Lưu Trọng Cao Nguyên, hậu duệ của nhà thơ Lưu Trọng Lư

Du Tử Lê/Người Việt

Nhà thơ Lưu Trọng Cao Nguyên. (Hình: Lưu Trọng Cao Nguyên cung cấp)

Cho tới hôm nay, các nhà di truyền học vẫn chưa thể giải thích được một cách thỏa đáng: Tại sao rất nhiều văn, nghệ sĩ nổi tiếng, sau khi qua đời, hậu duệ của họ không có được mấy người tiếp nối được sự nghiệp lẫy lừng của họ. Nhất là ở lãnh vực văn chương. Riêng ở lãnh vực âm nhạc, tỉ lệ nối nghiệp cha, ông có phần cao hơn những lãnh vực còn lại, một chút…

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, những đứa trẻ sinh ra, lớn lên trong chiếc bóng quá lớn của đấng sinh thành, thường không chọn con đường của ông, bà hay bố, mẹ, vì tự thấy không thể so sánh với thành tựu của những tài năng ngoại khổ của người trước. Trường hợp này, có người gọi là những tài năng sớm bị “cớm nắng” (?).

Tuy nhiên, trong thực tế đời thường vẫn có những ngoại lệ. Một trong những ngoại lệ tiêu biểu ấy, có thể kể tới trường hợp của cố thi sĩ Lưu Trọng Lư. Ông có người con trai thứ tư tên Lưu Trọng Văn, nổi tiếng với bài thơ “Về Thôi,” viết tặng nhạc sĩ Phạm Duy, mà sinh thời, nhạc sĩ Phạm Duy từng cho biết, bài thơ đó là một động lực quan trọng đưa ông tới quyết định, bỏ hết, để trở về Việt Nam.

Nhưng nếu Lưu Trọng Văn là hậu duệ đời thứ nhất của cây phả hệ dòng Lưu Trọng, thì nhà thơ Lưu Trọng Cao Nguyên, hiện cư ngụ tại miền Nam Cali, là hậu duệ đời thứ hai của dòng họ Lưu Trọng vậy.

Cố thi sĩ Lưu Trọng Lư, cùng với nhà thơ Thế Lữ, được coi là hai trong số những nhân vật có công xây dựng nền văn chương Mới, mà, sau này nhiều người quen gọi là “văn chương tiền chiến.”

Họ Lưu nổi tiếng với nhiều thể thơ từ năm chữ, tới lục bát, bảy và tám chữ. Nhưng rất nhiều người đã đồng thuận với nhau, khi cho rằng Lưu Trọng Lư có hai bài thơ được nhiều người biết đến nhất là bài “Tiếng Thu.”

“Em không nghe mùa Thu
Dưới trăng mờ thổn thức?

Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ?

Em không nghe rừng Thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Ðạp trên lá vàng khô?”
(Nguồn: Wikipedia-Mở)

Và bài “Mưa…Mưa Mãi:”
(Tặng Ng. Ch)

“Mưa mãi mưa hoài! Lòng biết thương ai! Trăng lạnh về non không trở lại…
Mưa chi mưa mãi! Lòng nhớ nhung hoài! Nào biết nhớ nhung ai!
Mưa chi mưa mãi
Buồn hết nửa đời Xuân!
Mộng vàng không kịp hái.
Mưa mãi, mưa hoài! Nào biết trách ai! Phí hoang đời trẻ dại.
Mưa hoài mưa mãi! Lòng biết tìm ai,
Cảnh, tưởng đầy nơi quan tái.”
(Nguồn: Wikipedia-Mở)

Chọn thể ngũ ngôn để diễn tả, với số chữ “tiết kiệm” tối đa, vậy mà tác giả đã đưa được linh hồn mùa Thu cũng như chân dung những cơn mưa dai dẳng vào trong thơ của mình. Một khả năng hay thể hiện tự nhiên của một tài năng thi ca hiếm thấy?

***

Là hậu duệ đời thứ hai của nhà thơ Lưu Trọng Lư, hẳn nhiên Lưu Trọng Cao Nguyên không thể không bị ảnh hưởng, ít nhất hai phạm trù “Mùa Thu” và “Mưa chi mưa mãi/Lòng nhớ thương ai/Trăng lạnh về non không trở lại” của ông mình.

Nên những người có trong tay thi phẩm “Thơ Mưa” của Lưu Trọng Cao Nguyên, không ai ngạc nhiên khi thấy tập thơ mỏng của Cao Nguyên đã có những cơn mưa không dứt:

“Giọt nước mắt trôi ra ngàn khơi! Âm u trong dạ hứa mưa nhiều
Chiều tan trong khói mây trôi nổi
Mưa bắt đầu rơi…
Mưa đang rơi…”

Hoặc những chiếc lá mùa Thu trải vàng trong từng hơi thở của các con chữ mang tên Cao Nguyên:

“Nắng gượng giăng ở đầu ngọn cỏ
Cành nhỏ rùng mình thả cánh lá chơi vơi!
Không ai mời nên mây chẳng buồn trôi
Vời vợi nhớ con chim trời xa vắng.”
(Chiều Thu)

Tác giả nói đúng, không ai mời ta đến giữa cuộc đời nầy. Ðoạn thơ ngắn của Cao Nguyên khiến tôi thấy mỗi chúng ta chỉ như một con chim bay lạc giữa trời xa vắng. Hay thân phận ta chỉ tựa như một cọng cỏ, một hạt nước rơi thầm giữa ba nghìn thế giới, hư vô. Và bỗng nhớ tới một đoạn thơ của Xuân Diệu, thay cho lời mở đầu thi phẩm “Gửi Hương Cho Gió,” ông viết:

“Tôi là con chim đến từ núi lạ
Ngứa cổ hát chơi
Khi gió sớm vào reo um khóm lá
Khi trăng khuya lên ủ mộng xanh trời
Chim ngậm suối đậu trên cành bịn rịn
Kêu tự nhiên, nào biết bởi sao ca
Tiếng to nhỏ chẳng xui chùm trái chín
khúc huy hoàng không giúp nở bông hoa…
(…)
“Hát vô ích thế mà chim vỡ cổ
Héo tim xanh cho quá độ tài tình
Ca ánh sáng bao lần dây máu đỏ
Rồi một ngày sa rụng giữa bình minh.

Tôi réo rắt chẳng qua trời bắt vậy
Chiếc thuyền lòng, nước đẩy phải trôi theo
Gió đã thổi, cho nên buồm phải dậy
Hồn vu vơ, tội ấy ở mây đèo.

Nghiệp tài tử nghìn xưa đông lắm chắc
Chúng tôi hùn làm một kiếp đa duyên…”

Tôi tin Lưu Trọng Ca Nguyên dư hiểu “Khúc huy hoàng không giúp nở bông hoa.” Nhưng “Chiếc thuyền lòng, nước đẩy phải trôi theo”… nên Lưu Trọng Cao Nguyên đã không thể không viết xuống trong thơ của mình:

“Thở dài sợi khói dài hơn
Giăng lên chiều tím nửa vơi nửa chờ
Ðẩy chân theo bóng đã mờ
Phai trên trang tuyết một tờ mong manh
(…)
Không mây, gió chẳng đìu hiu
Chia nhau rét buốt ít nhiều thế thôi
Tím thêm, chiều đã rã rời
Ðắp trên chiếc bóng một trời hư không…”

Tôi cho rằng, chính vì không ai mời chúng ta đến với cuộc đời này, và cũng chính vì tự thân, biết rằng, ta chỉ là con chim nhỏ nhoi bay lạc giữa vô cùng thiên địa, nên ta cất tiếng nói cho ta bớt cô đơn, cho đồng loại thấy ít ra, cũng còn người đồng điệu.
Và vì thế, chúng ta có thơ. Và, vì thế, chúng ta hôm nay có Lưu Trọng Cao Nguyên.
Như chúng ta mãi có Lưu Trọng Lư:

“Mưa chi mưa mãi
Buồn hết nửa đời Xuân
Mộng vàng không kịp hái.”

Và:
“Em không nghe mùa Thu
Dưới trăng mờ thổn thức
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ”…
(California, May 2017)


Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Những hình thái chiêm bao trong thơ Bùi Giáng?

Thiên nhiên trong thế giới thi ca Bùi Giáng là một thứ thiên nhiên được vẽ ra bởi lý trí và tiềm thức ấu thơ, làm bật nổi những khát vọng

Thanh Nam, giấc ngủ cô đơn

Nhà văn Thanh Nam tên khai sinh Trần Đại Việt, sinh năm 1931 tại Nam Định, Bắc Việt Nam, mất năm 1985 tại Seattle, Hoa Kỳ, vì bệnh ung thư.

Tuồng chiến tranh thịnh hành thời đầu thập niên 1950

Không hiểu do nhận định thế nào về nhu cầu giải trí, mà khán giả cải lương những năm đầu thập niên 1950 lại đổ xô đi coi tuồng chiến tranh.

‘Ánh Trăng’ của Nguyễn Xuân Thiệp – bài thơ như bút ký đời người

Thơ Nguyễn Xuân Thiệp là một làn gió mới thổi vào sinh hoạt văn học hải ngoại đầu 1990. Kết cấu thơ không cách tân thời thượng, nhưng mới.

Thơ Bùi Giáng ảnh hưởng Nguyễn Du, Huy Cận?

Bùi Giáng là một trong những thi nhân cách biệt với đám đông. Tuy vậy, tiếng thơ ông khởi đầu ít phổ cập đại chúng.

Nhân một cái phân ưu

Tháng Giêng, 2019, cũng khoảng tháng này nhà thơ Nguyễn Bính qua đời ngay nơi quê quán Nam Định của ông, nhưng vào năm 1965.

Sân khấu Hậu Tấn với tuồng chiến tranh hiện đại

Đoàn hát Hậu Tấn ra đời đầu năm 1950 và khi gánh Hoa Sen hình thành khai trương bảng hiệu (1951) thì Hậu Tấn rã gánh.

Thơ Trần Vấn Lệ – Ôi Sao Thơ Buồn Vậy

Có bóng bởi có hình...Có hình nên có bóng.../ Anh nhớ em, bất động...sao trời rớt thành sương!/ Em ơi, anh dễ thương...làm thơ như vậy đó...

Mỹ như Tôi

Nhưng nếu tôi cũng thấy không được thoải mái, chính là vì tôi không thể không tự hỏi: Đây là nước Mỹ nào vậy.

Thơ Hoa Nguyên – Cho hết thời lãng mạn

Ta lãng mạn cho hết thời lãng mạn/ Vẽ chân dung mình lên những củ khoai/ Ta lãng mạn cho hết đời bỉ vận/ Thơ về đâu quang gánh ở phương đoài