Chu Dũng Sĩ/Người Việt
LITTLE SAIGON, California (NV) – Ông Chung Tử Bửu cho biết trong lúc du học tại Hoa Kỳ, chương trình Advanced có hai giai đoạn: Giai đoạn đầu vẫn do huấn luyện viên dân sự dạy bay phi cụ, bay đường dài, bay đêm, bay thấp sát ngọn cây, và bay ngoằn ngoèo theo dòng sông hay đường xe lửa. Tất cả các kỹ thuật bay này đều dễ dàng, ngoại trừ bay phi cụ. Không ăn gian là không thể giữ được phi cơ bình phi. Nhất là những buổi tập bay phi cụ trong phòng link, tức là một cái máy giả làm phi cơ. Vì nó được đặt trên một cái trụ, không rung như bay ngoài thực tế nên rất buồn ngủ.

Ông Bửu kể: “Có một ông thầy người da đỏ rất khó tính là thầy dạy của anh Nguyễn Hữu Tươi. Một hôm, họ cử tôi bay phi cụ với ông thầy này, sau đó bay đêm với ông ta. Tôi hơi ngán vì nghe anh Tươi sợ ông này nên tôi lái rất cẩn thận. Sau khi bay đêm về, ông nói với mấy thầy kia, ‘Thằng này lái còn giỏi hơn thầy. Bay phi cụ rất vững. Ban đêm, nó đáp xuống đất rồi mà tôi không hay.’ Được ông khen, tôi hãnh diện quá, rồi tưởng mình là cái đinh của thế giới luôn chớ!”
Giai đoạn thứ nhì của Advanced là bay chiến thuật chỉ kéo dài một tháng. Giai đoạn này do huấn luyện viên quân đội dạy. Các khóa sinh phải đáp trong rừng, bay thật nhanh sát đất hoặc ngọn cây mà phải an toàn. Chung Tử Bửu nhớ mãi lời dặn của Thiếu Tá Hooks, “Nếu mầy bay 80 knots, đạn sẽ bắn trúng đuôi; 70 knots đạn sẽ trúng cabin, còn nếu bay 60 knots, đạn sẽ vô thẳng đầu của mầy.”
Ở Fort Rucker, ông Bửu đi nhà thờ First Baptist ở thành phố nhỏ Enterprise cách Fort Rucker vài dặm. Qua nhà thờ đó, gia đình Thiếu Tá Robert Flint và gia đình Trung Tá Glen A. Leister thay phiên chở ông Bửu đi nhà thờ mỗi Chúa Nhật. Mặc dù cả hai gia đình đều cư xử với ông rất tốt, nhưng gia đình Trung Tá Glen A. Leister thì thân với ông hơn.
Ông Bửu tâm tình: “Họ hay mời tôi tới nhà ăn tối và bất cứ khi nào tôi cần thứ gì mà Post Exchange của căn cứ không có, thì họ chở tôi tới thành phố Dothan để tìm mua cho bằng được. Sau này Trung Tá Leister sang Việt Nam tới phi đoàn tìm tôi, nhưng lần nào tôi cũng đi biệt phái xa, không gặp được. Tôi rất cảm kích tình bạn bền vững của ông.”
Lễ tốt nghiệp phi công trực thăng Lục Quân Hoa Kỳ
Lễ tốt nghiệp phi công trực thăng Lục Quân Hoa Kỳ khóa 67-16A được tổ chức vào 27 Tháng Chín, 1967. Chiều hôm trước đó, Gene Ainsworth lái xe cả ngàn dặm đến thăm và ở lại đêm để sáng hôm sau dự lễ tốt nghiệp của ông Bửu.
Vừa tốt nghiệp xong vào buổi sáng, các sĩ quan Không Quân Việt Nam phải xuống phi cảng Dothan. Đến trưa, họ lên phi cơ về Travis AFB ở San Francisco và ở đó bốn ngày, để chờ có chuyến bay chở hành khách quân nhân về Việt Nam.
Chung Tử Bửu cho biết: “Chúng tôi về tới Việt Nam vào đầu Tháng Mười, 1967. Đang ở bên Mỹ rất thanh bình, nhưng khi phi cơ sửa soạn đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt, nhìn ra cửa sổ thì tôi thấy rất nhiều hỏa châu tỏa sáng. Được trở về quê hương quá vui mừng, nhưng không khí chiến tranh làm cho tôi rất buồn lòng.”
Sau đó, Chung Tử Bửu vào trình diện Phòng Du Học, được tng thượng sĩ già tại văn phòng này cho biết ông chưa được mang cấp bậc thiếu úy, vì chưa đủ hai năm trong quân đội.
Ông Bửu cãi, “Tôi nhập ngũ ngày 27 Tháng Chín, 1965, tốt nghiệp ngày 27 tháng Chín, 1967 thì vừa tròn hai năm. Làm sao thiếu ngày được?” Nhưng họ lại bảo với ông: “Anh không thi mãn khóa quân sự nên hai năm của anh bị trừ sáu tháng. Anh phải mang cấp chuẩn úy tới ngày 29 Tháng Ba, 1968 mới được lên thiếu úy.” Ông Bửu hỏi: “Vậy, học giỏi, về nước trước thời hạn không được thưởng hay châm chước gì hay sao?” Họ trả lời: “Luật là như vậy, chúng tôi không làm gì khác được.”
Biết biện luận với mấy ông thượng sĩ già hành chánh chẳng có ích lợi gì cả, ông Bửu chấp nhận, nghĩ trong lòng: “Bị trễ lon thiếu úy sáu tháng chẳng sao cả.”
Trình diện đơn vị mới
Trong ba tân sĩ quan Không Quân tốt nghiệp tại Hoa Kỳ, Chuẩn Úy Bửu và hai người bạn cùng khóa 65E là Thiếu Úy Lê Quang Nghĩa và Thiếu Úy Nguyễn Hữu Tươi. Có ba cái thăm để chọn đơn vị thì Thiếu Úy Tươi có người anh ruột là Nguyễn Hữu Duyên xin cho về Cần Thơ để anh em được gần nhau, nên Thiếu Úy Tươi khỏi bắt thăm.
Ông Bửu nói: “Còn lại hai đơn vị ở Nha Trang và Đà Nẵng. Thiếu Úy Nghĩa có vợ ở Nha Trang nên điều đình với tôi: ‘Nếu mầy bắt thăm trúng Nha Trang mà tao trúng Đà Nẵng thì tao và mầy cùng đổi đơn vị, tao sẽ trả tiền cho mầy.’ Tôi vui vẻ nói với bạn mình, ‘Thôi đi cái thằng Nghĩa già, tao không cần tiền bạc của mầy. Tao một thân một mình đi đâu cũng được. Nếu tao trúng Nha Trang, tao sẽ nhường cho mầy.’ Kết quả, thật may mắn cho bạn Nghĩa, vì tôi bốc thăm trúng ngay Đà Nẵng.”

Ông cho biết thêm: “Lúc chưa trình diện đơn vị, tôi về mua lon chuẩn úy gắn lên ngực áo. Tôi gặp Trần Văn Ngọc từ Đà Nẵng về. Hắn dọa: ‘Mầy mà đeo lon chuẩn úy là bị ông Đại Úy Phước ‘nẹt’ đó nhe. Ông ta phán, ‘Pilot phải đeo lon thiếu úy, đứa nào đeo chuẩn úy tao phạt trọng cấm!’”
Thật ra, ông Bửu thích về Nha Trang hơn, bởi vì ở đây có dì ruột của ông và rất nhiều người quen biết. Như ở Không Đoàn 62, Nha Trang, có anh Phạm Quang Minh con ông bà Phạm Văn Năm với ông Bửu là anh em bạn dì ruột. Phạm Quang Khiêm, em của anh Minh, đồng tuổi với ông Bửu, hai người thân nhau lắm, nên không bao giờ xưng hô anh hay em, mà cứ gọi nhau mầy-tao như thời còn nhỏ đã quen rồi.
Ông Bửu nhớ lại: “Khi chuẩn bị đi Đà Nẵng trình diện đơn vị mới, tôi lên Tân Sơn Nhứt xin chỗ đi Đà Nẵng thì được biết hôm sau có phi cơ của 213 về Đà Nẵng, nên khỏi mất công đi phi cơ Mỹ, mà đi chung với Phi Đoàn 213 tiện hơn. Bữa sau tôi mang hành trang lên chiếc H-34 của Phi Đoàn 213. Trưởng phi cơ hôm đó là Trung Úý Trần Chiêu Quan, còn copilot là Trần Văn Ngọc. Anh Quan welcome ‘ma mới’ quá giang về Phi Đoàn 213.”
“Sở dĩ tôi kể chuyện này là vì phi cơ H-34 có bánh xe, khi anh Quan đáp ở Nha Trang để đổ xăng, anh đáp xuống êm ru hơn cả phi cơ có cánh bình thường. Lúc đó cục kiêu căng của tôi tan biến sạch, vì tài nghệ mấy ông cũ hơn mình quá xa, mình chẳng là cái đinh gì hết. Mà anh Trần Chiêu Quan được huấn luyện ở Việt Nam chứ không phải từ Mỹ về, nhưng vì anh lái lâu năm nên giỏi. Lúc đó tôi mới hiểu rằng, những người lái lâu năm mới là những người lái giỏi. Còn mình mới ra trường, mới bay hơn 200 giờ mà làm phách, tưởng mình hơn người ta. Thật ra mình còn dở lắm, không hơn ai hết,” ông Bửu tâm tình thêm.
Phục vụ Phi Đoàn 213, Không Đoàn 41 Chiến Thuật
Chung Tử Bửu được về Phi Đoàn 213, Không Đoàn 41 Chiến Thuật ở Căn cứ Không Quân Đà Nẵng. Khi ra đơn vị, ông tưởng mình sẽ trở thành một phi công quân sự liền nhưng không phải vậy. Lúc đó trưởng phòng hành quân Phi Đoàn 213 là Đại Úy Nguyễn Minh Châu, mà anh em gọi ông là “Châu Bụng” vì có cái bụng hơi bự. Ông sắp xếp cho Phi Công Bửu bay cùng để ông thử nghiệm và check out trở thành phi công quân sự. Ông nói, “Anh mới ra trường nên chỉ là phi công dân sự thôi, anh chưa phải là phi công quân sự.”
Sau khi Đại Úy Châu thử tài bay của ông Bửu xong, về phi đoàn ông ký vào cái certificate chứng nhận ông Bửu đã trở thành phi công quân sự, được phép lái phi cơ quân sự, nhưng chỉ là hoa tiêu phó. Nghĩa là còn lâu lắm mới thành hoa tiêu chánh, rồi sau đó mới được trở thành trưởng phi cơ.

Ông Bửu nói: “Buổi check out mất chừng một giờ để thử khả năng bay. Tất cả kỹ thuật bay quân sự thì tôi đã học ở giai đoạn Advanced tại Fort Wolters và Fort Rucker. Những giai đoạn tập đáp trong rừng, đáp trên mỏm đá, bay lướt sát ngọn cây, bay sát mặt đất đều học hết rồi, nên họ chỉ cần kiểm soát xem mình có lái được hay không mà thôi. Thật ra ai đã lái được trực thăng thì điều khiển nó dễ dàng, không khó. Nhưng khó là làm sao đáp xuống chạm đất êm ru mà hành khách không ngờ họ đã xuống tới đất, cái đó mới khó.”
Theo ông Bửu, lâu ngày về sau này, khi đã trở thành trưởng phi cơ lão luyện, nhiều lần ông đáp xong mà hành khách chưa biết đã chạm đất rồi.
Nhận công tác hành quân đầu tiên
Nhiệm vụ của Phi Đoàn 213 là yểm trợ cho Sư Đoàn I Bộ Binh, Sư Đoàn II Bộ Binh và các đơn vị Địa Phương Quân của các tiểu khu Quảng Ngãi, Quảng Tín, Quảng Nam, Thừa Thiên, và Quảng Trị. Tất cả thuộc Quân Đoàn I. Nhưng với số lượng phi cơ quá ít, công việc chính của Phi Đoàn 213 hầu hết là tiếp tế, tải thương cho các tiền đồn và các chi khu, những quận lỵ thuộc lãnh thổ của Quân Khu I.
Mỗi ngày, nơi nào họ cần bao nhiêu phi cơ thì tiểu khu yêu cầu bên quân đoàn. Sau đó, Quân Đoàn I liên lạc với Không Đoàn 41. Phòng Hành Quân Chiến Cuộc của không đoàn thông báo cho phi đoàn cung cấp phi cơ theo nhu cầu. Khi cần trực thăng vận đổ quân cấp tiểu đoàn trở lên thì có thêm các Phi Đoàn Hoa Kỳ.
Ông Bửu nhớ lại: “Tại Phi Đoàn 213, chuyến biệt phái đầu tiên là tôi được lệnh bay ra Huế ở lại bốn ngày. Khi ra tới Huế, tôi thấy xứ Huế buồn quá! Không phải chốn phồn hoa đô hội như Sài Gòn hay Đà Nẵng. Chúng tôi tạm trú trong một cái nhà lớn nhiều phòng, gọi là Câu Lạc Bộ Sĩ Quan nằm cạnh khách sạn Hương Giang sát bờ Sông Hương bên hữu ngạn. Đối diện bên kia con đường là quán cơm 76, chuyên bán ‘chịu’ cho các nhân viên phi hành của Phi Đoàn 213. Nhưng trước khi rời Huế thì phải thanh toán tiền thiếu quán cơm này đàng hoàng. Đối với tôi, lúc đó xứ Huế thật buồn, cho nên cứ mỗi buổi chiều bay về ăn tối xong, tôi lên giường bố trùm mền ngủ.” [dt]















































































