Phan Kế Bính và các nhân vật nước Nam

Viên Linh

Bìa tác phẩm đầu tay của Phan Kế Bính. (Hình: Viên Linh cung cấp)

Một trong những nhà Nho đỗ đạt mà không ra làm quan, sống bằng nghề dạy học tư và viết văn làm báo như là nghề nghiệp sinh nhai là Phan Kế Bính, tác giả nhiều danh phẩm trong văn học sử Việt Nam, trong có những cuốn trở thành kinh điển từ đầu thế kỷ XX như Nam Hải Dị Nhân (Những người kỳ tuyệt ở nước Nam). Cuốn sách này in năm 1909, (nhưng ở dưới bài tựa lại ghi 9 April 1912) có lẽ là tác phẩm đầu tay của ông được in thành sách, còn đăng báo thì năm 1907 ông đã phụ trách mục Hán văn trên tờ Ðăng Cổ Tùng Báo, rồi tiếp theo, viết cho những tờ báo thế giá của thời chữ quốc ngữ còn phôi thai: Ðông Dương Tạp Chí, Trung Bắc Tân Văn.

Nam Hải Dị Nhân là một nhan đề giản dị, trong khi chữ Dị Nhân của ông đã được dùng cho Trưng Nữ Vương, Lý Thái Tổ, Trần Hưng Ðạo, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quí Ðôn, Tản Viên sơn thần, Liễu Hạnh tiên chúa, Từ Thức, Tả Ao, Nguyễn [Ðoàn] Thị Ðiểm, dịch giả Chinh Phụ Ngâm; như thế, chữ Dị Nhân nên hiểu là những nhân vật khác thường, siêu việt.

Phan Kế Bính quan niệm như thế nào về những con người đó, và vì sao ông chọn họ về viết trong những bài viết những năm ông khoảng xấp xỉ 30 tuổi?
Bài Tựa của ông sẽ giải thích hai câu hỏi đó, và hơn thế nhiều, sẽ cho ta thấy tâm tư của một nhà văn Việt Nam mấy chục năm cuối thế kỷ XIX và hai chục năm đầu của thế kỷ XX. Nét chính trong bài Tựa của ông là câu hỏi này: “…mình là người nước Nam, mà sự tích các bậc danh giá trong nước Nam mình không biết, chẳng hóa ra kiến thức của mình kém lắm dư?”

“Hào kiệt anh tài là khí tinh anh của một nước: cho nên nước nào cũng có, mà thời nào cũng có. Lớn thì gây dựng nên thời thế, tô điểm cho non sông; nhỏ thì lập nên công nghiệp, để danh tiếng về sau; cũng là làm gương cho đời cả.”

“Nước Nam ta từ xưa đến nay, trải hơn 4000 năm, chẳng thiếu gì người tài đức, người danh tiếng,…”

Trong cuốn Nam Hải Dị Nhân, Phan Kế Bính viết về từng nhân vật một, dài ngắn tùy theo, và đã phân loại các dị nhân anh kiệt tài đức của đất nước ra làm 8 lãnh vực:

-Các bậc đại anh kiệt, 7 người, dẫn đầu là Trưng Vương.
-Các bậc danh thần, 9 người, dẫn đầu là Lý Thường Kiệt.
-Các bậc danh hiền, 4 người, dẫn đầu là Mạc Ðĩnh Chi.
-Các bậc văn tài, 8 người, dẫn đầu là Nguyễn Hiền.
-Các bậc mãnh tướng, 9 người, dẫn đầu là Lê Phụng Hiểu.
-Các vị thần linh ứng, 8 vị, dẫn đầu là Sử [Chử] Ðồng Tử.
-Các vị tiên tích, 6 vị, dẫn đầu là Từ Thức.
-Các người có danh tiếng, 4 người, dẫn đầu là Ngô Soạn.

Tổng cộng là 55 vị. Trong 55 vị ấy, khoảng 45 người là những anh hùng hào kiệt, danh sĩ, thánh hiền, vương tướng, số còn lại là tiên thánh (Liễu Hạnh tiên chúa ở Vụ Bản Nam Ðịnh, thơ từ ca nhạc hiển linh; Từ Thức người Thanh Hóa, từ quan lên thiên thai, từ cõi trần vào thiên quốc; Phù Ðổng Thiên Vương ở Bắc Ninh, dùng lửa dẹp giặc phương Bắc, người ở nhà trời; Tản Viên sơn thần trên núi cao ở Sơn Tây, và những kẻ đối nghịch nơi thủy phủ – Sơn Tinh Thủy Tinh; Thần bạch mã thành Thăng Long, phá vụ xây thành của giặc Bắc; Phạm Viên người Nghệ An có phép tiên chỉ biết có hai chữ mà được trọng vọng; Chử Ðồng Tử ở Hưng Yên, có gậy vạch sông dẫn thủy nhập điền nuôi dân no ấm,…).

Nhà văn Phan Kế Bính (1875-30 Tháng Năm, 1921). (Hình: Viên Linh cung cấp)
Nhà văn Phan Kế Bính (1875-30 Tháng Năm, 1921). (Hình: Viên Linh cung cấp)

Phan Kế Bính người làng Thụy Khuê huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Ðông, sinh năm 1875 trong một gia đinh Nho học, năm 1906 thi đỗ cử nhân song không theo đường công sự, ở nhà dạy học tư và viết văn làm báo. Theo nhà văn Nguiễn Ngu Í, Phan Kế Bính “học cổ, nhưng lúc viết theo phương pháp mới” nên văn ông sáng sủa, là “một trong số ít người cựu học gia nhập làng báo sớm nhất. Ông giữ một vai trò quan trọng trong các báo Ðông Cổ Tùng Báo, 1907; Ðông Dương Tạp Chí, 1913; Trung Bắc Tân Văn, 1915; Học báo, 1919.” Ông từ trần ngày 30 Tháng Năm 1921, mới 46 tuổi.

Tác phẩm: Nam Hải Dị Nhân liệt truyện (1912), Hưng Ðạo Vương truyện (1912), Việt Nam Phong Tục (1915), Việt Hán Văn Khảo (1918). Truyện dịch có: Tam Quốc Chí (1907), Ðại Nam điển lệ toát yếu (1915), Ðại Nam nhất thống chí (1916), Việt Nam khai quốc chí (1917). Ngoài tên thật ông còn ký vài bút hiệu như Bưu Văn, Liên Hồ Tử.

Trong Nhà Văn Hiện Ðại, ông Vũ Ngọc Phan viết: “Trong các nhà Nho viết văn hồi bấy giờ, văn Phan Kế Bính đáng coi là những áng văn xuất sắc hơn hết. Văn ông đã sáng suốt, lời lại đanh, nhiều câu đọc chắc nịch.” Văn thơ dịch của ông rất hay. Bài thơ dưới đây trích lại theo Vũ Ngọc Phan:

Núi Bàn Cốc nhà ngươi ở đấy
Ðất trong hang cầy cấy dễ sao?
Suối kia tắm rửa ào ào
Ấy nơi xa vắng ai nào muốn tranh.

Hang sâu thẳm thanh thanh rộng rãi
Ðường quanh co qua lại trập trùng
Cảnh hang vui thú lạ lùng
Hùm beo lánh vết, rắn rồng náu thân.

Sự quái gở quỉ thần giúp hộ
Vui ăn chơi cho độ tuổi già
Ta về sắm ngựa xe ta
Theo vào hang đó la cà cùng ngươi.
(Phan Kế Bính dịch Cổ văn Hàn Xương Lê, Ð.D. tạp chí, số 173, tr. 768)

Mời độc giả xem Người Việt Bếp Việt 2: Gỏi cầu vồng


Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Lục bát sinh nhật

Mỗi sinh nhật tôi lại nhớ đến bài thơ ấy của Cung Trầm Tưởng. Mỗi đêm mưa tôi lại đọc bài thơ ấy của Cung Trầm Tưởng. Đó là mùa mưa Sài Gòn. Đó là Sài Gòn của chúng tôi.

Một trung đội trưởng Nghĩa Quân

VNCH mà điên cuồng chống Cộng thì đâu có chính sách chiêu hồi, đâu có bắt tù binh cả trăm ngàn nuôi ăn cho mập rồi trao trả? Thằng cha này chắc chưa bao giờ cầm súng!

Một nén nhang cho ngày Tháng Tư Ðen – Thơ Nguyễn Xuân Nghĩa

Người bắn anh có thể là bạn tôi/ Một gã thanh niên miền Bắc/ Cũng có thể là tôi/ Tôi cũng bị buộc vào Nam “đánh giặc.”

Phố Hoài – Thơ Phùng Hiếu

Hoàng hôn nghiêng phố cổ/ Bóng em nghiêng sông Hoài/ Tóc dài em nghiêng phố/ Ta nghiêng về bên nhau.

Gióóóóóó… – Thơ Trần Vấn Lệ

Hôm nay... nắng mà lạnh... và gió... như gió lộng./ Cái ao nhỏ nổi sóng, biển chắc là bạc đầu!

Ngày 30 Tháng Tư

Tôi là một người Việt Nam, sống và lớn lên, trưởng thành trong thời buổi ấy, thời buổi đau thương nhất của đất nước, nay lại sống suốt 29 năm trong chế độ, sắp sửa 30 năm...

Ngủ đi con – Thơ Đặng Tiến Đạt

Quằn quại khóc than, làm sao khô suối lệ/ Con đâu rồi, con ơi, con ở đâu?/ Chưa vào đời đã thắm đỏ mái đầu/ Cha mẹ chôn con, chôn từng khúc ruột...

tình yêu? – Thơ Lê Minh Hiền

làm gì có tình yêu/ khung cửa đời hé mở/ lối đi... về thiên thu

Trời tháng năm – Thơ Trần Thoại Nguyên

Trời tháng năm tôi về thăm hạ cũ/ Bóng phượng gầy lửa cháy rụi hoa niên/ Con tu huýt thổi chiều xưa trong gió/ Lũ trẻ trâu giờ phiêu lãng bao miền.

Đinh Phụng Tiến, từ ‘bia miệng’ tới ‘hồi kết không có hậu’

Tôi nghĩ, ở truyện ngắn cuối cùng tập truyện của mình, nhà văn Đinh Phụng Tiến đã hiển lộng khả năng dựng truyện, làm chảy nước mắt người đọc một cách tài ba...