Phạm Duy và Kiều

Kalynh Ngô/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Phạm Duy là một người rất “tham lam,” và đó là cái tham lam kỳ tài, tham lam tạo ra sự sống. Tôi mạn phép mượn cách nói văn hoa của người đời khi nói về ái tình, chỉ đổi chữ một chút, ví von thế này: “Hầu như tất cả nhà thơ Việt Nam đã ‘đi qua đời’ Phạm Duy rồi.”

Bìa nhạc “Minh Họa Kiều.” (Hình: Tài liệu)

Khi tôi nói “đời” đây, chẳng có gì khác hơn, chính là nhạc của ông. Kể ra thì vô số, như nhạc phổ thơ Nguyễn Bính, Phạm Thiên Thư, Du Tử Lê, Nguyễn Tất Nhiên, Hữu Loan, Lê Thị Ý, Cung Trầm Tưởng, Minh Đức Hoài Trinh… Thậm chí cho đến thi nhân sống trước ông hơn trăm năm, cũng rơi vào “đời” Phạm Duy, cùng ông để lại kiệt tác cuối cùng – “Minh Họa Kiều,” trước khi nhạc sĩ giã từ cõi tạm.

Phạm Duy là người rất say mê tác phẩm kinh điển “Đoạn Trường Tân Thanh.” Trước khi bắt tay vào làm “Minh Họa Kiều,” ông đã một lần để linh hồn của điển tích này xuất hiện trong phần ba của trường ca “Con Đường Cái Quan” (Vào Miền Nam) ông sáng tác từ năm 1954 đến 1960. Đó là bài hát “Đi Đâu Cho Thiếp Theo Cùng.”

“Đi đâu cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam
Ví dầu tình có dở dang
Thì cho thiếp gọi đò ngang thiếp dzìa
Tới đây lạ xứ quen người
Trăm bề (mà) nhún nhẳn đừng cười tôi nghe
Ví dầu tình bén duyên thề
Thì xin kết bạn đền nghì trúc mai”

Ông đã mượn đúng bốn từ “đền nghì trúc mai” của “Truyện Kiều” để diễn tả tâm ý của người vợ tiết hạnh, khi đã nên duyên nên nợ thì nguyện cả đời theo chồng, tình nghĩa khắng khít như cây trúc, cây mai.

“Biết bao duyên nợ thề bồi
Kiếp này thôi thế thì thôi còn gì?
Tái sinh chưa dứt hương thề
Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai”
(“Truyện Kiều,” câu 705 đến 708)

Chỉ khác là, duyên nợ ba sinh trong “Truyện Kiều” là những câu thơ lúc Kiều bán mình cho Mã Giám Sinh. Trước khi theo họ Mã về Lâm Tri, Kiều ngồi một mình đối bóng với đèn khuya, nhớ mối tình đã giao ước với chàng Kim nay phải dở dang, đau lòng nguyện ước nếu “tái sinh chưa dứt hương thề” thì sẽ “làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai.”

Còn “đền nghì trúc mai” trong “Con Đường Cái Quan” của Phạm Duy là lời ngỏ ý duyên dáng, chắc “như đinh đóng cột” của người miền Nam thủy chung. Hổng nên duyên nên nợ thì tui lên đò ngang tui dìa với tía má. Còn hợp ý ông tơ bà nguyệt, thì tui nguyện cả đời nâng khăn sửa túi. Đại khái là như thế.

Trở lại với “Minh Họa Kiều,” ông hoàn tất ba phần đầu trong thời gian ở hải ngoại, “sau đó thì tịt ngòi” – theo lời ông nói. Cho đến khi về Việt Nam, ông và con trai Duy Cường mới hoàn tất hoàn toàn phần thứ tư.

Phạm Duy biết trước, “Minh Họa Kiều” chính là tác phẩm cuối đời của ông. Ông chọn “Truyện Kiều” vì “thi phẩm này tiêu biểu cho tâm thức Việt Nam trong khi tôi đã giã từ loại nhạc thế tục để đi vào loại nhạc tâm linh. Tôi còn muốn trung thành với lý tưởng điều hợp xã hội bằng âm nhạc cho nên tôi muốn dùng lời thơ vĩ đại của Tố Như và nét nhạc nhỏ nhoi của tôi để làm nơi tự tình cho những ai đã trót lìa nhau, đã trót xa nhau hơn nửa thế kỷ” (trích “Truyện Kiều Và Tôi – Vài Lời Về Nhạc Phẩm Cuối Đời”).

Bốn phần của “Minh Họa Kiều” không bao gồm tất cả hơn 3,000 câu thơ của Nguyễn Du. Phạm Duy chỉ trích những câu chủ chốt để “minh họa” 15 năm trầm luân của nàng Kiều trong bốn phần:

Mở đầu: Giới thiệu không gian, thời gian, nhân vật.

Phần Một: Kiều gặp Đạm Tiên, bị hồn Đạm Tiên mê hoặc, đeo bám suốt 15 năm lưu lạc.

Phần Hai: Kiều gặp Kim Trọng, mối tình sâu đậm nhưng không trọn vẹn.

Phần Ba: Kiều bước vào cuộc đời luân lạc, gặp những kẻ hãm hại nàng, như Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh, Hoạn Thư…

Phần Bốn: Kiều gặp anh hùng Từ Hải, một bước lên ngôi phu nhân, nhưng rồi Từ Hải cũng vì nàng mà phải chết đứng.

Kết: Kiều gieo mình xuống sông Tiền Đường

Với “Đoạn Trường Tân Thanh” của cụ Nguyễn Du, chúng ta sẽ “THẤY” rõ cái bi kịch của thân phận tài sắc trước định mạng. Với “Minh Họa Kiều” của Phạm Duy, chúng ta vừa được “THẤY,” vừa được “NGHE.” Có vẻ như ông đã gom góp hết sức lực và tất cả những tinh túy ông thu nhặt được suốt cả đời sáng tác để đặt vào tác phẩm cuối đời này.

Trong “Minh Họa Kiều,” là những âm sắc của các nhạc cụ dân tộc như đàn tranh, đàn nguyệt, đàn bầu, trống, phách… cùng hòa vào các nhạc cụ Tây phương. Theo Phạm Duy giải thích, “minh họa là hiển dương, là làm tăng thêm vẻ đẹp sẵn có của thi phẩm.” Ông đã làm đúng như thế.

“Rằng năm Gia Tĩnh Triều Minh/ Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng” thì phải được minh họa bằng giai điệu tráng lệ, hào hùng. Ông diễn giải rằng: “Có pha âm sắc của nhạc Trung Quốc bởi vì đây là thời Gia Tĩnh Triều Minh.”

Cụ Nguyễn Du cho chúng ta hình dung bức tranh “ngày Xuân con én đưa thoi” với cánh đồng cỏ non xanh ngát chân trời, thì Phạm Duy cho chúng ta nghe được cả tiếng chim hót, tiếng suối chảy, âm thanh của ngày Xuân tươi đẹp.

Một lần hiếm hoi, cả hai nhân vật tinh hoa của âm nhạc Việt Nam cùng góp mặt trong một buổi sự kiện văn hóa, Giáo Sư Trần Văn Khê nói về nhạc Phạm Duy: “Không chỉ bằng sự đa dạng, phong phú thôi, mà Phạm Duy đã dám phá cách lục bát để thực hiện được những điều mà cụ Nguyễn Du mong muốn.”

Phá cách đây là cắt, đảo, lặp lại. Cụ Nguyễn Du kể rằng:

“Chàng Vương quen mặt ra chào
Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa”

Và Phạm Duy đã “minh họa” lại bằng câu hát:

“Chàng Vương quen mặt ra chào
Khép nép dưới hoa
Khép nép dưới hoa
Hai Kiều”

Đảo từ như thế, cộng thêm lời ca/ngâm, thật rõ ràng như thể trước mắt, hình ảnh hai nàng Thúy Kiều, Thúy Vân e lệ bên khóm hoa, kia là chàng Vương Quan hớn hở bước đến chào người quen.

Hoặc:

“Dập dìu tài tử giai nhân
Ngựa xe như nước áo quần như nêm”

Được Phạm Duy minh họa rằng:

“Dập dìu tài tử y ý
Dập dìu giai nhân ý y
Ngựa xe như nước ư ứ
Áo quần như nêm ừ ư…”

Một hình ảnh đông vui, náo nhiệt của lễ hội Thanh Minh. Người thường thường thì đi bộ, kẻ cao sang thì đi võng, cưỡi ngựa. Âm nhạc, giai điệu vui tươi, phấn khởi. Nhắm mắt mà nghe, cứ như mình đang đi lạc trong dòng người trẩy hội mấy trăm năm trước.

Phối hợp nhạc cụ dân tộc và nhạc cụ tân thời, hòa hợp dân ca, điệu hò của ba miền, mượn lời thơ rồi làm cho thơ sống động, hiện sinh, đó là kỳ tài của Phạm Duy. Giáo Sư Trần Văn Khê không xa lạ với điều này. Ông đã biết cái tôi rất lớn trong âm nhạc của Phạm Duy từ những năm 1954, khi hai người sang Pháp học.

Khi đó, Giáo Sư Trần Văn Khê hỏi nhạc sĩ Phạm Duy rằng “ông đã học được những gì?” Câu trả lời của nhạc sĩ là: “Biết cũng nhiều chuyện lắm, nhưng học với ông thầy rồi để gửi trả lại cho ông thầy, nếu để ông thầy chi phối mình thì còn gì là mình.”

“Phạm Duy không để nhạc Tây phương chi phối. Biết học và biết lúc nào phải giữ, lúc nào không. Hồn nhạc quyện hồn thơ, thơ dính vào trong nhạc,” Giáo Sư Trần Văn Khê nói về nhạc sĩ Phạm Duy như thế.

“Minh Họa Kiều” là tác phẩm cuối của Phạm Duy – người hát rong của thế kỷ. Như đã nói, ông chọn Kiều của cụ Tố Như vì muốn “làm nơi tự tình cho những ai đã trót lìa nhau, đã trót xa nhau hơn nửa thế kỷ.”

Có phải chăng, ẩn sâu trong thâm ý đó là lời gửi gắm ông để lại cho một mảnh đất – tình yêu lớn nhất mà ông và nơi đó đã trót xa lìa nhau hơn nửa thế kỷ? [qd]

—–
Liên lạc tác giả: [email protected]


Nhạc sĩ Phạm Duy tên thật là Phạm Huy Cẩn. Ông là một trong những cây đại thụ của nền âm nhạc Việt Nam, là tác giả của hàng ngàn bản nhạc, trong đó có nhiều bài rất nổi tiếng trước năm 1975 và sau này ở hải ngoại, như “Tình Ca,” “Tình Hoài Hương,” “Con Ðường Cái Quan,” “Mẹ Việt Nam,” “Áo Anh Sứt Chỉ Ðường Tà,” “Năm 54 Cha Bỏ Quê, Năm 75 Con Bỏ Nước,”…

Ông mất ngày 27 Tháng Giêng, 2013, tại Việt Nam, thọ 93 tuổi. Đến nay, 11 năm ông rời cõi tạm.


 

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT