Trần Doãn Nho/Người Việt
KENNEDALE, Texas (NV) – Thành ngữ được sử dụng rộng rãi trong lời ăn tiếng nói cũng như trong các sáng tác văn học nghệ thuật của mọi thứ ngôn ngữ.

Theo “Từ Điển Hoàng Phê:” “Thành ngữ là tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó.”
Theo tự điển tiếng Anh Cambridge Dictionary: “Thành ngữ là một nhóm từ ngữ được sắp xếp theo một thứ tự cố định có một ý nghĩa riêng biệt, khác hẳn với nghĩa của từng chữ một cấu thành nó.”
Thử đọc lại mấy câu Kiều của Nguyễn Du:
-“Rút dây sợ nữa động rừng lại thôi”
-“Phen này kẻ cắp, bà già gặp nhau”
-“Kiến trong miệng chén có bò đi đâu”
-“Phòng khi nước đã đến chân”
Nếu lưu ý, ta sẽ thấy câu nào cũng sử dụng một thành ngữ rất phổ thông trong tiếng Việt: rút dây động rừng, kẻ cắp bà già, kiến trong miệng chén, nước đã đến chân. Không cần giải thích dài dòng, là người Việt ở bất cứ trình độ nào, ai cũng hiểu ngay ý nghĩa của chúng và có thể dễ dàng sử dụng chúng trong những trường hợp khác.
Một đoạn văn thời hiện đại: “Mấy thằng cha nhạc sĩ cũng giống như mấy thằng cha văn sĩ chuyên môn bày đặt, chuyên môn tưởng tượng ra mấy cái vụ tình yêu lẩm cẩm tréo cẳng gà, thấp cao chênh lệch trong mọi mặt kể cả mặt tuổi tác để mà dụ dỗ độc giả, thính giả chứ sức mấy mà có chuyện đi thương ông cụ. Bộ thanh niên trai tráng chết hết hay sao mà phải đi cặp với mấy ông già giết giặc chớ. Vậy bây giờ cái chuyện yêu nhau với tuổi tác một trời một vực lại trúng vô tôi ngay chóc. (…) Và cứ nằm nghe nhạc vừa nói chuyện tào lao trên trời dưới biển.” (Cao Bình Minh)
Trong đoạn trên, ta cũng tìm thấy có vài thành ngữ phổ thông: một trời một vực, trên trời dưới biển. “Tréo cẳng gà” nghe hơi lạ, thực ra, chỉ là cách nói tếu từ thành ngữ “tréo cẳng ngỗng,” nhưng ý nghĩa cũng tương đương.
Để thấy rõ hơn tính chất phong phú của thành ngữ, chúng ta hãy đọc lại một câu chuyện dân gian, qua một vài trích đoạn dưới đây:
“Chị nọ phận hẩm duyên ôi, kết tóc xe tơ với một anh chàng mặt nạc đóm dày, xấu ma chê quỷ hờn (…) vô tâm vô tính, ruột để ngoài da, (…) lúng túng như thợ vụng mất kim, chỉ được cái sáng tai họ điếc tai cày là giỏi!
Chị vợ mỏng mày hay hạt, tháo vát đảm đang, hay lam hay làm, vớ phải chàng ngốc đành nước mắt ngắn nước mắt dài, đeo sầu nuốt tủi, ngậm bồ hòn làm ngọt cho qua ngày đoạn tháng. Nhiều lúc tức bầm gan tím ruột, cực chẳng đã, chị định một liều ba bảy cũng liều, lành làm gáo vỡ làm muôi, rồi anh đi đường anh, tôi đường tôi cho thoát nợ. Nhưng gái có chồng như gông đeo cổ, chim vào lồng biết thuở nào ra, nên đành ngậm đắng nuốt cay, (…) sao nỡ vạch áo cho người xem lưng, xấu chàng hổ ai?
(…) Một hôm ngày lành tháng tốt, (…) chị vợ dỗ ngon dỗ ngọt bảo chồng đi chợ mua bò, không quên dặn đi dặn lại: đến chợ phải tùy cơ ứng biến, xem mặt đặt tên, liệu cơm gắp mắm, (…) đồng tiền phải liền khúc ruột kẻo lại mất cả chì lẫn chài.
Được lời như cởi tấm lòng, ngốc ta mở cờ trong bụng, (…) vội khăn gói quả mướp lên đường, quyết phen này lập công chuộc tội. (…) Chợ giữa phiên, người đông như kiến, áo quần như nêm, biết bao của ngon vật lạ, thèm rỏ dãi mà đành nhắm mắt bước qua. Hai tay giữ bọc tiền khư khư như từ giữ oản, ngốc nuốt nước bọt bước đến bãi bán bò.
Sau một hồi bới lông tìm vết, cò kè bớt một thêm hai, nài lên ép xuống, cuối cùng ngốc cũng mua được sáu con bò.”
Mẫu truyện trên được một “rừng” thành ngữ dệt nên. Bên cạnh những thành ngữ có tính cách tương đối cụ thể như “lúng túng như thợ vụng mất kim, đông như kiến, khư khư như từ giữ oản,” gọi là “thành ngữ so sánh,” phần còn lại là những nhóm chữ, trong đó, chữ thì một đàng, nghĩa thì một nẻo, không có cái gì dính líu đến cái gì: “bầm gan tím ruột, xem mặt đặt tên, bới lông tìm vết, ngậm đắng nuốt cay.” Có một sự “lạc lõng” hoàn toàn giữa chữ và nghĩa, giữa nghĩa của thành ngữ và nghĩa của câu. Thế nhưng trong mạch văn, chúng vẫn có nghĩa một cách chính xác và thú vị. Người ta đã mượn chữ này để nói về chữ khác, hay nói cho đúng, mượn ý này để nói một ý khác. Khi phê bình một ai đó là kẻ chuyên môn “bới lông tìm vết,” người ta không nghĩ gì đến chuyện bới, chuyện tìm, chuyện sợi lông hay chuyện dấu vết nào đó; mà chỉ muốn nói kẻ đó hay đi săm soi chuyện xấu của người khác.
Những thành ngữ như thế được Mai Ngọc Chữ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến gọi là “thành ngữ miêu tả ẩn dụ,” để phân biệt với “thành ngữ so sánh” vừa trình bày ở trên. Theo các tác giả này, “Có thể dựa vào cơ chế cấu tạo (cả nội dung lẫn hình thức) để chia thành ngữ tiếng Việt ra hai loại: thành ngữ so sánh và thành ngữ miêu tả ẩn dụ.
Thành ngữ so sánh: Loại này bao gồm những thành ngữ có cấu trúc là một cấu trúc so sánh. Ví dụ: lạnh như tiền, rách như tổ đỉa, cưới không bằng lại mặt…
Thành ngữ miêu tả ẩn dụ: Thành ngữ miêu tả ẩn dụ là thành ngữ được xây dựng trên cơ sở miêu tả một sự kiện, một hiện tượng bằng cụm từ, nhưng biểu hiện ý nghĩa một cách ẩn dụ: ngã vào võng đào, nuôi ong tay áo, nước đổ đầu vịt, vải thưa che mắt thánh, mẹ tròn con vuông…
Về loại “thành ngữ ẩn dụ” này, ta nhận thấy có những thành ngữ tự nó đã mang tính ẩn dụ, nghĩa là chứa đựng một sự so sánh ngầm giữa chuyện (vật) này với chuyện (vật) khác. Ví dụ:
-(giận) “bầm” gan “tím” ruột: giận một ai nhiều đến nỗi có thể làm cho lá gan bị bầm và ruột bị thâm tím.
-(chọn) ngày “lành” tháng “tốt:” chọn một ngày thật tốt (trong lịch coi ngày tốt, xấu) y như ta chọn một người có tâm tính hiền lành và đẹp đẽ.
Ngoài ra, những thành ngữ khác là những nhóm chữ bình thường xuất phát từ:
-Những câu chuyện hay những nhân vật có thực (hay hư cấu) được ghi lại trong sách vở: kết tóc xe tơ, sợi xích thằng, tay sở khanh, mụ tú bà…
-Kinh nghiệm nhân sinh: đầu đường xó chợ, đồng tiền liền khúc ruột, cò kè bớt một thêm hai, ngậm bồ hòn làm ngọt…
-Sự kiện diễn ra trong môi trường tự nhiên: giậu đổ bìm leo, thất thế kiến tha bò (sa cơ ruồi đuổi ngựa), mèo mả gà đồng, gà què ăn quẩn cối xay, mèo mù vớ được cá rán…
-Kinh nghiệm hoạt động: bứt dây động rừng, đứng mũi chịu sào, mất cả chì lẫn chài…
Các thành ngữ ẩn dụ nói chung, dù xuất phát từ đời sống hay từ sách vở, đều là những nhóm chữ bình thường, thậm chí vô nghĩa, nếu chúng đứng một mình. Chỉ khi nào người ta ví von chúng với một tình thế, một hoàn cảnh hay một trạng thái tâm lý nào đó, thì chúng mới mang tính ẩn dụ và trở thành sống động.
“Mèo mả gà đồng” chẳng hạn. Thành ngữ này diễn tả sự kiện những con mèo sống trong nghĩa địa (mèo mả) và những con gà chạy rong kiếm ăn ngoài đồng ruộng (gà đồng); đó là những gia súc trở thành thú hoang.
Khi Nguyễn Du viết: “Ra tuồng mèo mả gà đồng/ Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào” thì “mèo mả gà đồng” lập tức có ý nghĩa, nhưng là một ý nghĩa khác, không dính dáng đến con mèo hay con gà. Nó ám chỉ cái mà nhân vật Hoạn Thư gọi là “phường” trốn chúa hay “quân” lộn chồng, tức là những kẻ không ra gì.
Trong đời sống hằng ngày, thành ngữ giúp ta có thể diễn tả một ý tưởng hay một phán đoán phức tạp nào đó bằng một cách đơn giản, khỏi phải thích dài dòng, hay đôi khi, tránh phải nói một cách không được lịch sự: nước đổ lá môn, mười voi không được bát nước xáo, đường ai nấy đi, chạy trời không khỏi nắng… vân vân.
Trong văn chương cũng thế, thành ngữ giúp nhà văn hay nhà thơ diễn đạt một cách gãy gọn các sự kiện ngoại giới cũng như các trạng thái tâm lý phức tạp, khỏi mất công vận dụng thêm từ ngữ. (Trần Doãn Nho) [qd]









































































