Trò chuyện với nhà biên khảo Nguyễn Hưng Quốc

Trần Doãn Nho/Người Việt

KENNEDALE, Texas (NV) – Ông Nguyễn Hưng Quốc là nhà biên khảo văn học nổi tiếng của văn học hải ngoại. Năm 2007, ông đứng ra tổ chức một cuộc hội thảo về những thành tựu của nền văn học tự phát này tại Little Saigon, miền Nam California, với sự hiện diện của nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu, nhà báo, nhạc sĩ, họa sĩ từ nhiều nơi trên thế giới (Hoa Kỳ, Úc, Canada).

Nhà biên khảo Nguyễn Hưng Quốc. (Hình: Người Việt)

Nhân kỷ niệm 50 năm ngày xuất hiện nền “văn học hải ngoại,” chúng tôi thực hiện một cuộc trò chuyện qua điện thư về chủ đề này. Sau đây là một số trích đoạn chính:

*Trần Doãn Nho: Lâu nay, nhóm chữ “văn học hải ngoại” đã được sử dụng rộng rãi, từ trong nước ra hải ngoại, để chỉ nền một văn học mới mẻ xuất hiện bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, hoàn toàn không chịu sự kiểm soát của nhà nước. Tuy nhiên, một tác giả trong nước cho rằng “thuật ngữ văn học hải ngoại cần trở thành một phạm trù lịch sử, và nên thay thế bằng “văn học (VN) ở nước ngoài.” Một tác giả khác, cũng ở trong nước, cho rằng duy trì danh xưng “văn học hải ngoại” là một hành động có màu sắc chính trị. Anh nghĩ sao về các ý kiến trên?

-Nguyễn Hưng Quốc: Cái gọi là văn học hải ngoại là một thực thể. Nó có thực. Nó đã tồn tại trong suốt nửa thế kỷ. Nó khác hẳn với văn học trong nước. Khác về hoàn cảnh chính trị, kinh tế, và nhất là, về văn hóa. Khác về tâm thế.

Có một điều cần chú ý: Trong suốt 50 vừa qua, có một số cây bút sống trong nước nhưng tác phẩm thì được phổ biến ở hải ngoại: Họ là những người lưu vong tại chỗ. Họ giống những người cầm bút ở hải ngoại ở chỗ: cả hai đều quan tâm đến chính trị và khao khát tự do. Họ cũng ở giữa (in-betweenness). Nhưng giữa họ vẫn có những chỗ khác.

Những cây bút ở hải ngoại có những mối bận tâm khác hẳn với trong nước: Bận tâm về ký ức, về tương lai, về môi trường đa văn hóa, về ý niệm sở thuộc (belonging) và biên giới, về màu da, về kinh nghiệm vượt biên và bị kỳ thị, về một thứ bản sắc kép (double identity), và đặc biệt, về ám ảnh của cái khác (otherness), không phải chỉ là những cái khác ở ngoài mà còn những cái khác của chính mình: với họ, nói như Rimbaud, “Tôi là một cái khác” (JE est un autre).

Bản chất của văn học hải ngoại là một thứ văn học lưu vong. Nhà văn Pháp gốc Tiệp Milan Kundera cho chỗ đứng thực sự của một nhà văn Pháp gốc Tiệp khác, Vera Linhartova – và, có lẽ của chính ông nữa – không thuộc về Tiệp cũng không thuộc về Pháp mà ở “đâu đó” (elsewhere).

Giới nghiên cứu về “Lưu Vong Học” (Diaspora Studies) thì cho chỗ đứng của những người lưu vong không phải ở đất nước cũ và cũng không ở đất nước mới mà là ở trên cái dấu gạch nối giữa hai nước (ví dụ: Việt-Mỹ, Việt-Úc, Việt-Pháp, v.v.). Sống trên những dấu gạch nối ấy, bản sắc của người lưu vong mang tính lai ghép. Nó nằm ở giữa. Giữa cố hương và vùng đất mới. Giữa quá khứ và hiện tại. Giữa hoài niệm và ước mơ. Giữa đây và đó. Nó có những đặc trưng riêng, nói như Azade Seyhan, trong cuốn “Writing Outside the Nation” (2001), “các tự sự xuất phát từ sự vượt biên (border crossings) không thể bị gói gọn trong biên giới quốc gia, ngôn ngữ cũng như các truyền thống văn học và phê bình.” (trang 4)

*Trần Doãn Nho: Một trong những đóng góp lớn lao cho văn học hải ngoại là sự hiện diện của rất nhiều tạp chí (giấy cũng như mạng) phát hành từ nhiều nơi trên thế giới, nhất là các tạp chí “thuần túy” văn học, trong đó có hai tạp chí do anh chủ trương, là tạp chí Việt và trang mạng Tiền Vệ. Anh có thể cho một cái nhìn khái quát về quá trình hình thành và hoạt động của Việt và Tiền Vệ, mục đích hai tạp chí này nhắm đến cũng như các thành quả mà chúng đạt được.

-Nguyễn Hưng Quốc: Tạp chí Việt do tôi chủ trương từ năm 1998 đến năm 2001. Mỗi năm ra hai số. Đó là tạp chí văn học nghiêng về các khía cạnh lý thuyết đầu tiên ở hải ngoại. Nó hô hào đổi mới; nó cổ vũ cho việc xây dựng một nền cộng hòa văn học; nó gây khá nhiều sôi động trong dư luận.

Trong mục “Sổ tay” đăng trên tạp chí Văn tại California số Tháng Tám, 1998, nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng viết: “Nụ cười của nước Pháp, nước mắt của Ba Tây trong World Cup 98 chưa đủ sức làm trái đất nóng lên. Thế nhưng, tạp chí Việt của Nguyễn Hưng Quốc ở Úc vừa phát hành số 2, với chủ đề Sống và Viết ở hải ngoại có khả năng làm những người cầm bút Việt Nam giật mình.” (Ghi chú: tất cả tám số Việt này đều được đưa lên mạng, có thể đọc trên tienve.org.)

Đúng một năm sau khi Việt đình bản, tôi và Hoàng Ngọc-Tuấn cho ra mắt tạp chí Tiền Vệ. Đó là tờ báo mạng về văn học bằng tiếng Việt đầu tiên ở trong cũng như ngoài nước. Trong nhiều năm, đó là tờ báo mạng duy nhất có bài vở được cập nhật hằng ngày.

Giống tạp chí Việt, Tiền Vệ cũng cổ vũ cho các nỗ lực cách tân văn học. Khác với Việt, Tiền Vệ tồn tại trong không gian mạng, gắn liền với không gian mạng với hai đặc điểm nổi bật là: Tính chất giải lãnh thổ hóa (deterritorised) và phi tâm hóa (decentred). Nó quy tụ nhiều cây bút ở trong cũng như ngoài nước. Nó được phổ biến rộng rãi ở bất cứ nơi đâu được kết nối với Internet.

Sau mười mấy năm hoạt động, Tiền Vệ giúp người viết cũng như người đọc làm quen với chủ nghĩa hậu hiện đại và một số cách nhìn mới về văn học. Nó cũng là kho lưu trữ hàng ngàn bài thơ, bài viết văn xuôi cũng như dịch thuật. Nhiều nhà văn và nhà thơ thú nhận nếu không có Tiền Vệ, sáng tác của họ sẽ không thể giống như họ đang là. (Hầu hết những ý kiến ấy đều được đăng trên tienve.org.)

*Trần Doãn Nho: Tạp chí Việt và Tiền Vệ là một đóng góp lớn đã tạo nên một không khí mới mẻ trong văn học hải ngoại. Không khí đó lan tỏa vào cả văn học trong nước. Theo anh, có nên xem đó cũng là một trong những thành tựu của văn học hải ngoại?

-Nguyễn Hưng Quốc: Văn học hải ngoại từ năm 1975 đến nay có khá nhiều thành tựu. Đơn giản và dễ thấy nhất là về phương diện sinh hoạt: chúng ta có những tạp chí văn học có giá trị như Văn, Văn Học, Hợp Lưu và tạp chí Thơ rất khó tìm thấy ở trong nước. Ở trong nước cũng không có những tờ báo mạng phong phú và đa dạng, sâu sắc và mới mẻ, cập nhật bài vở thường xuyên như Tiền Vệ hay Da Màu.

Còn về ảnh hưởng thì khó nói hơn. Tôi sực nhớ một nhận định của nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên trên Talawas ngày 21 Tháng Tư, 2005: “Một số người ở hải ngoại đã nuôi ảo tưởng rằng nếu được tự do phổ biến thì văn học hải ngoại sẽ như một làn gió mới, gây nên những chấn động gì kinh khủng lắm. Có lẽ không như vậy. Gây chấn động bây giờ có phải dễ đâu. So với những sáng tác của hải ngoại thì có khi lối viết phê bình của Nguyễn Hưng Quốc lại gây tác động với trong nước nhiều hơn. Ông Quốc hội tụ được cả ba điểm: Một, tiếp thu được những lý thuyết mới; hai, nắm chắc văn học Việt Nam […]; ba, có một lối viết vừa là khoa học vừa là văn chương.”

Từ trái, Trần Doãn Nho, Bùi Vĩnh Phúc, Nguyễn Hoàng Nam, chị Nguyễn Đức Tùng, Nguyễn Hưng Quốc, Nguyễn Đức Tùng, Phạm Phú Minh, Phùng Nguyễn. (Hình: Trần Doãn Nho)

*Trần Doãn Nho: Anh vừa là người nhiệt thành cổ vũ cho cách tân trong văn học, lại vừa là người nghiên cứu một cách sâu sắc tác phẩm của Võ Phiến, một nhà văn miền Nam thuộc xu hướng (tạm gọi là) truyền thống hay phi-hậu hiện đại. Có gì mâu thuẫn trong thái độ này?

-Nguyễn Hưng Quốc: Việc tôi đề cao sự đổi mới và đề cao Võ Phiến không có gì mâu thuẫn. Đổi mới không phải là phá phách. Phá phách là xô đổ mọi giá trị. Đổi mới là xây dựng. Phá phách là phủ nhận, cái còn lại là hư không. Đổi mới là trên cơ sở truyền thống, tìm cách mở ra một lối đi khác. Sự đổi mới nào cũng có sử tính, bao gồm hai yếu tố chính: kế thừa và sáng tạo. Vì vậy người chủ trương đổi mới vẫn trân trọng quá khứ.

Khác với những người bảo thủ vốn coi quá khứ là những gì đã hoàn tất và bất biến, những người đổi mới xem quá khứ như một dự án vừa bất toàn vừa dở dang, không ngừng được tái thiết, và họ, một cách tự giác, sẵn sàng tham gia vào công cuộc tái thiết ấy. Huống gì Võ Phiến, không còn hoài nghi gì nữa, là một trong những nhà văn lớn nhất ở miền Nam trước năm 1975 và là một trong những cây bút tiêu biểu nhất trong nền văn học hải ngoại sau năm 1975. Muốn nghiên cứu về văn học miền Nam cũng như văn học hải ngoại, không thể không tìm hiểu về ông.

*Trần Doãn Nho: Chúng ta có thể nói về  triển vọng, về tương lai của văn học hải ngoại hay không?

-Nguyễn Hưng Quốc: “Nói đến văn học hải ngoại, tôi chỉ thường dùng chữ “thành tựu” chứ hiếm khi nói đến “triển vọng.” Thành tựu là những gì thuộc về lịch sử. Triển vọng hướng đến tương lai.

Mà văn học hải ngoại thì hầu như không có tương lai. Nó đang hấp hối. Số người còn tiếp tục viết, và viết hay hoặc tương đối hay, trên khắp thế giới ngoài Việt Nam, theo tôi, không quá 10 người.

Đọc [tạp chí mạng] Da Màu chẳng hạn, thấy chỉ quanh đi quẩn lại một số tác giả quen thuộc. Khi thế hệ thứ nhất như anh và tôi qua đi, văn học hải ngoại, nếu còn, cũng sẽ biến dạng hẳn. Biến dạng đến nổi không còn cả cái gốc. Nó sẽ được viết bằng một ngôn ngữ khác, như tiếng Anh, tiếng Pháp hay bất cứ ngôn ngữ nào có người Việt sinh sống.

Thuộc thế hệ thứ hai hay một rưỡi, đã có một số tên tuổi nổi lên ở tầm quốc tế, như Nguyễn Thanh Việt và Ocean Vương ở Mỹ, Kim Thúy ở Canada, Linda Lê ở Pháp và Nam Lê ở Úc. Đó là những tài năng lớn có thể khiến chúng ta tự hào.

Có điều, văn học là một nghệ thuật ngôn ngữ, trong đó, ngôn ngữ là yếu tố chủ đạo. Bởi vậy, không được viết bằng tiếng Việt, văn chương của họ không thuộc về Việt Nam, dù là Việt Nam hải ngoại hay Việt Nam nói chung.

*Trần Doãn Nho: Trước đây, vào năm 1999, nhà văn Nguyễn Mộng Giác từng cho rằng “Văn chương hải ngoại đang thành ông cụ lỗi thời” và chẳng mấy chốc, sẽ “ngậm cười nơi chín suối.” Ấy thế mà rồi văn học hải ngoại vẫn tiếp tục cho đến bây giờ, gần 30 năm sau. Xin anh cho một nhận xét cuối cùng trước khi chấm dứt cuộc trò chuyện lý thú này.

-Nguyễn Hưng Quốc: Không có vấn đề nào có thể được đào xới đến tận cùng. Bao giờ cũng còn góc cạnh này, góc cạnh nọ cần được bàn bạc tiếp. Thế nhưng không có cuộc trò chuyện nào lại không có lúc kết thúc. Nghệ thuật viết văn là nghệ thuật biết cách đặt dấu chấm hết. Cám ơn anh đã có sáng kiến mở đầu cuộc đối thoại này.

*Trần Doãn Nho: Cám ơn anh Nguyễn Hưng Quốc. [qd]


Nguyễn Hưng Quốc, tên thật Nguyễn Ngọc Tuấn, sinh năm 1957 tại Quảng Nam, tốt nghiệp cử nhân ngữ văn (Việt Nam) và tiến sĩ văn học (Úc). Năm 1985 vượt biển và định cư tại Pháp. Năm 1991, ông di cư sang Úc và dạy tại đại học Victoria University, nơi ông làm chủ nhiệm Ban Việt Ngữ và Việt Học.

Ông là chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ biên tạp chí mạng Tiền Vệ (tienve.org) (2002-2019) và cộng tác với hầu hết các tạp chí văn học ở hải ngoại.

Ông là tác giả của 20 cuốn sách về văn học, tiêu biểu có: “Nghĩ Về Thơ,” “Văn Học Việt Nam Dưới Chế Độ Cộng Sản,” “Thơ, V.V… và V.V…,” “Sống Với Chữ,” “Mấy Vấn Đề Phê Bình và Lý Thuyết Văn Học.”


 

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT