Hành trình từ trường làng đến Ðại Học Quốc Tế RMIT Việt Nam (Kỳ 57)


Kỳ 57


Nguyễn Xuân Thu


Ngoài ra, trong suốt mấy chục năm, nhất là từ 1994 về sau, tôi đã giúp tư vấn rất nhiều tổ chức giáo dục tại Việt Nam, từ Bộ Giáo Dục đến các trường đại học từ miền Nam đến miền Bắc trong nỗ lực hiện đại hóa nền giáo dục Việt Nam, mở rộng việc liên kết với nước ngoài để nâng cao chất lượng dạy và học tại Việt Nam. Tôi cũng giúp đưa rất nhiều học sinh và sinh viên Việt Nam sang Úc du học. Nhiều người trong đó đã thành tài.


Có được một số thành quả trên, cá nhân tôi cũng đã phải trả một cái giá rất đắt và đã vượt qua muôn vàn thử thách, trong đó có chứa cả niềm vui thoáng qua lẫn nỗi buồn sâu lắng. Buồn nhất là những sự hiểu lầm đến từ nhiều phía.


Những suy nghĩ thực


Bạn bè mỗi người có một cách suy nghĩ về tôi. Có người nghĩ rằng tôi về Việt Nam làm việc là vì tôi là người thân Cộng, muốn phục vụ chế độ Cộng sản. Có kẻ cho rằng tôi tham tiền, chạy theo bất cứ chế độ nào mà có thể kiếm được nhiều lợi lộc. Có một người bạn Việt kiều ở Úc khi về Việt Nam thì nói đầy thâm ý với những người ông gặp rằng Nguyễn Xuân Thu ngày trước làm cho CIA Mỹ, còn bây giờ sống ở Việt Nam thì làm việc cho công an của Cộng sản. Mặc cho ai nghĩ gì thì nghĩ, tôi làm theo quyết định của lương tâm mình, lương tâm của một đứa trẻ mồ côi, nghèo khổ ngày trước và bây giờ làm những gì trong khả năng để giúp những người cùng số phận với mình ngày xưa. Bên Quốc gia hay phía Cộng sản đều có người tốt, kẻ xấu. Chính phủ miền Nam trước đây mà tôi đã hết lòng phục vụ hay chính quyền Cộng sản ngày nay, bên nào cũng có những chính sách đáng trân trọng và những chính sách rất tồi, nhằm trước tiên phục vụ đảng phái, phe nhóm của mình. Nhưng trong lòng, tôi chưa bao giờ yêu quý chế độ Cộng sản. Còn bảo tôi rất giàu và tham tiền, tôi rất tự hào để nói với năm đứa con trong gia đình tôi và bạn bè rằng trong đời, trước đây và ngay cả bây giờ, tôi chưa bao giờ giàu và chưa hề kiếm được đồng tiền nào không lương thiện.


Cảm nhận của tôi về Hà Nội


Trong thời gian ở Hà Nội, tôi ít đi ra ngoài nếu không có việc cần. Trên 4 năm ở Hà Nội tính lại tôi đến thăm nhà bạn bè không đến 10 lần. Có lẽ thời ấy người dân Hà Nội còn e ngại Việt kiều, đặc biệt là đối với những người có dính dáng đến chế độ cũ ở miền Nam như tôi, hoặc họ không muốn mời khách đến nhà khi nhà cửa của họ lúc ấy chưa được tươm tất lắm để tiếp người lạ. Những ngày nghỉ cuối tuần hoặc những ngày lễ, Tết, nếu muốn thay đổi không khí, tôi thường đi thăm các thắng cảnh ở miền Bắc. Tôi rất thích đi thăm chùa Trúc Lâm lúc chưa có cáp treo. Tôi cũng có đi thăm chùa Hương, Sapa, vịnh Hạ Long, Tam Cốc tại Ninh Bình mỗi nơi vài lần. Mặt khác vì tôi không uống bia, rượu nên cũng ít có bạn bè. Tại Hà Nội, tôi thích nhất là hồ Hoàn Kiếm. Ðến đó ngồi chơi, uống cà phê, hay đi dạo quanh bờ hồ làm tôi thấy thư thái hơn. Có một địa chỉ rất nổi tiếng ở Hà Nội mà thời đó tôi chưa đến thăm: Lăng Bác. Có lẽ tôi là người sợ các xác chết.


Công an theo dõi


Tôi không biết rõ công an theo dõi tôi từ bao giờ, từ lúc tôi mới về Việt Nam lần đầu, hay lúc tôi về làm việc tại Hà Nội vào tháng 4 năm 1994, hoặc hơn một năm sau, từ giữa năm 1995 lúc tôi dọn đến ở và làm việc tại số nhà 52B Nguyễn Khuyến, Hà Nội?


Thời đó, tất cả Việt kiều ở và làm việc bất cứ đâu tại Việt Nam cũng đều phải đăng ký tạm trú với địa phương nơi mình ở và chịu sự quản lý hành chính của công an phường. Ngoài các thủ tục cư trú và an ninh trên, cá nhân tôi còn phải chịu sự quản lý chuyên môn của cơ quan chủ quản của tôi lúc ấy là Ðại học Quốc gia Hà Nội.


Thực tế, tôi chưa bao giờ liên hệ trực tiếp với Ủy ban Nhân dân phường hay công an phường. Nếu có những đóng góp gì cho quỹ từ thiện, như bão lụt, thiên tài, tết nhi đồng,… thì nhân viên kế toán trong văn phòng của tôi giải quyết. Chính quyền địa phương hay công an chưa bao giờ đòi hỏi tôi bất cứ điều gì, ngoại trừ trong những dịp lễ như 30/4 hay 2/9 tôi thường được căn dặn hạn chế đi ra ngoài, nhất là ở những chỗ đông người.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT