Kỳ 147
Hai năm qua đi… Khóa vẫn từ Mông Tự về thăm mẹ vào những ngày nghỉ. Cái Bé đã lũn cũn biết đi biết chạy.
Ðúng vào lúc bà Ðô quyết định dẹp cửa hàng và chưa biết tính sao về món nợ lên tới bạc trăm – (như bạc vạn bây giờ) – với chú Nìn, thì vào một buổi chiều đông, sương muối phủ ngập thung lũng Lao Kay, chú Nìn sang thăm bà Ðô, thái độ rất điềm đạm, rất thanh lịch, chú ngỏ ý cầu hôn với bà. Lẽ ra bà Ðô có thể từ chối, đành vay tiền ông Hải mà thanh toán nợ nần với chú Nìn, rồi đợi ngày Khóa học thành tài đi làm giả nợ cho mẹ, nhưng định mệnh con người do chính con người dự phần tạo tác và quyết định, thái độ bà Ðô lại không chịu vong ân, không muốn phiền ai – dù phiền anh, phiền con – phải gánh chịu thiệt thòi vì mình, bởi vậy sau mấy ngày suy nghĩ bà nhận lời. Bà viết một bức thư dài trần tình với ông Hải và với Khóa. Ông Hải đổi đi Vientiane, bà bằng lòng để Khóa đi theo ông, học nốt hai năm nữa thi lấy bằng Thành chung.
Từ ngày bước đi bước nữa, bà đặt tên cho cái Bé là Cam. Nhũ danh của bà là Mai có nghĩa là cây mai, tên Cam bà đặt cho cô gái út cũng là cây cam, cùng bộ mộc, nhưng thực ra hai tên Mai và Cam đó trong cõi tiềm thức mung mung mạc mạc lại dính líu đến bài thơ “Cán mai gốc mít cho cam” mà bà dùng làm lời mở đầu bức thư trần tình của bà gửi riêng cho Khóa. Ðọc bức thư trần tình của mẹ, Khóa đã gục mặt lên gối khóc nức nở. Bài thơ mở đầu này Khóa thuộc lòng, vẫn hằng ôn tới như ôn một nhận định chân lý để liệu mà điều chỉnh cho đúng hướng tiến trên đường đời đầy chông gai:
Cán mai gốc mít cho cam,
Ở đời luống những miên man nợ nần.
Có người nợ cả bản thân,
Nợ xa vũ trụ nợ gần thê noa
Có người nợ cả hàng hoa,
Miếng giầu chén nước đương xa chơi bời.
Toàn bài nhận định về con người nợ lẫn nhau cả về vật chất lẫn tinh thần này, duy một câu Khóa không hiểu: “Có người nợ cả hàng hoa.” Trong thời gian theo học ở Vientiane, Khóa hằng suy nghĩ và tự hỏi hai chữ “hàng hoa” đó, ý mẹ định nói gì, mẹ định ám chỉ những cái phù phiếm ở đời chăng?
Trong bức thư trần tình, bà Ðô hai còn nhắc đến câu chữ Hán mà Khóa cũng nhớ mãi sau này: “Ðiểm điểm chích chích bất sa dĩ. Bà giải thích và bàn rộng cho con hay: giọt nước sau theo giọt nước trước không thay đổi, đàn bà theo chồng phải giữ cho trinh tĩnh con cái mới hay được. Vì hoàn cảnh ‘ở đời luống những miên man nợ nần’ ép bà phải bước đi bước nữa, nhưng một khi đã theo chồng, hãy giữ lòng trinh tĩnh, giữ đức thủy chung, đó cũng là cách để đức lại cho con sau này.
IV
Chú Nìn là con út của một gia đình ba anh em giai ở Nam Kinh. Anh cả và anh hai ở lại thành phố quê hương hùn vốn mở tiệm ăn lớn đường Tôn Trung Sơn. Chú Nìn dời quê hương sang lập nghiệp tại Việt Nam. Ngôi hàng tạp hóa của chú ở thị trấn biên giới Hoa-Việt này phát đạt cũng chẳng kém gì tiệm ăn của hai anh ở Nam Kinh. Ðời vợ trước của chú Nìn là một cô gái Việt sắc sảo và đôi chút !ẳng lơ.
Chú Nìn thì lại cả ghen, vì vậy hạnh phúc gia đình không được êm đẹp cho lắm. Người vợ đó mất vì chứng sốt rét rừng, để lại cho chú một thằng con trai, chú gửi con về Nam Kinh nhờ hai anh trông nom cho ăn học. Một mình trên đất Việt điều khiển ngôi hàng phát đạt, chú Nìn đêm đêm thường tìm an ủi ở chốn ca lâu, có một lần chú mắc bệnh tình, ông Ðô tới nhậm chức, thuê nhà ngay bên nhà chú. Nếp sống hòa thuận của gja đình ông Ðô nhắc chú nhớ lại nếp sống lủng củng của gia đình chú trước đây. Ông Ðô mất, chính vẻ hiền thục của bà Ðô khiến chú quyết tâm giúp bà, hoàn toàn bất vụ lợi, mãi hai năm sau chú Nìn mới nảy ý xin cầu hôn cùng bà. Khi bà Ðô đã về với chú, chú nảy lòng ghen ngấm ngầm. Chú cho rằng người đàn bà Việt Nam nào cũng có thành kiến với người ngoại chủng và khi buộc lòng phải kết hôn với họ, ít khi chịu giữ trung thành. Bà Ðô càng hiền thục, chú càng lo sợ ngầm ngầm, như một đứa trẻ ước một được Trời Phật ban cho mười. Chú quyết định trở về Nam Kinh, không muốn bà Ðô gần gũi các đồng bào của bà.
Tội nghiệp bà Ðô! Chỉ vì bà mang nặng nghiệp “nợ xa vũ trụ, nợ gần thê noa” bà lại “khư khư mình buộc lấy mình vào trong” không chịu mang nợ ai, dù phải đã hai lần bà “phải” như vậy – “đem thân mà trả nợ đời cho xong”, bà đành mang bé Cam (khi đó đã lên năm) theo chồng đi Nam Kinh. Chú Nìn đem hết dấn vốn của chú ở Việt Nam về hùn với hai anh, khuếch trương rất có hiệu quả tiệm ăn đường Tôn Trung Sơn, chú cho đứa con trai có với đời vợ trước đi du học Mỹ.
Càng xa đất tổ, tình yêu nước càng thiết tha đậm đà, bà Ðô dạy bé Cam học chữ Hán đọc theo giọng Việt, bà dạy vỡ lòng bé Cam học chữ Quốc ngữ. Cuối đường Tôn Trung Sơn có một gia đình người Việt đã lưu lạc tại quê người nhiều năm cũng vừa dọn tới, bà bèn đến kết thân.



























































































