Sự giàu có của Trịnh Y Thư trong thơ Siêu Thực

Du Tử Lê/Người Việt

Trong một tham luận công phu, sâu sắc về trường phái thơ Siêu Thực của Tiến Sĩ Đào Duy Hiệp, nơi tiểu đề: “Hình ảnh trong thơ Siêu Thực,” ông đã đề cập tới ba đặc tính của thơ Siêu Thực, như thể đó là ba yếu tính căn bản của thể thơ này.

1-“Trong tuyên ngôn của chủ nghĩa siêu thực (1924), André Breton (1896-1966) đã coi Pierre Reverdy (1889-1960) là người đặt ra tiêu chí về hình ảnh, ưu tiên cho cái đột nhiên của cảm hứng chống lại định hướng mang tính phương pháp của suy tưởng. Reverdy đã định nghĩa về hình ảnh trong tạp chí Bắc-Nam của mình như sau: ‘Hình ảnh là một sáng tạo thuần túy tâm linh. Nó không thể sinh ra từ so sánh, mà từ sự sáp vào nhau của hai thực tại ít hay nhiều xa nhau. Những quan hệ của hai thực tại được đặt cạnh nhau càng xa nhau và càng thích đáng, thì hình ảnh sẽ càng mạnh mẽ – nó sẽ càng có sức mạnh xúc cảm và sức mạnh về thực tại thơ…’”

Thơ siêu thực được sinh ra từ hai phát hiện lớn: cái viết tự động và hình ảnh. Khi thơ thiếu vắng vần luật thì hình ảnh quyết định cho bài thơ. Hình ảnh trong thơ siêu thực là ‘những va đập chói lòa của từ ngữ’ (J.Vaché) thường mang tính chất mộng mị, chiêm bao (onirique). Các nhà thơ siêu thực đều là những người xây dựng hình ảnh lạ và bất ngờ. Trong cuốn ‘Chủ Nghĩa Siêu Thực,’ Robert Bréchon (*) đã thấy có ba cấp độ xây dựng hình ảnh cơ bản của siêu thực.

A-Từ ‘như’ (comme) so sánh.

B-(Cũng vẫn là liên tự ‘như’):

-Những chủ nhật đã đi qua như rắn nước đang đi qua (Leiris)

-Những hoa này của núi rừng đã vàng đi như những giọt lệ của chúng ta (Shéhadé)

-Bão tố của mùa màng tốt tươi như bàn tay không ngón (Eluard)”

Mấy thí dụ vừa kể trên của tác giả Đào Duy Hiệp cho thấy liên tự “như” theo phân tích của ông, nó tính đơn giản và phổ cập quát, thường thấy ngay trong cũng có: “Thân em như hạt mưa sa…”

Tuy nhiên, vế B của siêu thực thường gây sửng sốt, “chói lòa,” bất ngờ, bởi tính chất mộng mị, “siêu thực” của nó.

2-Cấp độ thứ hai, thay vì được kết hợp bởi liên từ “như” (hoặc từ tương đương) thì A và B lại được đặt cạnh nhau:

“Cây đậu tía áo dài hun khói
Cây dương địa hoàng pha lê mịn
Cây hoa đinh những đôi môi sản sinh
Em duy nhất và anh nghe thấy cỏ từ tiếng em cười”
(Eluard)

“Cỏ” và “tiếng em cười” là hai “thực tại” xa nhau được sáp nhập vào nhau cho tri giác về âm thanh vang lên của tiếng cười vui vẻ với cái nhìn đồng cỏ xanh rờn đã trở thành biểu tượng cho sự trẻ trung đầy hy vọng. Tai ở đây làm thay cả nhiệm vụ của mắt: “nghe thấy cỏ.”

Malcolm de Chazal làm ra những câu thơ giống như những châm ngôn ngây thơ qua hệ từ (copule) – sử dụng động từ “là” để nối A với B:

“Những thung lũng là những chiếc nịt vú của gió
Hoa hồng, đó chính là những chiếc răng sữa của mặt trời.
Màu sắc là cái xỏ giày của mắt”

Những hình thái này, theo Bréchon, là trung gian giữa so sánh và ẩn dụ: một lối so sánh cụt (comparaison tronquée) thông qua cú pháp mà một trong hai vế làm chức năng xác định đã trở thành thuộc ngữ.

Ngoài ra, các nhà siêu thực còn tạo cho giới từ de một quan hệ so sánh gần như đặc biệt. Do phải chuyển dịch sang ngôn ngữ của chúng ta, nên vị trí của giới từ de theo nghĩa quan hệ so sánh mà các nhà siêu thực ước định, tôi để gạch chéo để chúng ta thấy được sự phân cách giữa A và B:

“Đôi mắt vợ tôi/ đồng cỏ lớn
Đôi mắt vợ tôi/ nước uống trong tù
Đôi mắt vợ tôi/ cây luôn dưới lưỡi rìu
Đôi mắt/ mực nước mực không khí đất đai và lửa”
(Breton)

3-Bréchon cho rằng còn một loại so sánh thứ ba rất đặc thù của siêu thực: đó là ẩn dụ cụt (métaphore tronquée), nghĩa là không còn sự đặt gần nhau của hai phần được so sánh nữa mà là sự thay thế từ vế này sang vế kia. Đây là loại hình ảnh được kết hợp phức tạp nhất của siêu thực. Ví dụ hai câu thơ của Breton sau đây rất hay được dẫn:

“Trên cây cầu, vào cùng một giờ
Cũng vậy hạt sương trên đầu con mèo cái đang tự dối mình.”

Rõ ràng ở đây không thể biết được chắc chắn những vế nào dùng để so sánh. “Hạt sương” gợi nhắc đến “mèo cái” hay ngược lại? Sự sáp lại gần nhau của hai “thực tại” trên không mang chức năng gợi ý đến sự tương đồng giữa chúng mà lại giống như một thực thể siêu nhiên. Ta thấy những ví dụ 2 ở bên trên ít ra là còn có mối dây liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp nào đó, nhưng ở đây rất khó “nối” chúng lại với nhau…

Tác giả nhấn mạnh rằng sự so sánh “như” trong thơ siêu thực luôn phải đạt được vài đòi hỏi như “…gây sửng sốt, chói lòa, bất ngờ, bởi tính chất mộng mị, siêu thực của nó. “

Nhiều độc giả sau khi đọc trích dẫn trên, trong bài của Tiến Sĩ Đào Duy Hiệp, cho rằng liên tự “như” không hẳn là đặc thù riêng của trường phái thơ Siêu Thực, mặc dù tác giả đã nhấn mạnh: So sánh đó, phải mang có được mấy đòi hỏi như: “bất ngờ” tính “mộng mị siêu thực”… Mà nó là một trong vài chìa khóa căn bản của bất cứ thể thơ nào.

Thí dụ mấy câu thơ sau đây của cố thi sĩ Nguyên Sa, không thể nói là thiếu tính bất ngờ hay “mộng mị;” mặc dù thơ ông không thuộc khuynh hướng Siêu Thực: “Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm/ như con mèo ngái ngủ trên tay anh.”

Và, hai câu thơ kế tiếp của Nguyên Sa cũng mang tính ẩn dụ: “Đôi mắt cá ươn sắp sửa se mình/ Để anh giận sao không là nước biển” (trích “Nga”).

Về cái mà tác giả Đào Duy Hiệp đề cặp tới tính “nghe” không chỉ bằng thính giác mà còn bằng thị giác, một số độc giả đã liên tưởng tới bốn câu thơ của Huy Cận, trong bài “Buồn Đêm Mưa.”

Câu thơ đầu tiên trong bài thơ vừa kể, rõ ràng là vai trò của thính giá thuần túy: “Tai nương nước giọt mái nhà.”

Nhưng bốn câu kế tiếp thì nó lại vượt khỏi phạm trù của thính giác để chuyển sang cảm nhận của tâm hồn và thị giác: “Nghe trời nằng nặng/ Nghe ta buồn buồn/ Nghe đi rời rạc trong hồn/ Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi…”

Cũng thế, khi tác giả Đào Duy Hiệp, đề cập tới yếu tính “ẩn dụ cụt” thì ẩn dụ dù cụt hay không, vẫn là yếu tính của mọi thể thơ cũ hay mới, theo một số đọc giả.

Vẫn lấy thí dụ thơ Nguyên Sa (vì tính phổ biến sâu rộng) của nó: “Hai mắt rỗng phải che bằng khói thuốc/ Chúng tôi nằm run sợ cả chiêm bao/ Mỗi buổi sáng mặt trời làm sấm sét/ Nên nhìn đêm mở cửa chẳng đi vào…” (trích “Bây Giờ” của Nguyên Sa).

***

Trở lại với “Phế Tích của Ảo Ảnh” thơ Trịnh Y Thư, trong suốt trên dưới 150 trang thơ, ở bất cứ khổ thơ ngắn dài nào của thi phẩm này, người đọc cũng gặp được rất nhiều những yếu tính của trường phái thơ Siêu Thực; tới độ, không ít người đã phải thốt lên rằng thơ họ Trịnh có nhiều bài khó hiểu?

Tôi vẫn nghĩ, thi ca như tình yêu, cần phải được cảm bằng trái tim chứ không hoàn toàn bằng bộ óc. Việc phân tích những ẩn ngữ, hình ảnh tương tác gần, xa trong một bài thơ là công việc của nhà phê bình – tựa như chúng ta đứng trước một bức tranh. Cảm nhận của người xem tranh là sự mách bảo chính xác nhất, dẫn người thưởng ngoạn tới kết luận đẹp/ xấu, hay/ dở chứ không phải là sự phân tích bức tranh từ kỹ thuật, đường nét, tới màu sắc.

Nếu chấp nhận được quan niệm ghi trên thì chúng ta sẽ có được khá nhiều thích thú bất ngờ, khi đọc thơ Trịnh Y Thư – nhất là khi đi tới những dòng chữ cuối mỗi bài thơ của ông:

“Bởi tôi không thể dừng lại nơi đây
để đợi chờ Thượng Đế
như ba lão già ngớ ngẩn ấy.
(…)
Hãy phó thác linh hồn
vào những đốm lửa vô âm
để biết mình vẫn sống”
(trích “Em Hãy Cùng Tôi”)

“Trong giấc mơ những năm tháng lưu đày
tôi nhận ra nỗi đau tủi nhục
của kẻ sống trọn kiếp trong bóng đêm”
(trích “Có Chốn Nào Cho Ta”)

“Tôi muốn mặc cả với đêm yên
hãy cho tôi đầu thai
làm hòn cuội
nằm yên dưới lòng suối này
đến thiên thu”
(trích “Đêm Yên”)

“Tôi mặc cả với thiên nhiên
cho tôi chén đắng
nhưng đừng bao giờ
có một ngày như buổi sáng hôm nay”
(trích “Buổi Sáng Hồi Tỉnh Trong Lúc Mưa”)

“Tôi muốn cười vào mặt thần chết
có gì đâu ngoài cái vuốt vô biên
thân lạnh trở về ấm cũng về
ngoảnh mặt nhìn từ vô hạn
không bóng người lai vãng”
(trích “Tôi Muốn Cười Vào Mặt Thần Chết”)

Nói cách khác, thơ Siêu Thực của họ Trịnh là một thứ lãng mạn mới, mà cốt lỗi là mối ràng buộc giữa con người, thiên nhiên, siêu hình… vốn ẩn tàng trong tiềm thức và những giấc mơ thoát khỏi sự trì kéo thô kệch của ý thức (mang tính chung của lý trí).

Phải chăng vì thế, họ Trịnh đã có một câu thơ mang tính định đề (*) mà tôi rất thích trong số khá nhiều câu như thế của ông: “Chẳng ai nhảy qua được cái bóng của chính mình.” (Du Tử Lê)

—–
Chú thích:
(*) Theo toán học, định đề là một thứ định lý không cần phải chứng minh; vì nó đương nhiên là như thế (?)

Video: Tin Trong Ngày Mới Cập Nhật

Copyright © 2018, Người Việt Daily News

Lưu ý: Để mở âm thanh, xin bấm vào nút muted icon imagephía góc phải bên dưới của khung video.
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT