Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.
Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.
Nguyễn Hữu Hiệu
Kỳ 96
Zorba xuống cho tôi một tách trứng, hai trái cam lớn và một cái bánh ngọt Phục Sinh nhỏ. Hắn lặng lẽ và sung sướng hầu tôi, như một bà mẹ săn sóc con trai chinh chiến trở về. Hắn nhìn tôi một cách âu yếm và bỏ đi:
– Ðể tôi đi dựng mấy cột trụ.
Tôi bình thản nhai nuốt đồ ăn trong ánh sáng mặt trời và cảm thấy một nguồn hạnh phúc xác thịt sâu xa như thể tôi đang lướt trên mặt biển mát lạnh và xanh ngắt. Tôi không để cho tâm trí tôi lủng loạn niềm hân hoan xác thịt này và nhét vào khuôn của nó, biến nó thành tư tưởng. Tôi để toàn thể thân thể tôi hoan lạc từ đầu tới chân, tựa một con thú. Tuy nhiên, thỉnh thoảng trong cơn xuất thần, tôi nhìn quanh tôi, trong tôi, cái phép lạ của cuộc đời nào. Tôi tự nhủ: “Cái gì đang xẩy ra? Làm sao thế giới có thể thích nghi với chân tay và bụng chúng ta một cách hoàn hảo đến thế.” Một lần nữa, tôi lại nhắm mắt và lặng thinh. Ðột nhiên, tôi đứng dậy, đi vào lều, cầm lấy tập bản thảo “Ðức Phật” và mở ra. Tôi đã hoàn tất nó. Cuối cùng, Ðức Phật nằm dưới gốc cây đang trổ hoa. Ngài giơ tay lên và ra lệnh cho ngũ đại đã làm nên ngài – địa, thủy, hỏa, phong, không, tan biến.
Tôi không cần khuôn mặt này của nổi dày vò của tôi nữa, tôi đã vượt qua nó, tôi đã hoàn thành công việc của tôi đối với Ðức Phật – tôi cũng giơ tay lên và ra lệnh cho Ðức Phật tiêu hủy trong tôi.
Vội vã, với sự giúp đỡ của những chữ và sức mạnh phù thủy của chúng, tôi liền tiêu hủy thân ngài, tâm ngài và tinh thần ngài. Tôi viết nguệch ngoạc những dòng chữ cuối cùng trên tờ giấy một cách không thương tiếc, thốt lên tiếng kêu cuối cùng và viết tên tôi bằng nét bút chì đỏ. Thế là xong.
Tôi lấy một sợi dây lớn buộc chặt tập bản thảo lại. Tôi cảm thấy một niềm hân hoan kỳ lạ, như thể tôi đang trói chặt chân tay một kẻ thù đáng sợ, hay như những kẻ mọi rợ khi họ buộc chặt thân thể những kẻ thương yêu để họ khỏi bò ra khỏi mồ và biến thành ma quỷ.
Một cô bé con, chân đất chạy đến tôi. Nó mặc một chiếc váy vàng và nắm chặt trong tay một trái trứng đỏ. Nó dừng lại nhìn tôi, sợ hãi.
– Sao! Tôi vừa hỏi nó vừa mỉm cười khuyến khích, em muốn gì nào?
Nó thở hổn hển và trả lời bằng một giọng đứt hơi.
– Bà sai tôi đi mời ông tới. Bà nằm liệt giường. Có phải ông là Zorba không?
– Ðược rồi. Tôi sẽ tới.
Tôi dúi một trái trứng đỏ vào bàn tay nhỏ bé kia của nó; nó nắm tay lại và chạy biến.
Tôi đứng dậy và đi theo con đường làng. Tiếng ồn ào trong lòng ngày càng lớn lên: những âm thanh dịu dàng của đàn thất huyền, những tiếng la hét, súng nổ, những bài hát vui nhộn. Khi tôi tới công trường, các thanh niên và thiếu nữ đã hợp nhau dưới những tàn lá mới của những cây bạch dương và đang sửa soạn khiêu vũ. Những bô lão ngồi trên những chiếc ghế dài xung quanh, cằm chống lên gậy, ngắm nhìn. Những bà cụ già đứng đằng sau lưng. Fanurio, tay chơi đàn thất huyền thiện nghệ, một bông hồng tháng tư dắt sau tai, đi đi lại lại giữa những người đang khiêu vũ, bàn tay phải kéo cung đàn có gắn những cái lục lạc ồn ào.
– Chúa đã sống lại thật! Tôi nói to khi đi qua.
– Chúa đã sống lại thật! Tất cả đồng thanh vui vẻ trả lời.
Tôi đưa mắt nhìn quanh một vòng thật nhanh. Những thanh niên cường tráng, thon, mặc quần cụt phồng và tấm khăn choàng đầu mà những tua rủ xuống trán và thái dương tựa những búp tóc quăn. Những thiếu nữ, với những đồng tiền vàng quanh cổ, khăn quàng cổ trắng thêu, mắt nhìn xuống run lên vì chờ đợi.
– Ông không thèm ở lại đây với chúng tôi à, một vài người cất tiếng hỏi. Nhưng tôi đã đi qua.
Mụ Hortense nằm trong chiếc giường rộng của mụ đồ đạc duy nhất trung thành của mụ. Gò má mụ đỏ ửng lên vì cơn sốt và mụ ho. Khi nhìn thấy tôi, mụ thở dài một cách não ruột:
– Còn Zorba đâu? Zorba đâu?
– Hắn không được khỏe. Từ hôm mà bà bị đau, hắn cũng ốm luôn. Hắn cầm ảnh bà trước mặt và thở dài mỗi khi nhìn.
– Nói nữa đi, nói nữa đi… mụ ngư nữ già vừa nói vừa khép mắt lại một cách sung sướng.
– Hắn nhờ tôi đến hỏi xem bà có cần gì không. Tối nay thế nào hắn cũng tới, hắn nói vậy, mặc dầu hắn chưa được khỏe. Hắn không thể chịu xa cách bà lâu hơn nữa.
– Nói nữa đi, làm ơn nói nữa đi…
– Hắn đã nhận được một bức điện tín từ Nhã Ðiển gửi về. Áo cưới đã may xong, và những vòng hoa cũng vậy. Người ta gửi tầu và chẳng bao lâu sẽ tới đây…, những cây nến trắng và những giải bông hồng.
– Nói tiếp đi, nói tiếp đi…
Giấc ngủ chụp lấy mụ, hơi thở của mụ thay đổi; mụ bắt đầu mê sảng. Căn phòng có mùi eau-de-cologne, nước đái quỉ và mồ hôi. Qua khung cửa sổ mở rộng mùi nồng của phân gà và thỏ ngoài sân lọt vào. Tôi đứng dậy và lặng lẽ ra khỏi phòng. Tới cửa tôi đụng phải Mimitho. Hôm đó gã mang giầy và quần cụt mới tinh. Gã giắt sau tai một cọng hoắc hương. Tôi bảo gã:
– Mimitho, chạy tới làng Kalo và mời ông thầy thuốc lại đây!



























































































