện lần thứ hai. Cũng vì như vậy mà có lần nàng bị hăm dọa suýt nữa thì có chuyện.


Ngày đó lâu rồi, lúc đó nàng mới vô nghề thôi, hôm ấy nàng phải ngồi tiếp một gã giang hồ đầu trâu mặt mụn. Hắn cứ ép nàng uống bia và tay hắn liên tục sàm sỡ rờ mó lung tung. Sau Khi đã nốc hàng đống bia, mặt mày đỏ ké, hắn loạng quạng một tay để lên đùi nàng tay kia ôm lấy vai nàng vừa kéo nàng về phía hắn vừa nham nhở nói với nàng.


“Em làm vợ anh hôm nay nghe.”


(Còn tiếp)

EDEN Cổng Trước – Tỏa Ngát Hương Thơm

EDEN Center ở Falls Church, tiểu bang Virginia từ lâu nay mặc nhiên trở thành một trung tâm sinh hoạt văn hóa của cộng đồng tại thủ đô Washington DC và các tiểu bang phụ cận. Nhiều người than rằng chi phí thương mại ở đây là cao chất ngất nhưng không biết vì sao thương mại Việt Nam cứ “đâm đầu” vào. Gần đây đài NVR cũng đã mở trụ sở ngay tại EDEN. Ðến EDEN vào ngày cuối tuần, người ta mới thấy mức độ sầm uất của dòng người mua bán do đó sự đắt đỏ ở nơi đây phải có lý do.










Món Crawfish đặc sắc của nhà hàng Sea Side Crab House.


Thế mạnh của trung tâm thương mại này là nơi quy tụ chính thức của cộng đồng Việt Nam với mấy chục ngàn người của khu vực Washington DC, Virginia, và Maryland. Ngoài ra, EDEN còn tiếp đón lượng du khách Việt Nam về tham quan và vãn cảnh ở thủ đô và một số lượng khách hàng cố định người Mỹ bản xứ.


Khu thương mại EDEN ngoài các cửa tiệm mặt tiền dưới các mái hiên làm đường đi bộ rất thuận tiện, những nhà hàng cửa tiệm nhỏ hơn trong các ngõ hẻm sâu hút vào còn là những điểm thú vị mà nhiều người ở vùng thủ đô cũng không có đủ thời gian để khám phá hết.


Tuy nhiên, khi vào cổng, người ta thấy EDEN còn có một ốc đảo nhỏ hơn cách biệt với quần thể lớn có bầu không gian thoáng đãng hướng ngoại, nhìn thẳng ra đường có tên là Saigon Garden – EDEN Cổng Trước. Quần thể này chỉ có khoảng năm, sáu cửa tiệm, nhà hàng theo kiểu cách tách rời “phố mọc trong phố, nhà bên kia nhà” tạo nên một góc EDEN khác biệt mà du khách không thể bỏ qua.


 


Nồng Nàn Mùi Hương Phú Quý


 


Tiệm Phú Quý Delight nằm tại quần thể có cây cối này. Một căn tiệm nhỏ, đầy màu sắc tươi tắn như nghệ thuật tạo hình của màu sắc và hương vị. Nếu không có ấn tượng đầu tiên về những khô bò, chà bông, trái cây ngâm người ta có cảm nhận đây là căn tiệm sắp xếp theo ô hợp có tính cách rất Nhật Bản.


Thật vậy, những bình thủy tinh chứa trái cây ngâm tỏa lên những… xanh tươi, vàng óng, trong vắt của màu sắc chứa đầy dụng ý nghệ thuật riêng biệt của chủ nhân. Nhưng trên hết, theo cô chủ tiệm Kim Nguyễn, tiệm Phú Quý Delight là một căn tiệm bán toàn hàng hóa mang tính duy nhất và độc quyền. “Mọi thứ trong tiệm đều mang tính duy nhất không có nơi nào trong khu vực có bán.” Kim Nguyễn tự hào cho biết.



Cô Kim Nguyễn, chủ tiệm Phú Quý Deli Delight, từng được báo the Washington Post cho điểm trong bài “Chew on this, jerky fans” với sản phẩm của Vua Khô Bò.


Người Việt có thể tin tưởng rằng khi đến căn tiệm này, họ có thể mua bất cứ món gì cũng có thể biết xuất xứ. Gan ngỗng, Paté Pháp là những thứ mà người Việt Nam có khuynh hướng tiêu dùng nhưng thường không biết chỗ mua – Phú Quý Delight là một địa chỉ chính xác nhất. Các loại hoa quả như me, mận, chùm ruột cũng có xuất xứ từ nông sản Hoa Kỳ, có khi là ở tận đảo Hawaii để những thương phẩm này luôn giữ địa vị cao cấp về phẩm chất.


Khách hàng cũng có thể yên tâm vì tiệm Phú Quý sẽ không bán mặt hàng nào đến từ Trung Quốc. Ðặc điểm kinh doanh này thật sự tạo nên tính cách kinh doanh của Phú Quý Delight. Cô Kim Nguyễn hy vọng rằng đây là địa điểm để mọi người chọn những mặt hàng hợp lý làm quà tặng cho bạn bè, người thân với một sự quan tâm thật sự của người trao và người nhận.



Ðiểm mạnh của Phú Quý là được độc quyền Vua Khô Bò nổi tiếng ở California, từng được báo The Washington Post cho điểm trong bài “Chew on this, jerky fans” với sản phẩm khô bò. Nhưng nếu phổ thông hơn khách hàng thử đến món Café Lee’s Sandwich có thể nói là đánh bại rất nhiều các loại Café thương phẩm khác.


Gần đây tiệm Phú Quý cũng đang bán món trà Nhân Sâm Hoa Kỳ thượng phẩm đến từ Wisconsin. Ðây là món hàng 100% Made in USA kể cả bao bì. Một món quà chất lượng trong thời buổi hàng Trung Quốc hầu như độc chiếm thị phần. Với thương phẩm mới này, quần thể EDEN Cổng Trước trở thành một biệt khu hàng hóa cao phẩm chất.


Bên cạnh tiệm Phú Quý còn có nhà hàng đồ biển đặc sắc là Sea Side Crab House với món bún ốc có thể nói ngon và lạ nhất khu vực. Món bún ốc bình dân ở miền Bắc Việt Nam đã được Sea Side Crab điều chỉnh và nâng cấp thành món bún nấu bằng loại ốc hương thượng hạng. Người đầu bếp ở nhà hàng Sea Side Crab House là một phụ nữ trung niên có nét mặt phúc hậu. Bà có thể đến tận bàn chăm sóc cho từng thực khách tạo nên một không gian thưởng thức hương vị rất hiếm có. Sea Side Crab House cũng từng nổi tiếng với Crawfish nhập từ miền Nam và có món chả giò bằng thịt cua xứng đáng được lên hàng cao lương mỹ vị.










Cách trình bày món ăn của nhà hàng Viet Bistro trong khuôn viên Saigon Garden.


Cổng trước EDEN còn là nơi đặc biệt của toàn khu vực khu thương mại với sự hiện diện của nhà hàng cao cấp có Patio hướng ngoại – Viet Bistro. Viet Bistro từng được tạp chí Washingtonian chọn là 100 nhà hàng giá cả hợp lý nhất. Nội thất thoáng đãng, bar rượu, ban nhạc sống biến Viet Bistro trở thành một không gian thời thượng của EDEN. Mùa Hè về quan khách có thể ngồi hóng gió ngoài Patio của Viet Bistro để quan sát dòng người qua lại. Món ăn trong Viet Bistro mang nét đương đại vì có hương vị của bia rượu nhưng nhiều người sành ăn vẫn cho rằng món ngon của nhà hàng này là Cơm Tay Cầm và Hến Xúc Bánh Tráng.


EDEN rất khác lạ so với bất cứ trung tâm thương mại nào. So với các khu thương mại ở Philadelphia, trung tâm thương mại EDEN có hơi hướng chen chúc và chật chội. Có lẽ đây cũng là một đặc điểm của sự sầm uất. Nhưng để tìm một không gian thoáng đãng mang tính hưởng thụ cao hơn, mọi người không thể bỏ qua các gian hàng, cửa tiệm, tiệm cắt tóc ở quần thể EDEN Cổng Trước.


Người Việt Ðông Bắc

Cung Trầm Tưởng


LTS.
Ngày 28 tháng 10, trong hơi mưa của cơn giông sắp kéo tới, trên 300 người Việt yêu thơ Cung Trầm Tưởng đã họp mặt tại Virginia để nghe chính thi sĩ nói về “Một Hành Trình Thơ” của ông. Những bài thơ trữ tình trải suốt hơn sáu mươi năm cuộc đời của thi sĩ, dìu dặt điệu nhạc Phạm Duy, ngân dài qua hơi thở của các nữ ca sĩ yêu kiều vùng thủ đô, như Tuyết Lan, Bạch Cúc, Thái Ninh, Bạch Mai. Những bài thơ ấp ủ tâm trạng người trai thao thức trong hoàn cảnh xa quê, xa người tình, âm vang qua các giọng nam nồng ấm của Sĩ Tuấn, Nguyễn Xuân Thưởng, Nguyễn Cao Thăng, Hoàng Cung Fa.


Nhưng trong gần 300 khách yêu thơ kia, có đến 2/3 là chiến hữu, là bạn Không Quân, là đàn em trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Và đằng sau trái tim nồng ấm, dáng dấp hào hoa, phong cách đa tình của thi sĩ Cung Trầm Tưởng, là một người chiến sĩ kiên cường “Thép đã tôi rồi, đố bẻ cong“mà ít ai biết được, ngoài một số chiến hữu của ông.


Người Việt Ðông Bắc hân hạnh mời quý đồng hương đến với “Dòng Sử Thi Trong Ðời Tù Cộng Sản” của Cung Trầm Tưởng, qua cảm xúc của Trần Văn Thế, một sĩ quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.


 


Cung Trầm Tưởng


và dòng sử thi trong đời tù cộng sản


 


Trần Văn Thế


 


Cung Trầm Tưởng là một khuôn mặt, một danh vị nổi tiếng trong thế giới thơ của Việt Nam, nhất là trong thập niên 60 với những dòng thơ lãng mạn. Nhắc đến Cung Trầm Tưởng thời đó, mọi người đều biết nhà thơ với những “Mùa Thu Paris, hoặc Chưa Bao Giờ Buồn Thế và Lên Xe Tiễn Em Ði, Ga Lyon đèn vàng,…”










Nhà thơ Cung Trầm Tưởng trong buổi ra mắt “Một Hành Trình Thơ” tại Virginia, ngày 28 tháng 10, 2012.


Hôm nay, chúng tôi những người lính VNCH, những người tù Cộng Sản, muốn nói đến những dòng thơ TÙ, những dòng sử-thi viết trong tù của một người lính, một người tù. Người lính và người tù đó chính là thi-sĩ Cung Trầm Tưởng. Người đã hy sinh ở lại trong quốc nạn 1975, để được chứng kiến những đau thương, những oan khiên của dân tộc VN dưới một chế độ đối xử con người như những trò chơi, một trò chơi ngu xuẩn và vô nhân đạo. Và chính Cung Trầm Tưởng đã là một trong những trò chơi đó: 10 năm tù không bản án, qua 8 trại tù Cộng Sản, và không biết bao nhiêu lần còng tay biệt giam. Ông đã ví ông như những con thú bị vây hãm bởi lũ thợ săn hung bạo nhất:


“Ta như con thú bị vây,


Khổ sai trong cũi chúng bầy chúng chơi”


Ở lại với quốc nạn. Ðó là sự lựa chọn của ông và ông giải thích như sau: “Lựa chọn ở lại với lịch sử, áp sát vào lòng thời đại để nghe bằng mắt, nhìn bằng tai và nói bằng trái tim đập, nhịp đập của cộng đồng.” Và dòng lịch sử của dân tộc đã đưa ông đến những trại tù Cộng Sản để nghe chính trái tim mình muốn nổ tung ra vì căm thù.


Một câu hỏi thường được đạt ra là: Tại sao Cộng Sản lại sợ văn sĩ, thi sĩ? Tại sao Cộng Sản lại muốn triệt tiêu tư tưởng văn nghệ sĩ? Vì, đúng như nhà thơ Viên Linh đã viết: “Trong bất cứ một cuộc vận động nào, một thay đổi nào, thơ đi trước và thi sĩ là kẻ tiền hô… thi sĩ luôn đi hàng đầu…” Bởi lý do đó, mới có vụ án Nhân Văn Giai Phẩm, mới có những Phan Khôi, Trần Dần, Nguyễn Hữu Ðang, v.v. đã bị Cộng Sản triệt tiêu cả tư tưởng lẫn thể xác, trong chính chế độ của họ.


Trong 10 năm tù, Cộng Sản nghĩ rằng cũng sẽ làm được như thế với các văn nghệ sĩ Miền Nam, đặc biệt với Cung Trầm Tưởng, Nhưng họ đã không làm được điều đó với Cung Trầm Tưởng, mặc dù họ đã sáng tạo ra những phương pháp tân kỳ nhất để bầm giập cả thể xác lẫn tinh thần con người, để con người tự hủy diệt tư tưởng của chính mình.


Trước những đe dọa, trước sự cheat, ông đã kiên trì, can đảm để sống và làm một cái gì cho lịch sử trong giai đoạn bi thương nhất của dân tộc. Và vì thế, chúng ta đã có được hai tập thơ tù: Lời Viết Hai Tay và Bài Ca Níu Quan Tài. Cộng Sản tìm mọi cách để cấm ông viết, nhưng ông đã quyết tâm:


“Giấy bút tôi ai cướp giật đi,


Tôi sẽ dùng dao khắc thơ lên đá.”


Là thi sĩ, nàng thơ là mạch sống, là tim là máu của ông đã hối thúc ông phải viết. Thêm vào đó, ý chí bất khuất của ông đã thôi thúc ông phải làm thơ. Những con chữ của ông, những con chữ có sinh thể, phải được sống và phải được nhẩy múa trong đầu ông, và con chữ của ông đã nhiều lần rớm máu. Do đó, ông đã viết bằng đầu, bằng tim, vì hai tay đã bị còng thường xuyên. Nhưng viết gì? Làm sao viết? Và ông đã mang nặng rất nhiều nỗi băn khoăn, tự vấn với một tâm trạng chao động, phẫn nộ, căm giận, khắc khoải, thao thức:


“Tim nào xót xáy tìm ra chữ,


Ngang tầm thảm họa thế kỷ hung.”


Và cũng vì:


“Ðịa ngục trần gian đất nước này


Một phường nga quỷ máu đầy tay


Bàn thờ Phật nó ngồi chồm hổm


Phóng uế ngay trên định nghĩa người.”


Trong lời mở đầu tập Tù Sử-Thi Lời Viết Hai Tay, Cung Trầm Tưởng viết:


“…Bởi cuộc hành trình dài hơn lịch sử. Lịch sử chỉ là một trạm quá cảnh đóng con dấu máu đỏ của tang thương lên quyển hộ chiếu của thi-lữ khách. Cơ bản thơ vượt lịch sử… Và Lời Viết Hai Tay hình thành từ và muốn thể hiện quan điểm này qua thơ.” Có lẽ Cung Trầm Tưởng và Ernest Hemingway đã cùng có cái nhìn giống nhau về sự kiên cường và can đảm của con người. Hemmingway viết: “Con người có thể bị giết chết, nhưng không thể bị đánh bại.”


Cung Trầm Tưởng đã không bị đánh bại, đã phấn đấu để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của một người tù, một người thơ, luôn luôn đi tiên phong. Muốn vậy, Ông phải tự lập cho mình một vòng đai tự bảo vệ cho mình để làm thơ:


“ Ta cất cho ta một pháo đài


Giăng vòng gai kẽm, lập vành đai


Sáng nghe, chiều ngóng, đêm phòng ngự


Dõi tiếng chân ai rảo lén ngoài”


 


Và cứ thế, nghe Nàng Thơ lại réo rắt gọi:


“Ngữ điệu ngân nga, vần réo rắt


Nàng Thơ gióng trống giục ran lòng


Ðau thương mồi bén lên tư tưởng


Thép đã tôi rồi, đố bẻ cong”


Khi thép đã tôi rồi, thì ông chẳng còn gì để lo sợ và vì thế chúng ta có được những dòng sử-thi hôm nay.










Trần Văn Thế, nói về “Cung Trầm Tưởng và dòng sử thi trong đời tù cộng sản.”


Rồi khi viết “Bài Ca Níu Quan Tài”, Cung Trầm Tưởng lại viết: “Cách trừng phạt của Cộng Sản là một thứ bạo lực nguội vì không có khói, không có lửa. Một thứ lăng trì tân thời, có kế hoạch và làm chảy máu trắng, hữu hiệu hơn một phát súng tại pháp trường…” Trước bao nhiêu nhà tan cửa nát, bao nhiêu nước mắt, ông đã dùng cái tâm của mình để viết sử-thi mà ông gọi là Tâm Sử Thi, chúng tôi gọi là Tù Sử-Thi. Ðây là tập thơ viết để khóc cho dân tộc Việt Nam trầm luân, oan khiên, khóc cho gia đình ly tán, những người mẹ già, những người vợ, những đứa con thơ, những người tù, những người nữ tù khốn cùng mà Cung Trầm Tưởng gọi là “Những Nữ Thần Huyền Sử.” Trước cảnh tang thương ly tán tình nghĩa phu thê, Cung Trâm Tưởng viết về những người vợ tù như sau:


“Có chồng mà tưởng như chồng chết,


Hương nhang đã cháy ở trong lòng.


Em là dòng dõi nàng Tô Thị


Nghìn năm hóa đá vẫn chờ mong.”


Chứng kiến những cảnh tượng như vậy, Cung Trầm Tưởng đã không ngăn được những dòng nước mắt, vì đã được nghe và thấy:


Tiếng khóc của nàng thiếu phụ có chồng chết trong tù,


Tiếng khóc của những bà cụ đòi xác con.


Tiếng khóc của bần cố nông đòi lại ruộng vườn.


Tiếng khóc của trí thức đòi lại quyền tự do tư tưởng.


Tiếng khóc của những trẻ thơ mất cha, mất mẹ, bị mang danh hiệu ngụy quyền.


Tiếng khóc của những người vợ, những nàng Tô Thị thời đại:


“Trĩu gánh đời em theo bước chị,


Bầy con chia gửi mấy cô dì


Em thành thiếu phụ của sầu ly”


Hơn 600 trang sách trong thi phẩm “Cung Trầm Tưởng, Một Hành Trình Thơ” gồm 7 tập thơ gom lại, trong quá trình 60 năm làm thơ. Từ những ngày son trẻ với thơ tình lãng mạn, rồi đến thơ làm trong thời kỳ oan khiên của dân tộc, và thơ làm ở hải ngoại. Người đọc cũng như chúng tôi đã chú ý nhiều đến hai tập “Lời Viết Hai Tay và Bài Ca Níu Quan Tài.” Ðó là hai tập Tù Sử-Thi.


Martin Heidegger có nói rằng: “Tác phẩm phải là một biểu tượng.” Biểu tượng của thơ Cung Trầm Tưởng là biểu tưởng lịch sử của Việt Nam trong giai đoạn đau thương nhất, nỗi oan khiên không bao giờ xóa nhòa trong tâm khảm của những người Việt Nam.


Chúng tôi những người lính VNCH, những người tù Cộng Sản rất hãnh diện về chiến sĩ văn hóa Cung Trầm Tưởng, đã hy sinh gần suốt cuộc đời mình để viết lên những dòng sử-thi, đã để lại cho chúng ta, chúng tôi, và thế hệ hậu sinh những chứng tích hùng hồn nhất về lịch sử Việt Nam trong giai đoan khổ cùng nhất, một bản cáo trạng mạnh mẽ nhất, trung thực nhất về chế độ Cộng Sản Việt Nam.










Hoàng Song Liêm và Cung Trầm Tưởng.


Chúng tôi nguyện sẽ cùng Cung Trầm Tưởng:


“Hãy mài cho sắc lưỡi dao tông,


Hãy nung cho tốt quắm tôi hồng


Thù này góp gió, mai làm bão


Về xáp tăng thù hất chổng mông.”


Xin chúc thi sĩ Cung Trầm Tưởng sống vui để tiếp tục sáng tác thơ, tiếp tục đi tìm một trường phái thơ cho riêng mình, để những đêm trăng Thi Bá không còn phải ngồi nói chuyện với con Tắc-Kè mà buồn cho thế sự:


“Chứng câm này mắc do nhân định,


Người chẳng buồn nghe chuyện của người…

Ðòi chết cho xem


Tạp Ghi Quỳnh Giao


 


Trong bài “Mùa Xuân Yêu Em,” nhà thơ Ðỗ Quý Toàn có viết:


“Có cành hoa đẹp, anh hái cho em


Em không thèm nhận, anh chết cho xem!”


Ông Ðỗ Quý Toàn là nhà thơ, nhà báo và cũng là nhà bình luận. Ít ai nghĩ rằng ông là nhà tâm lý.


Dám đem cái chết của mình ra để kèo nèo tình yêu của người đẹp thì đấy là một đòn tâm lý, một sự ăn vạ!


Câu thơ dễ thương cho biết đấy là một người đẹp vì mấy ai dám đánh đổi mạng sống của mình để lấy một người xấu? Câu thơ còn cho thấy rằng người xấu tính chính là kẻ bắt bí người đẹp. Chúng ta có thể mỉm cười nghĩ là chuyện như vậy chỉ có trong thế giới thơ, hoặc đôi khi trong thế giới của trẻ thơ với mối tình phảng phất mùi ô mai của mấy đứa trẻ mới lớn cứ hay giận hờn vô cớ. Chỉ khi hờn lẫy, đứa trẻ đành hanh mới dọa mách mẹ cha, hoặc giẫy chân đành đạch, làm đứa kia sợ quá phải nhường cái hoa, cái kẹo.


Thật ra, ngoài đời và trong cõi người lớn, chuyện bắt bí như thế lại dễ xảy ra mà mình ít biết vì không để ý. Nếu như có biết vì đã từng gặp hoàn cảnh này thì ít ai dám nói ra những chuyện riêng tư, nên người ngoài khó biết được.


Các nhà tâm lý có nghiên cứu hiện tượng ấy và thấy là nó chỉ xảy ra giữa người thân với nhau. Với người xa thì có ăn vạ cũng bằng thừa vì nếu có khác biệt về ý kiến hay sở thích, người kia chẳng có gì để gìn giữ và sợ mất nên không nhượng bộ. Hai bên đành phải dung hòa nhường nhịn.


Vả lại, có biết gì về tâm lý của người xa lạ đâu mà muốn ăn vạ?


Giữa người thân với nhau thì người xấu mới biết nhược điểm để đòi hỏi và đạt kết quả. Kết quả có thể là tình yêu, là nhận một cành hoa, hay là được chiều chuộng. Muốn kết quả ấy, và lại biết cái gì làm cho người kia buồn phiền người xấu bèn cố tình gây ra buồn phiền để đạt chiến thắng. Với người dửng dưng lãnh đạm mà lại dọa đoạn tình thì không có kết quả. Với người đang rắp tâm cao chạy xa bay thì càng dọa lại càng chóng mất!


Phép ăn vạ có kết quả cao nhất là làm cho người thân sợ mặc cảm phạm tội nên nhận lỗi về mình dù rằng chẳng có lỗi gì cả. Vì mặc cảm ấy mà mình đành nhường, cứ lùi mãi cho đến khi bị người xấu sai khiến.


Chúng ta rất dễ là nạn nhân của cái phép bắt đền và ăn vạ này khi gặp nhiều đợt áp lực tâm lý từ người tình, người bạn, hay người thân trong nhà. Ðầu tiên chỉ là lời yêu cầu được chiều chuộng, nếu không thì giao tình sẽ căng thẳng. Sau lời dọa đó là chuyện quy tội, rằng tình hình đôi ta gặp khó khăn, có khi tan vỡ vì thiếu sự thông cảm. Sau lời dọa là lời hứa sẽ có thay đổi nếu người kia nhường, một lời hứa ít khi nào được tôn trọng. Những chuyện như vậy cứ xảy ra và tái diễn cho đến khi người xấu được toại nguyện. Tình hình ấy kéo dài thì cả hai người đều vào địa ngục nên một người sẽ chịu thua.


Là kết quả của một sự ăn vạ, mối giao tình ấy cũng bị nhiễm độc và thường thì kết thúc với vị đắng chát. Con đường của tình si lại rẽ qua ngả tình hận hay tình thù.


Nhưng vì sao có người lại phải dùng đến phương pháp níu kéo này?


Các nhà tâm lý học có thể giải thích rằng người như vậy thật ra rất yếu đuối và có vấn đề. Vì yếu đuối nên họ phải cần ai đó, phải bám chặt lấy một cái gì đó. Vì có vấn đề, họ không chú ý đến khổ đau và còn gây khổ đau tâm lý cho người khác để toại nguyện. Và người khác ở đây phải là người thân và hiền lành thì mới có thể là nạn nhân. Mấy ai dám lắc đầu khi thấy người thân của mình đòi chết nếu mình không nhượng bộ?


Tránh thế giới âm u đó, mình có thể bước qua tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung, dù gì thì cũng chỉ là hư cấu. Trong kho võ hiệp, có truyện “Thiên Long Bát Bộ” mới thật là ác liệt vì tình!


Mối tình của A Châu với Tiêu Phong là sự thăng hoa tuyệt đỉnh của tình yêu. Nàng A Châu lặng lẽ tự hy sinh cho người tình mà không đòi hỏi gì. Mối tình của nàng A Tử cũng với Tiêu Phong là sự thăng hoa bị lộn ngược. Khác biệt là tánh ác của A Tử.


Thế rồi, ở giữa lại có nhân vật Du Thản Chi.


Nhiều người bị tật nguyền có thể oán ghét mọi người khác vì nỗi khổ của mình. Khác với “Anh Gù Nhà Thờ Ðức Bà,” họ bị “Hội chứng Du Thản Chi” và đôi khi thành tàn nhẫn mà không biết.


Trong truyện Kim Dung, cái ác của Du Thản Chi đụng vào cái ác của A Tử mà lại nở ra đóa hoa của tình yêu. Cậu bé tôn sùng A Tử đến tận cùng và tìm mọi cách bảo vệ mối tình ấy, kể cả bằng cách tự hủy diệt. Du Thản Chi không ăn vạ và dọa dẫm mà làm thật, sống thật và chết thật! Ngược lại, A Tử coi gã như đồ chơi và lạm dụng mối tình si của kẻ tật nguyền.


Dưới ngòi bút Kim Dung, mình thấy chính A Tử mới là kẻ tật nguyền, vừa đáng ghét vừa đáng sợ và thường gây áp lực ăn vạ với Du Thản Chi. Nhưng tác giả lại còn ác hơn gấp bội khi… xá tội cho A Tử bằng cái chết. Ðoạn văn tả cảnh A Tử móc mắt trả lại cho Du Thản Chi mù lòa và lúp xúp ôm xác Tiêu Phong lao xuống vực là một kiệt tác về tình hận.


Trong cả câu chuyện này, người ta không thấy ngón võ ăn vạ hoặc chết giả mà toàn là chết thật!


Chỉ có một lần ăn vạ là tâm lý và âm mưu của bà vợ của Mã Ðại Nguyên.


Nàng có sắc đẹp khác thường và cũng tự yêu mình đến khác thường. Oán Tiêu Phong là vì chàng không để ý thấy nàng ở thành Lạc Dương, khi mà đại sư Huyền Từ mà còn phải ngoái lại, người đàn bà này rắp tâm trả thù khiến nhân vật Kiều Phong hay Tiêu Phong tan tành sự nghiệp lẫn thanh danh mà chẳng biết tại sao. Ðến sau cùng thì ông mới được thủ phạm giải thích cái chuyện oan khuất từ mấy chục năm về trước. Vào lúc hấp hối, người đẹp mới đòi ăn vạ một lần cuối.


Người đọc có thể lẩm bẩm tự hỏi rằng đàn bà quái ác như vậy mà vì sao các ông vẫn lụy về tình? Ðến độ nhiều ông còn đòi “chết cho xem”? Xin đừng vội tin như vậy, vì cái chết không là cái “show”!

Nghệ sĩ cải lương hát chầu


Ngành Mai


 


Trong hoạt động sân khấu cải lương có “hát chầu” mà hầu như bất cứ người nghệ sĩ tên tuổi nào, nếu không nhiều thì ít cũng đã có hát chầu. Nói rõ hơn là người nghệ sĩ chỉ nhận hát cho một buổi hát nào đó, với vai trò nào đó mà thôi, chớ không bị ràng buộc phải đi theo đoàn hát.










Kép Trọng Hữu “chuyên môn” hát chầu. (Hình: Bộ sưu tập của Ngành Mai)


Thông thường đào kép bị rã gánh, chưa đi đoàn nào hết, trong khi ấy có đoàn nào thiếu người nhờ thế vai trò vài hôm thì gọi là hát chầu.


Khi xưa mấy quán cà phê ở phía sau rạp Nguyễn Văn Hảo, mà giới nghệ sĩ gọi là Ngã Tư Quốc Tế, các nghệ sĩ bị rã gánh thường hay ngồi ở đây, để kiếm việc làm, nếu như đoàn hát nào đó đang thiếu đào hay kép về đây tìm người thay thế. Các nghệ sĩ đang thất nghiệp sẵn sàng đi bất cứ tỉnh nào để hát chầu vài hôm. Hát xong lại trở về chờ coi có đoàn nào về mời thì đi tiếp tục. Ðôi khi vừa về thì có đoàn khác mời đi liền, và cũng có lúc cả tháng chẳng có gánh nào mời.


Nhớ lại từ thời kỳ trước năm 1975 khi một nghệ sĩ không có sân khấu hát thường xuyên vì một lý do nào đó, nhưng vì yêu nghề, muốn tồn tại sống với nghề phải đi hát chầu cho các đoàn lưu diễn xa, đoàn này vài ba bữa, đoàn kia năm bảy hôm. Hát chầu nghĩa là không được đoàn nào ký giao kèo dài hạn (sáu tháng, một năm hay lâu hơn) nên không được xem là diễn viên của đoàn nào cả, thiếu diễn viên đoàn hát mời trám chỗ vài ba đêm. Khi nào đoàn mời được diễn viên mới thì người hát chầu lại thất nghiệp, và dĩ nhiên chờ đoàn khác mời gọi.Vì thế mà đi hát chầu, nghệ sĩ sân khấu tự xem như là bất đắc dĩ trong nghề nghiệp và khi có ai hỏi thì anh chị em thường tránh hai tiếng “hát chầu” có vẻ “nhẹ thể” đối với một nghệ sĩ sân khấu. Và anh chị em nói rằng đi “hát giúp” vài ba hôm cho một đoàn hát thiếu đào thiếu kép nào đó.


