Võ Ðình với Nét Màu Sắc Không

 


 


Không Hư – Hoàng Quốc Bảo


 


Tôi ngồi lặng giữa đêm, không biết là bao lâu nữa, sau khi đọc tin trên Internet, một người bạn tài hoa đã qua đời. Võ Ðình. Không còn nữa.


Anh ra đi chiều 31 tháng 5, 2009 tại nhà riêng ở Florida. Gió im sững, không gian đặc sánh lại. Hai chân bắt tréo trên tọa cụ, bồ đoàn, tôi cố điềm tĩnh, giữ cho thân xác được vững chãi và duy trì cho hơi thở khỏi hụt hẫng. Ðời sống, vô thường. Vẫn biết, mà sao nghe như có tiếng sóng ở trong lòng.



Họa sĩ Võ Ðình



Tôi quen Võ Ðình từ ngày thực hiện bộ băng nhạc và sách Tịnh Tâm Khúc, 1984. Xin anh vẽ cho những bức tranh Thủy Mặc. Sau đó chỉ gặp anh đôi lần mà sao lòng thầm quý kính. Làng Hồng bên Pháp đã hụt nhau. Anh sang năm trước – 1984; năm sau tôi mới sang -1985. Nghe tăng thân trong làng thuật lại, chú Võ Ðình sang đây là đi sục sạo, hỏi thăm tìm chú, ai là Hoàng Quốc Bảo? Ai là Hoàng Quốc Bảo?, khiến tôi nghe mà cảm động. Cái tình văn nghệ vốn thế, khi không mà đã quý nhau. Kiểu Ðinh Hùng và Phạm Ðình Chương, Chưa gặp em tôi đã nghĩ rằng, có nàng thiếu nữ đẹp như trăng…


So với anh, tôi là kẻ hậu sinh, vẫn thường muộn màng, trong bất kỳ trận cuộc thế nhân nào. Ðâu đến cuối năm 1985 anh lần dò giang hồ sang Cali thăm bạn hữu. Và chúng tôi được dịp tương phùng, ngồi với nhau, tại gian nhà trọ của anh em Văn Học. Ðêm xuống, có chủ nhân Nguyễn Mộng Giác; có Phạm Quốc Bảo; Hoàng Khởi Phong; anh chàng thi sĩ lêu khêu Nguyễn Tất Nhiên; có Thăng Long Văn sĩ Vũ Huy Quang; Ðịnh Nguyên; Bùi Vĩnh Phúc; lão ngoan đồng Từ Mẫn Võ Thắng Tiết, chủ nhân nhà xuất bản Văn Nghệ… và những ai nữa không nhớ hết… Lan man hết chuyện văn nghệ, sang chuyện quê hương xa cách nghìn trùng.


Ðêm ấy, tháng 10 gì đó, mưa thánh thót ngoài trời, tôi đứng dậy vào bếp Nguyễn Mộng Giác, làm tửu nô, hâm vò rượu Mai Quế Lộ, rót ra từng chung nhỏ, mời thân hữu. Về sau này mỗi lần nói với nhau qua điện thoại, anh thường cả tiếng cười thân mật: Hà hà.. ông muốn phạt tôi bao nhiêu chung rượu? Nửa chừng cuộc rượu, anh đứng dậy vào phòng lão ngoan đồng Từ Mẫn lấy mấy tờ giấy trắng, cây bút chì rồi ra lặng im ngồi hý hoáy. Một phút đưa cho tôi, một phút nữa đưa cho Nguyễn Tất Nhiên. Chỉ 2 bức rồi cất bút. Bức tốc họa ấy tôi còn giữ và yêu quý vô cùng, tiếc không cho vào tuyển tập Tịnh Tâm Khúc được, vì đã phát hành năm trước rồi.


Cuối tháng anh về lại miền Ðông. Thạch Lũng (Stonevale) đã ngập tuyết. Trong thư gửi sang cho các bạn, anh kể giữa nỗi nhớ nhung gọi dậy giang hồ, đã lội tuyết ngập đến đầu gối từ nhà ra xưởng vẽ sau trang trại, phết những nét thủy mặc lên cuộn giấy dài, làm thơ, viết tràn tâm tình vào đấy rồi cuốn lại gửi sang cho chúng tôi. Qua những nét ấn tượng, Thạch Lũng một màu tuyết xóa, cái thân người nhỏ nhoi đạp tuyết mà đi, chỉ như một chấm đen di động. Và bỗng ngang đầu, vụt cánh chim qua. Ngay giữa cái âm thanh vỗ cánh ấy, là bức họa này. Mong níu kéo điều gì? Thời gian chăng? Chẳng phải. Chỉ cốt hiển lộ cái thực tại đấy thôi.


Nhận được, chúng tôi hẹn nhau, mỗi người viết đôi dòng, thơ thẩn, rồi đăng cả lên báo mùa xuân đó, và gửi sang làm món quà ấm áp cho anh.


Tôi chỉ làm bài thơ nhỏ góp mặt cùng thân hữu, cho Võ Ðình. Tuần sau, anh gửi riêng cho tôi bức họa Thủy mặc đắc ý, vì biết tôi yêu tranh thủy mặc, cuộn tròn trong 1 hộp ống dài. Bức tranh màu acrylic, khổ 24X18 trên giấy, minh họa mấy câu thơ nhỏ nhoi kia của tôi. Bức họa được tôi phất lên khung gấm, kiểu tranh cuộn Trung Hoa, thả treo lên bức tường ngay giữa tiền sảnh từ đó đến nay.


Thế mà 24 năm rồi. Bao nhiêu là biến đổi. Người đi kẻ ở ngậm ngùi.


Bài thơ vỏn vẹn 6 câu, tranh minh họa bằng 3 câu cuối:


Người về Thạch Lũng nhớ nhau


Tuyết sương vô ngại, nét màu Sắc Không


Quê hương thăm thẳm đôi lòng


 


Ðông-Tây ngăn nổi vết Hồng chim bay?


Nhiệm màu là tuyết sương rơi…


Cánh hoa Mai nở, vấn người tịnh tâm…


(Và ghi chú: Hoàng Quốc Bảo)


Trong tranh, những cánh mai rất nhạt, không nở trên cành theo ý thơ, mà anh cố tình vẽ rơi trên nền tuyết trắng. Mai cũng là tên trên giấy tờ căn cước anh, hình ảnh nhắc đến ý tứ trong bài thơ Cáo Tật Thị Chúng của Thiền sư Mãn Giác đời Lý, biểu trưng cho thực tại mà mỗi đạo gia, thiền sư đều gắng gìn giữ: Mùa Xuân miên viễn. Chắc chắn anh phải biết rất rõ điều đó. Nhưng tại sao Võ Ðình lại cố tình vẽ kiểu hoa tàn rơi… lên tuyết như thế, tôi không có chỗ hội. Bản tính khiêm cung của Võ Ðình chăng? Càng chẳng khế hợp với nghệ thuật. Cho đến giờ vẫn là 1 nghi vấn nằm hoài trong lòng tôi.


Anh lại chuyên khắc mộc bản, đa số nghệ phẩm tôi được xem, phần lớn là những hình tượng chim Hộc chim Hồng, hay cánh Bằng lướt gió. Như những biểu tượng trên trống đồng Việt Nam. Cánh chim trong bức họa Nét Màu Sắc Không, dường như đang xoải cánh ngược bão giông, quay về Tây, như những tâm hồn tha hương chúng ta, đứng từ bờ biển nào của nước Mỹ, cũng ngoái đầu như vậy. Phải hiểu: Về phương Ðông… Sau này lại trùng hợp ngẫu nhiên với tên Lai Hồng, người bạn cuối đời của Võ Ðình.


Lai Hồng, cái tên như một định mệnh? Nét khởi đầu trong sự nghiệp hội họa? Cái hạ bút lông trên nền khung trắng, khai một tịch luân trong cuộc đời, đủ đậm, từ thuở chàng mới mười lăm, nàng chỉ mười ba trăng non vừa biết thẹn. Thế mà thoắt chia lìa. Hai năm sau, trăng tròn ai xẻ làm đôi. Hai năm sau Võ Ðình ôm nửa mảnh trăng dấn thân vào bão tuyết trời Tây lúc 17, 18 tuổi, từ đó vẽ hoài một vòng Không tịch, nhạt nhòa, chẳng bao giờ tròn trịa. Hơn 60 năm phù vân lãng đãng, sương mù sóng dục trùng khơi, không luân kia hóa thân thành cánh chim Hồng lúc nào, mỏi mòn hoài ngoảnh cổ về cố hương, nơi khởi đầu lấp lánh nửa mảnh trăng mười sáu. Vì thế dường như ta chưa thấy bức họa nào Võ Ðình vẽ đủ đôi chim Hồng. Giả có, cũng chỉ là huyễn mộng.


Cho đến thời nhĩ thuận, trăng vơi mới đầy. Trời trong, gió lặng. Cái thời mộng hiện thành thực. Lai Hồng. Nguyệt hóa thành thơ. Chim tha rơm về tổ ấm. Như bức họa vẽ ngay trên ô cửa kính, căn nhà ở West Palm Beach, Florida.


(Ghi chú: Bài này khi viết xong, chị Lai Hồng mới kể thêm chi tiết: “Hồi Anh VD để ý tui, lúc đó anh mới 15 và tui 13. Về sau anh qua Pháp năm 17 tuổi mới có chuyện muốn thầy mẹ đến hỏi cưới tui gửi qua Pháp, nhưng gia đình tui có đại tang bà nội mất ngay trong nhà, và sau đó ba tui đổi vào Phan Thiết rồi Nha Trang… và chuyện lãng vào dĩ vãng…”)


Và cái thời hạnh phúc tòng tâm bất du củ đến, định mệnh khép lại, vòng không luân thật tròn đầy, lại ngắn ngủi quá. Chim bay về núi túi rùi… và con Tạo vẫn vô tình là thế.


Ðến với đi, nhiên như Bát Nhã:


Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, nhất thiết bất dị Không.


Hay, Không tức thị Sắc, Thọ Tưởng, Hành, Thức.


(Nguyên văn: Sắc bất dị Không, Không bất dị sắc. Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc.


Thọ Tưởng Hành Thức diệc phục như thị)


Hoặc gọn trong Chứng Ðạo Ca của ngài Huyền Giác, cuộc đời như mây nổi… chim thiêng kia từ Không mà đi, từ Không mà về:


Ngũ uẩn phù vân Không khứ lai…


Ðến với đi, chỉ làm đầy 1 vòng tịch nguyệt. Hơn mười năm cũng đã đủ. Chắp đủ một vừng trăng. Mãn nguyệt. Và người họa sĩ thành tựu chiếc vòng Không kia trong họa phẩm đời mình, đã mãn nguyện.


Cánh chim giang hồ Võ Ðình mang theo hoài suốt một đời, ẩn hiện trong họa phẩm, nay đậu lại. Cùng chim về. Lai Hồng.


Cái giây phút cuối cùng ấy của anh, nếu nghe kỹ, như lời nhắn nhủ rất ngắn gọn, êm ả mà sấm sét dậy cả kiếp người:


Hồng ơi…


Hồng ơi…


Hồng ơi…


Ba tiếng nhủ: Quá khứ đã nhạt nhòa, tương lai thì chưa đến, chỉ là huyễn mộng và hiện tại mỏng manh này, bất khả đắc, xin đừng nắm bắt nữa… nghe như:


Buông thôi,


Buông thôi,


Buông thôi…


Cánh Hồng trở lại, đã hoàn tất nhiệm vụ của nó, tha rơm làm tổ… và định mệnh ơi hãy thanh thản… Chim bay về núi túi rùi…


Chim thiêng dừng cánh đỗ…


Phù vân ơi mây cứ bay…


Võ Ðình cũng từng đã bị giằng co trong tri thức, giữa tình tự quê cũ và văn hóa mới Âu Mỹ.


Có lần đọc đâu đó, bài anh viết về hội họa, tâm tình với những học trò, họa sĩ các thế hệ sau nói riêng, những nghệ sĩ sáng tạo tha hương chúng ta nói chung, vẫn thường hay ray rứt và bị quay quắt như thế; làm thế nào để vẽ, sáng tạo một nghệ phẩm mang được bản sắc Việt Nam, dấu ấn văn hóa Việt Nam?


Bức tranh có nhất thiết phải vẽ con trâu, cái cày? Cô thiếu nữ với chiếc áo dài tha thướt? Con thuyền xa bến, hình bóng cô gái đứng lặng chờ mong? Hay đình, chùa miếu mạo mới đạt được hương sắc quê hương? Họa phải là họa đã. Những thứ kia chỉ là hình tướng. Thứ dành cho thợ vẽ, không phải mục đích của họa sĩ. Họa sĩ phải vẽ được sâu thẳm đằng sau cái hình tướng kia. Phải thoát được ra ngoài hình tướng ràng buộc ấy mà đi xa. Nghĩa là sao nắm lấy được thực tại. Ðến lúc ấy thì thỏa chí vẫy vùng.


Người nghệ sĩ Phật Giáo, thâm trầm, biết đâu là hình tướng đâu là cứu cánh. Càng bỏ được hình tướng lại càng thâm trầm, diễm tuyệt. Thấy ra hình tướng chỉ là vô thường. Ðược thua, còn mất cũng vậy, chỉ là vô thường, hư vọng, giả trá. Cái thực tại kia mới thường hằng, vĩnh cửu. Tiêu biểu nhất như bài thơ Cáo Tật Thị Chúng (Khai thị cho chúng lúc nằm bệnh) của Thiền sư Mãn Giác nhà Lý:


Xuân khứ bách hoa lạc,


Xuân đáo bách hoa khai


Sự trục nhãn tiền quá


Lão tùng đầu thượng lai…


Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận


Ðình tiền tạc dạ nhất chi mai.


Những ngày thầy Mãn Giác chùa VN tại Hoa Kỳ còn sinh tiền, tôi hay lên Los Angeles uống mót trà thầy, nghe thầy vẫn đắc ý đọc bài dịch của HT Tâm Châu:


Xuân đi lưu lại cánh hoa rơi


Xuân tới trăm hoa nở nụ cười


Thế sự thoáng qua rồi mất biến


Ðầu xanh đã điểm nét sương rồi !


Có đâu xuân lụi hoa tàn mãi


Ðêm trước sân cười một nhánh mai…


Nghệ sĩ Phật Giáo vẫn thấy Xuân tàn hoa rụng chứ, nhưng đâu có trích lệ buồn thương?


Mùa Xuân năm sau, tôi soạn ca khúc “Nét Màu Sắc Không”, phổ ngược từ tâm tình bức Thi Họa, cho mối duyên thân hữu tha hương vời vợi ấy, rồi có dịp thu thanh vào những năm sau đó, ở Việt Nam.


Tôi có ý định gửi 1 copy cho Võ Ðình nghe, nhưng mãi đến nay… quả đã muộn màng.


Cánh chim Hồng vẫn bay mãi trên bức tranh kia, âm vang để lại còn lạnh buốt trong những nốt nhạc tha hương, chưa tan được.


Những dòng này xin gửi thay nén tâm hương đến anh.


Cái vô thường của cánh Mai rụng cuối bờ tuyết trắng, nốt nhạc còn vọng âm, và tiếng đập cánh của loài chim Hồng đã vút bặt, thanh thoát ra khỏi cái cõi nhị biên của Ðịnh mệnh, Ðông-Tây, Sinh-Tử lâu rồi. Xuân nào có mất đi đâu !!!


Giữa đêm, nghe lại bài hát, ngắm kỹ bức họa, tôi mỉm cười thấm thía thêm, cái nghĩa “Thường trong Vô thường” bấy lâu nay…


Hồng ơi…


Hồng ơi…


Hồng ơi…


Ðịnh chấm dứt, bỗng đâu Lão Bùi Giáng xịch tới, tà tà thơ dại ngâm nga thêm cho Võ Ðình:


Ðùa với Tuyết, rỡn với Vân


Một mình nhớ mãi gái trần gian xa…


Sương buổi sớm, nắng chiều tà


Trăm năm Hồng lệ có là bao nhiêu…


Không Hư – Hoàng Quốc Bảo

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT