Vàng Ðen (Kỳ 15)


“Vàng Ðen” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Dũng Tiến, được xây dựng trên những tư liệu cùng huyền thoại liên quan tới vùng “Tam Giác Vàng,” một trong những nguồn sản xuất và cung cấp thuốc phiện (“vàng đen”) lớn nhất thế giới. Ngoài việc viết văn, tác giả Nguyễn Dũng Tiến cũng là một trong những người Việt Nam đầu tiên có công gầy dựng vườn cây ăn trái cho người Việt ở xứ người. Ông hiện là chủ nhân vườn cây LA Mimosa Nursery, 6270 East Allston Street, Los Angeles, CA 90022-4546. Tel: (323) 722-4543. Ðược sự cho phép của tác giả, Người Việt hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết “Vàng Ðen” trên mục truyện dài của Nhật Báo Người Việt cũng như Người Việt Online.


 


Kỳ 15


 


Từ đó, bộ chỉ huy của lực lượng, tuy vẫn đặt bản doanh ngay trên đường vào phi trường Tân Sơn Nhất, dưới chân bảng quảng cáo to lớn của thuốc lá Captan, nhưng mọi cuộc xuất phát, gởi toán đi đều từ một nơi khác. Vì Việt Cộng đã gài người nhan nhản quanh đơn vị, dưới hình thức những tiệm may, tiệm ăn để lấy tin tức, dọ thám.


Những lần nhẩy toán đầu tiên của Phong khi vừa gia nhập đơn vị, cũng đúng lúc đơn vị đã cải thiện nhiều hơn về vấn đề bảo mật cho những chuyến xuất phát. Các toán luôn thay đổi địa điểm xuất phát, đã được phi cơ không bảng số của tình báo Mỹ liên tục thả xuống đường mòn Hồ Chí Minh, con đường mòn được trải dài theo dẫy Trường Sơn, bên biên giới Lào.


Từ đèo Mụ Giạ đến Pleiku, hoạt động âm thầm bên trong lãnh thổ của hai nước Ai Lao và Căm Bốt, những toán biệt kích đã được lệnh không được sử dụng truyền tin, không được trực tiếp giao chiến; Thuần túy chỉ theo dõi và đánh dấu những di chuyển của Bắc quân, của những người sinh Bắc, tử Nam, đang cố bảo vệ đường mòn để chuyển vận người và vũ khí vào Nam Việt Nam. Nhiệm vụ hoàn tất bằng những chuyến bay thật đặc biệt đến bốc về tại những điểm đã được hẹn trước.


Mặc dầu đã được bảo mật tối đa, nhưng toán của Phong vẫn là một trong những toán may mắn trở về. Mười chuyến bay đi đón, bẩy chuyến đã trở về không.


Kết quả của những chuyến nhẩy để do thám, chỉ vài tiếng sau khi bốc được những toán biệt kích về, những phi vụ B 52 dồn dập với những chuỗi bom bi sẽ cầy nát những mục tiêu được đánh dấu và chỉ điểm bởi những toán lính đặc biệt của miền Nam.


Phong, khá cao đối với một người Việt Nam, da trắng như một người trai Lào, nhưng cũng rạm nắng với những năm tháng dầm mưa, dãi nắng. Hoạt động khá lâu trên đất Lào, từ Pạc Sòng (Paksong) qua Pặc Sế (Pakse) lên tỉnh Sà Rà Vằn (Saravane), đôi khi được thả lên đến Sà Vằn (Savannakhet), khá sâu trong nội địa Lào, nên đã được bí mật thả lên thẳng đến Xiêng Khoẳng (Xiengkhouang) để lập lại một đầu cầu liên lạc với tướng Hoàng Thao, người tướng Mèo (Hmong) tự trị với sự đỡ đầu và giật dây của tình báo Mỹ.


Chính vì đường dây bí mật này, người thầy và các anh em trong toán của Phong đã phải rời khỏi lực lượng đặc biệt. Nhân cơ hội Mỹ bàn giao lực lượng đặc biệt lại cho quân đội để chuyển sang quân số của Việt Nam vào đầu năm 72, nguyên toán của Phong đã tình nguyện về binh chủng nhẩy dù, thầy trò thất lạc nhau từ đó. Không hối tiếc về việc phải nhắm mắt rời khỏi đơn vị lực lượng đặc biệt, Phong chỉ chua xót vì mất đi sự chỉ huy trực tiếp của một người thầy, một người anh; Người sĩ quan đã từng trực tiếp điều khiển toán của Phong. Cả hai đã kết nghĩa anh em, thương kính nhau vô cùng.


Sống sót trở về sau trận Hạ Lào đẫm máu, người anh cả của Phong cùng mọi người trong toán đều mất tinh thần. Suốt nguyên tháng 12 của năm 70 cho đến tháng 2 năm 71, nhiều toán nhỏ đã được thả dọc theo quốc lộ 9 từ biên giới Lào-Việt cho đến Sê Pôn (Sepone), sâu trong nội địa Lào để thám thính. Tất cả mọi toán hầu như đã quần nát vùng đồi núi chập chùng quanh quốc lộ 9, dọc theo sông Sepone.


Toán của Phong còn đi xa hơn nữa, lần mò đến tận Sà Rà Vằn, cực Tây của Sepone; Tại đấy, những lần đầu Phong khá ngạc nhiên vì thành phố hầu như toàn người Việt đến từ miền Trung nước Việt, cùng người Trung Hoa nắm phần sinh hoạt chính của toàn tỉnh. Lần này, cả toán càng ngạc nhiên hơn vì một số những người Việt ở đây đang chuẩn bị chờ đón lính Cộng Hòa đánh sang Hạ Lào để tận diệt Việt Cộng cùng Pathet Lào, trong khi một số người Việt khác vẫn thờ sống ảnh của Hồ Chí Minh ở trong nhà.


Thật ngỡ ngàng cho Phong và cả toán, chính mình là người đi dọ thám, lấy tin tức nhưng cũng không biết những tin tức ấy được dùng vào việc gì, trong khi từ Sepone cho đến Sà Rà Vằn, mọi người đều biết quân Cộng Hòa sẽ đánh sang.


Báo cáo của toán được gởi về để xác nhận việc Việt Cộng đã biết trước, sẽ có một trận tấn công quy mô của miền Nam vào Hạ Lào để phá hủy hậu cần tiếp liệu của Bắc Việt. Bên trên không một phản ứng. Cả toán lại được lệnh lần mò về Sepone, hoạt động tiếp tục tại quốc lộ 9.


Cuộc hành quân Lam Sơn 719 được quyết định. Mọi người trong toán đều biết rằng, chủ lực quân của miền Nam đang rơi vào một cái bẫy khổng lồ, cũng như tuyệt vọng với những báo cáo không được người duyệt xét.


Tháng 2 và tháng 3 của năm 71, cái bẫy ấy đã sập xuống, thịt xương bi thảm của Nam quân đã bị ép tứ bề đến bật máu. Toán của Phong luôn luôn tránh né giao tranh, nhưng vẫn bám sát những đại đơn vị của Bắc quân, để cuối cùng, bi đát biến thành bi tráng nhìn những cánh Bắc quân bao vây, tiền pháo hậu xung những cánh quân nhà. Người anh cả của toán như muốn điên, phải nhắm mắt, không muốn nhìn những khổn loạn của quân nhà đang chờ tiếp viện, nhưng với một toán lính nhỏ không quá bẩy người, trang bị vũ khí nhẹ, chuyện tiếp viện quân bạn đã ngoài tầm tay với. Cả toán đã mất tinh thần khi nhìn cuộc thảm sát những đồng ngũ.


Người anh, cùng cả toán đã nguyền rủa cái ngu xuẩn của những cấp chỉ huy, rồi ngậm ngùi đi tìm những tàn quân để dẫn dắt về được đến Lang Vei, bên trong lãnh thổ Việt Nam, nơi lực lượng có bản doanh tại đó.


Những ngày phơi nắng, dầm sương cùng những nguy hiểm rình rập ở những núi đồi, rừng rậm tại Hạ Lào không làm cho cả toán sờn lòng. Cuộc thảm bại Hạ Lào cũng chưa làm nao núng. Ðược biệt phái nhẩy xuống Xiêng Khoảng, làm việc dưới quyền tướng Mèo Hoàng Thao cũng chưa thấy sợ. Nhưng thiếu tá chỉ huy cùng cả toán đã phải rúng động khi nhận được lệnh từ Hoàng Thao: Bảo đảm an toàn cho một số hàng từ căn cứ bí mật Long Tiếng (Longtieng) của Hoàng Thao gần Xiêng Khoảng về đến Vạn Tượng; Từ đó sẽ có phi cơ chở về thẳng Tân Sơn Nhất cho tổng thống của nền Ðệ Nhị Cộng Hòa.


Tại Long Tiếng, trong khuôn viên một ngôi biệt thự hai tầng thật rộng lớn, trơ trọi không cây cao, bóng mát, những khẩu cao xạ phòng không cỡ nhỏ như 12 ly 7 cho đến những loại lớn 37 ly, bốn bánh xe có thể di chuyển trên nhiều địa hình của Trung Cộng hay Nga Xô được trưng bầy giữa sân như những chiến lợi phẩm, tịch thu được từ quân cộng sản Bắc Việt.


Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Viễn Châu và bài ca vọng cổ ‘Chim Vịt Kêu Chiều’

Dân đờn ca tài tử rất thích học bài “Chim Vịt Kêu Chiều” bởi vì đây là bài ca vọng cổ có xen vào nhiều lớp kịch.

‘Hồng bay mấy lá…’

Một bài thơ của Tản Đà, không có nhan đề, đúng ra nhan đề bài thơ ấy đã được dùng làm nhan đề cho cả cuốn sách, in ở ngoài bìa: hồng bay mấy lá

Tháng Ba, Đà Nẵng và Em – thơ Lê Tấn Dương

Ta vẫn nhớ thương về nơi ấy/ Những chiều nắng nhạt Ngũ Hành Sơn/ Nhớ đỉnh Sơn Trà trong gió lộng/ Tiếng oán than như tiếng gọi hồn.

Lê Công Tâm ghi nhận được những gì qua Hiệp Định Geneva 1954?

Luật Sư Lê Công Tâm cho rằng, ông thật may mắn khi có thể truy lục được các tài liệu liên quan về lịch sử Việt Nam, nhất là lịch sử cận đại.

Bài vọng cổ xưa ‘Nỗi Lòng Nàng Khương Nữ’ của Huỳnh Thủ Trung

Đến giữa thập niên 1950, soạn giả Huỳnh Thủ Trung đã dựa theo trang tình sử bi thảm của nàng Khương Nữ tìm chồng viết lên bài vọng cổ 12 câu

Nhìn lại một tạp chí miền Nam: Hiện Đại

Trong năm 1960 miền Nam Việt Nam xuất hiện tới ba tạp chí văn chương: Hiện Đại xuất bản vào Tháng Tư, tới Thế Kỷ Hai Mươi, và Sáng Tạo.

Tình muộn – thơ Thọ Khương

Giọt mưa buồn thánh thót/ Thu vàng gợi tình xưa/ Lá rơi chiều cúi mặt/ Thầm lặng đời lay đưa

Hành Tây Bắc – thơ Lê Tấn Dương

Ta đã lưu phương Tây Bắc này/ Hai sáu mùa, theo lá thu bay/ Hết năm, Xuân đến, hoa đào nở/ Mới thấy cuộc đời lắm đổi thay.

Tết mẹ tôi – thơ Phùng Hiếu

Sáng nay theo Xuân xuống phố/ Em lì xì ta nụ cười/ Hình như Mai chưa khoe sắc?/ Tết về Tết trải muôn nơi

Những điều nhỏ nhặt – thơ Yên Nhiên

Này hòn sỏi nhỏ giữa đường đi/ Lăn lóc đơn côi có nghĩa gì/ Phải chăng giã từ viên đá tảng/ Trải mình lót lối khách chuyển di