Lê Mạnh Hùng
Tháng Giêng năm 2008, đức tổng giám mục Canterbury, ngài Rowan Williams, đọc một bài diễn văn về một vấn đề đầy tranh chấp và khó khăn “Hồi Giáo trong luật pháp Anh.”
Bài diễn văn này tuy rằng né tránh vấn đề là liệu một hệ thống pháp luật dân sự thế quyền có thể nào chấp nhận được những khái niệm của luật Hồi Giáo, là một bài diễn văn rất là thông thái, sâu xa và đôi khi không ai hiểu cả. Nhưng những hàng tiêu đề trên trang nhất các báo lá cải của Anh thì không ai có thể không hiểu: Người cầm đầu giáo hội Anh Giáo, các báo này gào thét, đã ủng hộ việc áp dụng luật sharia của Hồi Giáo tại nước Anh. Ðiều mà quả thật, ông có đôi chút chấp nhận trong một cách tế nhị nhất, khéo léo nhất và cố gắng không làm ai mất lòng nhất.
Ðối với Ðức Tổng Giám Mục William mà Thứ Sáu tuần trước vừa loan báo sẽ từ bỏ ngôi tổng giám mục của mình vào cuối năm nay thì những chỉ trích mà ông gặp phải trong vụ “bê bối Sharia” chỉ là một chuyện vẫn thường xảy ra trong suốt mười năm mà ông làm giáo trưởng giáo hội Anh Giáo. Là một con người bác học, nhân ái, và tế nhị, ông đã bỏ suốt mười năm vừa qua tìm cách tìm ra một cách nào đó để giải quyết những vấn đề mà sự tế nhị có thể bị coi như là né tránh: sự phát triển của Hồi Giáo tại một Châu Âu càng ngày càng bỏ Thiên Chúa Giáo, sự phân hóa bên trong cộng đồng giáo hội Anh Giáo chung quanh các vấn đề đồng tính luyến ái và việc chấp nhận phụ nữ trong hàng giáo phẩm, sự xuất hiện của một chủ nghĩa vô thần mới.
Hậu quả là một tình trạng bất lực công khai mà cả thế giới thấy của một người chịu trách nhiệm lãnh đạo tông phái lớn thứ ba của Thiên Chúa Giáo thế giới (hai tông phái kia là Thiên Chúa Giáo La Mã-Công Giáo và Thiên Chúa Giáo-Chính Thống). Nhưng sự thật là chức vụ của ông đòi hỏi một điều mà ông không thể làm được, và có thể là không ai khác có thể làm được. Ðiều không thể làm được đó có thể thấy rõ trong những cố gắng kéo dài và vô hiệu của ông trong việc ngăn chặn những người Anh Giáo (Episcopalian) tại Mỹ và những người Anh Giáo tại Phi Châu tuyệt giao với nhau chung quanh vấn đề đồng tính luyến ái. Nhưng cuộc tranh cãi chung quanh những mục sư “gay” và giám mục “gay” chỉ là một trong những thể hiện của một thách thức lớn hơn đối với một tập thể mà giới lãnh đạo vẫn còn tập trung tại Châu Âu trong lúc trọng tâm của nó nay đã chuyển xuống phía Nam nơi đang xuất hiện một cộng đồng Thiên Chúa Giáo mới.
Chuyển dịch này không phải chỉ xảy ra riêng cho Anh Giáo. Sự suy thoái của Thiên Chúa Giáo La Mã (Công Giáo) tại các nước phương Tây xảy ra cùng một lúc với một tình trạng phát triển nhẩy vọt của tông phái này tại thế giới đang phát triển (vào lúc con số các học sinh tại các chủng viện Công Giáo tại Mỹ giảm mạnh tại Hoa Kỳ và Châu Âu thì con số này đã tăng đến 86% trên toàn thế giới kể từ năm 1978). Ðối với cả hai giáo hội, sự di chuyển địa lý và dân số đã tạo ra những căng thẳng trên những cấu trúc định chế vốn xuất hiện và hoàn thiện trong một thời đại mà Châu Âu là trung tâm.
