Việt Thi, Thơ Việt

 


VIÊN LINH


 


Nhân cuộc ra mắt một tuyển tập thơ dày trên 600 trang (trong có bài viết về thơ của nhiều tác giả khác) và nhất là trong hai bài viết mới đây của Giáo Sư Trần Ngọc Ninh, “Tiến Trình Thơ Việt, Nguyễn Du và Quan Họ” trong đó ông đưa ra một kết luận quan trọng: nguồn gốc thơ Lục Bát, một thể thơ được coi là truyền thống của Việt Nam, lại đến từ một sắc dân khác, người viết bài này có dịp đọc lại cuốn Việt Thi của học giả Trần Trọng Kim, Quốc Văn Cụ Thể của Bùi Kỷ, và nhân đó, đề nghị chúng ta cùng bàn về Thi Ca Việt trên trang báo này, tạm thời thu nhỏ vào thể thơ Lục Bát.










Việt Thi, cuốn sách bàn về các thể thơ Việt Nam của Trần Trọng Kim.


Theo thứ tự, có những bài sau đây được dẫn chứng: Trần Trọng Kim: Thể lục bát, thơ riêng của Việt Nam (Tân Việt); Hoàng Xuân Hãn chú giải Ðại Nam Quốc Sử Diễn Ca của Phạm Ðình Toái (Hải ngoại); Trần Ngọc Ninh: Tiến Trình Thơ Việt và Nguyễn Du và Quan Họ (Khởi Hành, 2012). Viên Linh: Thể Thơ Lục Bát (Thời Tập, Sài gòn 1974, đăng lại trên Khởi Hành 1999).


Trần Trọng Kim viết: “Thơ của người Việt Nam có hai loại: một loại đặc biệt của Việt văn, một loại theo đúng qui tắc của thơ Hán văn… Thơ riêng của Việt văn là thể lục bát. Thể Lục Bát […]có cước vận [tức là vần chân, ở cuối câu] và yêu vận [tức là vần long, ở giữa câu]. Thơ Việt văn vì có yêu vận và cước vận, cho nên có thể làm trường thiên, dài bao nhiêu câu cũng được. Bởi vậy các truyện bằng quốc âm đều làm bằng thơ Lục Bát hay Song Thất Lục Bát. Lục Bát là một thể thơ cứ một câu sáu chữ lại một câu tám chữ, tiếp tục như thế mãi và dùng toàn một thứ vần bằng. Kể từ câu thứ hai trở đi, cứ ba câu một vần, rồi liên tiếp mãi cho đến cùng.” (Việt Thi, tr.22-23)


Ta có thể lấy ví dụ sau đây (ba câu một vần, kể từ câu thứ hai trở đi)


1. Bông lau, lông vịt lấy bông / Làm chăn làm đệm mùa đông ngự hàn / Trâu bò gà lợ dê ngan / Ðầy lũ đầy đàn rong thả khắp nơi (Phùng Khắc Khoan [1528-1613]), Ðào Nguyên Hành, VL sưu tập.)


2. Nước non nặng một lời thề / Nước đi đi mãi không về cùng non / Nhớ lời nguyện nước thề non / Nước đi chưa lại non còn đứng trông. (Tản Ðà)


3.Ta còn để lại gì không / Kìa non đá lở, này sông cát bồi / Lang thang từ độ luân hồi / U minh nẻo trước, xa xôi dặm về. (Vũ Hoàng Chương, Nguyện Cầu)


Bùi Kỷ trong Quốc Văn Cụ Thể hay Dương Quảng Hàm trong Việt Văn Giáo Khoa Thư cũng đồng ý với Trần Trọng Kim. Bùi Kỷ viết: “Lối gieo vần của Trung Quốc bao giờ cũng để ở chữ cuối câu. Lối gieo vần của ta khác hẳn lối Trung Quốc, câu trên vần ở chữ cuối cùng, câu dưới vần không ở chữ cuối cùng.”


Ðó là việc dùng âm vận để phân biệt thơ Tàu thơ Ta. Theo Phạm Ðình Toái, tác giả Ðại Nam Quốc Sử Diễn Ca, do Hoàng Xuân Hãn chú dẫn ở lời tựa, thì chính người Trung Hoa đã ngạc nhiên khi đọc Nhật Trình Bắc Sứ của Nguyễn Huy Oánh (1722-1789) tuy viết bằng Hán văn nhưng lại viết bằng một thể thơ họ không có (Thể Lục Bát) nên họ mới ngạc nhiên.


Nhưng trong bài Tiến Trình Thơ Việt, Giáo Sư Trần Ngọc Ninh viết đại ý “Thơ Lục Bát là của nhân dân Việt Nam,” mà dân Việt không chỉ có chủng tộc Việt ở Giao Chỉ, mà còn các chủng tộc khác như Chăm, Nùng, và các sắc dân khác ở Việt Thường, Nhật Nam, Óc Eo, v.v… hợp thành. Khi điểm sách “Bùng Nổ Thơ Ca” của Giáo Sư Nguyễn Phan Cảnh, Trần Ngọc Ninh viết: “Nguyễn quân không nói gì đến nguồn gốc của thơ sáu tám và như nhiều người, nói rằng Lục Bát là thể thơ của dân tộc. Tôi nói rằng thơ Lục Bát là thơ của nhân dân Việt Nam.” Trong bài Nguyễn Du và Quan Họ tiếp theo, ông viết: “Trong các điệu hát Chăm, có những bài hát ru con và những bài giao duyên gọi là Dohdam Dara (đọc là Tô Tam tà rà) viết theo thể 6-8, gieo vần ở âm (tiếng) số 6 trong câu Sáu và âm số 4 trong câu Tám, giống những câu lục bát trong phong dao của ta (hay đúng hơn là ngược lại, ta giống Chăm).” Các tù binh Chăm bị Nhà Lý bắt được đã bị đưa ra Bắc từ thế kỷ mười và mười một…


Còn nói về vần điệu lục bát, trên tạp chí Thời Tập, Sài Gòn 1974, và đăng lại trên Khởi Hành số 28, tháng 2, 1999, Viên Linh viết: “Lục Bát, một thể thơ có nhịp chẵn: Lục Bát là một thể thơ mỗi câu gồm 14 chữ; cũng có thể nói câu lục và câu bát, nếu nghĩ mỗi dòng là một câu. Khác với các thể ngũ ngôn, thất ngôn, cứ 2 câu mới ráp thành một vần (ở cuối câu), trong khi mỗi câu thơ lục bát phải tự ổn định trong vần riêng của câu, ở chữ thứ sáu và chữ thứ 12. Nhịp lục bát là nhịp võng, đã lên thì phải xuống. Nhịp chẵn (hai chữ một) thơ thường đều, gây buồn. Nhịp lẻ (ba chữ một) đưa lên những thanh cao, vui hơn.” Các ví dụ được đưa ra:


 


Nhịp chẵn: Trăm năm / trong cõi / người ta


Chữ tài / chữ mệnh / khéo là / ghét nhau. (Kiều)


Nhịp chẵn: Ải xa / quằn quại / bóng cờ


Phất phơ / buồn tự / ngàn xưa / thổi về. (Huy Cận)


Nhịp chẵn: Chín năm đốt đuốc soi rừng


Về đây ánh điện ngập ngừng bước chân. (Nguyễn Bính)


Nhịp lẻ: Trời không nắng / cũng không mưa


Chỉ / hiu hiu rét / cho vừa nhớ nhung. (Hồ Dzếnh)


Nhịp lẻ: Ôi Kim Lang / Hỡi Kim Lang


Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây. (Kiều)


Nhịp lẻ: Bao giờ bến mới gặp đò


Hoa khuê các / bướm giang hồ / gặp nhau? (Nguyễn Bính)


Nhịp lẻ: Yêu sông núi / giận quân thù


Ðưa con ra trận phục mồ vô danh. (Viên Linh)


Nhịp phá điệu hiện đại:


Do / re / mi / fa / sol / la


Ngẫm từng âm điệu nghe ra chiều buồn. (Cung Trầm Tưởng)


Ngồi chờ tầu / góc ga thưa


Nghe hồn ẩm mốc một mùa lạnh căm. (Tô Thùy Yên)


Xa người rượu uống ngon hơn


Ngồi đây đỏ mặt hoàng hôn mới về. (Viên Linh)


 


Âm điệu dù nhịp chẵn, nhịp lẻ, phá điệu, vẫn không đủ. Lục bát vốn dễ làm, ai làm cũng sẵn vần điệu như một cái khuôn chỉ cần hai dòng là đủ, nhưng vần điệu không thôi sẽ không đủ. Cái cần thiết của lục bát là hình tượng. Là cụ thể. Là phải điêu khắc bằng chữ bằng lời. Lục Bát thiếu hình tượng và thiếu thi ngữ sẽ trở thành những câu văn vần nôm na, không thuộc vào văn chương nghệ thuật. (VL, 25.7.2012)

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT