‘Bàng Bạc Gấm Hoa,’ câu hỏi lớn về nghệ thuật cổ truyền Việt Nam!

Du Tử Lê

Nhà văn Mặc Lâm (Hình: HM)

(Tiếp theo và hết)

Và, đây là “chân dung” nhà văn Mai Thảo qua nét vẽ (bằng chữ) của Mặc Lâm trong “Bàng Bạc Gấm Hoa:”

“Mai Thảo từ nhiều thập niên trước khi sang Mỹ đã được giới phê bình đánh giá là ngòi bút văn xuôi đậm chất thơ nhất nước. Văn chương của ông ngoài phần kỹ thuật viết, bàng bạc trên các trang chữ là không khí lung linh của thi tứ, của chắt lọc tinh tế chỉ có trong thơ và hơn hết, Mai Thảo chứng tỏ rất sành sỏi khi lựa những cập chữ đậm dấu ấn thi ca vào truyện của ông. (…)

“Trong ‘Ta thấy hình ta những miếu đền’, nhiều bài chỉ bốn câu ngắn viết lên những suy tưởng khác nhau của Mai Thảo. Ngắn nhưng được ông gọt giũa, chưng cất nên thơ của ông trở thành chuẩn mực của một kinh nghiệm có được sau khi sống trọn đời cho văn xuôi. Bài Cục Ðất vừa hóm hỉnh lại vừa thâm trầm, ít nhiều nói lên được cá tính của ông:

“Biển một đường khơi xa thẳm xa
Núi vươn trượng trượng tới mây nhòa
Thì treo cục đất toòng teng giữa
Cho cái vô cùng vẫn nở hoa”

“Từ trên phi cơ, núi non ngất ngưởng và mây trắng bồng bềnh, Mai Thảo nhìn thấy cái vô cùng vừa bát ngát vừa đe dọa cho mầm sống cũng đang lơ lửng trên không là ông. Mai Thảo ‘con người’ chợt nẩy ra ý tưởng cân bằng cái bao la của vạn vật chỉ bằng một cục đất treo toòng teng chính giữa. Và ông nhận ra cái vô cùng cũng hiền hòa, cũng bình an như cục đất vậy thôi…” (BBGH, tr. 88, 89)

Khi đề cập tới nhà thơ Nguyên Sa, Mặc Lâm nhấn mạnh:

“…Những câu thơ mà Nguyên Sa đem từ Pháp về Việt Nam năm 1953 đã thay đổi rộng khắp cảm nhận thi ca của đa số thanh niên Việt Nam. Giống như một nhạc cụ mới, có âm hưởng sâu và đánh thức giác quan thẩm mỹ của thời đại, thơ Nguyên Sa đã góp phần làm bản hòa tấu đa âm của thi ca Việt Nam thêm những rung động lạ lẫm cuốn hút người đọc mà Thơ Mới tỏ ra không còn đủ sức hấp dẫn như lúc khởi đầu.

“Thơ Nguyên Sa nhanh chóng tràn vào từ lớp học, nơi trái tim học trò đập những nhịp điệu đầu tiên của tình yêu. Nguyên Sa yêu và chia sẻ cách yêu của mình qua kinh nghiệm một chàng trai có những thời khắc tuyệt vời tại Pháp, thủ đô của tình yêu trai gái , thủ đô của những dòng thơ trác tuyệt từng một thời là bệ phóng cho hàng trăm thi tài thế giới (…)

“Thanh niên Saigon nhớ cái mà họ chưa từng trải nghiệm qua thơ Nguyên Sa. Bắt đầu từ đây ông bước vào lãnh thổ khép kín của nhiều người. Ông cùng với họ thở hơi thở thi ca bằng những ngôn từ mới, rất mới, cho tới bây giờ sau hơn nửa thế kỷ vẫn còn mới tinh. Paris có gì lạ không em?

“Paris có gì lạ không em?
Mai anh về em có còn ngoan
Mùa xuân hoa lá vương đầy ngõ
Em có tìm anh trong cánh chim

Paris có gì lạ không em?
Mai anh về giữa bến sông Seine
Anh về giữa một dòng sông trắng
Là áo sương mù hay áo em?…”
(BBGH, tr.109,110,111)

Trước khi ra khỏi bài cảm nhận về thơ Nguyên Sa, Mặc Lâm đã rất tinh tế khi viết:

“Nhắc đến Nguyên Sa người yêu thơ ông vẫn tưởng nhà thơ đang rong chơi đâu đó vì ngôn ngữ vẫn sát với khung cảnh thường nhật hôm nay. Mặc dù nhà thơ đã từ trần ngày 8 tháng 4 năm 1998 nhưng thơ ông vẫn được nhiều người nhắc tới như xưa, đặc biệt trong hoàn cảnh tình yêu tuổi học trò ngày một biến mất để thay vào đó là những trò chơi tình cảm nhục dục của thanh niên trong thời đại mới.” (BLGH, tr. 118, 119)

Nhiều người theo dõi sinh hoạt văn chương, nghệ thuật của Mặc Lâm, cho rằng, anh luôn có những nhận xét thâm trầm, sâu sắc về các tác giả mà anh đề cập. Cụ thể, qua 14 nhà văn nhà thơ ở hải ngoại cũng như trong nước. Nhưng qua tác phẩm BBGH, khi bước vào phần thứ 2, tựa đề “Văn Hóa Dân Gian” và phần thứ 4, tựa đề “Nét Ðẹp Việt,” độc giả mới thực sự thấy rõ tính hàn-lâm, tức khả năng nghiên cứu chuyên sâu của Mặc Lâm qua từng bộ môn nghệ thuật cổ truyền của dân tộc.

Trong chúng ta, ít, nhiều hầu như ai cũng hãnh diện về nền văn học Việt truyền thừa từ đời này, sang đời khác. Nhưng nếu bị hỏi hoặc được yêu cầu trưng dẫn và, giải thích một cách rõ ràng thì, chúng ta thường lúng túng, lảng tránh. Lý do, có nhiều hình thái nghệ thuật cổ truyền của chúng ta như “Hát Xoan, Hát Xẩm, Quan Họ, Ðàn Tính Hát Then, Bài Chòi”, v.v…, có thể chúng ta chỉ nghe nói, nghe nhắc tới mà, không thực sự hiểu rõ nó ra sao? Thế nào? Thậm chí, cũng có những hình thái nghệ thuật cổ truyền của tiền nhân, chúng ta không hề nghe tới chỉ- danh, một lần nào trong đời mình!

Mặc Lâm là một tác giả còn trẻ, nhưng như đã nói, là người nặng lòng với hồn tính văn hóa dân tộc, nên anh đã bỏ rất nhiều thời gian, công sức, để tìm hiểu cặn kẽ lịch sử hình thành, lộ trình sinh, tử của khá nhiều bộ môn nghệ thuật cổ truyền – Mà, nếu để lâu hơn nữa, lịch sử của những bộ môn đó có thể, sẽ không còn ai biết tới nữa, nếu những nghệ nhân có thẩm quyền, những truyền thừa nhiều đời của các bộ môn nghệ thuật này, không còn nữa.

Sự lặn lội tìm tới tận đầu nguồn của những kênh nghệ thuật cổ truyền của Mặc Lâm, tôi cho là một đóng góp rất đáng kể của tác giả trẻ tuổi này.

Thí dụ, mở đầu cho phần thứ 2: “Văn Hóa Dân Gian” trong tác phẩm BBGH, Mặc Lâm đã ghi lại cố công tìm hiểu của anh về thể loại “Hát Xoan” của Việt Nam, như sau:

“Cho tới nay một loại hình văn hóa dân gian được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa cho là cổ xưa nhất Việt Nam đó là Hát xoan.

“Thể loại này đang hiện diện tại Phú Thọ nơi có di tích Ðền Hùng. Hát xoan được coi là xuất hiện từ thời vua Hùng với nhiều truyền thuyết còn lưu giữ trong dân gian, sánh đôi với những câu chuyện chung quanh các thời đại Hùng Vương làm cho Hát xoan bao phủ thêm nét huyền hoặc của thời kỳ dựng nước đầu tiên của dân tộc.

“Hát xoan tuy xuất hiện lâu đời nhưng trong dân gian cả nước lại ít có người biết thể loại này như Quan Họ Bắc Ninh của miền Bắc, Hát Cung Ðình của Huế hay thậm chí gần nhất là Ðàn Ca Tài Tử của miệt sông nước Nam Bộ. Với bề dày như thế nhưng Hát xoan chỉ quanh quẩn tại khu vực Ðền Hùng hay chỉ vài vùng chung quanh đang là câu hỏi lớn cho các nhà văn hóa của tỉnh Phú Thọ, nơi sở hữu di sản văn hóa phi vật thể vừa được UNESCO thừa nhận…” (BBGH, tr.143)

Câu hỏi này của Mặc Lâm, theo tôi, không chỉ được đặt ra cho các nhà nghiên cứu văn hóa mà còn cho tất cả người Việt Nam…

Ðó là một góc khuất rất nhỏ trong tiến trình gần năm nghìn năm lịch sử Việt vậy.

(Calif. Tháng Tám 2017)

Nhiều đại học ở Việt Nam lừa sinh viên tăng học phí

Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Nguyễn Sỹ Tế, thơ, phao cứu sinh của người tù cải tạo?

Đa số thành viên nòng cốt nhóm Sáng Tạo, căn bản vốn là nhà văn, họa sĩ hay lý luận văn học như Mai Thảo, Ngọc Dũng, Duy Thanh, Doãn Quốc Sỹ, Trần Thanh Hiệp,... không phải là nhà thơ...

Những người xa khuất dịp Xuân sang

Những người vĩnh biệt dương gian vào Tháng Hai Dương Lịch là những người ra đi vào dịp nhân gian đang bận rộn mừng Xuân đón Tết.

Hà Nội, những mùa Xuân phai

Tôi chưa hề nghe ai nói “yêu muốn khóc” bao giờ, chỉ độc nhất có một người làm thơ là Hoàng Anh Tuấn. Yêu đến như thế là... yêu quá là yêu.

Những cánh hoa cuối năm

Vào những ngày cuối tháng của năm, tôi có dịp lên thành phố Saigon, không khí sinh hoạt trông nhộn nhịp hẳn lên, bao hình ảnh xem như đã chuẩn bị trước từ nhiều tháng qua, những sắc màu,những...

Em có hay xuân về! – Thơ Mặc Phương Tử

Em có hay!/ Những chiếc lá thức tàn canh/ Cây chuyển mạch,/ Dòng đời thay sắc áo/ Hoa đương nụ dưới ngàn sương huyền ảo/ Cánh chim về chở trĩu ước mơ xanh.

Sương chiều ngồi nhớ bằng hữu – Thơ Trần Tuấn Kiệt

Sương lạnh chiều vây phủ/ Ngồi rồi nhớ cố nhân/ Độc ấm trà ra khói/ Thời gian quyện lững lờ.

Sắc màu tình yêu – Thơ Lê Minh Hiền

mùa đông lá đỏ/ mùa hạ lá vàng/ xuân hồng thấp thoáng/ thu nay mắt huyền

Dấu vết dòng sông – Thơ Phan Nam

Những con sông rời xa bến đợi/ Nặng trĩu nỗi niềm cỏ hoa/ Mùa chạp bay trong nhang khói/ Tháng giêng lặng lẽ đưa thoi.

Mùa Xuân đến – Thơ Nguyễn Thị Khánh Minh

Ban mai đến/ Ngày đưa tôi đến/ Lời hôm qua mối đùn/ Lời hôm qua xanh cỏ/ Mớ ý nghĩ nháo nhào tiếng sấm

Xuân bồi hồi – Thơ Giao Yên

Bánh chưng xanh hương ngát/ Mai vàng rung cánh ngân/ Ngoài trời mưa lấm tấm/ Trong nhà rượu lâng lâng