Canterbury theo truyền thống vẫn dung túng nhiều khác biệt trong ý thức hệ hơn là Roma. Nhưng những người Anh Giáo trước kia ít nhất vẫn còn chia sẻ chung với nhau một di sản văn hóa và chủng tộc. Với việc toàn cầu hóa Cộng Ðồng Anh Giáo, những liên hệ đó nay không còn nữa.
Là một giám mục Anh Giáo tại Anh vào lúc này có nghĩa là cai quản một đoàn con chiên trong đó những con chiên bản xứ càng ngày càng ít đi lễ trong lúc những cộng đồng con chiên di dân càng ngày càng tăng trưởng thêm; ngoài ra còn phải làm sao để cho tôn giáo có một ý nghĩa trong một nền văn hóa quốc tế hóa và nhiều khi chống Thiên Chúa Giáo cũng như là tìm hiểu những cộng đồng Hồi Giáo càng ngày càng gia tăng trên hòn đảo nhỏ này là những đồng minh tiềm tàng, những đối thủ tiềm tàng hay cả hai. Nhưng là một giám mục Anh Giáo tại Nigeria nơi mà Thiên Chúa Giáo đang tăng trưởng nhanh chóng, tinh thần thế quyền hầu như không hiện hữu và Hồi Giáo là một kẻ thù một sống một chết thì mọi chuyện lại khác hẳn. Và đòi hỏi một vị tổng giám mục sinh tại xứ Wales, một nhà thần học tháp ngà lèo lái một cộng đồng tôn giáo mà số con chiên đi lễ nhà thờ tại Lagos, Nigeria đông hơn là tại Liverpool thì quả là một điều chỉ làm cho người này trăn trở và bất lực.
Tại đây, Ðức Tổng Giám Mục Rowan Williams và Ðức Giáo Hoàng Benedict XVI chia sẻ cùng một gánh nặng. Tuy rằng các ông Rowan Williams và Joseph Ratzinger khác nhau về ý thức hệ tôn giáo và tầm mức quyền lực của họ đối với giáo hội mà họ cầm đầu, nhưng cả hai đều là những học giả Châu Âu tìm cách nói chuyện với một giáo hội Tây phương trong lúc cầm đầu một giáo hội càng ngày càng trở nên toàn cầu và hậu Tây phương. Cả hai đều phải đối phó với cùng với những vấn đề (Hồi Giáo, suy thoái tinh thần tôn giáo, tính ái) và cả hai đều đã tạo ra những tranh cãi khi họ tìm cách dung hòa những quan điểm không thể dung hòa được.
Những thách thức này sẽ không chìm lắng đi, nhưng chắc hẳn chỉ trong một vài chục năm nữa, người đứng ra tìm cách giải quyết sẽ không còn là những nhà bác học người Bavaria hay là Wales nữa. Ðây có lẽ là thời đại cuối cùng mà bộ mặt công khai của những giáo phái chính của Thiên Chúa Giáo thế giới trông còn giống như vào năm 1789 hoặc là 1950.
Vị giáo hoàng mới có thể đến từ Châu Mỹ Latinh hoặc Phi Châu; và nếu không phải là lần tới thì cũng chỉ là vấn đề thời gian. Còn đối với Anh Giáo thì một trong những ứng cử viên thay thế vào chức vụ tổng giám mục Canterbury là ông John Tucker Mugabi Sentamu, ngài Tổng Giám Mục York vốn sinh trưởng tại Uganda mà cuộc đời có thể coi như là một chiếc cầu nối liền thế giới Thiên Chúa Giáo cũ với thế giới mới.
Cách đây một trăm năm, ý tưởng rằng một trong những chức vụ tôn giáo cao cấp nhất của Châu Âu có thể do một người da đen sinh trưởng tại Phi Châu năm giữ hoàn toàn thuộc về lãnh vực không tưởng. Nhưng vào cuối thế kỷ này, trong một thế giới toàn cầu hóa, nó có thể được coi như là một chuyện rất bình thường.


















































