Khu Rừng Lau (Kỳ 146)



Kỳ 146


Thành Mông Tự phía ngoài xây gạch, phía sau đắp đắt cho dày thêm. Ngày cuối cùng ở đây, Khóa đi thơ thẩn trong thành, nhìn mãi nếp sống thanh bình của người dân cũng chán, bèn ra hỏi cổng thành, cổng phía Tây hay phía Nam về sau này Khóa không sao nhớ rõ nữa. Ai dè đi khỏi cổng thành chừng ba bốn trăm thước là cả một thế giới khác hẳn: Xác chết ngổn ngang gần xa hai bên vỉa đường, từng đàn quạ đen thấy động bay lên rào rào, cất tiếng kêu quang quác.

Khóa quét vội tia nhìn một vòng rồi quay lại, rảo cẳng… Kiểm soát lại trong ký ức những gì vừa nhìn, Khóa ôn thấy có xác chết bị rỉa hết môi hai hàm răng trắng nhờ hô ra sát bên hàng lợi thâm xịt, có những xác vừa trương phồng, có những xác trương đã lâu ngày mặt xanh lè, toàn thân bắt đầu rỉ nước… thật là muôn phần rùng rợn, mà điểm kỳ lạ là cảnh đó chỉ cách cảnh thanh bình trong nội thành Mông Tự chừng bốn trăm thước là cùng. Bữa cơm trưa và bữa cơm chiều hôm đó Khóa không ăn được mấy, nửa bát là cùng, vì hễ nâng bát cơm lên là cảnh xác chết ngổn ngang rữa nát bị rỉa khoét lại hiện lên làm Khóa muốn nôn ọe đành phải ăn đào, lê, táo và lựu trừ bữa. Khóa cũng không hỏi gì thêm bác Hải để biết là chết đói, chết dịch hay họ là giặc cỏ bị quan quân vây bắn. Ðương ở Việt Nam nhỏ bé, thanh bình biết quý mạng người, Khóa sang nước Tàu rộng lớn, dân đông, giặc giã cướp bóc thường xuyên, mạng người rẻ như mạng con ong cái kiến, Khóa thấy ngợp và choáng váng. Ngay từ ngày ấy Khóa đã biết sở dĩ có sự coi rẻ nhân mạng như vậy chỉ vì người Tàu sinh sôi nảy nở nhiều quá. Vài năm sau biết suy nghĩ sâu hơn, Khóa thấy vấn đề hạn chế sinh dục là vấn đề khẩn cấp cho nước Tàu và khi chàng đọc đến “Croissez et multipliez = Hãy sinh sôi nảy nở” chàng rùng mình nghĩ ngay rằng câu đó sai biết chừng nào khi đem áp dụng cho nước Tàu.


III


Mãi đến trước hôm trở về Lào Kay, ông Hải mới biết việc học của Khóa dở dang, lẽ ra Khóa phải lên trung học được hai năm rồi, ông đã đề nghị ông bà Ðô Cán để Khóa ở lại với ông vì tại Mông Tự có trường trung học Pháp. Bà Ðô muốn vậy lắm, ông Ðô đâu có chịu, ông nhất định bắt Khóa về, nói rằng sẽ cho Khóa theo học ở Hà Nội tiện hơn, kỳ thực ông giữ Khóa để ngày ngày tiêm thuốc hầu ông. Nhưng về đến Lào Kay hai tháng sau thì ông Ðô bị bạo bệnh từ trần, ông Hài hay tin lập tức về Lào Kay phúng điếu và ngỏ ý muốn đưa bà Ðô và Khóa sang ở hẳn Mông Tự.

Bà Ðô để Khóa đi theo, bà căn dặn Khóa phải cố học cho nên người, gắng đuổi kịp hai năm phí phạm. Riêng bà, bà xin lỗi ông Hải vì phải ở lại Lào Kay để trông nom ngôi hàng xén mà bà mới mở kể từ sau ngày ở Mông Tự về. Ngôi hàng được mở để bù vào những thiếu hụt của ngân quỹ gia đình, cũng có thể trực giác, bà biết là ông Ðô chẳng thọ được bao lâu nữa, bà cần chuẩn bị cuộc đời tự lập nuôi con. Bà từ chối lời mời của anh – ông Hải – sang Mông Tự vì bà luôn luôn làm theo tinh thần của đạo nho: Quân tử thi ân bất vọng báo. Ấy ơn của mình giúp ai thì viết trên cát như vậy, nhưng nếu chịu ơn người thì ơn ấy được bà khắc sâu lên đá. Việc bà chịu lấy ông Ðô há chẳng là ơn cưu mang của ông được khắc lên đá? Không ngờ bà còn một lần thể hiện việc khắc ơn lên đá theo thể thức “đem thân mà trả nợ đời” tương tự.

Khóa theo ông Hải đi Mông Tự, tiếp tục việc học. Hai tháng sau bà Ðô sinh cô gái mà vì cảnh mẹ góa con côi bà không thiết tìm tên đặt, bà chỉ gọi giản tiện là cái Bé.

Ngôi hàng xén ít vốn của bà ở chốn lam sơn chướng khí này đã như chiết cây còi mọc trên đất sỏi lại gặp kỳ hạn hán. Kể ra chỉ cần bà viết vài dòng cho ông Hải thì hoặc bà sang Mông Tự, hoặc ông Hải cấp vốn buôn cho bà, nhưng tuyệt nhiên bà không chịu hé thốt một lời, bà cũng không về xuôi để cho thỉnh thoảng gặp Khóa (vào dịp được nghỉ vài ngày liền, thế nào Khóa cũng dời Mông Tự về thăm mẹ).

Bà Ðô năm đó trên ba mươi tuổi, vẻ đẹp tươi mát thuở còn là cô Mai dĩ nhiên không còn, nhưng nếp sống trầm mặc và đức hạnh đã gìn giữ tuổi trẻ cho bà, khiến thứ nhan sắc đoan trang trong một tuổi đời đã chín đó không phải là thiếu phần quyến rũ.

Ngay sát bên ngôi hàng xén nhỏ của bà là cửa hàng tạp hóa khá đồ sộ của một người Tàu trạc tuổi bà, đã góa vợ (vợ Việt) và có một người con trai. Khi ông Ðô chế, người này có lấy tình lân lý sang phúng điếu theo đúng thủ tục Việt Nam. Rồi cửa hàng xén của bà Ðô thiếu thứ gì, chú Nìn (Niên) – tên người Tàu – lại cho người làm khuân sang, nói rằng “xin cứ bán đỡ, khi thu được tiền rồi trả lại sau cũng được”. Mỗi khi xuôi Hà Nội cất hàng, chú Nìn cũng hỏi xem bà Ðô cần mua thêm thú hàng nào đặc biệt. Ðã từng là nhà buôn nhỏ trước đây, chú Nìn biết cửa hàng càng nhỏ càng cần có những món hàng đặc biệt để lưu ý khách hàng. Món hàng đặc biệt của cửa hàng bà Ðô là những đồ trang sức bằng đồi mồi: Lược, gương, hộp phấn, ví tay… Những thứ hàng đó tuy nhỏ xinh mà đắt tiền, chú Nìn chỉ cần hỏi ý bà Ðô hôm trước hôm xuôi Hà Nội là hôm trở về đã tự động xuất vốn mua đủ các thứ (và thứ hàng đó tuyệt nhiên tại cửa hiệu tạp hóa của chú không hề bán: Chú để bà Ðô giữ độc quyền). Hàng đắt tiền có bán được những ít và chậm, loại hàng phổ thông bán được khá nhiều nhưng toàn là những người quen cũ, lại phần đông là những nhân viên cấp dưới ông Ðô xưa, họ mua chịu chẳng lẽ không bán, họ chịu lâu chẳng lẽ nặng lời đòi sao tiện, rồi phần quên đi, phần họ đổi đi nơi khác, quỵt, lưng vốn mỏng manh của bà Ðô đã hết từ lâu, vốn của chú Nìn không bao giờ đòi, thái độ quân tử của người Tàu chính cống đó làm bà Ðô thắc mắc. Có đôi lần tự ý bà nói rõ sự tình và xin lỗi chú Nìn về sự thanh toán chậm thì chú Nìn gạt đi một cách cương quyết và rắc thật tình.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT