Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.
Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.
Nguyễn Hữu Hiệu
Kỳ 11
Hắn nhanh nhẹn lăng xăng chạy qua chạy lại, mắt sáng lên. Hắn hát nho nhỏ những bản tình ca cũ kỹ.
– Sống là vậy, ông chủ. Lúc này, tôi hành động như thể tôi phải chết ngay bây giờ. Bởi vậy tôi hối hả để khỏi lăn đùng ra chết trước khi ăn con gà.
– Ngồi vào bàn, mụ Hortense ra lệnh.
Mụ mở vung và đặt cái nồi trước mặt chúng tôi. Nhưng mụ há hốc miệng: mụ nhận thấy ba bộ muỗng nĩa. Ðỏ mặt vì sung sướng, mụ nhìn Zorba và cặp mắt sắc, xanh tươi của mụ chớp chớp.
– Mụ bốc lửa trong quần lót, Zorba nói thầm với tôi.
Ðoạn, với một vẻ lễ phép quá đáng, hắn quay về phía mụ già và nói:
– Hỡi nữ thần của sóng, chúng tôi là những kẻ đắm tầu và biển đã xô dạt chúng tôi vào vương quốc ngài. Xin ngư nữ hãy cho chúng tôi hân hạnh được mời ngài dùng bữa với chúng tôi.
Mụ ca sĩ già dang hai cánh tay, và khép lại như thể mụ muốn ôm cả hai chúng tôi, đong đưa một cách duyên dáng, lướt qua Zorba, đoạn vượt qua tôi, và cun cút chạy vào phòng. Lát sau mụ lại xuất hiện, đong đưa, nhún nhẩy, và mặc bộ đồ diện nhất của mụ: một tấm váy nhung xanh óng ánh có những giải băng vàng sờn rách. Áo che thân trên mở rộng một cách niềm nở và mụ đã gài trong chỗ khoét lõm vào một bông hồng bằng vải nở hết cánh. Tay mụ xách một cái lồng két mụ đem ra treo ở giàn nho.
Chúng tôi để mụ ngồi giữa, Zorba phía bên phải, tôi phía bên trái mụ.
Cả ba chúng tôi ăn ngấu nghiến. Một hồi lâu chúng tôi không ai nói năng gì. Trong chúng tôi, con thú đang ăn no, uống say. Ðồ ăn chẳng bao lâu biến thành máu, thế giới trở nên đẹp đẽ hơn, người đàn bà ngồi kế bên chúng tôi mỗi lúc một trẻ thêm và những vết nhăn biến mất. Con két treo trước mặt chúng tôi, áo mặc ngoài xanh, áo gilet vàng, cúi xuống nhìn chúng tôi. Trông nó khi thì giống như một gã quái dị nhỏ thó bị bùa mê, khi thì tựa như linh hồn mụ ca sĩ già, mặc áo xanh vàng. Và trên đầu chúng tôi giàn nho trụi lá đột nhiên đầy những chùm nho đen lớn.
Zorba đảo mắt qua lại, mở rộng hai tay như muốn ôm cả trần gian.
– Sao kỳ vậy, ông chủ? Hắn ngạc nhiên kêu lên. Mới uống có một ly rượu nhỏ mà đã thấy thế giới đảo điên. Ðời cũng lạ lùng vậy đó, ông chủ! Thực thế, kìa, ở trên đầu chúng ta là nho hay là thiên thần, tôi chịu không thể phân biệt được. Hay là không có gì hết, và không có gì tồn tại, không có gà, không có ngư nhân mỹ nữ, không có cả Crete? Nói, ông chủ nói đi, không tôi phát điên lên mất!
Zorba bắt đầu lanh lợi. Hắn đã làm hết con gà giò và bắt đầu nhìn mụ Hortense một cách thèm thuồng. Cặp mắt hắn chằm chặp nhìn mụ, đưa lên, đưa xuống, luồn vào trong bộ ngực nở nang như mơn trớn. Ðôi mắt nhỏ nhắn của mụ già cũng sáng lên nữa, mụ thích rượu vang và đã nốc cạn vài ba ly. Và con quỉ nghịch ngợm trong rượu đã đưa mụ trở lại thuở vàng son xa xưa. Mụ trở nên dịu dàng, vui vẻ và cởi mở hơn. Mụ đứng lên, gài chốt cửa ngoài để dân làng – “những quân mọi rợ” như mụ thường gọi – khỏi nhòm ngó. Mụ châm một điếu thuốc, và cái mũi hếch nhỏ đặc Pháp của mụ bắt đầu thở ra từng luồng khói cuồn cuộn.
Vào những giây phút như thế tất cả những cửa ngỏ của người đàn bà mở tung. Lính gác ngủ yên và một lời nói dịu dàng cũng có sức mạnh như vàng hay tình yêu. Tôi châm tẩu và đưa đẩy lời nói dịu dàng.
– Bà Hortense, bà làm tôi nhớ tới Sarah Bernhardt… hồi son trẻ. Tôi không thể ngờ có thể tìm thấy ở nơi hoang dã này một vẻ đẹp thanh lịch, duyên dáng, lịch sự và diễm lệ nhường ấy. Shakespeare nào đã đưa bà đến đây, giữa đám dân mọi rợ này?
– Shakespearse? Mụ vừa hỏi vừa giương cặp mắt xanh lợt lên. Shakespeare nào?
Tâm trí mụ bay bổng về những hí viện ngày xưa mụ đã lui tới. Trong nháy mắt, mụ lượn một vòng quanh những quán café – ca nhạc, tửu quán, từ Ba Lê đến Beirut, và từ đó dọc theo bờ biển Anatolia và đột nhiên mụ nhớ ra: chính tại Alexandria, trong một gian phòng lớn với những đèn treo, ghế bọc nhung, đàn ông và đàn bà, những tấm lưng trần, hương thơm, hoa. Thình lình, tấm màn nhung kéo lên và một tên da đen khủng khiếp hiện ra…
– Shakespeare nào? Mụ hỏi lại, kiêu hãnh vì cuối cùng nhớ ra. Có phải cái người mà người ta cũng còn gọi là Othello ấy không?
– Chính hắn. Shakespeare nào đã xô dạt bà lên hoang đảo này, thưa bà?
Mụ nhìn quanh. Những cánh cửa đã khép kín, con két đã ngủ, những con thỏ đang làm ái tình, chúng tôi trơ trọi. Xúc động, mụ bắt đầu mở bầu tâm sự như người ta mở một cái rương cũ đầy hương liệu, thư tình vàng theo thời gian và cổ kính tàn y…
Mụ nói tiếng Hy Lạp tàm tạm, nuốt chữ, lộn vần. Tuy nhiên, chúng tôi khó mà nín cười được, đôi khi – chúng tôi uống đã khá nhiều – chúng tôi òa khóc.
– Ðó (đại khái là điều mụ kiều nữ già đã kể cho chúng tôi nghe trong sân thơm ngát nhà mụ) đó, người các ông đang thấy trước mặt đây không phải là ca sĩ phòng trà, không! Trước kia tôi là một nghệ sĩ nổi danh. Tôi mặc quần áo lót bằng lụa viền đăng-ten thứ thiệt. Nhưng tình yêu…









































































































