“Khu Rừng Lau” là bộ trường thiên tiểu thuyết được Doãn Quốc Sỹ viết nhằm tái hiện giai đoạn bi thảm nhất của lịch sử cận đại Việt Nam. Nhưng lấp lánh đâu đó, giữa những trang văn của ông, vẫn là niềm tin nơi con người, nơi dân tộc. Nó chịu được sự đọc lại, không chỉ hôm nay mà còn với nhiều thế hệ mai sau.
Kỳ 30
CHƯƠNG V
BÊN GIƯỜNG MẸ
I
Trên quãng đường vắng từ đồn điền Lợi Ký ra đường cái lớn, Kha thủ thỉ cho Tân nghe qua về mối tình hoàn toàn tan vỡ của chàng với Vân.
Tân chẳng biết nói gì để an ủi người bạn mới.
Khoảng chín giờ rưỡi đôi bạn dừng lại bên sông Hồng. Ðương mùa nước cạn, Tân vô tình xuống bãi cát. Dòng sông tuy nông và hẹp nhưng khi lội xuống Tân mới thấy là nước chảy xiết. Chàng miên man thầm nghĩ: “Người con gái ở ga Thanh Ba đã chắc gì hơn số phận Vạn?
Nước chảy xiết cuốn cát dưới chân khiến tân có cảm tưởng nếu đứng nguyên một chỗ chàng có thể chìm dần xuống vực.
Từ dưới sông lên, Tân vừa toan cùng Kha theo đường tới Ðại Ðồng, trụ sở tạm thời của trường Thuốc, thì có tiếng gọi hốt hoảng:
– Anh Tân, có phải anh Tân đấy không?
Tân nhận ra ngay Phiệt, chú em họ cách đây tám năm vẫn theo mình đi đánh cá, kể từ sau ngày Hoạt bỏ làng ra Hà Nội làm “ét” ô tô. Ngày nay Phiệt đã mười bốn tuổi, đương làm liên lạc viên cho cơ quan kháng chiến hành chính huyện đóng tại một làng ven sông gần đấy.
– Ô chú Phiệt, có gì lạ thế chú? – Tân hỏi.
– Bà mệt nặng đã hơn một tháng nay, bà mong anh.
Tân thấy lòng thắt lại.
– Bà mệt nặng thật đấy – cậu bé ngây thơ tiếp – có người làng nào lên mạn ngược bà cũng ân cần dặn là cố ý dò la giúp bà xem anh ở đâu để nhắn về ngay. Tân nhờ Kha ghi tên hộ tại trường thuốc, chàng theo ngay quốc lộ số một xuôi về Bắc Ninh, lòng dạ bồn chồn.
II
Về tới đầu làng tân đã rảo cẳng mà bước chân của bà con còn nhanh hơn để phi báo cho mẹ chàng hay trước. Cụ ốm liệt giường, bệnh già! Cụ đã ngồi dậy dựa vào thành giường đón Tân đôi mắt sáng dịu tình thương yêu.
Tân chỉ kịp quăng ba lô vào góc buồng rồi chạy đến nám chặt hai bàn tay gầy guộc của mẹ, thốt ra hai tiếng:
– Mẹ, Mẹ!
Nước mắt cứ ứ lên long lanh, cả khuôn mặt gầy của cụ như co lại, giần giật vì cảm động. Cụ nói:
– Mẹ tưởng chết không được gặp mặt con.
Sau câu nói là tiếng thở dài trút hết nỗi lo âu, rồi nhịp thở của Cụ trở lại đều đều, giọng nói cũng đều đều.
III
Cũng may mấy năm trước ngày tác chiến cửa hàng ở tỉnh Bắc Ninh của cụ khá phát đạt, cụ tậu được vài mẫu ruộng ở quê nhà, giao cho mấy người nghèo trong họ cầy rẽ, rồi khi tác chiến cụ kịp thu gần hết tiền vốn – chừng hai vạn bạc Ðông Dương.
Thoạt chiến tranh với cụ là tiếng bom, tiếng phi cơ nhào lộn rít lên và khạc đạn. Khi Hà Nội hoàn toàn do địch kiểm soát, trung đoàn Thủ Ðô rút khỏi, chiến tranh lan tới Cầu Ðuống gần làng thì cụ biết thêm chiến tranh còn là tiếng moóc chi- ê, tiếng đại bác bất ngờ gieo chết chóc xuống nhà nào đó. Cụ được chứng kiến một căn nhà ngói năm gian làng bên đổ sập và toàn gia khổ chủ chết bên trong: Viên đại bác rơi trúng nhà! Chết vì tai nạn chiến tranh đáng thương thật nhưng được chết cả nhà như vậy theo ý cụ cũng là một đặc ân trời phật ban cho. Ðồn địch đóng gần đó, chiến tranh không chỉ là cảnh các làng mạc bị đốt phá hoặc bị giội bom đạn mà còn là khuôn mặt bẽ bàng của những đàn bà con gái rủi sa vào tay địch.
Rồi cả một vùng lớn dọc theo tả ngạn sông Ðuống thuộc vùng tề. Gọi là vùng tề thôi, sự thực tổ chức hành chính địch chưa có gì. Tại các trường tiểu học, trẻ em vẫn học những bài ca dao kháng chiến: Tới làng nào, địch cũng phải đi từng đội, trang bị đủ loại súng ống. Các làng đã có cách báo hiệu cho nhau để khi toán tuần tiễu địch ra khỏi đồn tới làng nào là những truyền đơn, những tài liệu kháng chiến nơi đó được cất giấu hoặc thiêu hủy đi, những tấm đá in litho của cơ quan tuyên truyền kháng chiến được thả xuống ao bèo hoặc xuống ruộng rau muống, các cán bộ cùng những trai gái trong làng tạm chạy sang làng bên, chỉ còn ông già bà cả ở lại.
Ðêm đêm rất có thể địch vẫn rớt đại bác, moóc cghi-ê về làng nào chúng nhận thấy có những ánh đèn khả nghi.
Chiến tranh còn là – điều này làm cụ đau đớn nhất – tiếng súng lục xử tử Việt gian vang lên tự ngoài đồng, thường là vào lúc gần sáng. Việt gian, Việt gian… là nghe người ta nói thế chứ cứ theo tiếng lòng trung hậu của cụ thì nước ta làm gì có nhiều Việt gian đến thế. Cứ mỗi lần có tiếng súng lục đêm, chờ khi thật sáng rõ dân làng ra khỏi lũy tre sẽ thấy xác nạn nhân quẳng lại trên gò. Nếu nhận diện được đó là người làng kế cận nào, người ta phi báo ngay cho người nhà nạn nhân, nếu hoàn toàn chỉ là một kẻ xa lạ, dân làng đào huyệt chôn kẻ xấu số vô thừa nhận. Khói lửa chiến tranh đốt xém làng mạc cũng như cảnh người Việt xử tử người Việt đó đốt xém tâm hồn từ bi sùng đạo Phật của cụ. Cụ thật bất bình về cách họ mang nạn nhân tới xử trên bãi tha ma rồi quẳng đấy mặc nhiên coi làng cụ có bổn phận sáng hôm sau phải ra nhận diện, phi báo thân nhân hoặc chôn cất.



























































































