Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.
Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.
Nguyễn Hữu Hiệu
Kỳ 99
Hắn nắm tay và giáng cho Manolaskas một cú như trời giáng vào bụng dưới. Lập tức con dã thú rời ra. Răng nó nhả ra, rời cái tai bị rách một nửa, và khuôn mặt đỏ tía của gã trở thành trắng bệch. Bằng một cú thần tốc, Zorba xô dụi gã xuống đất; tước lấy dao và bẻ gẫy làm đôi.
Hắn lấy khăn tay thấm máu chảy ròng ròng từ tai. Ðoạn hắn lau mặt đầm đìa mồ hôi và tất cả khuôn mặt hắn lem luốc máu. Hắn đứng thẳng lên, đưa mắt liếc quanh: cặp mắt hắn mọng đỏ. Hắn hét lên với góa phụ:
– Ðứng lên! Ði với tôi!
Và hắn hướng về cổng nhà thờ.
Góa phụ đứng dậy; nàng thu hết sinh lực, lấy đà phóng tới trước. Nhưng nàng không có thì giờ. Tựa một con ó, lão Mavrandoni chồm lên nàng, dúi nàng xuống, quấn mái tóc đen dài của nàng ba vòng quanh cổ tay và, bằng một nhát dao, lão cắt phăng đầu nàng.
– Tôi chịu trách nhiệm về tội lỗi này! Lão hét to, và quăng đầu nạn nhân lên thềm nhà thờ. Ðoạn lão làm dấu.
Zorba quay lại. Hắn điên cuồng, bứt một nắm ria mép. Tôi lại gần và nắm lấy cánh tay hắn. Hắn cúi xuống, trừng trừng nhìn tôi. Hai giọt nước mắt lớn đọng trên mi mắt hắn.
– Ta đi thôi, ông chủ! Hắn nghẹn ngào nói.
Tối hôm đó, Zorba không chịu ăn uống gì cả. Hắn nói: “Cổ họng tôi se lại, không có gì lọt xuống được!” Hắn rửa tai bằng nước lạnh, nhúng một nắm bông vào rượu saki và băng lại. Tay ôm lấy đầu, hắn ngồi trên nệm, trầm ngâm.
Nằm dài trên mặt đất, tay chống cằm, tôi cảm thấy nước mắt ấm từ từ lăn xuống má. Ðầu óc tôi không vận chuyển, tôi không nghĩ ngợi gì hết. Tôi tựa một đứa trẻ đang lúc quá đau buồn, tôi khóc.
Thình lình Zorba nổi xung ngẩng đầu lên. Hắn bắt đầu la, theo đuổi những tư tưởng yếm thế:
– Theo tôi, ông chủ, mọi sự xẩy ra trên cõi đời này đều bất công! Bất công! Tôi, con sâu của trái đất, con ốc sên Zorba tôi không thừa nhận! Tại sao những người trẻ phải chết và những kẻ già cỗi tiếp tục sống! Tại sao những trẻ thơ chết? Tôi có một đứa con trai, tên Dimitri, tôi mất nó năm lên ba và không bao giờ tôi tha thứ cho Thượng Ðế điều đó! Ngày tôi từ trần, nếu ngài dám cả gan trình diện trước mặt tôi, và nếu quả thật ngài là một Thượng Ðế đứng đắn, ngài sẽ xấu hổ! Vâng, ngài sẽ phải xấu hổ trước mặt tôi, con ốc sên Zorba!
Hắn nhăn mặt như thể hắn bị đau. Máu từ vết thương hắn lại chẩy ra. Hắn bặm môi để khỏi la lên. Tôi nói:
– Chờ chút, Zorba! Tôi sẽ thay băng cho.
Tôi lại rửa tai hắn bằng rượu saki, lấy chai nước hoa cam mà góa phụ gửi cho tôi và tôi thấy để trên giường tôi, và nhúng miếng bông gòn vào đó.
– Nước hoa cam? Zorba vừa hỏi vừa hít lấy hít để. Nước hoa cam? Xức lên đầu tôi, vậy đó, tốt lắm! Ðổ lên tay tôi nữa, đổ hết đi, nữa!
Hắn tỉnh táo dần. Tôi nhìn hắn, kinh ngạc. Hắn nói:
– Tôi có cảm tưởng như đang đi vào khu vườn của bà góa.
Và hắn bắt đầu than thở.
– Phải mất bao nhiêu năm, bao nhiêu năm dài đằng đẵng trái đất mới có thể thành công trong công việc tạo nên một tấm thân như vậy! Người ta nhìn nàng và thầm nhủ: “Ôi, ước gì ta mới hai mươi tuổi và tất cả đàn ông biến mất và chỉ còn có một mình ta với người đàn bà này tồn tại trên trái đất và cùng nhau tạo nên những đứa trẻ, cho đông đúc lại trần gian! Không, không phải những đứa trẻ, chúng là những thần thánh đích thực!” Thế mà bây giờ…
Hắn đứng nhỏm dậy. Hai mắt giàn giụa nước mắt.
– Tôi không thể chịu nổi, ông chủ. Tôi phải đi dạo, tôi phải trèo xuống ngọn núi này đôi ba lần đêm nay cho mệt tôi đi, cho tôi nguôi đi một chút… Ôi, góa phụ trời đánh! Tôi cảm thấy cần phải hát tặng cho ông nghe một khúc bi ca (*)!
Hắn lao ra ngoài, đi về hướng núi và biến mất trong bóng tối.
Tôi nằm dài trên giường, tắt đèn và một lần nữa lại bắt đầu, theo thói quen khốn nạn và phi nhân của tôi, chuyển vị thực tại, rút máu mủ xương thịt nó và giản lược nó thành ý tưởng trừu tượng, nối kết nó với những định luật tổng quát cho đến khi tôi đi đến cái kết luận khủng khiếp cho rằng tất cả những gì xẩy ra đều thiết yếu. Hơn nữa, hữu ích cho hòa điệu đại đồng. Cuối cùng tôi đi đến cái an ủi tối hậu và ghê gớm này: đúng là tất cả những gì đã xẩy ra đều phải xẩy ra.
Cuộc tàn sát góa phụ đi vào đầu óc tôi – tổ ong trong đó từ vài năm nay tất cả nọc độc đều đã trở thành mật ong – và đảo lộn nó. Nhưng lập tức triết lý của tôi xâm chiếm lời khuyến cáo đáng sợ này, bao bọc nó bằng hình ảnh, xảo thuật và khiến nó trở thành vô hại. Cũng thế những con ong lấy sáp bao bọc bởi những con ong đất đói khát đến ăn trộm mật.
(*) Mirologue: Bài ai ca, vãn ca khóc điếu người thân thích theo cổ tục Hy Lạp, ngày nay, người ta hát như những khúc bi ca. – C.W.



























































































