Trần Doãn Nho
Nhà văn-dịch giả Bửu Ý là một cây bút quen thuộc của văn học Việt Nam, trước cũng như sau 1975. Tác phẩm mới nhất của anh, “Bùi Giáng, một đời thơ,” do nhà xuất bản Thiện Tri Thức xuất bản năm 2023. Sách dày 240 trang, gồm có tám phần, trong đó, phần thứ 6 được tác giả dành để bàn về ngôn ngữ, hay nói cho cụ thể, bàn về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong thơ Bùi Giáng.

Theo Bửu Ý, Bùi Giáng là một nhà văn-nhà thơ-nhà biên khảo “trù phú chữ nghĩa.” Thơ văn của ông có tính cách “thiên biến vạn hóa” về từ ngữ, thành ngữ, cú pháp, bút pháp. Sở dĩ thế vì, một mặt, “Bùi Giáng không những là người đọc sách nhiều, còn là người viết nhiều, viết bất cứ ngồi nằm ở đâu và không kể đến giờ giấc trong ngày.” Và mặt khác, nhờ ông thông thạo nhiều ngoại ngữ như Hán, Anh, Đức, Việt, nên ông “dễ dàng đối chiếu các từ ngữ với nhau. Từ đó trở thành điêu luyện trong sử dụng từ ngữ. Và cũng từ đó, anh vui chơi, đùa cợt với chữ nghĩa. (…) Biết bao nhiêu bận, qua chữ viết của anh, ta thấy anh nhào lộn, uốn éo vặn vẹo, bẽ gãy, bẻ dấu, uốn giọng, giả giọng, co dãn câu, lắp ghép vần, cho câu của mình, cho thơ của minh, một cách có khi quá đà, nhưng vẫn tài tình, thông bác.”
Bửu Ý cho rằng Bùi Giáng không chỉ dùng chữ, mà vọc với chữ, chơi với chữ. Ông mở ra “nhiều khúc ngoặt trong một câu thơ, khúc ngoặt ấy được thể hiện bằng một chữ bất ngờ và tạo thành một mảnh khảm lạ mắt…” Chẳng hạn:
Mò gươm mệt đất mỏi lời
Mò đao múa kiếm mọi lời mỏi mê
Mơ ra nguồn tạnh mơ về
Mộng ra mơ ngủ mùa xê xích mùa. (Tỳ Hải Sương)
Trong đoạn thơ này, ông đã sử dụng vần “M” qua nhiều kết cấu chữ khác nhau: mò, mệt, mỏi, múa mê, mơ, mộng, mùa. Mới đọc qua, trông như ông chỉ vọc với chữ, bỡn với vần cho vui. Thực, ra nếu đọc kỹ, ta sẽ thấy câu thơ hàm chứa nhiều ý nghĩa, vừa cụ thể lại vừa trừu tượng, lại nhuốm tính cách hài hước.
Có những chữ rất bình thường, nhưng khi đi vào thơ ông, chúng bỗng mang một ý nghĩa khác lạ.
Chẳng hạn chữ thì:
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau
Tóc xanh dù có phai màu
Thì cây xanh vẫn cùng nhau hẹn rằng (Chào Nguyên Xuân)
Thân xương máu đã đành là ủy mị
Thì xin em cùng lên thác xuống ghềnh (Phụng hiến)
Hay chữ là. Theo Bửu Ý, chữ là, “trong toán học cũng như trong triết học, là một từ, một công cụ thiết lập nên một đẳng thức, một sự tương được giữa hai lượng, hai khối, nhưng ở Bùi Giáng, ta nhận ra cái chủ quan của thi sĩ muốn ép uổng sự công bằng”:
Thưa rằng ly biệt mai sau
là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân (Chào Nguyên Xuân)
Cũng không thể quên rằng thân là thế
Mẩy là mình xương là xẩu bên da
Và kỷ niệm đuổi theo lời là thế
Xô linh hồn về ở cuối câu ca
…
Giờ đứng lại là bây giờ rất lạ
Là bao giờ từ buổi lạc tin hoa (Thưa là)
Cũng là là cả, nhưng trong mỗi câu, chữ là mang ý nghĩa khác nhau. Nhờ chữ là mà các bộ phận trong cơ thể như “mẩy,” “mình,” “xương,” “xẩu,” “da” đâm ra “công bằng” theo ý Bửu Ý.
Anh cũng tìm thấy Bùi Giáng quen viết chữ “giậy,” khác với chữ thông dụng là “dậy”
Biển sông tiếng hát giọng cười
Giậy từ sơ ngộ bước người sau lưng (Mai đi xuống phố)
Tạ từ giấc cỏ phiêu linh
Đêm trùng điệp giậy tiền trình nan kham (Vân vân)
Lao xao bụi cát hững hờ
Như làn sóng biếc trong mơ giậy thì (Thuyền ai trôi mãi)
Bùi Giáng có dùng một số chữ hay từ ngữ riêng biệt, hoặc một số chữ mà người khác có dùng nhưng dưới ngòi bút của Bùi Giáng lại mang một ý nghĩa mới.
Chẳng hạn, rã riêng
Bước chân giẫm sỏi trên đồi
Những thân đau khổ những đời rã riêng (Tặng bạn)
ban sơ:
Yêu em từ những kiếp nào
Vê sau cũng niệm nguyên màu ban sơ
viễn ngạn:
Em từ viễn ngạn tuôn ra
Mười hằng hồng lệ chín sa giòng giòng (Từ rất xưa xa)
phanh phơi:
Không thể bảo rằng em là tuyết bạch
Ấy bởi vì nghìn thuở đã phanh phơi (Có lẽ là)
sử lịch:
Kể từ sử lịch xa xuôi
Bất ngờ một bận bùi ngùi yêu em
Vì từ độ manh nha trăng là nguyệt
Kinh là kỳ từ sử lịch phân vân (Không thể nói rằng)
bẻ bai:
Nàng ôi! Buồn khổ bẻ bai
Ấy là tất mệnh miệt mài tử sinh
phố thị:
Bay từ phố thị giắc gieo
Tới thôn ổ những quanh queo con đường (Chuyện chiêm bao)
Cố quận:
Phố nào cố quận xưa là tiễn nhau (Em nhớ không)
Ngày về tôi sẽ nhận ra
Em là cố quận tôi là tha hương (Ngày về)
phiêu bồng:
Thời gian chắp cánh phiêu bồng
Ta đi phiêu dạt xa sông núi nhà (Diệu Không)
Trong vườn cây lá trổ bông
Ngoài vườn cây cỏ phiêu bồng trăm năm (Anh ở em đi)
Ngoài ra, trong thơ Bùi Giáng còn có “hiện tượng bẻ chữ, bẻ dấu, nhưng không phương hại đến nội dung” như Mỹ Tho thành Mỹ Thỏ, Bình Dương thành Bình Dưỡng…
Miệt mài Mỹ Thọ Cần Thơ
Cần sương Rạch Giá đợi chờ nguyên tiêu (Miền Nam)
Tôi sẽ ra đi bỏ lại đời
Mỹ Tho Mỹ Thọ Sóc Trăng ơi
Mỹ Thỏ muôn đời là Sóc Trắng
Gái mặc quần ra đứng ngó trời (Lẫn lộn lung tung)
Kết thúc tập sách, Bửu Ý nhận xét: “Suốt lịch sử nhân loại Đông Tây kim cổ, không có một con người nào cúc cung tận tụy với thơ như Bùi Giáng. Không vợ, không con, không nhà cửa. Chỉ có thơ. Trường học được trả về cho trường học, vì nợ duyên vắn vỏi. Nhưng còn sách? Sách đọc lu bù càn khôn nhưng xem như không có vì Bùi Giáng chỉ tìm thi ca qua từng khe chữ.”
Đúng thế, “Bùi Giáng chỉ tìm thi ca qua từng khe chữ.”
Một nhận xét hoàn toàn chân xác.
















