Hồi ký
Tâm Ðoan
Ðó là một buổi sớm tinh sương vào giữa Tháng Tám năm 1980, đèn đường vẫn còn hiu hắt sáng. Mẹ tôi gầy guộc, tiễn hai chị em tôi ra tận đầu ngỏ dưới cây vàng bạc, bà quyến luyến nhìn theo bóng hai đứa bước nhanh trên đường vắng…
Chúng tôi phải ra ga xe lửa để lên chuyến tàu Thống Nhất đi Hà Nội. Lúc đó tôi đang dạy cấp ba (tức đệ nhị cấp thời Việt Nam Cộng Hòa) ở trường trung học Hùng Vương gần nhà. Tôi xin nghỉ dạy một thời gian để ra Bắc, viện cớ thăm mộ cha. Còn em gái tôi đã tốt nghiệp Ðại Học Khoa Học Sài Gòn, bỏ việc làm tại một miền quê hẻo lánh gần biên giới Cam Bốt, về lại nhà, không hộ khẩu, chỉ dạy kèm sống qua ngày.
Tôi bắt đầu đi dạy năm 1972, nhiệm sở đầu tiên là trường Trung học Phan Thanh Giản, Cần Thơ với ông hiệu trưởng Minh rồi ông Trí khi tôi rời trường. Ở đó tôi đã có những ngày vui, những kỷ niệm đáng nhớ với đám học trò dễ thương và các anh chị bạn đồng nghiệp trẻ cũng như những bậc thầy đã dạy lâu năm tại đây. Tuy nhiên thời gian ngắn ngủi, sau hơn một niên khóa tôi chuyền về Sài gòn, dạy trường Trung Thu. Lúc nầy tình hình chiến sự đã rất căng thẳng và sau 30 Tháng Tư năm 1975, trường Trung Thu bị giải thể. Tôi sang Chí Thiện, rồi chuyển qua Hồng Bàng và cuối cùng là Hùng Vương khi hai trường trước giải thể cấp ba. Thời đó, có kỷ niệm nào vui đâu khi chiến tranh khốc liệt và bao gia đình tan nát vì đất nước đổi thay.
Gia đình biết được tin ba tôi mất trong khi học tập ở trại Hà Nam Ninh nhờ một gói quà me tôi gởi cho ông bị trả lại vì không người nhận. Em gái tôi lấy xe đạp chở bà lên bưu điện hỏi, họ chìa ra một mảnh giấy ghi lý do đơn giản “chết.” Thuở đó nhà nước Cộng sản chưa cho thăm nuôi nên mọi liên lạc, bới xách chỉ qua đường bưu điện và có giới hạn. Sau nhiều nỗ lực tìm hỏi mới được biết chính thức là ông đã mất vào tháng 10 năm 1978 trong cơn bạo bệnh, được xe cấp cứu chở về nhà thương Phủ Lý và chôn ở một nơi gần đó, không phải trong trại Hà Nam Ninh.
Cháu ruột ba tôi, chị Thiên Hương (tên ở nhà là Mận) trong khi đi thăm nuôi chồng học tập tại Vĩnh Phú đã ghé ngang qua Phủ Lý để thăm mộ và cung cấp tin tức giúp chúng tôi trong chuyến ra Bắc. Tội nghiệp chị, sau đó chồng chị Ðặng Bình Minh, trung tá phi công, đã thiệt mạng khi đi lao động trong rừng. Bi đát thay, anh tử nạn ngay sau ngày chị thăm anh tại trại và lúc đó chị đang ở Hà Nội mua vé tàu về lại Sài Gòn mà không hay biết gì về cái chết của anh.
Chuyến tàu Thống Nhất
Toa tàu chúng tôi ngồi toàn là cán bộ, viên chức gốc miền Bắc trở về thăm gia đình hay công tác. Chúng tôi ngồi đối diện với một anh bộ đội trẻ và một cán bộ có vẻ là nhà văn hay thuộc ngành nghệ thuật gì đó. Họ nói năng đàng hoàng, không tệ hại, quê mùa như mấy anh cán bộ hay bộ đội mà tôi gặp nhan nhản trong phường khóm sau ngày “giải phóng.”
Ngày dài trên tàu, họ tâm sự với nhau. Qua câu chuyện tôi biết được anh cán bộ có vợ đã qua đời có lẽ trong thời kỳ chiến tranh. Cô là con của một gia đình miền Nam tập kết ra Bắc. Anh quý nhà vợ hiền lành, cha vợ thích nhậu đế với anh, còn anh thì lãng bạt. Con cái nhờ nhà vợ lo. Thỉnh thoảng anh cũng gởi quà cho con. Thời chiến tranh, hình như hai vợ chồng luôn chia cách. Anh công tác xa nhà, có lần mới về, đêm đã khuya, anh lên thăm vợ đang trực ở một nơi xa xôi hẻo lánh. Nằm chung trên chiếc ghế bố nhỏ, tay nắm tay thương mến vô vàn, nhưng đồng thời anh cũng nhận ra rằng người bạn đời của mình ngày càng tiều tụy, cô bệnh, mệt mỏi và ho nhiều.
Suốt mấy ngày trên chuyến tàu xuyên Việt, trong khi mọi người chung quanh ai cũng háo hức nói đến những gói quà miền Nam đem về Bắc cho người thân, tôi đã thấy anh với những lúc suy tư trong đêm tối, anh nhìn ra cửa tàu, buồn xa vắng, thỉnh thoảng thì thầm “Tôi đã giết vợ tôi.” Tôi nhìn anh ái ngại và cảm nhận được một ẩn khuất, hối hận trong lòng anh. Cuộc chiến phi lý tương tàn do nhà nước Cộng Sản chỉ đạo đã xô đẩy nhân dân miền Bắc vào hoàn cảnh khốn khó, vợ chồng con cái phân ly, chết chóc.
Anh luôn xa nhà, vóc người không cao nhưng trông nho nhã, trí thức, nói chuyện thì lúc nào cũng thơ văn lai láng, chắc nhiều cô phải lòng và khó tránh được vài mối tình lẻ trên đường công tác. Vợ ở nhà một mình đảm đương gánh nặng gia đình, con cái, rồi cơ quan thi đua sản xuất, làm sao không kiệt lực? Nói đúng ra, Ðảng Cộng Sản miền Bắc có tội rất lớn với phụ nữ của cả hai miền. Trong khi miền Bắc nỗ lực xâm chiếm miền Nam dưới chiêu bài “giải phóng” thì ở miền Nam, chúng tôi phải ra sức bảo vệ, chống đỡ đất nước tự do. Người đàn bà miền Nam cũng cùng chung số phận như phụ nữ miền Bắc và đau đớn hơn nữa là, sau ngày “được giải phóng”, biết bao người chồng, cha đã bị lừa bịp, từ giã gia đình đi học tật cải tạo để rồi không hẹn ngày về.
Thỉnh thoảng cũng có một chị cán bộ nằm ở toa có giường xuống nói chuyện với các anh bạn, chị lúc nào cũng tươi cười anh anh em em ngọt xớt. Chị khéo lắm, vừa đi công tác vừa đi buôn, mua hàng trạm này, bỏ mối trạm kia.
Chuyến tàu đã đưa chúng tôi đi ngang qua nhiều phần của đất nước từ Nam ra Bắc, được thấy những cảnh đẹp thiên nhiên nhất là vùng biển, và sinh hoạt ở những ga khi tàu dừng lại để hành khách mua thức ăn, hoặc nước đề tắm rửa qua loa. Buổi tối chúng tôi trải khăn xuống dưới sàn để ngủ.
Sau chuyến tàu suốt ba ngày ba đêm, chúng tôi tới Hà Nội. Khi tàu chạy qua khoảng gần bệnh viện Bạch Mai, anh lính trẻ reo mừng, “Này anh xem, nhà tôi ở đằng đó kìa, tôi chỉ muốn nhảy xuống để chạy về nhà tắm một cái cho mát.” Quả thật là một ao ước được giải phóng khỏi con tàu tù túng.
Khi xuống ga, chúng tôi gọi xích lô chở tới nhà chú me tôi. Ông theo kháng chiến chống Pháp rồi tập kết ra Bắc, vốn là một bác sĩ nhưng đã về hưu. Gia đình ông sống trong một căn phòng của biệt thự thời Pháp. Thành ra, có đến mấy gia đình cùng sống với nhau, dùng chung cầu tiêu thùng. Sau này tôi mới hay, nhờ “giải phóng miền Nam”, miền Bắc mới biết đến loại cầu tiêu giật nước, nên mới có cuộc “cách mạng cầu tiêu”, nhà nhà đua nhau làm cầu tiêu kiểu trong Sài Gòn. Ông cụ và hai cô con gái rất tử tế. Chúng tôi được ăn bữa cơm nhà thanh khie16t có canh rau ngon. Sáng hôm sau, chúng tôi rời Hà Nội mua vé đi Phủ Lý.
Chuyến tàu “nghẹt thở”
Mua vé rồi nhưng chúng tôi phải chờ ngoài cổng nhà ga thật lâu. Gần đến giờ tàu chạy, họ mới mở cửa. Số người chờ đợi đông như kiến bắt đầu chen lấn để vào cổng, lên tàu. Tôi hãi hùng khi đống người đè lên nhau mà chạy, chị em tôi không muốn nhưng cũng bị kéo xệch theo dòng người vô ý thức, tôi ngộp thở tưởng như sắp chết. Tất cả y hệt như cảnh tượng chuyến tàu trong phim “Doctor Zhivago”. Cuối cùng rồi cũng leo lên được toa tàu, người chen chúc ép nhau đứng chật cứng. Tàu xục xịch chuyển bánh mang theo một đám người đông như ruồi bu, cả trên cửa sổ, trần tàu. Chẳng biết họ có mua vé hết không? Hay nhân viên nhà nước cố tình bán nhiều vé?
Tới trạm Phủ Lý, tàu dừng lại, chúng tôi được “giải phóng”. Sau đó thuê xích lô tìm đến vùng nghĩa địa, nơi đó có một phần đất nhỏ dành chôn cất những người cải tạo chết ngoải vòng trại học tập, thường là từ bệnh viện. Chúng tôi may mắn nhận ra mộ cha nằm ở ven bìa, cạnh một lạch nước nhỏ. Tấm mộ bia có ghi khắc tên tuổi rõ ràng. Vùng mộ này coi như bỏ hoang, cỏ dại mọc nơi nơi. Nhiều mộ đất đã bị xoi mòn theo mưa nắng, bia mộ ngả nghiêng. Tôi nghĩ rồi một ngày nào đó, sẽ không ai nhận ra mộ nữa.
Ngay bên vệ đường, là một quán bán nước chè lụp xụp. Chúng tôi dừng lại đây uống nước, nhân tiện hỏi thăm và làm quen. Ông chủ quán chỉ cho chúng tôi đường đi nước bước trong vùng. Ðồng thời giới thiệu môt bà cụ mà ông gọi là người coi sóc các phần mộ ở đây. Ông đề nghị chúng tôi nên đưa tiền nhờ bà này mua lễ vật sẵn sàng để cúng ba tôi ngày mai. Thật tình tôi không tin lắm nhưng vì lạ nơi chốn và cũng muốn tạo thân thiện với những người trong vùng nên tôi đồng ý.
Thế rồi chúng tôi tìm đến nhà trọ. Ðó chỉ là một căn nhà sâu nhỏ, đơn giản. Bên trong không có gì ngoài hai dãy giường cỡ một người nằm xếp theo hai bên tường. Không có phòng riêng tư gì hết. Cầu tiêu, chỗ tắm rửa chung rất thô sơ và chỉ có ở đàng sau nhà. Có lẽ chị em tôi là hai người khách trọ hiếm hoi ở lâu nhất đến bốn năm ngày. Cán bộ đi công tác hay các chị đi thăm nuôi chồng chỉ lưu lại một hai đêm là cùng.
Ở đây tôi có gặp một chị đi thăm chồng dừng lại trong chốc lát. Chị có nhờ tôi tìm giùm mộ chồng của một chị bạn. Rất tiếc là không tìm thấy. Tôi định bụng sẽ kiểm lại để tránh sơ sót nhưng sau đó lại quên bẵng đi.
Ðêm đầu tiên, chỉ thấy một ông cán bộ dừng chân ngủ lại rồi lặng lẽ ra đi lúc trời hừng sáng. Chị em tôi mỗi người một giường nhỏ sát nhau. Mệt mỏi. Buồn da diết… Ngày mai là ngày bắt đầu cho việc tìm cách bốc mộ và hỏa táng ba tôi. Trong đêm vắng lặng, tiếng còi tàu từ xa vọng về nghe sao buồn quá. Có lẽ tôi thiếp đi lúc nào không biết và tôi đã thấy ba tôi hiện về lung linh qua chiếc mùng cũ kỹ.
Chuẩn bị bốc mộ ba tôi
Sáng hôm sau, chị em tôi trở lại nghĩa địa, chẳng thấy lễ vật cúng kiếng đâu cả. Hỏi ông quán nước, ông không biết. Hỏi bà cụ lo nghĩa địa đâu rồi, ông dẫn chúng tôi đi tìm.Tôi biết mình đã bị lừa nhưng cũng muốn gặp bà hỏi cho ra lẽ. Ông bảo tôi: “Thôi cô ơi, bà này có ba người con đi bộ đội chết hết rồi, tha cho bà đi”. Tôi không biết ông nói thật hay không nhưng khi thấy bà đứng trơ trơ trước một ngôi nhà gạch đổ nát, có một bờ tường với mái che tạm làm trần mà ông bảo là chỗ ở của bà. Tôi sững sờ, không còn gì để nói nữa. Thế rồi chị em tôi lặng lẽ ra chợ tìm mua bánh trái và hương khói trước mộ ba tôi.
Bây giờ vấn đề quan trọng là phải tìm ra người để giúp vào việc bốc mộ và hỏa táng. Trước khi chúng tôi ra Bắc, chị Mận có giới thiệu một ông phu xích lô mà chị đã gặp ở Phủ Lý. Tôi đã liên lạc thư từ với ông, tuy nhiên cách dùng củi đốt mà ông đã đề cập với chị Mận, tôi thấy không được ổn, rườm rà, lỡ cán bộ đia phương biết được là hư chuyện, nếu không thì cũng phải tốn nhiều tiền hối lộ. Ông hẹn sẽ đón tôi tại ga xe lửa nhưng tôi không thấy, nên coi như việc đó không thành.
Nhìn quanh lại thì chỉ có ông quán nước là quen thôi. Tôi la cà nói chuyện với ông về dự định bốc mộ và hỏa táng ba tôi để nhờ ông giúp tìm người. Tôi không ngờ bàn đằng trước có một anh chàng đang uống nước chè nghe lóm được, bèn kéo ghế mời tôi ngồi nói chuyện. Cũng có thể ông quán nước đã môi giới nói trước với anh này rồi. Tôi lắng nghe kế hoạch làm việc của anh và rất hài lòng. Tôi bằng lòng trả tiền công như ý anh muốn và sẽ chuẩn bị những gì anh cần cho ngày bốc mộ vả hỏa táng như đã định.
Ngày hôm sau, hai chị em tôi lo đi mua sắm bánh trái, nhang đèn và mấy vật dụng anh ta dặn như bấc đèn, một cái tiểu nhỏ vừa cho một đứa con nít nằm bằng đất sét nung. Còn 20 lít xăng thì mua từ mấy tài xế lái xe hàng, anh sẽ lo giùm. Trong lúc em tôi thu xếp đồ đạt ở nhà trọ, tôi đi mua cái tiểu một mình. Tôi đi bộ dọc theo con đường đến chỗ bán, bỗng nhiên một anh cán bộ đi xe đạp cọc cạch rờ tới. Anh hỏi tôi đi đâu. Khi biết đường còn xa, anh muốn chở giúp. Tôi cám ơn lòng tốt nhưng viện cớ này nọ đề từ chối. Có một câu làm tôi cảm kích, anh nói, “Khi tôi vào Nam công tác, đồng bào đã đối xử với tôi rất tốt. Không bao giờ tôi quên được”.
Dĩa thịt vịt đáng nhớ
Trong chuyến đi này, chúng tôi có mang theo vài thứ như bánh kẹo để cúng ba tôi, chút ít đồ ăn khô để phòng hờ. Trong mấy ngày lưu lại Phủ Lý, chúng tôi cũng đi ăn ngoài. Bữa đầu tiên, chúng tôi vào chợ. Gọi là chợ chứ thật ra nó còn thua xa loại chợ “chồm hổm” ở miền Nam. Rất thô sơ, chẳng có gì nhiều. Chúng tôi ngồi bệt xuống cạnh gánh bán bánh ướt của một bà cụ già, nhắm mắt ăn cho khỏi đói thôi. Những lần sau thì vào các quán ăn nhà nước cho có vệ sinh hơn. Ðồ ăn thì làm sao ngon được vì thiếu thốn đủ thứ.
Tôi còn nhớ buổi ăn cuối cùng ở Phủ Lý, nghĩ mình cũng còn tiền nên gọi thêm một dĩa thịt vịt nhỏ thấy trong thực đơn. Khi đem ra, gắp miếng nào cũng toàn xương không, tôi hậm hực lắm vì chả ăn được một miếng nào nhưng không dám phàn nàn vì sợ mang họa vào thân. Trả tiền đi ra mà trong lòng ấm ức không vui cứ như mình bị người ta gạt mà không nói được. Chẳng biết “tụi nó” chơi khăm, gian dối vì thấy mình là người lạ từ xa tới hay là con vịt của xã hội chủ nghĩa cũng đói như người?
Ngày khởi hành bốc mộ
Ðến ngày đã định, theo lời anh bốc mộ yêu cầu, công việc cần bắt đầu sớm. Chúng tôi khởi hành từ nhà trọ đi tới nghĩa địa khi trời còn tối, đèn đường chưa tắt. Hai chị em đi như bị ma đuổi, phần vì muốn tới sớm, phần vì sợ. Ðường lộ vắng teo, hai bên toàn cây cối, rồi ruộng đất, đầm lầy triền miền, đi hoài mà thấy chưa tới, chỉ có tiếng oan oan vang lên từ loa phóng thanh nhà nước ra rả tuyên truyền đuổi theo chúng tôi trên một phần đường. Cuối cùng rồi cũng đến nơi, gặp anh bốc mộ. Thay vì bắt đầu công việc, anh mời hai chị em tôi tới nhà anh để bàn chuyện.
Anh dẫn tụi tôi đi sâu ngoằn nghoèo vào trong xóm cây cối um tùm. Vừa đi vừa sợ trong lòng, không biết chuyện gì sẽ xảy ra đây. Hai chị em tim đập tơi bời. Tiền bạc chúng tôi mang theo hết trong người. Chỉ còn mong Phật Trời phù hộ tai qua nạn khỏi. Thế rồi tới nhà, anh mời vào và bắt đầu câu chuyện. Anh muốn chúng tôi trả thêm tiền công và neo giá. Tôi tính nhẩm trong đầu, tiền bạc mình đem theo có đủ, thôi thì ừ đại cho rồi. Tản tài hơn tản mạng! Tôi thầm nghĩ và thở phào nhẹ nhõm.
Căn nhà của anh nhỏ, chẳng thấy đồ đạt gì nhiều. Chúng tôi ngồi trên nền xi măng nói chuyện. Qua đó chúng tôi được biết anh có vai vế trong xã này, nên mọi việc sẽ êm thấm. Nhìn nhà anh rồi so sánh với mái tranh lụp xụp của cặp vợ chồng cán bộ đằng sau nhà trọ chị em tôi ở, thì anh thuộc loại khá rồi, có lẽ nhờ làm thêm nghề tay trái.
Bốc mộ và hỏa táng
Anh bốc mộ là người cẩn trọng, anh gọi tên ba tôi và khấn lời xin phép với vong hồn rồi mới bắt tay vào việc cùng với người phụ tá. Vì mộ được lấp bằng đất nên việc đào xới cũng khá dễ dàng. Khi nắp hòm được cạy ra, chúng tôi thấy bên trong đầy nước đen ngòm. Theo tục lệ, họ cắm nhang quanh mộ, tưới rượu vào trong để tẩy mùi hôi. Nhưng đặc biệt mộ ba tôi không có mùi gì hết. Trên mặt nước lềnh bềnh miếng vài nhỏ và bọc ni lông.
Họ thọc tay xuống vũng nước lấy xương lên, những khúc xương đen bóng như tẩm dầu hắc. Sọ còn dính hai ba cái răng màu vàng chứ không bị đen, còn những răng khác đã rớt ra khỏi hàm.
Nhìn sọ rồi nhớ đến nét mặt ba tôi ngày trước, một trời khác biệt. Ðôi mắt sáng, nay là hai lỗ sâu hõm. Sống mũi cao, mất hết phần sụn, là một lỗ tan hoang. Ôi, làm sao hình dung lại người xưa? Giờ đây chỉ còn là đống xương lạnh lẽo. Tất cả được rửa sơ trước khi xếp vào cái tiểu bằng đất nung. Xong họ khiêng cái tiểu đầy xương ra đằng sau cánh đồng vắng, đào một lỗ dưới đất để đặt tiểu vừa vặn trong đó và bắt đầu hỏa thiêu sau khi chị em chúng tôi khấn niệm. Bấc đèn bỏ vào, xăng tưới lên từ từ, rồi châm lửa.
Chiều hôm đó, trời lất phất mưa, hai chị em ngồi chờ… Tôi nghĩ lại cuộc đời ba tôi, ngắn ngủi nhưng sôi nổi, vui chơi, lãng tử; mà lận đận, đổi thay cũng nhiều. Từ một thanh niên đầy phong độ ở lứa tuổi ba mươi, ba tôi bị Việt Cộng bắn trọng thương trong một cuộc phục kích tại Tây Ninh, ông đã thành một phế nhân già bạc đầu, ốm yếu, đường tiểu tiện không còn bình thường như xưa nữa. Tuy nhiên ba tôi luôn giữ được tinh thần lạc quan, nhờ vậy mà ông vẫn tiếp tục đi làm, nuôi chúng tôi khôn lớn. Ông có cơ hội di tản khỏi Việt Nam nhưng ông từ chối, để rồi phải đi học tập cải tạo. Và ông, cũng như bao nhiêu người khác còn ở lại, đã quá lầm khi tin theo lời của chính quyền mới Cộng Sàn rằng đi học tập10 ngày rồi trở về với gia đình. Lúc đó ông mới 47 tuổi.
Khoảng bốn, năm giờ sau, xương ba tôi đã thành tro. Cát bụi trở về với cát bụi. Chúng tôi rải tro ba tôi lên mấy bè thân chuối để cho mau nguội. Cuối cùng mới đổ tất cả vào một bịch ni lông để tiện đem đi không ai để ý. Sau khi thanh toán tiền bạc, chúng tôi vội vàng quay lại chỗ trọ, thu xếp đồ đạt và quyết định trở về Hà Nội ngay chiều hôm đó. Từ Phủ Lý về Hà Nội khoảng 57km. Chuyến xe đò cũ kỹ cuối cùng đã quá tải, tòn teng thêm mấy người nghiêng ngả ở cửa xe. Chúng tôi đành đón xe vận tải chở vôi xin quá giang và trả tiền cho bác tài.
Trở về Hà Nội
Khi tới Hà Nội thì trời đã tối. Chúng tôi không trở lại nhà chú me tôi vì mang tro người chết vào nhà không tốt cho họ. Chúng tôi tìm đến khách sạn, có tên là Dương Thành hay Ðường Thành, tôi không nhớ rõ, ở trung tâm thành phố, nơi đó tôi đã gặp nhiều chị đi thăm nuôi chồng đang học tập cải tạo ở những vùng rừng núi xa xăm. Ðây là trạm dừng chân trước khi đi thăm chồng hoặc về lại miền Nam.
Tại khách sạn này, mọi người ngủ tập thể trong cùng một phòng như ở Phủ Lý nhưng lịch sự và tiện nghi hơn nhiều. Ai hỏi, tôi đều nói là đi thăm mộ cha, do đó tuyệt nhiên không người nào hay biết về vụ bốc mộ. Tôi nghĩ sẽ có người hoảng sợ nếu biết cốt người chết quanh đây và chưa chắc chị em tôi được nhận vào. Dù sống trong chế độ vô thần vô sản đã lâu nhưng coi bộ người miền Bắc cũng mê tín dị đoan dữ lắm.Ðó là tối ngày 26 tháng 8 năm 1980. Chúng tôi mua được vé trở về Sài Gòn hai ngày sau đó và đánh điện tín cho me tôi biết.
Hà nội năm 1980 trông còn nghèo xơ xác. Chỉ có khu vực quanh lăng ông Hồ và bưu điện chính với kiến trúc đã xây dựng từ thời Pháp và các hồ là trông đẹp thôi. Ðường phố vắng vẻ, toàn xe đạp. Chợ Ðồng Xuân buôn bán thưa thớt. Tuy nhiên quanh chợ, tôi cũng thấy có chị đứng lóng nhóng chào hỏi để bắt mối mua đồ như quần jean “mỏ đỏ” gì đó.
Tôi được biết qua báo chí và hình ảnh trên mạng, Hà Nội bây giờ đã hoàn toàn khác hẳn, với những khách sạn bốn năm sao, những biệt thự lộng lẫy, những cửa hàng thời trang sang trọng. Xe hơi, xe máy tân kỳ hiện đại của thế giới đều có mặt tại nơi đây, đôi khi trước cả Sài Gòn, để phục vụ cho giới “nhà giàu mới” ở Hà Nội, ăn chơi và xài sang nhất nước.
Ba tôi về lại quê nhà miền Nam
Tính đến ngày bốc mộ, ba tôi chết chưa tới hai năm mà xương cốt đã rã hết như thế, theo anh bốc mộ, có thể vì những lý do sau đây:
-Mộ ba tôi ở gần lạch nước, nước làm xác mau tan.
-Khi chết ba tôi quá ốm, chỉ còn xương bọc da.
-Có người nói rằng, ngoài Bắc, những người chết ở bệnh viện có thể bị mổ để lấy hết các bộ phận cho sinh viên học.
Có lẽ ba lý do trên làm xác ba tôi mau rửa, sạch sẽ và tinh khiết, không hôi hám. Còn màu đen tuyền của xương, tôi nghĩ có thể vì ngâm trong nước quá lâu nên bị thâm.
Ba tôi đã qua đời vào tháng 10, ở miền Bắc lúc đó trời đã vào Ðông. Tội nghiệp ba tôi, ra đi trong đói lạnh, bệnh tật, đau đớn, cô đơn. Tâm thức ông lúc lìa đời chắc vẫn còn nhiều vương vấn, khắc khoải về gia đình, vận nước, làm sao có đủ an lạc để nương theo ánh sáng của Phật. Ngày 1 tháng 9 chúng tôi về tới Sài Gòn. Bình đựng cốt me tôi đã lo sẵn sàng chứa tro ba tôi và đem ngay vào chùa để được hương khói, kinh kệ giúp vong linh ông sớm siêu thoát.
Giờ đây hẳn ba tôi đã tái sinh trong một kiếp sống khác, tôi hy vọng với nhân duyên thuận lợi, ông được sống trong một cảnh đời vui vẻ, an lạc, bởi vì với kiếp người vừa qua, ông đã làm nhiều điều tốt và cũng đã trả bớt nghiệp đời cho tiền kiếp. Bài viết này xin dược coi như một nén hương thắp lên để nhớ đến ba tôi và những người tù đồng cảnh ngộ, chết trong trại học tập cải tạo sau ngày mất nước 30 tháng 4 năm 1975 và xin ghi nhớ câu nói của cựu Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu:
“Ðừng nghe những gì Cộng Sản nói,
mà hãy nhìn những gì Cộng Sản làm.”
(Minnesota, 12 tháng 12, 2012)





















































































































































