“Vàng Ðen” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Dũng Tiến, được xây dựng trên những tư liệu cùng huyền thoại liên quan tới vùng “Tam Giác Vàng,” một trong những nguồn sản xuất và cung cấp thuốc phiện (“vàng đen”) lớn nhất thế giới. Ngoài việc viết văn, tác giả Nguyễn Dũng Tiến cũng là một trong những người Việt Nam đầu tiên có công gầy dựng vườn cây ăn trái cho người Việt ở xứ người. Ông hiện là chủ nhân vườn cây LA Mimosa Nursery, 6270 East Allston Street, Los Angeles, CA 90022-4546. Tel: (323) 722-4543. Ðược sự cho phép của tác giả, Người Việt hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết “Vàng Ðen” trên mục truyện dài của Nhật Báo Người Việt cũng như Người Việt Online.
Kỳ 102
Chính Souvano Phouvong đã móc nối hắn cho cô, đã đề nghị với hắn một con số, hắn không thể từ chối được. Cô không bao giờ nghĩ hắn lại có thể, lại dám hại gia đình của cô như vậy. Chừng như tên của tướng Y… có cái uy rất lớn, nó làm thay đổi nét mặt của cô Lụa, khiến tên cầm đầu đám đàn ông có vẻ an tâm.
“Thưa bà, chúng con chỉ biết làm theo lệnh.”
“Thôi được, các chú có thể về được rồi, nhưng nhớ giữ cái lỗ miệng bép xép, chuyện lọt ra ngoài là tôi hỏi các chú, đừng nói cái lưỡi không còn, đến cái đầu của các chú cũng khó giữ.”
“Bà cứ tin chúng con. Chúng con chưa gặp bà bao giờ hết, chúng con lên Viên Chắn chỉ để vui chơi.”
“Khá lắm, về tiếp tục làm việc cho cô Hai.”
“Bẩm bà, chúng con về.”
Khi gã đàn ông lớn tuổi lục tục cùng đám thuộc hạ quay lưng, cô Lụa gọi giật hắn lại:
“Này, chú kia, ở lại tôi hỏi thêm vài câu, bảo các chú nọ ra xe chờ vài phút.”
Nét mặt hắn hân hoan, rỡ ràng.
“Bẩm bà cứ dạy, chúng chờ vài tiếng ngoài xe cũng có sao.”
“Chú được hắn thưởng cái gì sau đó.”
“Bẩm bà, con được lên chức.”
“Có vậy thôi?”
“Dạ, bẩm bà…”
“Lên chức, chú được thêm bao nhiêu lương?”
“Bẩm bà, quân đội nhân dân làm gì có nhiều tiền để tăng khá lương. Chỉ từ ngày chúng con được hồng phúc của bà ban…”
“Thôi được, chú có thể về.”
“Cám ơn bà.”
Tên cán bộ già giải ngũ không bao giờ về được chỗ hắn đã từ đó đi. Hắn cũng không bước ra được khỏi cổng ngôi biệt thự để gặp đám thuộc hạ của hắn, vì chính đám thuộc hạ của hắn cũng chưa bao giờ ra đến được cổng ngôi biệt thự. Cô Lụa đang xuống tay lấy lại cái hồng phúc đã từng ban cho tụi hắn.
Hắn đã xanh mặt khi nhìn thấy hai tên Việt lai Lào đứng chờ hắn ngay nơi ngưỡng cửa. Chưa kịp mở miệng phản ứng, cả hai tên đã cặp chặt lấy hắn, một tên bóp chặt hai bên má, khiến hắn phải mở miệng, một nùi giẻ được nhét vào như chớp, hắn chỉ cảm thấy đau nhói nơi gáy…
Ngoài sân, tiếng chim sẻ vẫn ríu rít gọi nhau trên đầu một ngọn xoan, chúng dạn dĩ đến nỗi đám người nằm dưới gốc xoan không làm chúng sợ. Ðám người ấy đều bị trói chặt chân tay, miệng nhét đầy nùi giẻ.
“Chắn.”
“Dạ thưa bà gọi.”
“Sửa soạn cho bà quần áo để bà ở Sà Vằn mấy hôm.”
“Bà đi Sà Vằn?”
“Con nỡm, tao đùa à. Sửa soạn ngay đi, tí trưa có máy bay. Mày cũng đi đấy nhé, đem theo vài bộ quần áo.”
Chắn chưng hửng, đã bao nhiêu năm nay cô Lụa không bao giờ rời khỏi ngôi biệt thự của cô. Thoảng hoặc, tạt ra chợ ăn tô bún, tô phở hay ăn những món quà vặt để có được cái không khí ăn hàng, thay vì Chắn phải mua đem về. Chuyến này, không những rời khỏi nhà, lại còn đi xa nữa, lại còn đi bằng máy bay.
Nghĩ đến máy bay, Chắn rúm người lại. Từ ngày cha sinh, mẹ đẻ cho đến giờ, Chắn đã có bao giờ từng ngồi trong con chim sắt ấy. Chắn sợ run người, liếc ngang thấy chiếc nọng mỡ lủng lẳng dưới cằm cô Lụa, cùng ánh mắt ma quái, cái sợ đi máy bay của Chắn bỗng bay bổng đến niết bàn. Cái “sợ” cô Lụa đã đè nghiến cái “sợ” đi máy bay.
Gió từ sông Cửu Long hiu hiu thổi. Nước sông đang xuống, gió đưa hơi bùn non từ bờ sông thoảng qua các dẫy phố của Sà Vằn, gió gom nhau lại thành những ngọn lớn hơn kéo ùa đến chợ, tạo thành những làn hơi mát lạnh, nhưng gió không làm khô được những giọt mồ hôi nhễ nhãi trên đầu, trên cổ những chuyên viên mìn bẫy của quân đội Lào. Họ đã quần thảo từ tờ mờ sáng đến giờ, đã hơn mười giờ trưa, nhưng vẫn không sao lần mò được đâu là đầu mối trong đống dây chằng chịt dẫn đến những trái mìn được gài ngay trước cửa chợ.
Cảnh sát đã làm một rào cản thật rộng quanh khu cửa chợ để không một ai được qua lại. Toán chuyên viên có thể cho nổ những trái mìn ấy ngay tại chỗ, nhưng khốn thay, bên trong hàng rào mìn đó lại đang có đến bảy xác người, nửa sống, nửa chết, chờ được cấp cứu.
Sáng tinh mơ, những người đi chợ sớm đã khám phá ra bảy người bị trói ghì vào một cây cột của cổng chợ, cả bảy đều bị thương, thân xác đều lõa lồ. Tuy không có thể chết ngay, song cũng không thể để chậm trễ việc cứu cấp. Nhưng mìn giăng chằng chịt như vậy, đến cha tụi cứu thương có sống lại cũng không chắc dám nhào vô để cứu.
Xa xa, đối diện khu cửa chợ, ngoài hẳn phạm vi rào cản do cảnh sát dựng lên, trong một tiệm ăn hai từng lầu, mọi người đang bàn tán dữ về những xác người còn sống đó.
“Chừng hơn tiếng nữa, nếu họ không gỡ được mìn, mấy thằng Việt Nam đó chắc không sống được.”
“Sao ông biết được?”
Một người cũng đang ngồi trong tiệm, tại một bàn khác hỏi vọng lại.
“Thì sáng nay chính mắt tôi thấy mấy người đó mà.”
“Ông là người đầu tiên khám phá ra?”
“Không phải tôi, mấy bà đem hàng ra chợ sớm tìm thấy rồi tru tréo om sòm, làm tôi cũng lật đật chạy ra. Ghê thấy mẹ.”



























































































