Quán Văn (Kỳ 367)

Chúng tôi vẫn sống

Huỳnh Kỳ Anh Tú

(Danlambao) – Tôi là một bác sĩ, sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn nhưng sau này tôi đi du học và đã định cư tại nước ngoài từ lâu. Nhân Tháng Tư năm nay, tôi muốn viết một thông điệp cho gia đình, bạn bè tôi, cùng tất cả những người từng là công dân Việt Nam Cộng Hòa, con cháu của họ, nhất là những đứa trẻ cùng thế hệ 8X như tôi.

Cha tôi là một sĩ quan quân lực VNCH, cấp bậc trung úy. Ông có may mắn hơn nhiều bạn bè, khi chỉ phải đi tù cải tạo một thời gian ngắn. Năm 1979, cha tôi ra tù và về sống ở Sài Gòn (xin lỗi vì tôi không thể viết tên của kẻ tội đồ dân tộc mình), một năm sau tôi sinh ra.

Từ khi tôi biết nhận thức thế giới xung quanh cho tới năm 18 tuổi, cha và mẹ KHÔNG BAO GIỜ nói với tôi bất cứ điều gì có liên quan đến chính trị hay nói xấu chế độ mới, cha tôi sống hiền lành, nhẫn nhục nuôi con cái, hòa đồng với tổ dân phố. Cha ghét chiến tranh và không bao giờ nhắc đến thời chiến đấu xa xưa của mình, đến mức không cho tôi chơi những món đồ chơi như súng, máy bay. Mẹ tôi thì cấm tôi nghe nhạc vàng hay những bài ca về lính, dù vậy sau này tôi vẫn lén nghe. Họ để cho tôi tự do lựa chọn con đường mình đi, ngay cả tôn giáo. Vì thế, những gì tôi viết cho các bạn xem đưới đây là do CHÍNH BẢN THÂN tôi nhận thức được từ cuộc sống xung quanh mình.

Với tính cách giang hồ lãng tử của cha tôi, trước 30 Tháng Tư ông vốn đã không coi trọng tiền bạc, không nhà cửa, tiền vàng, chỉ có 2 bàn tay, chiếc xe máy cùng người vợ hiền nên sau 30 Tháng Tư ông không mất gì cả về vật chất. Tuy nhiên, nỗi mất mát về tinh thần ám ảnh ông suốt đời như một vết thương không bao giờ lành được.

Nhà tôi rất nghèo, lại phải chịu bất công từ mọi phía, mẹ tôi bị ép phải nghỉ sớm do lý lịch của cha, bà phải đi buôn thuốc men, thực phẩm để nuôi tôi lớn. Lúc tôi 3-4 tuổi, cha tôi đi làm vắng nhà cả ngày, ông làm đủ thứ nghề, buôn bán hàng phế liệu, đạp xích lô, đến tối mịt mới về nhà. Ngày nghỉ, ông chở tôi lang thang trên các con đường ở Sài Gòn bằng chiếc xe đạp. Đường phố Sài Gòn thập niên 80 còn hoang vắng, tôi để ý một điều là ông luôn gọi những con đường bằng tên cũ, chỉ cho tôi những tòa nhà và tên gọi của chúng, nhiều khi tôi thấy ông dừng rất lâu ở một nơi nào đó và khóc.

Lớn lên một chút, ông luôn tìm cách hướng tôi về những điều chân thiện mỹ, thay vì phó mặc cho sự nhồi sọ của trường lớp, đội nhóm. Tôi còn nhớ ông mua sách báo cũ thời VNCH cho tôi đọc, nhất là Thiếu Nhi tuần báo. Ngày tôi được kết nạp đội, cha tôi ôm tôi vào lòng và ông rất buồn, nhưng ông dắt tôi đi xem phim Batman và đêm đó trước khi ngủ ông kể cho tôi nghe rằng ông đã phải đi bộ hơn 5 cây số để mua sữa cho tôi uống như thế nào.

Tôi nhìn ra rất sớm sự giả dối, bất công ngay trong trường lớp của mình, những bài văn mẫu, những người thầy ép học sinh học thêm tại nhà, những bài học lịch sử dối trá…

Tôi muốn nói một điều với các bạn cùng lứa tuổi rằng thế hệ sinh ra năm 78-80 tại Sài Gòn như chúng tôi PHẢI nhận thức rõ một điều rằng: Dù thể chế Việt Nam Cộng Hòa đã chết vào ngày 30 Tháng Tư, 1975, nhưng nó vẫn tiếp tục cưu mang, nuôi dưỡng những đứa trẻ như tôi bằng tất cả máu thịt còn sót lại. Bọn Cộng Sản KHÔNG góp một chút công ơn nào hết trong việc nuôi dưỡng, che chở và giáo dục chúng tôi: thậm chí ngược lại là khác, chính bọn chúng là nguyên nhân gây ra mọi đau khổ, bất công, rủi ro cho số phận những đứa trẻ sinh ra giai đoạn này.

Tôi ra đời trong một nhà bảo sinh của VNCH. Khi tôi đau ốm, các bác sĩ và nữ hộ sinh được đào tạo từ ngành y tế VNCH đã chăm sóc cho tôi, dù họ là những người đang bị ngược đãi, phải sống cực khổ ăn không đủ no vì chính sách nô dịch của Cộng Sản, nhưng họ vẫn còn giữ trọn y đức và trách nhiệm. Từ khi cắp sách đến trường, tôi may mắn hơn những đứa trẻ miền Bắc, vì được che chở dưới những lớp học, dưới mái trường do cha anh chúng tôi, công dân của VNCH xây nên; chúng tôi may mắn được xem phim trong những rạp ciné hiếm hoi còn sót lại ở Sài Gòn của VNCH.

Trong khi đó, bọn Cộng Sản Bắc Việt đã làm gì cho chúng tôi? Từ tuổi sơ sinh, toàn bộ trẻ em như tôi phải chịu cảnh suy dinh dưỡng, ăn không đủ no, không có sữa để uống. Cha mẹ chúng tôi phải chạy ăn từng bữa, hy sinh những gì tốt nhất cho chúng tôi trong khi họ phải ăn độn bo bo, khoai mì. Khi đau ốm bệnh tật không có đủ thuốc men chữa trị, phải đi vay mượn, đi mua kháng sinh ngoài chợ đen. Chúng tôi lớn lên, đứa thì lùn đứa thì còi xương, tội lỗi đó là do ai gây ra? Khi đi học, chúng tôi bị nhồi sọ bằng những chuyện dối trá nhảm nhí, bị những cô giáo xã hội chủ nghĩa đánh đập không thương tiếc, phải đi nhặt lon, nhặt rác, dùng những cuốn sách giáo khoa cũ nát, đen thui; đêm về phải học bài dưới ánh đèn dầu tù mù, chịu nóng, muỗi đốt để mà kiếm cho được tấm giấy khen vô nghĩa. Lớn lên một chút, chúng tôi lại bị những thầy cô giáo bóc lột đến tận cùng bằng những chiêu trò dạy thêm tại nhà, ai không đến nhà thầy học thêm thì bị đì, bị đối xử bất công trên lớp. Lúc trưởng thành ra đời thì tương lai u tối vì 2 chữ lý lịch gia đình, phải hối lộ đút lót khắp mọi nơi mới kiếm được miếng ăn.

Tôi lại muốn nói điều này cho bọn Cộng Sản và con cháu của chúng: Việt Nam Cộng Hòa vẫn sống, và chưa bao giờ chịu khuất phục bởi bạo lực và sự đàn áp của cộng sản. Những người con của thế hệ VNCH vẫn sống, dù nhẫn nhục nhưng không cúi đầu, không bao giờ chấp nhận đi chung đường với điều ác và dối trá.

Bọn Cộng Sản không bao giờ khuất phục được ý chí và tinh thần của những công dân VNCH, chúng không bao giờ hiểu được tại sao cha mẹ chúng tôi đặt tên cho con cái mình là Nguyễn Đình Bảo, Nguyễn Khoa Nam hay Phan Nhật Nam (cha tôi đặt tên cho tôi là Huỳnh Kỳ Anh Tú, và tôi tự hào vì điều đó!). Tại sao mấy chục năm nay người ta vẫn thích nghe nhạc của Lam Phương, Trần Thiện Thanh, Trúc Phương và dòng nhạc này đang hồi sinh.

Bọn Cộng Sản muốn trả thù hèn hạ con cháu của VNCH bằng cách xét lý lịch, thì chúng tôi, những công dân VNCH cũng dùng lý lịch, căn cước của cha anh mình như một dấu hiệu nhận diện nhau, đùm bọc nhau. Cuộc đời tôi đã trải nghiệm không biết bao nhiêu sự ưu đãi, giúp đỡ từ bạn bè của cha tôi, hay thậm chí những người xa lạ mà mỗi khi họ tình cờ biết cha tôi từng là sĩ quan quân lực VNCH. Một người thầy nổi danh đã nhận tôi vào lớp luyện thi đại học và miễn học phí (hơn 2 triệu đồng) vì tôi là con của lính VNCH. Nhiều bác sĩ đã chữa bệnh cho tôi hồi nhỏ không nhận thù lao khi biết cha tôi từng đi lính. Một linh mục tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế dạy kèm tiếng Anh và tiếng Pháp cho tôi suốt 3 năm mà không lấy đồng nào…

Bọn Cộng Sản cũng không bao giờ hiểu được tại sao bên cạnh chúng không bao giờ có mặt những người trí thức, nhân tài hậu duệ của VNCH, vì những cá nhân này không bao giờ chấp nhận vào Đoàn Thanh Niên Cộng Sản, không bao giờ đi làm cho nhà nước; và một khi ra nước ngoài du học thì họ không bao giờ quay trở lại để phục vụ cho chúng. Chúng có kêu gào 1000 năm nữa và dụ dỗ bằng tiền tài hay danh lợi, những người này cũng sẽ không bao giờ trở về cộng tác với chúng. Chúng chỉ tìm thấy những kẻ cơ hội, bợ đỡ, bất tài và ngu ngốc, bọn này mới chấp nhận làm nô lệ cho chúng mà thôi.

Đối với một số người, ngày 30 Tháng Tư có thể là ngày đau buồn, họ cho đó là quốc hận; một số những kẻ ăn trên ngồi trước thì hoan hỉ ăn mừng, mừng cho việc họ đã giết, cướp của chính anh chị em một nhà với họ,… nhưng tôi nhận rõ một điều là Việt Nam Cộng Hòa vẫn chưa chết, Sài Gòn có thể bị chiếm đóng, chúng ta có thể bị đô hộ, nhưng công dân và hậu duệ của VNCH vẫn sống, vẫn vươn lên, vẫn đang giúp đỡ nhau. Chúng tôi miễn dịch với mọi sự dối trá và độc ác của Cộng Sản, nhiều người vẫn đang đi tìm tự do, và sẽ có ngày chân lý sẽ chiến thắng.

(Nguồn: dto9@free. fr; [email protected])


Thơ Giao Yên

Bên mái tranh chiều
Mái chiều sợi khói lừng lừng
Khói quan hà lại tập trung vào lòng
Thế rồi thời khó thong dong
Chắt chiu vài chữ đôi dòng giải khuây.

Ðủ rồi đó
Nói gì người cũng chia tay
Cho mình chưng hửng đắng cay tin người
Cho mình xí được thói đời
Phân bua thôi đã đủ rồi đó nghe!

Trời đổ
Gió lay lặt lá lìa cây
Lá vàng tập kết vàng đầy ngõ thuôn
Phóng tay giải phóng mưa nguồn
Ðất ơi! trời đổ nỗi buồn còn nguyên.

Có kẻ
Nghèo thường liều mạng
Có kẻ chí mang
Ðã làm nên chuyện.

Khôn
Ðất khách mình lên nước
Về quê mình xuống nước
Khỏi uổng ghế xa lông
Chết chi tay tuột luốt
Oai hùng miệng là xong
Biệt đâu rồi cũng được
Mặc ếch nhái rêu rong
Có chi mình chạy trước.

Ðối cảnh trời đông
Cỏ còn tơi tả huống chi hoa
Bấc quét trời đông buốt lắm mà!
Ðôi cảnh lạnh lùng thôi chẳng nghĩ
Một nhành rong giạt biển bao la.

Tình buồn
Lòng em ủ nhánh trăng gay
Tình em gió thổi mây bay đoạn đành
Buồn len đến lấn thâm canh
Nén đau nghe nhột phong phanh sự tình.

Nắng hè đen nghịt
Dáng mơ nhón gót vào tâm thức
Rồi để mặc ta thấy thiệt tình!
Người để mặc ta trong biển nhớ
Dập dìu tư lự cứ linh tinh

Biệt ly nhuộm nắng hè đen nghịt
Ve cũng chia sầu gã quá tin!
Nhan sắc mỹ miều nhiều gã lụy

Nhiều tay o bế chẳng riêng mình
Nhân tình đâu phải là thê thiếp
Phụ bạc hề chi phải bất bình.

San Diego, CA.


Thơ Luân Hoán

Một thời thơ lính (quính)

thời đi lính ta làm thơ lạng quạng
có, đương nhiên súng đạn máu me
chạm sự thật lẽ nào nói nhảm
tình ý trong lòng khuân hết ra khoe

chuyện đánh đấm không cần hư cấu
thơ tháp tùng theo bước hành quân
thơ cũng dán lung tung nhiều chỗ
những chi chi ẩn nấp trong quần

hương tình ái cùng hơi cuộc chiến
vo tròn nhau thành một món ăn
vật tiêu hóa không qua cửa miệng
mà đi vào máu đỏ tim đen

ta vốn dĩ không vờ cao ngạo
không huênh hoang kiểu bất cần đời
cực-chẳng-đã vài lần văng tục
thói quen bất thần từ một cuộc chơi

không hào sảng lập lờ khí cốt
dựa rượu dựa tình tạo cách nói ngông
thơ để nói và thơ để vẽ
diễn tiến mỗi ngày xâm nhập nội tâm

giết con rắn bắn con bò thượng cấp
chơi nhằm em trụi lủi no hair
sợ són đái đôi lần rút chạy
cũng cùng thơ vai sánh cặp kè

bởi biết ngượng nên không nói dốc
kiểu ngán gì chết hoặc bị thương
ngày ngày ngắm xác banh óc đổ
phi nhân chi cũng khó xem thường

một thằng ngạo nhiều thằng bắt chước
mấy lăm hơi rượu đế vờ say
đã là lính khoe chi gian khổ
chuyện đương nhiên như trời có mây

ngán ngẩm ngắm vài thằng quá đáng
vờ ốm đau lên cáng tải thương
vào quân viện tán hươu tán vượn
khoái chí tự trào quên chữ bất lương

dù tình nguyện ra nơi đánh giặc
đâu khác chi bị bắt lính đâu
quân đội chính là nơi đồng phục
thân cùng tâm na ná như nhau

quan với lính khác nhau chút chút
đi trước đi sau vào những mục tiêu
chuyện sống chết thật tình khó biết
chút ít tùy theo thỏ đế gan liều

trước khi bắn thằng nào cũng nhát
bóp cò rồi tự nhiên vững tâm
một phản xạ vô cùng mầu nhiệm
dựa chi đây để luận anh hùng?

chán trốn lính nên ta đi lính
trong một lần có tổng động viên
chưa “xanh cỏ” cũng không “đỏ ngực”
nhưng ta đây có dữ có hiền

ta cầm súng làm thơ bát nháo
hỗ tương nhau lững thững qua ngày
hơn chục huy chương giúp ta nói xạo
chim cũng bay ruồi muỗi cũng bay

thơ lính ta, ta cho số một
bởi chữ có lòng có óc ta riêng
tám phần mười cù lần chân thật
và hai phần hơi hám khùng điên

khi đánh giặc ta là chiến sĩ
bị thương rồi trở thành phế binh
đời ca ngợi tùy theo mục đích
chính bản thân hiểu giá trị mình

mỗi khi nhớ thơ làm thời chiến
vui vui như được ôm đàn bà
vẫn mới rợi từng đường khám phá
có chân tình có cả tinh ma

bao lần định xuống tay bắt chước
viết bài hành hoặc giả trường ca
về một thuở sống hơi được được
có chút chi hồn vía nước nhà

vậy mà thẹn sao sao ấy nhỉ
để hôm nay lại thử vòng vo
vỗ chân gỗ mà ca chẳng được
dù lòng khuyên hãy gắng giả đò

ta là lính kẻ thù xưa cũng lính
đều anh hùng hào kiệt như nhau
một đất nước có hai tổ quốc
mỗi một phe đều nhận hàng đầu

phe bán nước và phe giữ nước
tùy mỗi người nhận biết dễ thôi
con người có chức năng ý thức
có trái tim trong mỗi con người

lạc đề mất, thôi xin quay lại
thơ kaki nhân bản một thời
để tóm gọn ta chơi đủ ngón
công ở em dạy biết yêu đời
10.8.2019

(Nguồn: sangtao@org)


Thơ Nguyễn Minh Phúc

Như sợi tóc người

tóc người mây lệch đường ngôi
sợi nào rơi giữa hồn tôi những chiều
sợi nào nhớ… sợi nào yêu
sợi nào đêm với cô liêu… tôi buồn

bến tình là những mù sương
là con sóng vỗ thơm hương tóc người
nâng niu sợi tóc bùi ngùi
nhớ quên đầy một kiếp người phôi phai

nầy đây là những sớm mai
mong manh tóc rối chạm dài đợi mong
kia từng sợi ngắn bâng khuâng
đêm nằm mơ mộng buộc cầm đời nhau…

tóc xưa giờ có phai màu
tôi còn giữ mãi nghìn sau ngậm ngùi
dẫu đời đầy những buồn vui
tình tôi như sợi tóc người…
vẫn xanh…

Hiên trời thu phai

ai về trong giấc mơ tôi
để rồi một thưở tôi ngồi tương tư
ai mang cơn gió bên trời
thổi vào tôi mộng trắng trời sương giăng

qua chưa hỡi một mùa trăng
mà chân còn vấp gập ghềnh lời ru
đâu rồi hỡi gió mùa thu
buồn con mắt đợi mịt mù mây trôi

còn đây năm tháng bên trời
môi xưa cũng nhạt người ơi muộn màng
em về tình đã dở dang
cơn đau ngày cũ ngập tràn hồn tôi

nụ hồng giờ cũng phai phôi
chỉ còn lại giấc mơ trôi lỡ làng
lần theo cơn mộng bẽ bàng
tôi ngồi cùng với ngỡ ngàng thu phai…

Ngã ba

ngã ba là nơi em đi về
khi rẽ trái khi thì rẽ phải
anh bất chợt rùng mình lo ngại
chỉ sợ lòng em như… ngã ba… (?)

…quanh đời anh những ngã ba
những âu lo… những nghĩ xa giật mình
bên kia là những thác ghềnh
làm sao giữ được chênh vênh cuộc tình

nầy là sóng vỗ lênh đênh
nầy mưa nắng đổ quên tên phai thềm
cớ gì mỗi giấc mơ đêm
anh lo sợ ngã ba chìm… không em

cớ gì anh nhớ lại quên
chiều xưa con dốc gọi tên chúng mình
hỡi em còn nhớ phố Huỳnh
một lần yêu một lần tình lên ngôi

em về bên ấy rồi thôi
ngã ba ngã bảy… tình trôi chập chùng
nhớ chiều phố cũ rưng rưng
em ơi… anh đợi em từng… ngã ba…

(Nguồn: sangtao@org)


Thơ Thọ Khương

Nợ tình

Đong tình qua kẽ ngón tay
Tình rơi cúi nhặt, tình cao ngạo cười
Hỏi tình, tuổi quá năm mươi
Vọng tâm còn động… tình chơi vơi già

Vết chai tình vẫn thật thà
Sẹo đời đã ngấm tình ta lạc mùa
Ngồi nhìn bóng lặng tình thưa
Tâm in dấu vỡ tình chưa bạc mầu

Chạnh lòng tình khóc mưa ngâu
Nghe đêm tháng sáu tình đâu bỗng về
Muộn màng ngủ giấc ai mê
Tỉnh ra tình chết não nề đớn đau…

Cuối đời tình nợ trả nhau
Tình xô định mệnh nét nhầu tang thương
Em đem tình cũ soi gương
Để xem phút cuối tình buông…sợi tàn…

Tình cũ

Vòng tròn khép kín
Mò mẫm ta đi
Tìm khe nứt nhỏ
Trốn đời tình si

Ta lần lên trước
Ta trượt về sau
Loay hoay mở lối
Vực tình thêm sâu

Vòng xoay cuốn chặt
Lầm lũi u mê
Giam đời khách lạ
Gánh tình lê thê

Hoàng hôn tím sẫm
Vòng xoáy dần co
Tâm thôi động vọng
Cuộc tình… mây tro

Chiều nay bỗng nhớ
Tình cũ năm nào
Vòng xưa mở ngỏ
Bến đời… hư hao…

Vấn vương

Vết xưa vẫn luyến bờ môi
Kìm sâu tiếng nấc chôn lời dối gian
Võng đời đưa đẩy mênh mang
Đau thương để lại muôn vàn nếp nhăn

Dỗ từng giấc ngủ ăn năn
Cho cơn sóng động trở trăn phận người
Gió về góp nhặt mùa rơi
Phai vàng ký ức tình trôi lạnh lùng…

Tìm trong cõi lặng mông lung
Chỉ còn tiếng vỡ muôn trùng đớn đau
Hoa tàn mộng nát tâm nhầu
Giữa đêm sương lạnh tình đâu chợt về…

Ngỡ ngàng ngày mới lê thê
Phơi trần thân phận não nề yêu thương
Trối trăn bóng đổ trên đường
Cuồng si một thưở còn vương ngậm ngùi…

(Nguồn: [email protected])


Thơ Trần Vấn Lệ

Tình Yêu Không Cũ

Đã cuối tuần rồi. Lại hết tuần
Chuông nhà thờ đổ đón hoàng hôn
Có người con gái đi xưng tội
Trước Chúa, nàng thưa: Con nhớ thương…

Trước Chúa, trước nàng: Pho Tượng Đá
mà sao như có trái tim hồng?
Trái tim của Chúa, nàng yêu quý
cũng trái tim nàng… một đóa trăng!

Tất cả, chỉ là tôi tưởng tượng
một người con gái cúi đầu thưa
một pho tượng đứng nhìn chăm bẳm
Một Thế Gian Đầy Một Ước Mơ!

Nhiều người làm thơ để có bài
Tôi làm thơ chỉ nhắc về ai…
Một người không quản gì mưa nắng
Nhưng có tấm lòng Nhất Độ Mai!

Tôi biết người ta tới tuổi hồng
…thì người ta phải bước theo chồng
Gái khi khôn lớn đều như thế
Từ đó tôi nhìn mãi bến sông…

Đã cuối tuần rồi, cuối tuần nào
Rất là xưa nhé giấc chiêm bao:
Núi sông tôi đã bao lần vượt
… mà gặp lại người… chắc kiếp sau?

Có những bài thơ làm-cho-mình
Làm rồi xếp cất, mở ra nhìn…
Bao nhiêu năm tháng không cần tính
Chỉ biết Tình Yêu Mãi Mới Tinh!

Sau cơn mưa sau cơn mơ

Sau những ngày mưa như trút.
Đà Lạt đứng dậy lom khom…
giống như những cây thông
bật gốc, lòm còm đứng dậy…

Quang cảnh đang được nhìn thấy:
Đà Lạt, cảnh trí điêu tàn!
Những công nhân đi lang thang
trên đống nhà kính tan vỡ…

Bao nhiêu triệu đô đem đổ
Giờ, hốt nước mắt săm soi!
Tưởng ăn gian được ông Trời
Ông trời không đùa giai nhé!

Sau những ngày mưa không kể
chỗ cao thấp của núi rừng
tất cả thành ra con sông
họp từ muôn ngàn con suối…

Đà Lạt: Con Cá Chết Đuối
ngay trong vũng nước bao la!
Đà Lạt: Những Cửa Những Nhà
chỉ là tàn dân hại nước!

Bốn mươi lăm năm về trước
Đà Lạt chưa hề bao giờ
thức dậy mà tưởng nằm mơ
lá cờ tả tơi đây đó!

Câu hỏi: Tại Sao Thế Chớ?
Trả lời: Thế Chớ Biết Sao!
Giữa lá cờ bỗng nghẹn ngào
Ngôi sao vàng nhòe ứ máu…

Trời đất, cứ hô là Xạo
Thì đây: Đà Lạt thực, hư?
Vô thường… là đó, như như!
Hay: Chuyện Gì Cũng Có Thể! (*)

(*) Kinh Thánh, Kinh Phật đều nói giống nhau: “Trần gian là cát bụi.”
(Nguồn: [email protected])


Hương lạ Nam Việt

Minh Mẫn

Vu Lan năm nay có gì lạ?

Thưa chả lạ gì mỗi độ Vu Lan sang. Vẫn hoa hồng, hoa trắng. Vẫn báo hiếu, vẫn bố thí cúng dường, vẫn phóng sanh chẩn tế…

Chiếc xe đạp của cụ ông ngoài 70, bán kem bán bánh, kèm theo hoa hồng hoa trắng biếu tặng bà con để nhắc nhở đám trẻ nhớ lại ân dưỡng dục sanh thành.

Trên vỉa hè, xe bánh mì, hộp bún xào, thùng nước uống… mời gọi khách qua đường vui lòng ghé lại nhận tấm lòng của bà con phát tâm hùn phước. Hai tay dâng quà cho khách qua đường lòng tràn đầy hoan hỷ.

Một tiệm chay không đồng, một đồng, tám đồng đều sốt sắng mời gọi khách vào.

Các chùa mở cửa cho khách vãng lai quá bộ thọ thực vô tư.

Chiếc xe đạp tự nguyện nhặt đinh gai cho người qua đường, một người khác vá xe miễn phí. Đoạn ổ gà, dân tự nguyện chắp vá trơn tru.

Các bệnh viện thường xuyên được nhận cơm ba bữa.

Một xóm nọ, gia đình phát tâm nấu chay thiết đãi bà con trong ấp.

Hàng đêm, nhóm thanh niên rảo quanh khu phố đem cơm đến tận người vô gia cư nằm vỉa hè. Một cậu trẻ xin cơm thừa của chùa đem cho giới lao động nghèo khổ. Hai thanh niên lạ, đến tận gia đình tật nguyền, nấu ăn chăm sóc người bất hạnh.

Còn nhiều những tấm lòng và bàn tay nhân ái chia sẻ cho nhau. Còn nhiều những hiện tượng nhân hậu tự phát qua nhiều hình thức lạ.

Miền Nam hình thành 300 năm, không chỉ cuộc sống lúa nước do tiền nhân mở mang bờ cõi. Họ còn sống nhờ cốt tủy đạo đức cha ông truyền thụ. Một Phật thầy Tây An, một PGHH, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Bửu Sơn Kỳ Hương, Đại Ðạo Cao Đài,… là những luồng sinh khí nuôi sống dân hiền. Lòng từ bi, vị tha, hiền hậu,… hun đúc thành một bộ phận của dân tộc biết lá rách đùm lá nát. Quả thật, dân miền Tây Nam Bộ không giàu vật chất nhưng giàu tấm lòng nhân ái.

Hành động từ thiện từ đây lan tỏa biến thành phong trào, biến thành lẽ sống tự nhiên như máu chảy ruột mềm. Dân miền Nam, không ai gọi ai, tự động cùng nhau làm phước.

Nhân mùa Vu Lan năm nay, như luồng gió lạ đưa đẩy mọi người tự động thể hiện lòng vị tha. Ngoài sinh hoạt tất yếu tôn giáo, người dân tự động xã hội hóa mọi việc làm nhiều ý nghĩa. Có lẽ đây là tiền lệ cho người dân, không chỉ mùa Hiếu Hạnh, mà thường xuyên thể hiện tấm lòng nhân ái trong một xã hội có quá nhiều hiện tượng tiêu cực hiện nay.

Hương hiếu hạnh hay hương đạo đức đang  lan tỏa dần khắp Bắc Nam!

15/8/2019

(Nguồn: [email protected]; [email protected])


(Nguồn: Google)

Cái  mặt

Tiểu Tử

Con người có cái mặt là quan trọng nhất. Thật vậy, nếu lấy cái mặt bỏ đi, tất cả những gì còn lại trên thân thể sẽ không dùng vào đâu được hết, và cũng không còn tồn tại được nữa. Không có mũi để thở, không có miệng để ăn,… con người không có cái mặt là kể như “tiêu tùng”!

Trước khi “đào sâu” cái mặt, xin mở dấu ngoặc ở đây để “vinh danh” tiếng Việt: phần lớn những gì nằm trên cái mặt đều bắt đầu bằng chữ “m,” trên thế giới chưa có thứ tiếng nào như vậy hết! Ðây, nhìn coi: trên mặt có mắt, mũi, miệng (mồm), má.

Ở “mắt” có mày, có mi, có mí mắt, rồi mắt mụp, mắt mọng nước, mắt mơ màng, mắt mơ mộng, mắt mờ, mắt mù…Qua tới “mũi,” ngoài “mùi” ra không thấy chữ “m” nào khác dính vào. Có lẽ tại vì cái mũi nó… cứng khư, không… linh hoạt.

Ấy vậy mà nó – cái mũi – và “chân mày” (cũng kém linh hoạt như cái mũi!) lại được đi kèm với cái mặt để… hỗ trợ cho tiếng “mặt,” trong từ ngữ thông thường: “mặt mũi,” “mặt mày,” làm như nếu nói “mặt” không, phát âm nghe…trơn lùi, nhẹ hểu không lọt lỗ tai! Cho nên người ta nói “mặt mũi bơ phờ,” “mặt mày hốc hác,” chớ ít nghe “mặt bơ phờ, mặt hốc hác.”

Bây giờ tới “miệng” thì có môi, có mép rồi mồm mép, môi miếng, miệng méo, miệng móm, mím môi, mếu máo, mấp máy, bú mớm, mút mấp… Ðến “má” thì ngoài “mụt mụn” chỉ có “mi một cái” là còn thấy chữ “m” nhè nhẹ phất phơ… Tiếng Việt hay quá!

Trở về với cái mặt. Ông Trời, khi tạo ra con người, ban cho cái mặt là một ân huệ lớn. Nhờ có cái mặt mà con người nhận ra nhau, chồng nhận ra vợ, con nhận ra cha, biết ai là bạn ai là thù, v.v… Thử tưởng tượng một ngày nào đó bỗng nhiên không ai còn cái mặt nữa. Nếu có sống được nhờ một sự nhiệm màu nào đó, thử hỏi con người lấy gì để nhận diện nhau?

Chồng vợ, cha con, bạn thù gì đều… xà ngầu. Vậy là loạn đứt! Cho nên xưa nay, người ta coi trọng cái mặt lắm.

Có người còn nói, “Thà chịu mất mạng chớ không bao giờ để cho mất mặt”! Vì vậy, rủi có ai lỡ lời chạm tự ái một người nào thì người đó thấy bị… mất mặt, liền đưa một nắm tay lên hăm he: “Thằng đó, bộ nó giỡn mặt tao hả? Tao phải dằn mặt nó một lần cho nó biết mặt tao!”

Rồi, bởi vì cái mặt nó… nặng ký như vậy, cho nên khi nói về một người nào,người ta chỉ nhắm ngay vào cái mặt của người đó để mà nói. Nếu ghét thì gọi “cái bảng mặt” (Cái mặt mà như tấm bảng thì thiệt tình thấy chán quá!

Thường nghe nói, “Cái bảng mặt thằng đó tao coi hổng vô!”). Nếu hơi khinh miệt thì gọi “cái bộ mặt” (“Thằng này có bộ mặt ăn cướp!”). Còn khi thương thì cái mặt trở thành “cái gương mặt” (“Em có gương mặt đẹp như trăng rằm!”). Chưa hết! Khi nổi giận muốn… hộc máu, người ta cũng chỉ nhắm vào cái mặt của đối thủ chớ không chỗ nào khác để “dộng một đạp” hay “cho một dao” hay “phơ một phát” hay… “tạt một lon ác-xít”! Bởi vậy, xưa nay những người có “nợ máu” lúc nào cũng sợ bị “nhìn mặt trả thù,” và hồi thời chống Pháp, những điềm chỉ viên đi nhìn mặt “quân phản loạn” đều lấy bao bố trùm đầu để giấu mặt!

Con người, khi nhìn người khác, lúc nào cũng bắt đầu ở cái mặt (chỉ có người không… bình thường mới nhìn người khác bắt đầu ở cái chân hay cái bụng hay cái lưng!) Ở đó – ở cái mặt – ngoài cái đẹp cái xấu ra, còn hiện lên “cái mặt bên trong” của con người.Các nhà văn gọi là “nét mặt,” nghe trừu tượng nhưng suy cho kỹ nó rất đúng.

Bởi vì chỉ có cái mặt là… vẽ được cái nội tâm của con người thật đầy đủ. Cho nên mới có câu “Xem mặt mà bắt hình dong” (hình dong ở đây là cái hình dong giấu kín bên trong con người). Cho nên, trên sòng bài, các con bạc thường “bắt gân mặt” nhau để đoán nước bài của đối thủ.

Cho nên mấy “giáo sư chiêm tinh gia” lúc nào cũng liếc sơ cái mặt của thân chủ trước khi nâng bàn tay lên xem chỉ tay, để… định mức coi “thằng cha này nó sẽ tin mấy phần trăm những gì mình nói”! Thì ra, đời người không nằm trong lòng bàn tay như mấy “thầy” đó nói, mà nó nằm ngay trên nét mặt!

Cũng bởi vì cái mặt nó… phản động như vậy, cho nên các“đỉnh cao trí tuệ của ta” đã nâng cao cảnh giác, ẩn mặt một cách… an toàn suốt giai đoạn đấu tranh “chìm” và chỉ “xuất đầu lộ diện” khi toàn dân đã vùng lên nổi dậy. Và các “đồng chấy vĩ đại của ta” thay tên đổi mặt lia chia để đánh lạc hướng kẻ địch, nay để râu, mai thay tóc, mốt cạo đầu, v.v….Họ ôm khư khư cái mặt để.. “quản lý” nó từng giây từng phút, chỉ sợ nó để lòi ra cái mặt thật nhét giấu ở bên trong, riết rồi nó xơ cứng như mặt bằng đất. Ðến nỗi vào bàn hội nghị quốc tế, các đối tượng không làm sao “bắt gân mặt” để “đi” một nước bài cho ngoạn mục!

Ở đây, phải nói thêm cho rõ là cho dù trong nội bộ với nhau – nghĩa là giữa “ta” và “ta” – cái mặt vẫn bị quản lý y chang như vậy, bởi vì hành động đó đã biến thành “bản năng” từ khuya!

Vì vậy, đừng ngạc nhiên khi thấy sau hội nghị, mới ôm “hôn nhau thắm thiết tình đồng chấy” mà trên đường về lại khu bộ có cán bộ đã bị “bùm” hay bị “cho xe rơi xuống hố” một cách rất… bài bản, để lại niềm “vô cùng thương tiếc” nằm trên vòng hoa phúng điếu của người đã ra lệnh hạ thủ!

Có khi chính “đồng chấy” này là người thay mặt tập thể, đứng ra… rớt nước mắt đọc điếu văn! Ở đây, ông bà mình nói: “Phải muối mặt mới làm được như vậy.” Thật là chí lý! Cái mặt đã muối rồi thì đâu còn sợ… bị thúi hay bị sình! Ta cứ tỉnh bơ thôi!

Bởi cái mặt nó phản ảnh con người nên hát bội mới“dặm mặt” sao cho đúng với cái “vai,” để khi bước ra sân khấu, khán giả nhận ra ngay “thằng trung, thằng nịnh, thằng hiền, thằng dữ,” v.v… Ngoài đời, không có ai dặm mặt, nhưng vẫn được người khác “nhận diện” là: Thằng mặt gà mái, thằng mặt có cô hồn, thằng mặt…mẹt, mặt mâm, mặt thớt, mặt hãm tài, mặt đưa đám, mặt trù cha hại mẹ, mặt… mo, v.v…

Sau Tháng Tư, 1975, người dân miền Nam đã được nhà nước “vẽ lọ bôi hề” thành những khuôn mặt… không giống ai, để đóng vai “nhân dân làm chủ” trên sân khấu cách mạng, trong vở trường kịch “đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”!

Trên sân khấu chánh trị Việt Nam bây giờ, trong cũng như ngoài nước, “đào kép” tuy không dặm mặt như nghệ sĩ hát bội,nhưng mỗi người đều có “lận lưng” vài cái mặt nạ để tùy hoàn cảnh ,tùy đối tượng mà đeo lên cho người ta “thấy mình là ai” (dĩ nhiên không phải là cái mặt thật của mình). Rồi cũng “phùng mang trợn mắt hát hò inh ỏi” một cách rất… tròn vai, làm “bà con đồng bào, đồng chấy, đồng hương” cứ thấy như thiệt! Ðiểm đặc biệt là ông nào bà nào cũng muốn thiên hạ chỉ nhìn thấy có “cái mặt của mình” trong đám bộ mặt đang múa may quay cuồng trên sân khấu.

Vì vậy, họ phải ráng bơm cho cái mặt của mình to bằng cái mâm (mặt mâm), cái nia, để thấy họ mới đúng là… “đại diện”! Chẳng qua là họ muốn tạo thời cơ để kiếm cho cái… đít của họ một cái… ghế!  Ðến đây thì vở tuồng trên sân khấu đang chuyển sang lớp “gà nhà bôi mặt đá nhau”… Cái mặt đã trở thành “một vấn đề”!

Ðể chấm dứt bài này, và cũng để được yên thân, xin phép độc giả cho tôi “vác cái mặt của tôi đi chỗ khác”!

(Nguồn: [email protected]; qua [email protected])


Chấp nhận mức giới hạn

BS Hồ Ngọc Minh

Cứ mỗi lần chữa trị bệnh nhân mà không đạt được kết quả như ý muốn thì thường xuyên kéo theo những ngày dài buồn bực, ăn không ngon, ngủ chẳng yên.

Mới đây gặp trường hợp của một cặp vợ chồng trẻ, theo tôi rất ư là dễ thương. Đây không phải là lần đầu tiên trong cuộc đời hành nghề của tôi. Cứ mỗi lần như thế, tôi lại tự vấn lòng mình: Có phải mình làm chưa hết sức mình, hay tại mình chưa có đủ kinh nghiệm? Cảm xúc không khác gì thời còn ở trung học, khi không tìm ra được đáp số, hay là một đáp số trật cho một bài toán khó.

Nói rộng ra, nhiều sự kiện xảy ra như những bài toán, nhưng khác ở chỗ những bài toán là những ẩn số biến chuyển, khó lường; và như thế, đáp số sẽ thay đổi, hoặc có khi không có đáp số. Còn mỗi ngày trong đời sống là những sự việc vô định, biến chuyển thường xuyên tuỳ theo tình huống mà là người trong cuộc, chúng ta cố tìm mọi cách để kiểm soát, nắm giữ lấy những biến chuyển ấy.

Ví dụ, công việc buộc ta có những thói quen như tạo ra thời khóa biểu, chương trình, danh sách, mục tiêu hay đề án. Ở nhà thì phải có thức ăn ngon, môi trường sống thoải mái. Và cứ thế, chúng ta xây dựng cuộc sống và cá tính dựa trên nền tảng của những điều cho là vững chắc, tiện nghi mà ta tin là có thể kiểm soát được. Nhưng khi một sự việc xảy ra ngoài ý muốn, khuynh hướng chung là ta cố tìm cách kiểm soát, níu kéo lại những điều bất định. Và nếu thất bại, thì chúng ta sẽ mất đi sự tuần hoàn của nhịp sống, dễ bị stress, đau khổ, buồn bực, giận dữ, và có khi liên lụy đến những người thân chung quanh.

Vì thế, có khi ta phải chấp nhận mức độ giới hạn, thừa nhận một lằn ranh mà ta không thể vượt qua được. Hay nói nôm na là chấp nhận đầu hàng! Đầu hàng ở đây không có nghĩa là thất bại, mà là uyển chuyển theo nhịp thở của cuộc sống, thay vì ngoan cố chống chọi những điều không thể đạt được, hành động theo bản năng là phải kiểm soát cho được mọi điều, mọi việc theo ý muốn của mình. Chấp nhận đầu hàng ở đây chỉ có nghĩa là thay đổi góc nhìn, chỗ đứng và bố cục của sự việc.

Chấp nhận có giới hạn, theo nhiều người có khi là hèn nhát và nhu nhược. Nhưng không phải như vậy, khi chúng ta cố bám víu vào sự việc chẳng thành thì chỉ tạo thêm căng thẳng, lo âu và sợ hãi. Khi đối mặt với sự mất mát ngoài vòng kiểm soát, chúng ta dễ mất thời giờ, nghị lực, nhụt chí; chưa kể đến sự mất mát về vật chất mà còn thêm lo âu và buồn phiền.

Do đó trong cuộc sống ta nên chấp nhận sự bấp bênh, vô định, bất ổn và lèo lái theo dòng đời. Hãy cố tìm cách đứng ngoài sự bất ổn và quan sát sự việc, rút tỉa những bài học những kinh nghiệm. Thay vì nhìn ngược về quá khứ và lo toan cho tương lai, hãy sống với những điều xảy ra trong hiện tại.

Ở đây, tôi không muốn nói buông bỏ tất cả sự việc, những gì quý báu trong cuộc sống. Buông bỏ một cách vô trật tự sẽ dễ đưa đến lụn bại cả về tinh thần, tài chánh, sức khoẻ, quan hệ gia đình và thậm chí là hạnh phúc vợ chồng nữa. Chấp nhận giới hạn cũng không có nghĩa là không phản ứng,không hành động, thờ ơ trước sự kiện.

Trong một bài viết trước, tôi có đưa ra ý tưởng trong việc chữa trị bệnh nhân, khi kết quả không như ý muốn, thật ra có hai bên thua cuộc, cả bệnh nhân lẫn bác sĩ. Chấp nhận giới hạn của người thầy thuốc ở đây chỉ có nghĩa là tạm dừng để xem xét, nhưng không đồng nghĩa với thua cuộc hoàn toàn. Nói nôm na là đình chiến một trận đánh, nhưng không nhất thiết là thất bại một cuộc chiến tranh. Biết là khả năng con người có giới hạn,nhưng không buông trôi, nghĩa là vẫn phải tiếp tục chữa trị cho bệnh nhân.

Một đồng nghiệp nói với tôi, “Sức mấy mà buồn, buồn ơi, bỏ đi tám!” Khi chuyện xảy ra không như ý muốn,thì nên tốn ít phút để phân tách sự việc, học hỏi kinh nghiệm và thay đổi hướng đi cho tương lai, thay vì buồn bực tám ngày hay tám tháng.

Theo tôi, đây là bài học chung cho cuộc sống. Đó chính là “Biết chấp nhận có sự giới hạn.”

(Nguồn: Patrick Willay, [email protected])

[jwplayer UJOMSu1H]

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT