“Khu Rừng Lau” là bộ trường thiên tiểu thuyết được Doãn Quốc Sỹ viết nhằm tái hiện giai đoạn bi thảm nhất của lịch sử cận đại Việt Nam. Nhưng lấp lánh đâu đó, giữa những trang văn của ông, vẫn là niềm tin nơi con người, nơi dân tộc. Nó chịu được sự đọc lại, không chỉ hôm nay mà còn với nhiều thế hệ mai sau.
Kỳ 41
Hiển không được chứng kiến cảnh xử bắn đó, chỉ nghĩ đến thôi mà cũng thấy lòng nhói buốt, nhưng trên đường Nam tiến Hiển đinh ninh rằng Kinh đã không chết uổng. Kinh chết để giành ưu thế cho cuộc chiến đấu chính nghĩa của dân tộc! Sau cái chết của Kinh chắc chắn đoàn thể lãnh đạo sẽ khuất phục được quân đội đồng minh để tranh thủ lấy những điều kiện tiên quyết cho việc củng cố nền độc lập.
Sau này khi đã tỉnh ngộ và ôn lại cái chết của Kinh, Hiển cũng không buồn phân tích tìm hiểu đường lối của đoàn thể dạo đó, chỉ biết tự đáy lòng chàng bốc lên một cảm giác vừa kinh tởm cho chính trị và chàng thương Kinh vô cùng. Gương chiến thắng chói lọi của Ðức Trần Hưng Ðạo, cái chết chói lọi của mười ba liệt sĩ Quốc Dân Ðảng trên đoạn đầu đài, nhiệt tình chói lọi của cụ Phan Bội Châu với đất nước, cái chết vô nghĩa của Kinh, đó là bốn điều ám ảnh lớn trong suốt cuộc đời Hiển.
Sau khi Kinh chết, Huynh bỏ chức chủ tịch xã, xuôi Hà Nội, xin một chân thơ ký tại sở tư kia. Hết giờ làm việc, trở về nhà trọ, Huynh thức thật khuya làm thơ ca ngợi tình thương nhân loại, giọng thơ chân thành, nhưng lời thơ non nớt. Cuộc toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Huynh mất tích trong khói lửa kinh thành. Không ai tìm thấy xác anh đâu.
Ðoàn Vệ Quốc Quân một lần ra đi.
Nào có mong chi đâu ngày trở về…
Những bước chân chàng trai ra đi tưng bừng, yêu nước, yêu đời, rất hào hùng đấy mà vẫn đồng thời thương cha thương mẹ nhớ anh em, nhớ người tình. Tình thương nhớ này nuôi cho ý chí giành độc lập, phục thù rửa hận thêm thiết tha vững bền. Chẳng cái đẹp nào bằng cái đẹp của chiến sĩ vừa vượt ngục tù nô lệ, vừa chiến đấu giành tự do, vừa tự băng bó về thương của mình; đó là cái đẹp của cả dân tộc nhà thủa ban đầu cách mạng!
Và những đoàn quân vô Nam. Ra đi không mong ngày trở về nhưng say chiến thắng, say tin tưởng chứ chẳng say rượu cho đã đời như trong cổ thi:
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi…
Trước ngày ra đi, mấy lần Tài bần thần đến đứng trước Miên, rồi chẳng hiểu vì dút dát hay vì quá cảm động, chẳng nói được lời nào. Mãi đến lúc Miên thay bà Quản tiễn Hiển và Tài ra đến đầu làng… Cố ý để cho Hiển đi trước mấy bước, Tài cười và nói khẽ với Miên:
– Cô Miên này, bao giờ về tôi sẽ đưa cô đi thăm khu rừng lau trên núi Sáng.
Cũng như lần trước Miên gật đầu mỉm cười ngỏ lời cám ơn và cũng như lần trước Tài cảm động ra mặt nhưng lần này anh tiếp tục đi chậm bước để gần Miên thêm vài giây nữa, như thể đó là lần cuối cùng hai người gặp nhau.
Thế là Miên vẫn chưa có dịp đi Bỉnh Di, leo lên núi Sáng thăm khu rừng lau!
Miên nhớ lại vế câu đối anh nàng đã đọc cho nghe ngày nào:
“Buổi sớm lên núi Sáng thấy cụm hoa vàng nhớ cụ Hoàng Hoa”
Trong trí nàng thoáng hiện hình ảnh Tài với dáng điệu lúng túng… Nàng nghĩ đến “Cô Miên này…” Tài thường khởi đầu mỗi khi nắm hết can đảm trong lòng hai bàn tay để quyết định tiến tới gợi chuyện nàng.
“Cô Miên này…” Miên liên tưởng đến một câu thơ trong “Cung oán” mà nàng đã được giáo sư Việt Văn giảng dạy trong niên học vừa qua:
Lạnh lùng thay giấc cô miên…
Nàng đăm chiêu một giây rồi mỉm cười vì nàng nghĩ rằng sau này nàng có thể ra một vế câu đối vào loại “hắc búa” cho anh nào – Tài chăng – muốn gá nghĩa cùng nàng:
Cô Miên ngủ một mình!



























































































