“Khu Rừng Lau” là bộ trường thiên tiểu thuyết được Doãn Quốc Sỹ viết nhằm tái hiện giai đoạn bi thảm nhất của lịch sử cận đại Việt Nam. Nhưng lấp lánh đâu đó, giữa những trang văn của ông, vẫn là niềm tin nơi con người, nơi dân tộc. Nó chịu được sự đọc lại, không chỉ hôm nay mà còn với nhiều thế hệ mai sau.
Kỳ 24
Ðê vỡ! Cả vùng ruộng thấp Bắc Ninh ngập dưới làn nước đỏ mênh mông, nước ngập nửa làng Lại Vũ. Sóng đồng thật hỗn loạn! Những con thuyền thúng nhỏ với những lá cờ đỏ sao vàng căng phồng phất phới từ Lại Vũ đi chéo lên huyện Từ Sơn có khi mất đến hai tiếng đồng hồ.
Một xác người trương phồng không biết chết tự đâu theo con nước trôi rạt vào bờ lũy tre. Người đàn bà lỡ bước kia đau bụng âm ỉ từ một ngày trước và bắt đầu giở dạ đẻ khoảng mười hai giờ khuya. Ở chốn quê hương thời ngập lụt này việc đi lại vô cùng diệu vợi. Mẹ nàng hay tin vội mời bà mụ ở đầu làng lại. Ðau quằn quại đã trên một tiếng đồng hồ, nàng bị lột truồng từ khoảng dưới. Bà mụ đăm chiêu ngắm hình bụng nàng to phình về phía mạng mỡ bên trái, phần bên phải đối diện ngỏ xẹp. Thật là khác thường!
– Cô đau lắm hả? – bà mụ hỏi.
Nàng bặm môi dang tay gật đầu không nói. Cửa mình hơi mở nước đầu ối chảy ứa ra màu trắng đục.
– Cô rặn thử được rồi đấy – bà nói.
Nàng rặn rồi nhăn mặt.
– Không sao đâu con ạ – mẹ nàng nói giọng đầy thương mến – nó nhoai được ra là nhẹ người.
Nghe tiếng guốc bà biết là chồng đến, bà chạy ra cửa buồng nói khẽ:
– Ông ngồi chờ ở gian bên đây.
– Nó chưa đẻ?
– Sắp!
– Cô rạng đùi ra một chút nữa – tiếng bà mụ – co chân lên, hai tay nắm lấy hai cổ chân. Thế… Nắm chắc vào. Ðược rồi! Bây giờ rặn đi, rặn mạnh nào.
– Ðau quá bà ạ! Ðau lắm bà ạ! – Nàng nói giọng hổn hển sau mỗi lần rặn.
– Sắp được rồi đấy.
– Cố đi con -mẹ nàng đã đến ngồi trên đầu giường.
Lần này cùng với tiếng rặn bà mụ thò tay vào của mình.
– Trời Phật ơi! – Mẹ nàng và bà mụ kêu cùng một lúc…
Bà mụ vừa kéo ra một bàn tay xinh đồng thời với một dòng máu nhỏ.
– Bà hãy kiếm lấy mấy cái chổi sể cùn đốt lên làm phép cho cô ấy đỡ đau. – Bà mụ nói với mẹ nàng và mẹ nàng vội ra khỏi buồng.
– Có làm sao không bà?
– Không sao đâu, ông cứ ngồi đấy, tôi đi kiếm một tí chổi sể cùn.
Bà mụ chép miệng nghĩ thầm: “Ðẻ ngược có thể chẳng việc gì, nhưng đẻ ngang thì biết làm sao bây giờ!”
Ngọn lửa nhóm lên. Tiếng nổ lách tách nhỏ. Khói tỏa mùi khét hăng hắc của chổi sể cùn bị đốt. Ðau… Mệt… Toát mồ hôi… Nàng vẫn theo lời bà mụ đem hết hơi tàn ra rặn đẻ. Sau mỗi lần rặn, sức lực yếu hẳn, chân tay rã rời. Bà mụ kéo cánh tay đứa trẻ ra đến khuỷu. Máu ra khá nhiều, hơi nàng thở nhanh. Ngọn lửa chổi sể đã đượm than hồng. Mồ hôi nàng vã ra như tắm, nàng thét lên một tiếng uốn cong người, da tái xanh, mắt sâu, má hóp, môi tím bầm, cả khuôn mặt biến dạng đi trông không còn chút nhan sắc ban chiều. Nàng chính là hiện thân của đau đớn, của tử thần. Tiếng rên thoạt hãi hùng, bí thiết, rồi tiếng rên yếu dần… yếu dần. Mẹ nàng theo lời bà mụ đi kiếm người chở thuyền để kịp đưa nàng lên huyện Từ Sơn có nhà hộ sinh. Ông bố vào hẳn phòng. Cánh tay đứa nhỏ thò ra đã xám lại. Nàng thở dồn dập, thở bằng miệng. Nàng bỗng ngật đầu về phía sau và như có kèm theo tiếng nấc khẽ, mắt trợn. Bà mẹ vừa kịp trở lại lúc nàng hết nấc, thở khẽ và xuôi dần, chân tay duỗi thẳng, buông rời bất động. Khi nàng tắt hơi thở cuối cùng thì đôi mắt còn trợn ngược, miệng há hốc. Bà mụ vuốt mắt, vuốt miệng cho nàng, khẽ chép miệng thở dài, rồi đắp phủ lên thân nàng tấm mền mỏng hoa đỏ, bà mẹ nàng cất tiếng khóc than kể lể, ông bố mím môi chớp mắt, thỉnh thoảng vuốt sợi râu mép nhưng chính là vuốt sự sầu khổ cho nén xuống đáy lòng. Vừa năm giờ sáng.
Cho tới lúc đó, Chủy chưa hay biết gì cả. Anh lên thuyền từ trưa sang làng bên, tổ chức ủy ban cách mạng ở đó. Mười giờ sáng hôm sau hay tin sét đánh vợ chết, con chết Chủy mới lên thuyền về.
Kể từ sau vụ xử tử đội Sam, Chủy đã được kết nạp vào đảng, được sinh hoạt học tập cách lãnh đạo quần chúng, được đảng cử xuống thực hành công tác tại các thôn xã.
Khi hay tin vợ con Chủy chết, đảng bèn cử Chủy lên huyện Bắc Sơn (Lạng Sơn) học tập công tác ở ngay miền quê hương cách mạng đó. Ðảng khéo sắp đặt công tác khiến Chủy bận rộn suốt ngày. Chủy được dịp chứng kiến những tên “phản cách mạng” đền tội dưới cờ (hầu hết là những người Ðệ Tứ hoặc Việt Quốc). Hơn một năm trời công tác ở Bắc Sơn, Chủy hoàn toàn quen với bầu không khí sửa soạn và thực hành án xử tử. Thỉnh thoảng đảng còn đưa Chủy cùng một số đồng chí đến những miền có thổ phỉ ai nấy đào hố cá nhân ẩn nấp rồi xả súng vào sào huyệt khiêu khích cho chúng bắn ra. Lối huấn luyện thực tiễn này giúp mọi người quen với không khí chiến trường, quen với tiếng đạn từ xa bắn lại ríu không khí. Biết bao lần ra đi như vậy chưa một ai bị nạn mà ai nấy cùng thấy mình dày dạn chiến trường lên nhiều.
Và sau cùng đã ba tháng nay Chủy – bí danh Mạnh – được đoàn thể hoàn toàn tín nhiệm cử về chức lãnh chức chủ tịch huyện Thanh Bat hay viên chủ tịch cũ, một thanh niên ái quốc nhưng còn đầy rẫy nhưng tật xấu “tiểu tư sản”.



























































