Thế nhưng, sau 1975 thời thế sân khấu đổi khác so với một đoạn đường khá dài của bộ môn nghệ thuật này, khiến cho cái nhìn của nhiều người đối với ngành nghề này đảo lộn cả một trăm tám mươi độ. Nếu ngày trước người ta xem hát chầu là bất đắc dĩ, là tạm sống khi chưa có sân khấu hát thường xuyên với giao kèo hẳn hòi, và thường lẩn tranh đề cập đến hai tiếng “hát chầu,” thì bây giờ một số người lại công khai mạnh dạn nói là mình hát chầu, nói là nhờ mình mà cứu sống bao nhiêu người, bao nhiêu đoàn hát. Và rồi bao nhiều nghệ sĩ tên tuổi, hàng ngôi sao lại cũng chen nhau đi hát chầu trong lúc nhiều đoàn hát danh tiếng cỡ lớn lại thiếu đào kép danh tiếng cỡ lớn lại phải ngưng nghỉ dài hạn, khiến cho các đoàn này sầm xì rằng các ngôi sao “bận đi làm giàu.” Lại thêm hai chữ mới “làm giàu” thay cho “hát chầu,” chớ không phải nói là đi “hát giúp” cho đừng nhẹ thể như ngày trước!


Ðó là thực trạng “hát chầu bất đắc dĩ” thành “hát chầu để làm giàu” đã từng diễn ra manh mẻ cuốn hút các ngôi sao sân khấu.


Một trong những nghệ sĩ hát chầu “chuyên nghiệp” là Trọng Hữu, một ngôi sao cải lương xuất hiện sau 1975. Trọng Hữu rất đa đoan, nhưng đó lại là diễm phúc trong nghề. Nhờ còn giữ được giọng ca vàng, ấm áp quyến rũ cùng nét diễn mộc mạc mà duyên dáng nên anh chàng được các đoàn tỉnh “xếp hàng” mời hát tăng cường tới tấp. Bởi vậy lịch làm việc của Trọng Hữu phải sắp trước cả tháng.


Một lần nọ tại Vĩnh Châu, Sóc Trăng kép Trọng Hữu tăng cường (tức hát chầu) cho đoàn cải lương Ðất Mũi. Ðúng lúc dân ở đây trúng mùa tôm, nên đi coi hát đông đến nỗi vãn hát rồi khán giả vẫn còn yêu cầu hát tiếp suất thứ hai ngay trong đêm. Ðây là trường hợp hiếm thấy ở nông thôn miền Tây và rất có thể chưa có tài danh nào gặp được trường hợp đoàn diễn được hai suất trong một đêm tại một điểm diễn.

Alexis Zorba con người chịu chơi (Kỳ 92)


Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.


Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.


Nguyễn Hữu Hiệu


 


Kỳ 92


 


Chúng tôi đi tới cái hố đào gần biển để trồng trụ cột thứ nhất. Thợ thuyền nâng một thân cây thông lớn và trồng nó thẳng trong hố. Thầy tư tế Stephanos mặc áo choàng lễ, cầm bình hương, chăm chú nhìn thân cây và bắt đầu đọc thần chú: “Cầu cho nó được trồng trên một tảng đá vững chắc để không gió và nước nào có thể làm nó lung lay… Amen!”


– Amen! Zorba vừa rống lên vừa làm dấu.


– Amen! Những hương mục lẩm bẩm.


– Amen! Thợ thuyền nói sau cùng.


– Cầu Chúa ban phước lành cho công việc của các con và cho các con của cải của Abraham và Isaac! Thầy tư tế Stephanos chúc, và Zorba dúi vào tay lão một tờ giấy bạc.


– Ta ban phước lành cho ngươi! Thầy tư tế mãn nguyện nói.


Chúng tôi trở lại lều. Zorba tiếp họ rượu vang và những món ăn tuần chay – mực ma rang, bạch tuộc rán, dầu ngâm ô-liu. Sau khi đã ăn uống no say, những quan viên chậm rãi đi dọc theo bờ biển trở về. Nghi lễ pháp thuật đã chấm dứt.


– Chúng ta tổ chức hay đấy chứ! Zorba vừa nói vừa xoa tay vào nhau.


Hắn cởi quần áo, khoác bộ quần áo làm việc lên và vớ lấy một cuốc chim. Hắn quát bọn thợ:


– Nào, các bạn! Làm dấu đi rồi làm việc!


Suốt ngày, Zorba không ngẩng đầu lên. Hắn say sưa với công việc. Cứ năm mươi thước, bọn thợ lại đào một cái hố và chôn một cây cột, làm thành một đường thẳng hướng về phía đỉnh núi, Zorba trắc lượng, tính toán và ra lệnh. Cả ngày hắn không ăn, không hút, không nghĩ. Hắn hoàn toàn miệt mài trong công việc. Hắn thường nói với tôi:


– Chính bởi người ta làm việc nửa vời, diễn tả tư tưởng nửa vời, tội lỗi hay thánh thiện nửa vời mà thế giới mới ở trong tình trạng hỗn loạn như ngày nay. Hãy đi đến cùng, đập dữ dội vào, đừng sợ hãi và bạn sẽ chiến thắng. Thượng Ðế ghét tên bạn – quỉ sứ hơn tên thượng đẳng – quỉ sứ gấp một triệu lần!


Buổi tối sau khi làm việc trở về, hắn nằm dài trên cát, mệt lả. Hắn nói:


– Tôi sẽ nằm ngủ tại đây trong khi chờ đợi rạng đông và chúng tôi sẽ làm việc trở lại. Tôi sắp cắt toán làm việc đêm.


– Tại sao phải hấp tấp vậy, Zorba?


Hắn lưỡng lự một lát.


– Tại sao ư? À, tôi muốn biết độ dốc tôi tìm có đúng không. Nếu không đúng, chúng ta lúa đấy, ông chủ. Càng biết sớm chừng nào càng hay cho chúng ta chừng ấy, ông thấy không?


Hắn ăn uống vội vàng, hau háu, rồi, lát sau bãi biển vang lên tiếng ngáy như sấm động của hắn. Còn tôi, tôi thức khá lâu, theo dõi cuộc du hành của những vì sao qua bầu trời. Tôi thấy cả bầu trời từ từ thay đổi vị trí cùng với tất cả những chùm tinh tú của nó – và sọ tôi, tựa đỉnh đài quan sát, cũng di động theo, đồng thời với những chùm sao. “Hãy chiêm ngắm đường đi của tinh tú như thể bạn cũng cùng quay theo chúng…” Câu trên của Marcus Aurelius khiến tâm hồn tôi ngập tràn hòa điệu.


 


21


 


Hôm nay là ngày lễ Phục Sinh, Zorba chải chuốt bảnh bao. Hắn đi đôi vớ len dầy mầu hoa cà mà theo lời hắn, là của một trong những mụ tình nhân ở Macedonia đan cho. Hắn lo lắng đi đi lại lại trên một đụn cát gần bãi của chúng tôi. Ðưa tay lên trên hàng lông mày rậm, hắn ngong ngóng trông về phía làng xa.


– Mụ đến chậm quá, con hải cẩu già; mụ đến chậm quá, con đàn bà lẳng lơ; mụ đến chậm quá, lá cờ cũ tả tơi…!


Một con bướm non bay phấp phới và muốn đậu lên ria Zorba; nhưng hắn nhột, khịt khịt mũi và con bướm bình thản bay đi, mất hút trong ánh mặt trời.


Hôm nay, chúng tôi chờ đợi mụ Hortense đến để mừng lễ Phục Sinh với mụ. Chúng tôi đã cho quay một con cừu, trải một tấm vải trắng trên bãi cát, nhuộm vài trái trứng. Nửa đùa cợt, nửa trang nghiêm, chúng tôi dành cho mụ một cuộc tiếp đãi trọng vọng. Trên bãi biển cô liêu này, mụ ngư nữ mập lùn, phấn son ngào ngạt, hơi vữa ra này gieo trên chúng tôi một vẻ lôi cuốn kỳ lạ. Khi mụ vắng mặt, chúng tôi cảm thấy hình như thiếu một cái gì – một mùi eau de Cologne, một chấm đỏ, một dáng đi nhún nhẩy, đong đưa như dáng một con vịt bầu, một giọng nói khàn khàn và hai con mắt xanh mờ đục.


Chúng tôi chặt hai cành đào kim-nhưỡng và nguyệt quế và dựng lên một khải hoàn môn mà mụ phải đi qua. Trên khải hoàn môn, chúng tôi cắm bốn lá cờ ố Anh, Pháp, Ý, Nga – và ở giữa, trên cao, một tấm vải trắng sọc xanh. Chúng tôi không có súng thần công vì không phải là thủy sư đô đốc, nhưng chúng tôi đã mượn hai cây súng trường và định ngồi trên đụn cát chờ khi nào con hải cẩu già của chúng tôi vừa núng na núng nính xuất hiện trên đường là chúng tôi nhất tề bắn một loạt. Chúng tôi muốn làm hồi sinh trên bãi biển cô liêu này một cái gì của dĩ vãng vàng son của mụ, để mụ đáng thương đó sống giây lát trong ảo tưởng và tưởng mình lại trở thành một thiếu phụ trẻ trung môi hồng với bộ ngực rắn chắc, giầy ban bóng lộn và tất lụa là. Sự Phục Sinh của Chúa có giá trị gì nếu nó không phải là dấu hiệu hồi sinh của tuổi trẻ và niềm hân hoan trong chính chúng ta? Nếu nó không thể khiến cho một mụ đàn bà hoa nguyệt tìm thấy lại tuổi đôi mươi!

Ông Nguyễn Ngọc Châu

Ông Phêrô Lý Trọng Lễ

Tin mới cập nhật