Khu rừng lau (Kỳ 237)

Kỳ 237



II




Ông Phụ lẽ ra phải là người cộng sản lý tưởng mới phải. Thuở còn là thanh niên Phụ đã có lần cầm đầu đám nhà nông làng chống lại quan Thượng Quá, một trong tứ trụ triều đình, đòi được dẫn tô nhẹ. Cả miền duyên hải dài một trăm cây số này từ Quần Tròn qua Hạ Trại đến Thương Ðiền, rồi lại từ Thương Ðiền qua Văn Lý ngược lên đến Bách Quất Lâm không nơi nào là không có ruộng đất của quan Thượng Quá. Cuộc tranh đấu đòi giảm tô của chàng thanh niên Phụ thất bại vì không ông quan sở tại nào dám đụng đến uy quyền của một vị trong tứ trụ triều đình. Chàng thanh niên Phụ buộc lòng phải bỏ nghề nông sang nghề làm muối. Nghề nông một sương hai nắng bị chủ điền bóc lột, nghề muối vất vả không kém bị nhà đoan bóc lột còn tàn nhẫn hơn nữa.


Lề – sân làm muối – của Phụ được miết vôi kỹ nhất, mịn nhất. Cái xêu để vãi cát của Phụ được bào nhẵn nhất, cái trang để vun cật của Phụ được gọt vuông nhất. Rồi kể cả từ cái chạt để lọc nước muối đến cái thống (xống) để dự trữ nước cái của Phụ đều được làm kỹ làm đẹp nhất làng.


Sáng ra nhìn ráng mây, xem hướng gió, Phụ có thể tiên đoán thời tiết rất đúng để quyết định công việc trong ngày trước khi bặt lề (quét sân muối) hoặc vãi cát.


Xưa người ta dùng quả bầu phơi khô làm gáo vục nước cái từ thống đổ vào lề, vì vậy mà gọi là cái bầu, nhưng bầu nhỏ quá! Chính Phụ có sáng kiến đan bầu lớn bằng tre rồi lấy sơn sống trộn với sắn thuyền phết kín bên ngoài, vục cho nhanh.


Mặc dầu là một thanh niên chịu khó, thông minh, giàu sáng kiến như vậy mà đời sống của Phụ vẫn cực nhọc và nghèo xơ nghèo xác. Giận thân giận đời, một sớm kia Phụ đập bầu, đập xêu, đập trang, đập lề, bỏ làng đi! Thì ra Phụ sang làng Xuân Lũy cách đây ba cây số xin một chân tá điền. Trở lại nghề làm ruộng, Phụ lại lãnh đạo anh em đứng lên xin giảm tô, người chủ điền rất biết điều ưng ngay lời đề nghị, đôi bên cùng hỉ hả, chính thái độ lao tư họp tác này (mà yếu tố kích thích là Phụ) đã làm cho làng Xuân Lũy phồn thịnh hẳn. Phụ lấy vợ. Người đàn bà đó không đẹp nhưng hiền thục. Người làng Thương Ðiền vẫn phải lên Xuân Lũy vớt rong vớt bèo về nuôi lợn, mỗi lần gặp người làng như vậy, thế nào hai vợ chồng Phụ cũng mời bằng được ăn với mình bữa cơm rồi khi về lại biếu thêm ít khoai luộc, sắn luộc, sống hòa thuận mặn nồng với vợ hiền có được hai con trai, sống hòa thuận cởi mở với chủ, với những người xung quanh, với bà con làng nước cũ, làm ăn tuy vất vả nhưng mát mặt, Phụ luôn luôn nhớ ơn vợ về những điểm đó. Hình bóng người đàn bà có đức ấy đồng hóa với khoảng thời gian mười lăm năm hạnh phúc nhất của đời Phụ. Bất hạnh khởi sự trở lại vào năm đói – 1945. Làng Xuân Lũy được chủ điền vui lòng cho mọi người vay thóc ăn cầm hơi đợi vụ chiêm nộp trả. Làng Thương Ðiền quê hương ông Phụ – kể từ đây phải gọi là ông Phụ – được các hương lý biết cách đòi đổi bông muối lấy bông gạo. Vì vậy trong khi các làng lân cận như Văn Lý, Xuân Hà, Hạ Trại người chết đói ngổn ngang thì riêng hai làng Thương Ðiền, Xuân Lũy nạn đói chỉ làm lảo đảo một số chứ không ai bị ngã quỵ.


Thoạt bà Phụ nhân đức cho thổi một nồi cơm lớn, nắm thành nắm nhỏ để phát cho những nạn nhân từ các làng lân cận đến, nhưng số người ùn ùn tới, nồi cơm như gió thoảng qua nhà trống và cảnh tranh cướp càng khiến hai ông bà đau lòng.


Nạn đói làm mọi người có cảm tưởng hạt gạo xốp hẳn, hạt cơm nở bung, nhưng ăn bao nhiêu cũng không thấy no. Nói vậy thôi chứ gia đình nào con cái lớn biết nghĩ mà chẳng “ăn trông nồi, ngồi trông hướng”, huống chi hai đứa con trai mười lăm, mười ba của ông bà Phụ lại thuộc vào hạng hiếu hạnh giống mẹ. Rồi gia đình ông Phụ bắt đầu phải ăn cháo. Vườn su hào cùng những khóm củ giong, củ chóc quanh nhà ông đêm đêm bị những đứa trẻ khá lớn ở truồng tồng ngồng lẩn vào vặt trụi, su hào ăn cả lá, củ giong, củ chóc nhổ lên ăn sống, lá chóc được tước ra để ăn phần cuống ngòn ngọt… Cả hai ông bà Phụ đều biết đấy, nhưng biết làm thế nào, đến giết họ còn chẳng sợ nữa là đuổi, thôi thì đành “chết một đống còn hơn sống một thằng” – ông bà cũng nghĩ vậy để tự an ủi. Vả vụ chiêm cũng sắp được gặt rồi! Một buổi chiều trên đường tự ngoài đồng về, ông Phụ dừng lại trước cổng làng: Dựa vào cánh cổng, một người đàn bà ngửa cổ, há miệng, một bàn tay chìa ra như đương xin, nhưng bà đã chết tự bao giờ, nằm sát bên bà là đứa con gái khá lớn, tròng mắt trừng trừng có động đậy đôi chút nhưng cô bé đã mê man.


Quần áo cũng tả tơi rách mủn, cả hai mẹ con một sống một hấp hối đó gần như khỏa thân. Ðứa con gái đã được ông Phụ mang về đổ cháo cho ăn cứu sống (ổng vừa ra thăm đồng về biết chắc vài hôm nữa đã có một đám ruộng gặt tạm được).


Hôm lúa chiêm gặt về giời mưa trọn ngày, ông Phụ phải dùng lược tuốt lấy thóc, đổ vào chảo rang cho khô và xay ngay lấy gạo thổi cơm ăn. Buổi rang thóc đó khói hun hai mắt ông sưng húp, thỉnh thoảng trong chảo rang có hạt thóc nào sớm quá độ nóng nở bung trắng như hoa cau ông lại lấy ra đưa cho vợ hay ba con – đứa con gái được cứu sống là con nuôi – nếm thử hạt gạo đầu mùa.



play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT